38 2.2 Hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Khu Công nghiệp Phú Tài .... Các doanh nghiệp hoạt động trong khu công ngh
Trang 1VIỆT NAM CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2021
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 17014127394831000000
Trang 2VIỆT NAM CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG THỊ THU HIỀN
HÀ NỘI – 2021
Trang 3nghiên cứu trong đề tài này là trung thực, những số liệu trong các bảng biểu phục
vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu có phát hiện bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đoàn Thị Mỹ Duyên
Trang 4viên, cán bộ của Học Viện Ngân Hàng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức
và hỗ trợ chu đáo trong quá trình học tập
Với tình cảm trân trọng, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với
TS.Hoàng Thị Thu Hiền, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành
luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Chi nhánh Khu Công Nghiệp Phú Tài, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này
Nam-Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã rất cố gắng nhưng không thể tránh được những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô, các bạn học viên và các anh chị cán bộ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam-Chi nhánh Khu Công Nghiệp Phú Tài để bài luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 10
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
4 Khoảng trống nghiên cứu và Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG I 7
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH GỖ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 7
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Vai trò của hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 8
1.2 Đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành gỗ 11
1.3 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ 13
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ 16 1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ 24
Trang 6NGÀNH GỖ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI
NHÁNH KCN PHÚ TÀI 34
2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài 34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài 34
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài 35
2.1.3 Cơ cấu, tổ chức của VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài 36
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài 38
2.2 Hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Khu Công nghiệp Phú Tài 44
2.2.1 Quy định pháp lý về hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ 44
2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài theo chỉ tiêu định lượng 45
2.2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng doanh nghiệp ngành gỗ theo các tiêu chí định tính 54
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 71
2.3.1 Kết quả đạt được 71
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 72
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại 74
CHƯƠNG III 82
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGÀNH GỖ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH KCN PHÚ TÀI 82
3.1 Định hướng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ của VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 82
3.1.1 Định hướng kinh doanh chung của Chi nhánh 82
3.1.2 Định hướng cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của chi nhánh KCN Phú Tài 85
Trang 73.2.1 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý 86
3.2.2 Chú trọng khâu kiểm tra, kiểm soát sau cho vay 88
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên 89
3.2.4 Quan tâm đến công tác chăm sóc khách hàng sau giao dịch 91
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động truyền thông, quảng cáo 91
3.2.6 Hoàn thiện và đổi mới cơ sở vật chất 92
3.3 Một số kiến nghị 92
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 92
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 82020 38Bảng 2.2: Tình hình hoạt động cho vay của VietinBank CN KCN Phú Tài 2018-
2020 39 Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ phân loại theo lĩnh vực của Vietinbank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 48 Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ theo loại tiền của VietinBank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 50 Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ phân loại theo TSBĐ của Vietinbank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 50 Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp ngành gỗ của VietinBank CN KCN Phú Tài 2018-2020 51 Bảng 2.7: Lãi cận biên trong cho vay khách hàng doanh nghiệp và doanh nghiệp ngành gỗ của VietinBank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 52 Bảng 2.8: Dư nợ quá hạn và dư nợ xấu cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 2018 – 2020 54 Bảng 2.9: Kết quả kiểm soát nội bộ cho vay khách hàng doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài 2018-2020 63 Bảng 2.10: Kết quả khảo sát về phương tiện hữu hình trong cho vay DNNG của Vietinbank chi nhánh KCN Phú Tài 65 Bảng 2.11: Kết quả khảo sát về độ tin cậy trong cho vay DNNG của VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 66 Bảng 2.12: Kết quả khảo sát về tính đáp ứng trong cho vay DNNG của Vietinbank chi nhánh KCN Phú Tài 67 Bảng 2.13: Kết quả khảo sát về năng lực phục vụ trong cho vay DNNG của VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 69 Bảng 2.14: Kết quả khảo sát về sự cảm thông trong cho vay DNNG của Vietinbank chi nhánh KCN Phú Tài 70
Trang 9Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của VietinBank CN KCN Phú Tài 36 Hình 2.2: Cơ cấu nhân sự của VietinBank CN KCN Phú Tài theo trình độ năm
2020 37 Hình 2.3: Thị phần tín dụng của VietinBank CN KCN Phú Tài trong tỉnh Bình Định 41 Hình 2.4: Thu phí từ hoạt động dịch vụ của Vietinbank chi nhánh KCN Phú Tài
2018 – 2020 42 Hình 2.5: Lợi nhuận của Vietinbank chi nhánh KCN Phú Tài 2018 – 2020 43 Hình 2.6: Dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ của Vietinbank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 44 Hình 2.7: Tỷ trọng dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của VietinBank chi nhánh KCN Phú Tài 2018 – 2020 47 Hình 2.8: Cơ cấu dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ theo kỳ hạn của VietinBank CN KCN Phú Tài 2018 – 2020 49
Trang 10DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình Định là một tỉnh ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, được thiên nhiên
ưu đãi rất nhiều lợi thế Tỉnh Bình Định nằm trên trục đường Quốc lộ 1A nối Bắc - Nam và Quốc lộ 19 nối Đông – Tây, sở hữu sân bay và cảng nước sâu Bên cạnh
đó, Bình Định còn có cả “rừng vàng, biển bạc”, kinh tế phát triển ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực như nông lâm thủy sản, dệt may, giày da, cơ khí, du lịch, Khu công nghiệp Phú Tài là một trong những khu công nghiệp trọng điểm nằm trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư, phát triển kinh tế Các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp Phú Tài đa dạng về ngành nghề, có thể kể đến như nhóm ngành chế biến nông, lâm sản, chế biến sơn, đá, cao su, bao bì, vật liệu xây dựng, giày da, cơ khí, thức ăn gia súc, may công nghiệp, dịch vụ…Đặc biệt, ngành gỗ được xem là ngành kinh tế mũi nhọn với đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh nhà Năm 2020 mặc dù gặp không ít khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ đạt 540 triệu USD, tăng 14% so với năm
2019, chiếm tới 51% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh Ngành gỗ mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho Bình Định và luôn giữ được mức tăng trưởng cao
Nằm ở vị trí thuận lợi tại cửa ngõ của khu công nghiệp Phú Tài, Ngân hàng Công Thương Việt Nam - Chi nhánh KCN Phú Tài từ khi thành lập đến nay đã gặt hái được nhiều thành tựu, khẳng định được vị thế của mình trên địa bàn tỉnh Quy
mô của hoạt động tín dụng mà cụ thể là hoạt động cho vay cũng được gia tăng qua các năm Nhờ có hệ thống các phòng giao dịch trải dài khắp tỉnh cùng vị thế được khẳng định, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh KCN Phú Tài
đã thiết lập được quan hệ với nhiều doanh nghiệp ngành gỗ trên địa bàn, qua đó đạt được những kết quả nhất định trong kinh doanh Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp trong ngành này cũng
có nhiều biến động, thay đổi và nhiều vấn đề cần xem xét
Trang 12Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài” làm luận văn thạc sĩ
của mình
2 Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:
Luận văn mong muốn đề xuất các giải pháp để mở rộng quy mô tín dụng cho đối tượng là các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
+ Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp tại NHTM; phân tích, đánh giá thực trạng, các thành tựu và hạn chế của hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank
CN KCN Phú Tài giai đoạn 2021-2026
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp trong NHTM Trong đó, phải kể đến các công trình tiêu biểu như sau:
Lê Thành Trung (2019), “Hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm”, Luận văn Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã
đưa ra một số vấn đề chung về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay Trên cơ
sở sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh, phỏng vấn, tác giả đã có cái nhìn bao quát, tổng thể và đánh giá tình hình hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi
Trang 13nhánh Hoàn Kiếm Nhìn nhận những mặt tích cực và hạn chế từ hoạt động cho vay đối tượng này để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh
Huỳnh Thị Xuân Thảo (2017),“Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch
vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Chi nhánh Bình Phước”, Luận văn Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí
Minh Luận văn đã hệ thống hóa tương đối đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận
về chất lượng dịch vụ cho vay của NHTM, nêu lên thực trạng chất lượng dịch vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Công thương Chi nhánh Bình Phước trên cơ sở tác giả sử dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh để đánh giá chất lượng dịch
vụ cho vay qua các năm Từ đó đưa ra 03 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay của ngân hàng này, gồm: nhóm giải pháp cải thiện nhân tố đáp ứng, cải thiện nhân tố năng lực phục vụ, cải thiện nhân tố đồng cảm
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn”, tác giả Nguyễn Văn Lê –
Học viện Ngân hàng (2018) Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô hiện tại Qua đó, đưa ra mô hình để áp dụng tăng trưởng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại
Nguyễn Thế Hùng (2017), “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
Agribank chi nhánh tỉnh Hải Dương”, Luận văn thạc sỹ Học viện ngân hàng Luận
văn nghiên cứu về thực trạng công tác tín dụng tại Agribank Chi nhánh tỉnh Hải Dương với những ưu điểm, những tồn tại hạn chế đã tác động trực tiếp đến chất lượng tín dụng của chi nhánh Luận văn được trình bày thông qua việc khảo sát số liệu, đánh giá một cách khách quan Dữ liệu được xử lý từ các phân tích thống kê
mô tả, cùng với việc xem xét các định hướng, chiến lược phát triển của ngân hàng Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng Kết quả khảo sát là nguồn dữ liệu đầu vào đáng tin cậy cho các giải pháp giúp ngân
Trang 14hàng có cơ hội hiểu rõ hơn về thực trạng tín dụng và chất lượng nợ của chi nhánh
Từ đó có cơ sở để ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động nói chung và nâng cao chất lượng tín dụng nói riêng một cách hiệu quả hơn
Có thể nói đề tài hoạt động tín dụng tại NHTM không phải là một đề tài mới Nhìn chung các tác giả dù cách tiếp cận khác nhau, đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, khi nghiên cứu về hoạt động tín dụng đều đã đưa ra khung lý thuyết về tín dụng NHTM, các tiêu chí đánh giá hoạt động tín dụng tại NHTM cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng Do đó, các nghiên cứu trước đây đã hệ thống hóa khá đầy đủ các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan tới đề tài
4 Khoảng trống nghiên cứu và Câu hỏi nghiên cứu
4.1 Khoảng trống nghiên cứu:
Hiện nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – CN KCN
Phú Tài Do đó, đề tài tác giả chọn vẫn mang tính mới mẻ và cập nhật, có tính cấp
thiết vì xây dựng định hướng cho các giải pháp đưa ra đến năm 2026
4.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá hoạt động cho vay của doanh nghiệp?
- Thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh KCN Phú Tài giai đoạn 2018-2020 như thế nào?
- Giải pháp để mở rộng thị phần, tăng trưởng quy mô dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh KCN Phú Tài là gì?
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài trong giai đoạn 2018-2020
- Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp ngành gỗ đang có quan hệ tín dụng
Trang 15với VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài
- Phạm vi nội dung: vì trong các hoạt động tín dụng hoạt động chủ yếu là cho vay nên phạm vi nội dung tác giả nghiên cứu chính là hoạt động cho vay của các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thu thập từ nguồn này bao gồm các văn bản luật, nghị định, thông tư, giáo trình, về hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Các tài liệu tín dụng và chất lượng nợ tham khảo từ báo, tạp chí, mạng internet, các báo cáo về hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại khu công nghiệp Phú Tài giai đoạn 2018 – 2020
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng điều tra sử dụng bảng hỏi các doanh nghiệp ngành gỗ đang có quan hệ tín dụng với VietinBank CN KCN Phú Tài Kích thước mẫu là 44, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Mục đích khảo sát nhằm thu thập ý kiến đánh giá của đại diện các doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ tín dụng tại VietinBank CN KCN Phú Tài (Đánh giá
về chính sách, lãi suất, quy trình, hồ sơ…)
6.2 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel Việc phân tích dữ liệu thực hiện theo một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê tổng hợp: Được sử dụng để sắp xếp, tổng hợp dữ liệu
sơ cấp thu thập được một cách khoa học nhất, biến dữ liệu sơ cấp thành dữ liệu thứ
Trang 16cấp phục vụ cho quá trình phân tích thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài
- Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản
của dữ liệu thu thập được qua đồ thị và các bảng số liệu Qua đó thể hiện rõ ràng để
so sánh, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng cho quá trình phân tích kết quả hoạt động
cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài, từ đó có thể đưa
ra những đánh giá chính xác quy mô và chất lượng dư nợ cho vay của các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích và đánh giá những thành
công cũng như những tồn tại trong hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài, nhằm đề ra các giải pháp mở rộng quy mô dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tại VietinBank CN KCN Phú Tài
- Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả còn áp dụng kết hợp các phương pháp diễn dịch, quy nạp để phân tích và làm rõ vấn đề nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương chính, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành
gỗ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh KCN Phú Tài
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh KCN Phú Tài
Trang 17CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH GỖ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
Ngân hàng là tổ chức tín dụng có thể thực hiện các hoạt động như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, đầu tư tài chính và cung cấp các dịch vụ thanh toán Định nghĩa
về Ngân hàng thương mại theo điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Quốc Hội, 2010)
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 29/6/2010, cấp tín dụng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (tổ chức, cá nhân), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán Hoạt động cấp tín dụng được thực hiện thông qua các nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Quốc Hội, 2010)
Trong các nghiệp vụ của ngân hàng thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của NHTM trong đó NHTM thoả thuận với khách hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định, có lãi suất và phải hoàn trả Nghiệp vụ tín dụng mang lại lợi tức nhiều nhất cho ngân hàng nhưng cũng đồng thời tiềm ẩn các rủi ro rất lớn cho NHTM nên các NHTM cần có nhiều sản phẩm tín dụng khác nhau để cung ứng cho khách hàng và phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp để ngăn ngừa rủi ro
Ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, thông qua các hoạt động của mình điều tiết và định hướng các hoạt động đầu tư, trong đó hoạt động tín dụng là một công cụ dùng để hướng các nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau vào các hoạt động kinh tế hiệu quả
Trang 18Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30/12/2016 định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Ngân hàng nhà nước, 2016)
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là hoạt động chuyển giao về tài sản giữa bên cho vay - NHTM hoặc các định chế tài chính khác và bên đi vay - các thành phần kinh tế, dân
cư, trong đó bên đi vay được quyền sử dụng tài sản của bên cho vay trong một thời gian nhất định theo các điều kiện đảm bảo thoả thuận giữa hai bên và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả tiền gốc và lãi đúng hạn và đầy đủ Tài sản tài chính trong quan hệ cho vay của ngân hàng thương mại chính là tiền tệ Đây là khoản tiền tương ứng với phần vốn vay của khoản vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở lòng tin Khi ngân hàng thương mại chuyển nguồn tài chính của tổ chức tín dụng giao cho người đi vay là ngân hàng thương mại tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn và đầy đủ
Chủ thể tham gia quan hệ cho vay của ngân hàng thương mại gồm ngân hàng thương mại và các chủ thể khác trong nền kinh tế có nhu cầu vay vốn và đáp ứng
được điều kiện vay vốn của ngân hàng thương mại
1.1.3 Vai trò của hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
(i) Đối với ngân hàng
Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các NHTM nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung Cho vay thuộc chức năng đầu tiên, phản ánh đặc trưng của NHTM chính là chức năng trung gian tài chính Cho vay mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng và cũng là hoạt động mang lại rủi
ro cao nhất Tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh
từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý
và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế Những rủi ro này đều có thể
Trang 19gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có thể chiếm phần lớn vốn của chủ sở hữu, đẩy ngân hàng đến phá sản Do vậy, các ngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định tài trợ vốn
Ngoài ra, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán, tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại…Từ đó đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro khi ngân hàng nhà nước thắt chặt tiền tệ hoặc khi gặp rủi ro tín dụng
(ii) Đối với khách hàng
Với chức năng chính là “đi vay để cho vay”, ngân hàng đứng ra huy động tiền gửi từ dân cư và các doanh nghiệp Mỗi cá nhân và tổ chức, khi có nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời, có thể gửi vào ngân hàng như một sự lựa chọn an toàn và là quyết định đầu tư ít rủi ro Ngân hàng dùng số vốn tạm thời này để cung cấp cho các cá nhân và các doanh nghiệp khác đang có nhu cầu về vốn Do có ngân hàng đứng ra làm trung gian cho quá trình luân chuyển vốn, làm cầu nối giữa tiết kiệm
và đầu tư Thông qua hoạt động cho vay, NHTM đã giúp nhà đầu tư kịp thời được đáp ứng vốn đầy đủ, tận dụng được những cơ hội kinh doanh Từ đó họ nhanh chóng đầu tư phát triển sản xuất, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và tích lũy vốn cho nền kinh tế, đồng thời tạo ra nhiều của cải vật chất và công ăn việc làm cho xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu
và vốn vay Một trong những nguồn cung vốn vay là từ ngân hàng Đây là nguồn tài trợ hiệu quả vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về cả số lượng và thời hạn Hơn nữa,
để có thể vay vốn được từ ngân hàng, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao uy tín của mình để đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng Nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường, khai thác thông tin, định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tăng hiệu quả của các dự án và phương án
Mặt khác, thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho
Trang 20khách hàng có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác
với chi phí thấp hơn
(iii) Đối với nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế gắn với mức vốn đầu tư tương ứng bằng các nguồn vốn tích luỹ trong nước, vốn từ nước ngoài Hoạt động cho vay tại NHTM đóng vai trò luân chuyển vốn từ những chủ thể trong xã hội (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư đến những chủ thể thiếu hụt nguồn vốn Qua đó làm tăng lượng vốn đầu tư, phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính đến tất cả các thành phần kinh tế
Đồng thời, hoạt động cho vay là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế Bản thân ngân hàng chính là một trong những cầu nối về kinh tế các nước với nhau, góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hoá, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước Trong hoạt động xuất nhập khẩu, tín dụng ngân hàng đóng vai trò tài trợ thông qua cho vay hoặc mở thư thanh toán quốc tế…, tạo điều kiện cho các nước giao lưu hợp tác với nhau về mọi mặt, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hoá Ngoài ra, từ việc cho vay tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu các doanh nghiệp có đủ nguồn lực để cải tiến máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ, từ đó nâng cao được năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, tạo uy tín trên thị trường
Việc điều chỉnh nền kinh tế thị trường ở tầm vĩ mô của nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ, trong đó công cụ tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng Thông qua việc kiểm soát hoạt động cho vay tại NHTM, Chính phủ đã dùng các công cụ như tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, kiểm soát được lượng tiền lưu thông, kiềm chế lạm phát, điều tiết sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ và theo đuổi các mục tiêu ổn định chính trị xã hội
Bên cạnh đó, tín dụng là động lực mạnh mẽ đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhà nước có thể tập trung vốn tín dụng thông qua ngân hàng để đầu tư phát triển vào các ngành
Trang 21kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm nhằm tạo cơ cấu kinh tế cân đối, hợp lý
1.2 Đặc trƣng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành gỗ
Các doanh nghiệp ngành gỗ có quy mô đa phần là nhỏ và vừa
Các doanh nghiệp ngành gỗ đa phần có quy mô nhỏ (theo vốn đầu tư, có 93% doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ, 5,5% quy mô vừa và chỉ có 1,2% số doanh nghiệp có quy mô lớn) do đó rất dễ bị ảnh hưởng mạnh bởi các biến động dù nhỏ về nguồn nguyên vật liệu cũng như đơn hàng (do không có đủ vốn để dự trữ nguồn cung nguyên liệu đủ cầm cự hoạt động trong một thời gian nhất định, từ đó có thể điều chỉnh tương ứng với biến động) Ngoài ra, quy mô vốn quá nhỏ cũng có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đáp ứng các thay đổi/tăng cường về yêu cầu/điều kiện kỹ thuật ở các thị trường xuất khẩu, điều xảy ra khá thường xuyên
Theo nguồn gốc vốn chủ sở hữu thì 5% số doanh nghiệp ngành gỗ thuộc sở hữu Nhà nước, 95% còn lại là thuộc khu vực tư nhân, trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm 15% Các doanh nghiệp có vốn FDI chi phối thị trường xuất khẩu Các doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 15% (trong tổng số hơn 6.500 đoanh nghiệp) nhưng giá trị sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chiếm 44% Yếu tố về quy mô doanh nghiệp và tính chuyên nghiệp trong quản lý cũng như hiện đại trong công nghệ sản xuất là các yếu tố chính tạo nên lợi thế trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI
Nguồn vốn sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào tín dụng
Vấn đề vốn và tín dụng là vấn đề rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh ngành gỗ do đặc thù của ngành cần vốn lớn để dự trữ hàng Các hợp đồng xuất khẩu sản phẩm từ gỗ và gỗ thường là các hợp đồng kỳ hạn với thời gian
từ 4 - 6 tháng Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải vay vốn để mua nguyên liệu đầu vào, chi trả các chi phí sản xuất trong thời gian khá dài, từ 6 tháng đến 8 tháng; để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường và đạt tính hiệu quả theo quy mô, các doanh nghiệp buộc phải có lượng tồn kho lớn hoặc thực hiện chính sách “Đúng thời điểm” Nghĩa là, các chuỗi hoạt động trong sản xuất phải khớp về mặt thời
Trang 22gian, chất lượng, hiệu quả Tuy vậy, chính sách “Đúng thời điểm” khó áp dụng, xuất phát từ những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, nên doanh nghiệp thường phải duy trì mức tồn kho lớn trong chu kỳ sản xuất Để có nguồn vốn nhanh chóng, thông suốt, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp trong ngành gỗ luôn tìm cách duy trì quan hệ tín dụng với ít nhất một ngân hàng thương mại Họ sử dụng nhiều phương thức cấp tín dụng như cho vay, thư tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh,…Trong đó phương thức cho vay được các doanh nghiệp áp dụng nhiều nhất Đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, họ còn sử dụng thêm các phương thức thư tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu hoặc bao thanh toán
Sự mất cân đối trong phát triển quy hoạch ngành
Với định hướng phát triển công nghiệp chế biến hướng về xuất khẩu, những năm gần đây rất nhiều doanh nghiệp ngành gỗ xuất khẩu được xây dựng trong các khu công nghiệp hoặc khu chế xuất, gần cảng biển thuận tiện cho việc nhập khẩu
gỗ nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm Đặc biệt các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ xuất khẩu đều phân bổ ở các tỉnh duyên hải có các cảng biển nước sâu và các doanh nghiệp có công suất lớn thường được đặt tại các cảng cho tàu trọng tải trên 8.000 tấn có thể cập bến
Hiện nay, các doanh nghiệp ngành gỗ tập trung ở các thành phố lớn, vùng đông dân cư, gần vùng tiêu thụ và có cơ sở hạ tầng tốt chứ không gần vùng nguyên liệu Mặc dù về lý thuyết kinh tế và Chính phủ chủ trương khuyến khích xây dựng doanh nghiệp ngành gỗ gần vùng nguyên liệu, nhưng tại Việt Nam, mặc dù có đến hơn 60% sản lượng gỗ khai thác ở vùng trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ
và duyên hải miền Trung nhưng chỉ khoảng 14% số doanh nghiệp ngành gỗ tập trung tại hai khu vực này
Năng suất lao động trong các công ty ngành gỗ thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì ngành công nghiệp chế biến gỗ hiện đang thu hút khoảng hơn 500.000 lao động trực tiếp và
Trang 23gián tiếp, trong đó lao động có trình độ từ đại học chiếm chưa đầy 10%, số lao động trực tiếp được đào tạo chiếm 45-50%, còn lại lao động giản đơn theo mùa vụ chiếm khoảng 35-40% Nhân lực hiện nay vẫn là vấn đề lớn đối với ngành gỗ chế biến ở cả góc độ lao động phổ thông lẫn lao động kỹ thuật và nhân lực quản lý Đào tạo thiếu bài bản, hoạt động không chuyên nghiệp, phân công lao động thiếu hợp lý, cơ chế giám sát, quản lý hiệu quả lao động còn chưa được chú trọng là những vấn đề nổi cộm hiện nay
Đối với các doanh nghiệp tham gia chế biến gỗ ở mức độ sơ cấp (ngành ván dăm, xưởng xẻ, ván bóc ), vấn đề chất lượng và trình độ lao động không đáng lo ngại bởi tính chất công việc ở khu vực này cũng đơn giản, không đòi hỏi kỹ thuật cao Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp chế biến sản phẩm gỗ thành phẩm, chất lượng và trình độ lao động là yếu tố quan trọng Theo VIFORES thì năng suất lao động của ngành gỗ Việt Nam chỉ bằng 50% của Philippines, 40% của Trung Quốc, 20% của EU
Với thực trạng lao động như hiện tại, đặc biệt với nhóm các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, vấn đề đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực có kỹ thuật cao, có khả năng sử dụng tốt các công nghệ hiện đại trong sản xuất là vấn đề quan trọng đối với ngành gỗ, đặc biệt trong định hướng tăng cường xuất khẩu và hướng tới các sản phẩm gỗ chất lượng, với thương hiệu và giá trị gia tăng cao hơn
1.3 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ
Như đã nói ở phần phạm vi nghiên cứu, vì trong các hoạt động tín dụng hoạt động chủ yếu là cho vay nên phạm vi nội dung tác giả nghiên cứu chính là hoạt động cho vay
(i) Khái niệm
Phương thức phân loại hoạt động cho vay phổ biến nhất tại các NHTM là phân loại theo đối tượng khách hàng, gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp và cho vay khách hàng cá nhân Theo đó, “Cho vay khách hàng doanh nghiệp là hình thức cho vay trong đó NHTM cho doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”
Trang 24Cho vay đối với doanh nghiệp ngành gỗ tại ngân hàng thương mại được hiểu là việc NHTM thỏa thuận để cho các doanh nghiệp ngành gỗ sử dụng một khoản vốn trong một khoản thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn
Với tư cách là người cho vay: ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp ngành gỗ khi có nhu cầu về vốn bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của khoản vay Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của NHNN và các ngân hàng thương mại
(ii) Đặc điểm cho vay đối với doanh nghiệp ngành gỗ
Xuất phát từ đặc trưng hoạt động của doanh nghiệp ngành gỗ, hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành gỗ cũng có những đặc trưng nhất định:
Thứ nhất, về đối tượng cho vay:
Đối tượng cho vay vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành gỗ là những chi phí trực tiếp liên quan và phục vụ cho doanh nghiệp thực hiện các đơn hàng và hợp đồng đầu ra, cụ thể như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu, vật tư phục vụ sản xuất chế biến gỗ: gỗ nguyên liệu, sơn, hóa chất, dây đan, nệm, ốc, vít, đinh tán…và các chi phí nguyên vật liệu khác
- Chi phí thuê thiết bị máy móc, chi phí sửa chữa nhỏ thiết bị, công cụ phân
bổ vào thành phẩm
- Chi phí sản xuất chung
- Chi phí nhân công: Lương Cán bộ nhân viên, công nhân sản xuất trực tiếp, gián tiếp, nhân công thuê theo mùa vụ và các chi phí nhân công khác
Đối tượng cho vay vốn trung dài hạn của các doanh nghiệp ngành gỗ là chi phí
Trang 25đầu tư hình thành nên nhà xưởng, mua dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị…
Thứ hai, thời gian cho vay vốn lưu động dựa trên chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Do đặc thù các hợp đồng đầu ra xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ thường là các hợp đồng kỳ hạn dài, thường trên 6 tháng đến dưới 1 năm nên các công ty sản xuất, chế biến gỗ phải vay vốn để mua nguyên liệu trong thời gian khá dài, lên kế hoạch sản xuất kinh doanh gối đầu theo các đơn hàng Chính vì vậy, thời gian cho vay vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành gỗ thông thường từ 6-
8 tháng
Thứ ba, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành gỗ phần lớn gắn liền với hoạt động xuất nhập khẩu Dẫn đến hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành gỗ tại NHTM cũng phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối, tài trợ thương mại, phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố
Thứ tư, khi cho vay phải thường xuyên kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiến độ thực hiện các đơn hàng, hàng tồn kho đang ở mức
độ nào, thanh toán có đúng theo quy định trong hợp đồng mua bán hay không để từ
đó phát hiện ra những khó khăn vướng mắc và có biện pháp ứng xử kịp thời Chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp ngành gỗ sẽ phụ thuộc rất lớn vào năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng quản lý, phương thức, khả năng thanh toán của đối tác đầu ra…
(iii) Các hình thức cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của NHTM
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngành gỗ tại NHTM có nhiều hình thức đa dạng Tùy thuộc vào tiêu thức phân loại mà có thể chia ra các hình thức cho vay khác nhau, cụ thể như sau:
Căn cứ vào thời hạn cho vay
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng với ngân hàng vì liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của hoạt động tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng:
- Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng Cho vay ngắn hạn thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động và các nhu
Trang 26cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các khách hàng vay vốn để chi trả các yếu tố đầu vào như: mua nguyên vật liệu, vật tư hàng hóa, trả công lao động, chi trả các chi phí cho quá trình cung ứng sản phẩm ra thị trường (chi phí bốc xếp, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và thành phẩm, chi phí kho bãi, ), chi phí vận hành nhà xưởng, máy móc thiết bị của doanh nghiệp…
- Cho vay trung dài hạn:
+ Cho vay trung hạn đối với doanh nghiệp ngành gỗ: Từ trên 12 tháng đến
60 tháng nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị như máy cắt chi tiết, máy tiện, máy bào, máy chà nhám, máy khoan,
+ Cho vay dài hạn đối với doanh nghiệp ngành gỗ: Từ trên 60 tháng trở lên nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng, cơ sở hạ tầng như nhà xưởng, kho bãi, lò sấy, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống tản nhiệt, hút bụi, văn phòng làm việc, có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp ngành gỗ
- Cho vay vốn lưu động: Là hình thức cho vay để tài trợ cho tài sản lưu động của các doanh nghiệp ngành gỗ như chi phí nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, chi phí nhân công, chi phí vận hành nhà xưởng,
- Cho vay vốn cố định: Là hình thức cho vay để tài trợ cho tài sản cố định của các doanh nghiệp ngành gỗ như phương tiện vận tải, mua sắm máy móc thiết
bị, xây dựng văn phòng, nhà xưởng, kho,
Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
- Cho vay không có bảo đảm (cho vay tín chấp): Là loại hình cho vay mà ngân hàng cho vay chủ yếu dựa vào uy tín của doanh nghiệp ngành gỗ, không đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm
- Cho vay có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp ngành gỗ
Trang 27(i) Chỉ tiêu định lượng
Dư nợ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ:
Đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành gỗ, tăng trưởng dư nợ cho vay là chỉ tiêu phản ánh thực tế nhất sự tăng trưởng tín dụng Dư nợ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp ngành gỗ qua các năm càng lớn thì quy mô cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ càng lớn Dư nợ cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ qua các năm tăng thì tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ
đã được mở rộng Dư nợ cho vay trong kì phản ánh số lượng vốn mà ngân hàng đã cho vay trong kì Dư nợ cho vay trong kì tăng lên/giảm đi so với kì trước phản ánh quy mô và xu hướng cho vay ngành gỗ của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp Chỉ tiêu trên được đo lường như sau:
Mức tăng dư nợ cho vay DNNG = Dư nợ DNNG năm (n) – Dư nợ DNNG năm (n-1)
- Để phản ánh mức độ tăng trưởng dư nợ cho vay, ngân hàng còn sử dụng chỉ số tương đối là mức tăng trưởng của năm sau so với năm trước
Mức độ tăng trưởng( )= Dư nợ cho vay DNNG năm (n) Dư nợ cho vay DNNG năm (n )
Dư nợ cho vay DNNG năm (n )
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết mức độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNG năm (t) tăng, giảm so với năm (t-1) bao nhiêu lần
Tỷ lệ dư nợ cho vay DNNG trong tổng dư nợ toàn chi nhánh:
T lệ dư nợ cho vay DNNG ( )= Dư nợ cho vay DNNG
ổng dư nợ toàn chi nhánh
Chỉ tiêu này cho biết mức độ dư nợ cho vay DNNG trong tổng dư nợ toàn chi nhánh Tỷ lệ này càng cao cho thấy cho vay DNNG càng quan trọng
Cơ cấu dư nợ cho vay DNNG theo loại sản phẩm
lệ dư nợ cho vay DNNG loại i ( )= Dư nợ cho vay DNNG loại i
ổng dư nợ cho vay DNNG
Chỉ tiêu này phản ánh sự đa dạng sản phẩm, thời hạn,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp ngành gỗ
Trang 28 Số lượng khách hàng doanh nghiệp ngành gỗ:
Sự gia tăng số lượng khách hàng là tiền đề để ngân hàng tăng trưởng quy mô hoạt động Ngày càng nhiều khách hàng quan hệ giao dịch với ngân hàng sẽ giúp ngân hàng tăng trưởng doanh số cấp tín dụng, qua đó tăng trưởng lợi nhuận
ăng trưởng số lượng DNNG = Số lượng DNNG năm n – Số lượng DNNG năm (n-1)
Lợi nhuận từ cho vay khách hàng doanh nghiệp ngành gỗ:
Tăng trưởng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ là chỉ tiêu đo lường tính hiệu quả sự phát triển hoạt động cho vay Khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay, lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là từ việc thu lãi cho vay sau khi đã trừ đi chi phí Lợi nhuận từ hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành gỗ ngày càng lớn chứng tỏ quy mô cấp tín dụng đối với lĩnh vực này ngày càng lớn Chỉ tiêu này được đo lường như sau:
- Tăng trưởng lợi nhuận tuyệt đối:
Mức tăng trưởng lợi nhuận = lợi nhuận năm (n) – lợi nhuận năm (n-1)
- Tăng trưởng lợi nhuận tương đối:
Mức độ tăng trưởng lợi nhuận ( )= ợi nhuận năm (n) ợi nhuận năm (n )
Ngoài ra, người ta còn đánh giá mức độ tăng trưởng lợi nhuận thông qua tỷ trọng lợi nhuận cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ trong tổng lợi nhuận thu được của ngân hàng và được tính bằng công thức:
tr ng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ ( )
= ợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng đóng góp của hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành gỗ vào cơ cấu của tổng lợi nhuận của toàn chi nhánh là nhiều hay ít Chỉ tiêu này cao cho thấy hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ mang lại hiệu quả, đóng góp vào lợi nhuận chung của toàn chi nhánh
Nợ quá hạn và nợ xấu:
Trang 29Nợ quá hạn là chỉ số đo lường chất lượng và hiệu quả tín dụng nói chung, cho vay nói riêng của các NHTM, nếu chỉ số này thấp thể hiện chất lượng hiệu quả của NHTM đó cao, rủi ro tín dụng hay cho vay thấp và ngược lại Chỉ số này được tính toán như sau:
lệ nợ quá hạn ( )= ổng dư nợ quá hạn
đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
+ Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý): Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
+ Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; + Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; + Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): Nợ quá hạn trên 360 ngày
Trong đó nợ quá hạn là các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 Chỉ tiêu này được các NHTM Việt Nam sử dụng trong một thời gian dài Tuy nhiên, chỉ tiêu nợ quá hạn có một số hạn chế đó là chưa phản ánh đúng chất luợng nợ vì: việc phân loại nợ như trên dựa chủ yếu vào tuổi nợ, trong khi đó chất lượng nợ có thể được phản ánh sớm hơn tuổi nợ Hiện nay người ta thường sử dụng chỉ tiêu nợ xấu để đánh giá chất lượng nợ cũng như hiệu quả của khoản vay
- Nợ xấu: nợ xấu tính theo quy định tại thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 “về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/0/2013” là nợ từ nhóm
3 đến nhóm 5 Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 30lệ nợ ấu ( )= ổng dư nợ ấu
ổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng Nếu chỉ tiêu này cao nghĩa là hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đang có rủi ro cao và ngược lại
(ii) Chỉ tiêu định tính
Cho vay theo đúng quy trình
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cho vay đối với khách hàng Quy trình cho vay thể hiện các công việc theo một trình tự nhất định kể từ khi bắt đầu cho đến khi chấm dứt hoạt động cho vay Mỗi một giai đoạn của quy trình đóng góp với việc tối đa hóa chất lượng tín dụng, tối đa hóa lợi nhuận từ tín dụng, kiểm soát rủi ro để tối thiểu hóa tổn thất và tạo được vị trí trong môi trường cạnh tranh và có nhiều sự thay đổi Việc thực hiện đúng quy trình cho vay sẽ giúp gia tăng tính an toàn của khoản vay, vì vậy thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của ngân hàng
Tiêu chí này có thể đánh giá thông qua mức độ chấp hành đúng quy trình cho vay khách hàng là doanh nghiệp ngành gỗ, số trường hợp phát hiện cán bộ ngân hàng không tuân thủ đúng quy trình, thiếu các bước hoặc thực hiện thiếu nội dung của từng bước
Một quy trình cơ bản của hoạt động cho vay tại VietinBank gồm các bước như sau:
+ Bước 1: Tìm kiếm khách hàng, tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng + Bước 2: Thẩm định tín dụng và đề xuất tín dụng
Trang 31+ Bước 8: Thanh lý tín dụng
Thời gian phê duyệt khoản vay
Thời gian phê duyệt khoản vay là khoảng thời gian trung bình tính từ khi
khách hàng thực hiện các thủ tục vay vốn ban đầu tới khi được ngân hàng thương mại phê duyệt khoản vay
Các DNNG thường xuyên phải vay vốn ngân hàng (nhất là vốn ngắn hạn) để đáp ứng nhu cầu vốn thu mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân… phục vụ cho việc chế biến, kinh doanh gỗ và các sản phẩm từ gỗ Nếu hồ sơ tín dụng nhiều giấy
tờ, thủ tục qua nhiều giai đoạn sẽ dẫn đến kéo dài hồ sơ, chậm cấp tín dụng cho khách hàng, khách hàng mất cơ hội kinh doanh hoặc chậm thanh toán các nhu cầu vốn thiết yếu sẽ dẫn đến khách hàng không muốn vay vốn, ngân hàng không phát triển tín dụng được Nếu hồ sơ cho vay các doanh nghiệp ngành gỗ tinh giản, giảm thiểu chứng từ giấy tờ và thủ tục, quy trình gọn nhẹ, ít khâu thì khách hàng muốn
sử dụng các sản phẩm tín dụng của ngân hàng, ngân hàng có nhiều lợi thế để phát triển tín dụng
Thời gian phê duyệt khoản vay càng ngắn giúp khách hàng doanh nghiệp ngành gỗ nhanh chóng có nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh Điều này chứng tỏ năng lực cạnh tranh trong cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của NHTM càng cao, hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành gỗ càng phát triển
Mức độ hài lòng của khách hàng
Sự gia tăng về chất lượng dịch vụ được thể hiện qua sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ Sự hài lòng của khách hàng phản ánh việc đáp ứng mức độ thỏa mãn cao của khách hàng
Theo Philip Kotler, sự hài lòng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với những kỳ vọng của người đó Khi khách hàng cảm thấy hài lòng, hoặc rất hài lòng với một sản phẩm nghĩa là lúc đó mức độ thỏa mãn nhu cầu thực tế từ việc sử dụng sản phẩm bằng hoặc lớn hơn mức độ thỏa mãn nhu cầu mong đợi Nếu mức độ thỏa mãn nhu cầu thực tế nhỏ hơn mức độ thỏa mãn nhu cầu mong đợi, khách hàng sẽ không hài lòng
Trang 32Theo Tse & Wilton (1988): “Sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự thể hiện) và sự thể hiện thật sự của sản phẩm như là một chấp nhận sau khi dùng nó”
Theo quan điểm của Bachelet (1995) thì: “Sự hài lòng là phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ dựa trên những kinh nghiệm cá nhân.”
Theo Bitner & Zeithaml (2003): “Sự hài lòng là sự đánh giá của khách hàng
về sản phẩm hoặc dịch vụ trong suốt khoảng thời gian sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ”
Như vậy, "Sự hài lòng của khách hàng của đối với dịch vụ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ được hiểu là sự đánh giá của khách hàng về dịch vụ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ trong suốt khoảng thời gian dịch vụ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ”
Để nâng cao sự hài lòng của khách hàng, ngân hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, lợi ích thiết thực phục vụ cho khách hàng Khi khách hàng hài lòng với sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, họ sẽ trở thành những khách hàng trung thành: tiếp tục sử dụng sản phẩm của ngân hàng, tăng cường giao dịch với ngân hàng, tin tưởng và dễ chấp nhận, ủng hộ các sản phẩm mới của ngân hàng và sẵn sàng giới thiệu về ngân hàng cho người thân, bạn bè từ đó, làm gia tăng khách hàng mới, đem tới doanh số và lợi nhuận cho ngân hàng
Chất lượng dịch vụ có thể đo lường bằng phương pháp sử dụng mô hình SERVQUAL đánh giá về sự mong đợi và nhận định của khách hàng sử dụng dịch
vụ Thông qua một cuộc khảo sát được gửi đến cho khách hàng, kết quả thu thập được tổng hợp và đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: yếu tố thực tế, độ tin cậy, đảm bảo, trách nhiệm, đồng cảm Cụ thể 5 yếu tố trong mô hình SERVQUAL như sau:
- Phương tiện hữu hình: sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, nhân viên, tài liệu truyền thông, quảng cáo Đó chính là mạng lưới giao dịch rộng khắp, cơ sở vật chất của chi nhánh, trang thiết bị công nghệ, trang phục nhân viên,
Trang 33băng rôn, vật phẩm quảng cáo, tờ rơi…
Phương tiện hữu hình được đầu tư tốt, khang trang, hợp lý, thiết bị hiện đại thì sự thuận tiện trong giao dịch của khách hàng hay chất lượng dịch vụ cũng được nâng cao Điều này sẽ khiến cho cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng được gia tang rất nhiều
- Độ tin cậy: khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác với những gì
đã cam kết, hứa hẹn Được biểu hiện thông qua khả năng tính tiền đúng, ghi chép chính xác, thực hiện dịch vụ đúng kế hoạch, an toàn, bảo mật thông tin, giải ngân đúng thời hạn, tính lãi đúng cam kết, không phát sinh chi phí khác khi vay vốn của doanh nghiệp ngành gỗ…
Độ tin cậy được đảm bảo sẽ đảm bảo an toàn, bảo mật, cũng như thực hiện đúng những cam kết mà ngân hàng đưa ra, giấy tờ, chứng từ rõ ràng, không sai sót
sẽ giúp cho khách hàng được an tâm và duy trì việc sử dụng dịch vụ cho vay doanh nghiệp ngành gỗ…
- Tính đáp ứng: mức độ mong muốn và sẵn sàng phục vụ khách hàng một cách kịp thời, thể hiện qua: quy chế, thủ tục vay vốn đối với doanh nghiệp ngành gỗ; giao dịch nhanh chóng; dịch vụ nhanh thỏa mãn tức thời; mức lãi suất hợp lý, nhiều chương trình khuyến mãi kèm khi DNNG vay vốn…
Phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác, không sai sót, bên cạnh đó lãi suất cho vay ưu đãi, phù hợp với chất lượng, nhiều ưu đãi kèm theo… sẽ giúp khách hàng cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cho vay mà ngân hàng cung ứng
- Năng lực phục vụ: kiến thức, chuyên môn và phong cách vui vẻ, thân thiện của nhân viên phục vụ; khả năng làm cho khách hàng tin tưởng
Thái độ phục vụ của nhân viên cũng là yếu tố quan trọng giúp cho khách hàng cảm nhận thoải mái, thuận tiện hơn khi giao dịch, nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng Các nhân viên ngân hàng làm việc rất áp lực và bận rộn, trong khi đối tượng khách hàng lại đa dạng, phong phú về độ tuổi, tính cách, nghề nghiệp, sở thích, nhu cầu nên không phải lúc nào nhân viên cũng thể hiện được hết sự nhiệt tình của mình với khách hàng Tuy nhiên, các nhân viên ngân hàng lại là bộ mặt của ngân hàng khi cung ứng các dịch vụ cho vay DNNG Do đó phong cách làm việc của nhân viên ngân
Trang 34hàng với khách hàng là yếu tố quan trọng tạo nên uy tín, sự chuyên nghiệp của ngân hàng và tạo nên chất lượng của dịch vụ cho vay DNNG
- Sự cảm thông: thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân khách hàng, quan tâm tới đặc điểm, tâm lý của khách hàng, chú ý tới nhu cầu cá nhân của từng khách hàng…
Các sản phẩm cho vay doanh nghiệp ngành gỗ của ngân hàng phải hướng tới
sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, KH cần nhận được sự quan tâm, CBTD cần biết được đặc điểm tâm lý của khách hàng để chăm sóc chu đáo hơn, từ đó giúp họ cảm nhận tốt hơn về dịch vụ mà mình sử dụng
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ
Hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ chịu tác động của nhiều nhân tố trong nền kinh tế Trước hết phải kể đến sự tác động chung của môi trường kinh tế xã hội, môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh của các loại nguồn vốn khác và từ thị trường Ảnh hưởng đến phát triển hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngành gỗ có 4 nhóm nhân tố như sau:
(i) Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ ngân hàng
Chính sách và định hướng tín dụng của ngân hàng
Chính sách và định hướng tín dụng của ngân hàng trên thực tiễn luôn thay đổi để thích ứng với tình hình hoạt động trong từng thời kỳ nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả, mang lại lợi nhuận và phù hợp với tình hình thị trường Chính sách
và định hướng tín dụng mở rộng sẽ kích thích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển tín dụng như chính sách: mở rộng địa bàn, thành lập các điểm giao dịch đến khách hàng, chính sách giảm lãi suất cho vay, giảm phí dịch vụ các sản phẩm tín dụng khác như bảo lãnh, thư tín dụng…hay các dịch vụ đi kèm khác như chuyển tiền, mua bán ngoại tệ…; đơn giản hóa thủ tục, giảm tỷ lệ tham gia vốn trong phương án kinh doanh của khách hàng, tăng thu nhập cho nhân viên tín dụng để khuyến khích nhân viên tìm kiếm khách hàng, tăng cường chăm sóc khách hàng, tư vấn cho khách hàng sử dụng nhiều hơn sản phẩm dịch vụ trọn gói nhằm mang lại
Trang 35lợi nhuận nhiều hơn trên một khách hàng
Chính sách và định hướng tín dụng thu hẹp bằng việc hạn chế mở rộng điểm giao dịch, tăng lãi suất cho vay, yêu cầu các điều kiện vay vốn khắt khe hơn, tăng phí dịch vụ, tăng tỷ lệ tham gia vốn tự có trong phương án của khách hàng, không tăng thu nhập nhưng tăng trách nhiệm đối với bộ phận nghiệp vụ tín dụng… sẽ kìm hãm sự phát triển hoạt động tín dụng của các doanh nghiệp ngành gỗ
Nhiều trường hợp doanh nghiệp chấp nhận vay vốn với lãi suất cao để duy trì sản xuất, nhưng nếu kéo dài, doanh nghiệp sẽ tìm cách chuyển sang phương án tài trợ vốn từ các TCTD khác thay thế nhằm tiếp cận được nguồn vốn có chi phí thấp hơn, giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Năng lực của cán bộ ngân hàng
Năng lực của cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành gỗ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của đối tượng khách hàng này
Nếu nhân viên có trình độ nghiệp vụ kém sẽ không tư vấn các sản phẩm tín dụng phù hợp với từng đối tượng khách hàng trong từng giai đoạn ngành, không tích cực tìm kiếm khách hàng, không tích cực phát triển thị trường, địa bàn mới thì
sẽ khó phát triển được quy mô tín dụng Năng lực của cán bộ ngân hàng ngoài việc đánh giá bằng trình độ chuyên môn còn được đánh giá bằng trách nhiệm phục vụ trong công việc, nếu cán bộ không thân thiện và nhiệt tình trong việc tư vấn, chăm sóc khách hàng thì sẽ không gắn bó chặt chẽ với khách hàng trong quá trình sản xuất, khó nắm bắt các thông tin nội bộ liên quan đến khách hàng để kịp thời ứng xử, khó giữ được các khách hàng tốt trong giai đoạn các ngân hàng thương mại cạnh
Trang 36tranh rất mạnh như hiện nay Năng lực cán bộ hạn chế sẽ là rào cản khách hàng tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, khó phát triển hoạt động tín dụng cho ngành gỗ
Marketing (tiếp cận) và chăm sóc khách hàng
Marketing thông qua hình thức quảng cáo trên báo, đài, truyền hình về các sản phẩm tín dụng cho các doanh nghiệp ngành gỗ, về lãi suất ưu đãi cho vay; tiếp thị trực tiếp tại các cơ sở kinh doanh; hội thảo ngành gỗ; thông qua Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định…; mở rộng mạng lưới giao dịch để thuận tiện cho việc giao dịch của khách hàng; marketing thông qua các chương trình khuyến mãi khi khách hàng
sử dụng dịch vụ ngân hàng; chính sách chăm sóc khách hàng chu đáo
Nếu ngân hàng marketing tốt sẽ giúp tăng lượng khách hàng tìm đến để quan
hệ giao dịch với ngân hàng Qua đó có nhiều điều kiện tăng trưởng tín dụng Ngược lại khi ngân hàng không thực hiện các chiến lược martketing thì khách hàng sẽ ít biết đến các chính sách của ngân hàng để đến giao dịch, khó phát triển tín dụng
Năng lực dự báo của ngân hàng
Ngân hàng cần có năng lực dự báo tốt nhằm có kế hoạch phát triển hay thu hẹp quy mô tín dụng cho ngành gỗ phù hợp với điều kiện kinh tế, định hướng phát triển kinh tế của địa phương, phù hợp với thị trường trong tương lai Năng lực dự báo của ngân hàng còn cần thiết nhằm tư vấn cho khách hàng các chiến lược phù hợp về nhu cầu thị trường, giúp khách hàng chuẩn bị nguồn nguyên liệu, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong tương lai để có thể ứng phó tốt với diễn biến của thị trường
Nếu ngân hàng dự báo không tốt mà chỉ tăng trưởng tín dụng, tăng cường đầu tư vào ngành gỗ trong khi các quốc gia khác như Lào, Thái Lan, Campuchia….cũng tăng trưởng đồng loạt mà giá bán các sản phẩm gỗ của Việt Nam không đủ cạnh tranh Hoặc phía đối tác của Việt Nam như Mỹ, Canada, Úc…thay đổi chính sách nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ thì dẫn đến tình trạng
dư thừa, tồn kho cao, không bán được hàng Doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, người lao động không có thu nhập, dẫn đến kết quả là ngân hàng không thu được nợ, gia tăng nợ xấu ngành gỗ Do đó năng lực dự báo của ngân hàng có vai trò rất quan trọng và mang tính chiến lược trong việc phát triển lĩnh vực ngành gỗ
Trang 37(ii) Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ phía doanh nghiệp ngành gỗ
Năng lực của khách hàng doanh nghiệp ngành gỗ là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của chính bản thân doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến quá
trình quyết định và ứng xử tín dụng của NHTM Năng lực của doanh nghiệp được
hiểu ở đây là năng lực về kinh doanh, năng lực về tài chính và năng lực về quản lý
- Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là khả năng dự báo thị trường, khả năng sản xuất, lên kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đảm bảo sản phẩm được đón nhận
và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Năng lực tài chính là khả năng kiểm soát dòng tiền của doanh nghiệp, khả năng chủ động xây dựng các kế hoạch vốn và kiểm soát khả năng chi trả đảm bảo doanh nghiệp không bị hạn chế các cơ hội kinh doanh vì lý do nguồn vốn Mặt khác, năng lực tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp chống đỡ được với rủi ro Năng lực tài chính của doanh nghiệp cao, lành mạnh thì khả năng trả nợ ngân hàng được đảm bảo
- Năng lực quản lý là khả năng xây dựng mối liên hệ gắn kết các bộ phận của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp vận hành hiệu quả Khả năng tiếp cận được với vốn vay ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của doanh nghiệp bởi trên hết một doanh nghiệp có đầy đủ năng lực kinh doanh, tài chính, quản lý sẽ có năng lực trả nợ ngân hàng Doanh nghiệp có hệ thống thông tin tài chính minh bạch
và khả năng tự chủ tài chính cao sẽ có khả năng tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng với số lượng và giá cả hợp lý Ngoài ra, năng lực quản lý của hội đồng quản trị cũng như người đứng đầu doanh nghiệp cũng có tác động rất lớn đến việc tiếp cận vốn ngân hàng Bộ máy đứng đầu doanh nghiệp có uy tín và trình độ cao sẽ được ngân hàng chấm điểm tín dụng tốt, qua đó, tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng
(iii) Nhóm nhân tố môi trường
Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước
Chính sách của nhà nước luôn tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngân hàng trong từng lĩnh vực và từng ngành kinh tế Nếu chính sách nhà nước mở rộng đối
Trang 38với ngành lâm nghiệp, công nghiệp nói chung và ngành gỗ nói riêng thì ngân hàng
có nhiều cơ hội để phát triển tín dụng ngành gỗ Nhân tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước bao gồm chính sách phát triển ngành gỗ và chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp ngành gỗ như sau:
- Chính sách phát triển ngành gỗ
Việc phát triển ngành gỗ tại Việt Nam mang lại những lợi ích to lớn không chỉ về kinh tế mà nó còn tạo ra chuỗi giá trị mang lại lợi ích cho rất nhiều lĩnh vực liên quan Hiện tại, theo chủ trương của chính phủ trong điều hành kinh tế quốc gia thì lĩnh vực xây dựng, phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến, trồng rừng, chế biến lâm sản và sản xuất sản phẩm đồ gỗ, sản xuất ván nhân tạo đang được ưu đãi đầu tư Cụ thể, nội dung của Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 được thông qua ngày 15/11/2017 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 được bổ sung 4 chương mới so với Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 trong đó có chương “Chế biến, thương mại lâm sản” Theo đó quy định về chế biến và thương mại lâm sản để kết nối với giai đoạn bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng tạo thành chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp Luật tập trung quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý bền vững, tiêu thụ sản phảm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới; việc chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng; hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam; chính sách phát triển thị trường lâm sản
Gỗ là ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam và trong nhiều năm qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao Trong quyết định số 1137/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 03/8/2017 về việc “Phê duyệt đề án nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” thì đồ gỗ là mặt hàng đang có lợi thế xuất khẩu thuộc nhóm hàng công nghiệp chế biến Theo đó, mục tiêu của Chính phủ là nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới giai đoạn 2016-2020 và 2021-
Trang 392030, phấn đấu đạt thặng dư thương mại thời kỳ 2021 – 2030 Để thực hiện được mục tiêu, Chính phủ cũng đưa ra nhiều nhóm giải pháp chủ yếu như: tổ chức lại sản xuất thông qua chuyển đổi phương thức sản xuất và xuất khẩu; chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; nâng cao chất lượng đối với sản phẩm xuất khẩu; phát triển công nghiệp hỗ trợ đối với các ngành có lợi thế xuất khẩu; nâng cao năng lực của doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, quy trình sản xuất, xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…; củng cố và
mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu; nâng cao năng lực của các hiệp hội ngành hàng…
Thêm nữa, theo chỉ thị số 08/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 28/03/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ xuất khẩu, Thủ tướng chính phủ đã đưa ra mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp này Theo đó, chính phủ tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ phục vụ xuất khẩu và phát triển lâm nghiệp bền vững; tiếp tục các chính sách hỗ trợ về vốn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp về quỹ đất, mặt bằng đầu tư nhà máy, cơ sở sản xuất chế biến gỗ; khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng, chế biến gỗ tập trung làm nhiệm vụ cung ứng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến gắn kết với các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ Do đó trong giai đoạn kinh tế hiện nay, ngành gỗ đang được hưởng các ưu đãi về chính sách phát triển tín dụng
Được đánh giá là ngành kinh tế quan trọng với sự đóng góp khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bình Định, ngành chế biến gỗ rất được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Ngày 31/12/2019 UBND tỉnh Bình Định đã thông qua Quyết định số 5025/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2035 Trong
Trang 40đó nêu rõ mục tiêu và định hướng cụ thể, góp phần thúc đẩy ngành chế biến gỗ tỉnh Bình Định tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đúng với vị thế một trong bốn trung tâm chế biến gỗ mạnh nhất Việt Nam
- Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Như đã phân tích ở trên, đa số các doanh nghiệp hoạt động trong ngành gỗ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhiều năm qua Chính phủ cũng như Ngân hàng nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như nghị định, chỉ thị nhằm hỗ trợ, đồng hành cùng DNNVV Tại địa phương, các cấp, ban, ngành cũng có nhiều chính sách, quy định cụ thể hỗ trợ cho hoạt động đầu tư, phát triển, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho các DNVVN Cụ thể, vừa qua, ngày 26/8/2021 Chính phủ ban hành Nghị định 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 Theo đó, các DNNVV khởi nghiệp hoặc tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất khi vay vốn trung và dài hạn tại các tổ chức tín dụng để thực hiện phương án, dự án sản xuất - kinh doanh
Để hỗ trợ vốn vay, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, từ năm 2014 cho đến nay Ngân hàng Nhà nước đã triển khai Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp và đã đạt được những thành tựu đáng kể Theo đó, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ đạo các NHTM trên địa bàn chủ động tìm kiếm khách hàng, tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ tín dụng với lãi suất hợp lý cho từng khách hàng cụ thể, đáp ứng
đủ nhu cầu vốn chính đáng cho khách hàng đang hoạt động sản xuất kinh doanh Tại tỉnh Bình Định, tính đến tháng 6 năm 2021 đã có 22 NHTM và 54 khách hàng tham gia chương trình với tổng số tiền cam kết cho vay là 2869 tỷ đồng Chương trình đã và đang mang nhiều lợi ích cho cả ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp Riêng với doanh nghiệp đã tiếp cận thêm nhiều nguồn thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách của Chính phủ, NHNN và của tỉnh, đồng thời vay được vốn với lãi suất hợp lý, từ đó giảm bớt khó khăn về vốn cũng như chi phí lãi vay Các NHTM khơi thông được dòng vốn, giúp tăng trưởng tín dụng theo hướng chất lượng, an