1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Các quy định kiểm soát tập trung kinh tế - Luật Cạnh Tranh

37 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Quy Định Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế
Tác giả Trần Minh Thịnh, Lê Trường Giang, Nguyễn Thị Ngọc, Quỳnh Nguyễn, Trần Nhật Anh, Phạm Hoàng Khang
Người hướng dẫn GVHD: Vũ Lê Bằng
Trường học Trường Đại Học Bình Dương
Chuyên ngành Thương Mại 3
Thể loại Bài Tập Nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 96,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Các quy định kiểm soát tập trung kinh tế cung cấp các kiến thức chuyên sâu về pháp luật liên quan đến nội dung đề tài giúp cho bạn đọc tham khảo tiếp thu thêm thông tin liên quan và làm các bài báo có liên quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG



BÀI TẬP NHÓM 03 MÔN: THƯƠNG MẠI 3

GIẢNG VIÊN: VŨ LÊ BẰNG

LỚP: 23LK01

Bình Dương, ngày 21 tháng 4 năm 2023

Trang 2

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM

Môn: Thương mại 3

GVHD: Vũ Lê Bằng

Đề tài: Các quy định kiểm soát tập trung kinh tế

Hình thức liên lạc: Nhóm trên Zalo

Yêu cầu: Các thành viên tham gia tìm hiểu đề tài, phân tích, tìm hiểu thông tin, tra cứuLuật, tài liệu tham khảo để giải quyết các câu hỏi được giao

Đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm thông qua bảng phân công cụ thể đính kèm bên dưới:

Power point, trò chơi 100%

III, V, VI

100%

Nhóm trưởng

Trang 3

(Đã ký)

Trần Minh Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

PHẦN NỘI DUNG 6

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC TẬP TRUNG KINH TẾ 6

1.1 Khái niệm và đặc điểm 6

1.2 Các hình thức tập trung kinh tế 8

II NGƯỠNG THÔNG BÁO TẬP TRUNG KINH TẾ 15

2.1 Thông báo tập trung kinh tế 15

III TẬP TRUNG KINH TẾ BỊ CẤM 18

3.1 Các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm 18

3.2 Đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của việc tập trung kinh tế 19

3.3 Phương pháp xác định mức độ tập trung kinh tế 20

3.4 Ý nghĩa của việc tính toán các chỉ số xác định mức độ tập trung trên thị trường 23

IV QUY TRÌNH XỬ LÝ THÔNG BÁO TẬP TRUNG KINH TẾ 24

1 Hồ sơ thông báo tập trung kinh tế 24

2 Thủ tục thông báo tập trung kinh tế 25

V THẨM ĐỊNH SƠ BỘ VÀ THẨM ĐỊNH CHÍNH THỨC 28

5.1 Thẩm định thông báo tập trung kinh tế 28

5.2 Thẩm định sơ bộ 28

5.3 Thẩm định chính thức 30

VI QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ XỬ LÝ CÁC HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ 33

6.1 Quyết định tập trung kinh tế 33

6.2 Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

Tập trung kinh tế là một xu thế phát triển tất yếu của tư bản nền kinh tế thị trường

Áp lực cạnh tranh gay gắt, yêu cầu áp dụng công nghệ mới, nhu cầu về vốn và vai trò củasức mạnh trong tài chính thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động tập trung

tư bản Các hoạt động này giúp hình thành các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh caohơn trên cơ sở tập trung sức mạnh của nhiều doanh nghiệp trên thị trường Tập trung kinh

tế thuộc phạm vi của quyền tự do kinh doanh, được ghi nhận chủ yếu trong pháp luật vềdoanh nghiệp, pháp luật đầu tư và pháp luật chứng khoán Các giao dịch tập trung kinh tếkhông luôn mang tác động làm suy giảm cạnh tranh, mà có cả mặt tiêu cực và tích cực.Chính vì thế tập trung kinh tế không đương nhiên là một hành vi phản cạnh tranh Tuynhiên, sự xuất hiện của những doanh nghiệp có sức mạnh đáng kể trên thị trường thôngqua tập trung kinh tế có thể làm nảy sinh tình trạng tập trung quyền lực thị trường, dẫn đếnkhả năng lạm dụng quyền lực đó, gây tác động bất lợi cho cạnh tranh Trước sự gia tăngcủa làn sóng tập trung kinh tế, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế trong hệthống bảo vệ cạnh tranh là một việc làm cấp thiết Nhu cầu kiểm soát các hành vi tập trungkinh tế chứng tỏ quyền tự do kinh doanh, quyền tự do thành lập doanh nghiệp là có giớihạn để đảm bảo tính công bằng của thị trường cạnh tranh Việc kiểm soát này xác định lànranh giữa các giao dịch tập trung kinh tế bị cấm và các giao dịch được phép thực hiện

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC TẬP TRUNG KINH TẾ

1.1 Khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Khái niệm

Ở mức độ khái quát nhất, tập trung kinh tế là một quá trình tích tụ năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp thông qua các hành vi tổ chức lại hoặc thông qua tăng trưởngnội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh

Luật cạnh tranh 2018 không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào cho khái niệm “tập trungkinh tế” mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là hành vi tập trung kinh tế, bao gồm sáp nhậpdoanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanhnghiệp, và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định khác của pháp luật (các hành

vi chưa được liệt kê trong LCT 2018) Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi nêu trênđều chịu sự kiểm soát của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh Chỉ các hành vi được thựchiện dưới các hình thức nêu trên và có các dấu hiệu nhằm tập trung quyền lực thị trường,gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể mới bịkiểm soát và bị xử lý theo quy định của pháp luật cạnh tranh (Điều 30 LCT 2018) Vớimục đích điều chỉnh của LCT 2018, tập trung kinh tế có thể được định nghĩa là các hành vitích tụ quyền lực thị trường của các doanh nghiệp với mục đích hạn chế cạnh tranh trên thịtrường liên quan thông qua việc giảm bớt số lượng đối thủ cạnh tranh hoặc tạo ra sự liênkết giữa các đối thủ hoặc các chủ thể có mối quan hệ trong cùng chuỗi kinh doanh để hạnchế cạnh tranh

1.1.2 Đặc điểm

Các hoạt động tập trung kinh tế có các đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của các hoạt động tập trung kinh tế chịu sự kiểm soát của LCT

2018 là các doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 LCT 2018, doanh nghiệp

Trang 8

được định nghĩa rất rộng bao gồm các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc mọi thành phầnkinh tế, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và cả các đơn vị sự nghiệp cônglập

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh được thành lập theo pháp luật Việt Nam là các chủthể thực hiện các vụ việc tập trung kinh tế phổ biến nhất trên thị trường Tuy nhiên, khôngphải tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh đều có thể thực hiện tất cả các hình thức tậptrung kinh tế theo quy định của LCT 2018 Chẳng hạn như hình thức hợp nhất hoặc sápnhập doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh có tư cách phápnhân

Nhóm chủ thể thứ hai chịu sự điều chỉnh của việc kiểm soát hành vi tập trung kinh

tế là "doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam" LCT 2018 không giải thích thếnào là "doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam" "Doanh nghiệp nước ngoài"trong trường hợp này có thể hiểu là thương nhân nước ngoài theo quy định của khoản 1Điều 16 LTM 2005 thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo của pháp luậtnước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận Căn cứ vào khoản 2 Điều 16 LTM

2005, có ba hình thức hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam: (i)doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, (ii) chi nhánh thương nhân nước ngoài và vănphòng đại diện của thương nhân nước ngoài Nếu căn cứ vào các hình thức tập trung kinh

tế đang chịu sự điều chỉnh của LCT 2018 thì trong ba chủ thể nêu trên chỉ doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài là chủ thể có tư cách pháp nhân thực hiện các hoạt động tập trungkinh tế dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh Tuy nhiên, bằng các quy định về ngưỡngthông báo tập trung kinh tế và thị trường chịu sự tác động hoặc có khả năng chịu tác độnghạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi tập trung là thị trường Việt Nam, cácdoanh nghiệp nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam và thực hiện giao dịch tập trungkinh tế bên ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định kiểm soáttập trung kinh tế của pháp luật cạnh tranh Việt Nam nếu giao dịch đó có liên quan đến thịtrường Việt Nam đến mức có thể “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranhmột cách đáng kể trên thị trường Việt Nam”

Trang 9

Thứ hai, tập trung kinh tế được thực hiện thông qua các hình thức: sáp nhập, hợp

nhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp hoặc hình thức khác do pháp luật quyđịnh Đặc điểm này là một dấu hiệu giúp phân biệt tập trung kinh tế với tích tụ tư bản hoặctập trung tư bản Tích tụ tư bản là việc tăng thêm tư bản dựa vào tích lũy giá trị thặng dư,biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản Tích tụ tư bản thường không được thực hiệndưới các hình thức tập trung kinh tế chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh Tập trung

tư bản có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả hoạt động liên kết các tư bản cá biệt và tín dụng tưbản để tập trung các nguồn tư bản nhàn rỗi Các hình thức tập trung kinh tế thuộc đốitượng điều chỉnh của pháp luật kiểm soát hạn chế cạnh tranh chỉ liên quan hoạt động liênkết của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

Thứ ba, hậu quả của tập trung kinh tế là làm thay đổi mức độ tập trung của thị

trường và có thể bóp méo cạnh tranh trên thị trường đó Tập trung kinh tế có thể dẫn đếnviệc hình thành các doanh nghiệp có quyền lực thị trường như doanh nghiệp có vị trí thốnglĩnh thị trường hoặc thậm chí là doanh nghiệp có vị trí độc quyền, làm thay đổi cấu trúc vàtương quan cạnh tranh trên thị trường Các hình thức sáp nhập, hợp nhất sẽ làm cấu trúc thịtrường thay đổi theo hướng làm giảm đi số lượng doanh nghiệp đang hoạt động với việctập trung tất cả nguồn lực vào doanh nghiệp được sáp nhập hoặc doanh nghiệp mới hìnhthành Việc mua lại hoặc liên doanh sẽ hình thành nên sự liên kết giữa các doanh nghiệpđộc lập về pháp lý để tạo ra nhóm doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo mô hình nhómcông ty, theo đó các doanh nghiệp liên kết có mối quan hệ sở hữu với nhau Cho dù tậptrung kinh tế được thực hiện dưới hình thức tập trung hay liên kết năng lực kinh doanh thìđều dẫn đến hậu quả là tương quan cạnh tranh trên thị trường thay đổi, xuất hiện doanhnghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có sức mạnh thị trường lớn hơn trước đó mà không phảiqua quá trình tích tụ tư bản

1.2 Các hình thức tập trung kinh tế

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 LCT 2018 thì tập trung kinh tế có thể được thựchiện thông qua các hình thức sau: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại

Trang 10

doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác

mà pháp luật có quy định

1.2.1 Sáp nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 LCT 2018, sáp nhập doanh nghiệp là việc mộthoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp củamình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồntại của doanh nghiệp bị sáp nhập Khái niệm này có điểm tương đồng với khái niệm sápnhập công ty quy định tại khoản 1 Điều 201 LDN 2020 và khái niệm hợp nhất pháp nhânquy định tại Điều 89 BLDS 2015 mặc dù không hoàn toàn trùng khít lên nhau Theo quyđịnh của LDN 2020 hay BLDS 2015, việc sáp nhập công ty hay sáp nhập pháp nhân sẽ dẫnđến hậu quả tất yếu là công ty/pháp nhân bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình Nhưvậy, sáp nhập doanh nghiệp sẽ làm cho số lượng doanh nghiệp giảm đi Nếu các doanhnghiệp thực hiện việc sáp nhập cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh với nhauhoặc cùng tham gia vào chuỗi sản xuất hay cung ứng một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất địnhthì việc sáp nhập này sẽ làm giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan đến các sản phẩmhàng hóa, dịch vụ đó So với khái niệm sáp nhập công ty được quy định trong LDN 2020

và sáp nhập pháp nhân theo quy định của BLDS 2015, khái niệm sáp nhập doanh nghiệpquy định tại LCT 2018 bao gồm cả trường hợp doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt hoạtđộng kinh doanh mà có thể chưa chấm dứt sự tồn tại của mình Khái niệm sáp nhập doanhnghiệp theo quy định của LCT 2018 có thể gây tranh cãi vì nếu doanh nghiệp bị sáp nhập

đã chấm dứt hoạt động kinh doanh thì không có lý do gì để tiếp tục tồn tại Mặc dù vậy,quy định này cho thấy LCT 2018 thể hiện ý chí của các nhà làm luật mong muốn kiểm soáttriệt để hơn các hành vi tập trung kinh tế khi mở rộng khái niệm sáp nhập doanh nghiệp(có thể bao gồm cả trường hợp chỉ sáp nhập một hoặc một số hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp bị sáp nhập) Ngoài ra, mặc dù về nguyên tắc, khi một doanh nghiệp sápnhập vào một doanh nghiệp khác, doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại củamình, cũng sẽ có một khoảng thời gian mà doanh nghiệp bị sáp nhập đã chấm dứt hoạtđộng kinh doanh nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt sự tồn tại của mình Khái niệm

Trang 11

sáp nhập doanh nghiệp như quy định tại LCT 2018 sẽ cho phép kiểm soát hành vi này dướigóc độ bảo vệ cạnh tranh sớm hơn việc sử dụng khái niệm như quy định trong LDN 2020hay trong BLDS 2015.

1.2.2 Hợp nhất doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 LCT 2018, hợp nhất doanh nghiệp là việc haihoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp củamình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc

sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất Tương tự như quy định về sáp nhập doanhnghiệp, quy định về hợp nhất doanh nghiệp của LCT 2018 đưa ra hai hệ quả của việc hợpnhất doanh nghiệp, bao gồm:

(i) doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt hoạt động kinh doanh; hoặc

(ii) doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại Theo quy định tại khoản 1 Điều

200 LDN 2020 và khoản 2 Điều 88 BLDS 2015, hệ quả của việc hợp nhất công ty hay hợpnhất pháp nhân là công ty/pháp nhân bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại của mình Tác độngđối với cạnh tranh của việc hợp nhất công ty/pháp nhân về cơ bản tương tự như hành visáp nhập công ty/pháp nhân, đó là làm giảm số lượng doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranhtrên thị trường hoặc làm giảm áp lực cạnh tranh do có doanh nghiệp chấm dứt hoạt độngkinh doanh ngành nghề cạnh tranh với các doanh nghiệp đang tiếp tục hoạt động trên thịtrường Tương tự với sự tương đồng và khác biệt trong định nghĩa của khái niệm sáp nhậpdoanh nghiệp quy định tại LCT 2018 và LDN 2020, so với khái niệm hợp nhất công tyđược quy định tại khoản 1 Điều 200 LDN 2020, khái niệm hợp nhất doanh nghiệp theoLCT 2018 đã được mở rộng để áp dụng sự kiểm soát của pháp luật cạnh tranh đối vớitrường hợp các doanh nghiệp bị hợp nhất đã chấm dứt hoạt động kinh doanh nhưng chưahoàn thành thủ tục để chấm dứt sự tồn tại của mình

1.2.3 Mua lại doanh nghiệp

Về bản chất pháp lý, mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng biệnpháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại Theo

Trang 12

quy định tại khoản 4 Điều 19 LCT 2018, mua lại doanh nghiệp với tính chất là một hành vitập trung kinh tế chịu sự điều chỉnh của LCT 2018 là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặcgián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểmsoát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại So với kháiniệm mua lại doanh nghiệp quy định trong LCT 2004, khái niệm này trong LCT 2018 đãđược mở rộng để điều chỉnh hành vi mua tài sản, vốn góp của doanh nghiệp khác, bao gồm

cả việc mua trực tiếp và mua gián tiếp Mặc dù vậy, LCT 2018 và Nghị định

35/2020/NĐ-CP đều không giải thích sự khác biệt giữa hành vi mua trực tiếp và mua gián tiếp Theonghĩa thông thường thì hành vi này bao gồm cả trường hợp chính bên đi mua tiến hànhmua hoặc là việc mua đó được tiến hành bởi bên môi giới, bên trung gian hay bên đại diệnhoặc thông qua công ty con, công ty liên kết Khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020/NĐ-CPgiải thích việc "kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệpkhác" gồm các trường hợp cụ thể sau đây:

(a) Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên50% cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp bị mua lại;

(b) Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trên 50%tài sản của doanh nghiệp bị mua lại trong toàn bộ hoặc một ngành, nghề kinh doanh củadoanh nghiệp bị mua lại đó;

(c) Doanh nghiệp mua lại có một trong các quyền sau:

- Trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa sốhoặc tất cả thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổnggiám đốc của doanh nghiệp bị mua lại;

- Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp bị mua lại;

- Quyết định các vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bịmua lại bao gồm việc lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; lựa chọn ngành, nghề, địabàn, hình thức kinh doanh; lựa chọn điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh; lựa

Trang 13

chọn hình thức, phương thức huy động, phân bố và sử dụng vốn kinh doanh của doanhnghiệp đó.

Như vậy, không phải tất cả các trường hợp mua lại doanh nghiệp đều chịu sự điềuchỉnh của LCT 2018 mà việc mua lại đó phải nhằm kiểm soát doanh nghiệp khác dựa trênmột trong tiêu chí nêu trên Trong khi tiêu chí (a) và (b) mang tính định lượng khá rõ ràngthì việc xác định sự thỏa mãn các tiêu chí nêu tại mục (c) nêu trên là không dễ dàng khi cácquyền chi phối hoặc kiểm soát đó được thể hiện ngầm, qua các lớp trung gian

Các tiêu chí nêu tại mục (b) và mục (c) khoản 1 Điều 2 Nghị định 35/2020/NĐ-CP

có ý nghĩa mở rộng khái niệm "mua lại" với tư cách là một hành vi tập trung kinh tế chịu

sự kiểm soát của pháp luật cạnh tranh, và vì thế đưa thêm một số giao dịch có thể khôngthỏa mãn các tiêu chí "kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanhnghiệp khác" theo quy định của Nghị định 116/2005/NĐ-CP vào đối tượng kiểm soát hành

vi tập trung kinh tế của LCT 2018 Việc mở rộng nội hàm của khái niệm mua lại" và cụm

từ "kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác" củaLCT 2018 và Nghị định 35/2020/NĐ-CP có thể khắc phục được hạn chế của LCT 2004 vàhướng dẫn tại Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP liên quan đến hai khái niệm này

Theo quy định tại Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, "kiểm soát hoặc chi phốitoàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác quy định tại khoản 3 Điều 17 củaLCT 2004 là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giànhđược quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểmsoát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trịhoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ

để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanhnghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp bị kiểm soát."

Như vậy, theo quy định này, việc kiểm soát hoặc chi phối luôn gắn với quyền sởhữu và đồng thời gắn với quyền biểu quyết ở một tỷ lệ nhất định Chính vì quy định này

Trang 14

mà HĐXLVVCC trong giao dịch mua bán tài sản kinh doanh giữa công ty Grab HoldingsInc (bên mua) và công ty Uber International C.V (bên bán 1) và công ty ApparateInternational C.V (bên bán 2) đã kết luận không có hành vi "mua lại" thỏa mãn quy địnhcủa LCT 2004 và không đủ yếu tố cấu thành hành vi tập trung kinh tế theo quy định củaLCT 2004 vì công ty TNHH Grabtaxi không tham gia quản lý cũng như không chiếm bất

kỳ tỷ lệ bỏ phiếu nào trong công ty TNHH Uber Việt Nam' Mặc dù lập luận củaHĐXLVVCT trong vụ việc này vẫn gây tranh cãi khi đánh đồng bên mua và bên bán vớiđối tượng được mua bán, quy định giới hạn việc "kiểm soát hoặc chi phối" chỉ đến từ việc

sở hữu tài sản bên mua và chiếm tỷ lệ biểu quyết nhất định của Điều 34 Nghị định116/2005/NĐ-CP vô hình chung đã loại bỏ một số giao dịch có bản chất của tập trung kinh

tế ra khỏi phạm vi kiểm soát Ngoài ra, tương tự như LCT 2004, LCT 2018 cũng chỉ điềuchỉnh việc mua lại (cho mục đích kiểm soát hành vi tập trung kinh tế) của các doanhnghiệp mà không điều chỉnh hành vi của một cá nhân đầu tư gián tiếp thông qua việc mualại cổ phần, phần vốn góp của cổ đông hoặc người sở hữu phần vốn góp khác trong mộtdoanh nghiệp mà không trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh

1.2.4 Liên doanh giữa các doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 5 Điều 29 LCT 2018, liên doanh giữa các doanh nghiệp làviệc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợiích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới

Cần phân biệt khái niệm liên doanh theo nghĩa pháp lý với khái niệm "liên danh,liên kết" thường được sử dụng trong thực tiễn hoạt động kinh doanh "Liên danh, liên kết"thường được dùng để chỉ sự hợp tác trong kinh doanh của các doanh nghiệp theo một dự

án, chương trình, mục tiêu cụ thể mà không hình thành một doanh nghiệp mới Ví dụ liêndanh tham gia đầu thầu, liên kết để mua hàng xuất khẩu Tuy liên doanh trong thực tế làmgia tăng số lượng doanh nghiệp trên thị trường, việc liên doanh lại làm giảm cạnh tranhnếu các doanh nghiệp trước khi tham gia liên doanh là đối thủ cạnh tranh của nhau trên thịtrường liên quan Việc liên doanh của hai doanh nghiệp đã tạo nên mối liên hệ về sở hữutrong liên doanh mới được thành lập và nếu cả ba doanh nghiệp (hai bên liên doanh và

Trang 15

doanh nghiệp liên doanh) lại cùng kinh doanh một hoặc một số loại sản phẩm hàng hóa,dịch vụ trên thị trường liên quan thì sẽ không còn cạnh tranh với nhau nữa Ngoài ra, việcliên doanh giữa các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, phân phối hoặc cung ứng một loạihàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gialiên doanh và doanh nghiệp hình thành sau liên doanh là bổ trợ cho nhau sẽ có thể gây ảnhhưởng đến mức độ cạnh tranh trên thị trường Theo pháp luật Việt Nam, liên doanh đượchiểu là việc các bên cùng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật vềđầu tư, pháp luật về doanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác Vì vậy, ngoài việc phảichịu sự điều chỉnh của LCT 2018, hoạt động liên doanh còn chịu sự điều chỉnh của các quyđịnh về đăng ký kinh doanh, về hình thức tổ chức quản lý doanh nghiệp, về thủ tục đăng

ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư trong các quy định pháp luật nói trên

1.2.5 Các hình thức tập trung kinh tế khác

Ngoài bốn hình thức tập trung kinh tế như đã phân tích ở trên, LCT 2018 còn kiểmsoát "những trường hợp tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật" Đây là cáchquy định mang tính "dự phòng" với mục tiêu bao quát hết những hiện tượng mang bản chấtcủa hoạt động tập trung kinh tế đã được quy định ở pháp luật chuyên ngành tại thời điểmLCT 2018 có hiệu lực hoặc sau đó, khi các hình thức đó xuất hiện và được một văn bảnquy phạm pháp luật gọi tên là một hình thức tập trung kinh tế

Việc mua cổ phần, vốn góp khi doanh nghiệp phát hành thêm cổ phần hay huy độngthêm vốn điều lệ cũng có thể được coi là một cách thức liên kết kinh tế và đến một mức độnào đó, có thể coi là một hình thức khác của tập trung kinh tế Vì vậy, không phải ngẫunhiên mà pháp luật doanh nghiệp hay pháp luật chứng khoán thường quan tâm đến vấn đềkhống chế mức tham gia góp vốn vào một doanh nghiệp hay tỷ lệ mà mỗi nhà đầu tư đượcmua trong mỗi đợt phát hành cổ phiếu Ngoài ra, việc tham gia vào các hợp đồng hợp táckinh doanh để cùng phân chia lợi nhuận hay sản phẩm đầu tư cũng cần được xem là mộthình thức tập trung kinh tế khác vì trong các trường hợp như vậy, đã xuất hiện sự liên kếtgiữa các bên tham gia Phụ thuộc vào mức độ tập trung của thị trường trong một ngànhhoặc nhất định, các hoạt động liên kết như vậy cũng có thể có tác động hạn chế cạnh tranh

Trang 16

trên thị trường Chẳng hạn như khi hai công ty ký một hợp đồng hợp tác kinh doanh đểphát triển một siêu dự án bất động sản Nếu dự án đó cung cấp một lượng căn hộ, nhà ởthương mại lớn cho một khu vực địa lý nhất định, các sản phẩm của dự án đó sẽ ảnh hưởngrất lớn đến cạnh tranh trên thị trường cung của căn hộ, nhà ở thương mại tại khu vực đó.Những hoạt động liên kết như vậy cũng cần sự kiểm soát của pháp luật chống hạn chế cạnhtranh để duy trì thị trường cạnh tranh bình đẳng cho các chủ thể tham gia thị trường liênquan.

II NGƯỠNG THÔNG BÁO TẬP TRUNG KINH TẾ

2.1 Thông báo tập trung kinh tế

2.1.1 Các tiêu chí xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế

Theo quy định của LCT 2018, các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế phải tiếnhành thông báo trước khi thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 2Điều 33 LCT 2018, trong đó có đến 3% các tiêu chí không phụ thuộc vào việc các doanhnghiệp có cùng kinh doanh trên cùng một thị trường liên quan hay không Mặc dù quyđịnh này được đánh giá là một điểm tiến bộ của LCT 2018 so với LCT 2004 vì đã mở rộngviệc kiểm soát đối với các giao dịch tập trung kinh tế, các tiêu chí này cũng có mặt trái của

nó Nếu ngưỡng của các tiêu chí này được quy định không phù hợp (thấp hơn so với mức

có thể tác động bất lợi đối với cạnh tranh trên thị trường liên quan) sẽ dẫn đến sự quá tảicho hệ thống kiểm soát và tạo gánh nặng không cần thiết về thủ tục cho các doanh nghiệp.Khoản 2 Điều 33 LCT 2018 quy định các tiêu chí xác định ngưỡng thông báo tập trungkinh tế bao gồm:

(i) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinhtế;

(ii) Tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trungkinh tế;

(iii) Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế; hoặc

Trang 17

(iv) Thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trungkinh tế

Hai tiêu chí đầu tiên được xác định đối với từng doanh nghiệp tham gia, nghĩa là chỉcần bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia vào một giao dịch có tổng tài sản hay tổng doanhthu đạt ngưỡng quy định là giao dịch đó phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế.Quy định này được đánh giá là phù hợp vì bao quát tất cả các giao dịch có sự tham gia của

ít nhất một doanh nghiệp có quyền lực thị trường ở một mức nhất định (thông qua số liệu

về tổng giá trị tài sản và tổng doanh thu trên thị trường của doanh nghiệp đó) Tiêu chí thứ

tư dựa trên tổng thị phần trên thị tập trung kinh tế dự kiến trường liên quan của tất cả cácdoanh nghiệp tham gia giao dịch tập trung kinh tế dự kiến

Khoản 3 Điều 33 LCT 2018 trao quyền cho Chính phủ trong việc quy định chi tiếtcác tiêu chí nêu trên căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Việc traoquyền cho Chính phủ trong việc quy định chi tiết các tiêu chí này là hợp lý căn cứ vào sựbiến động của thị trường trong từng giai đoạn của nền kinh tế Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định cụ thể các ngưỡng thông báo tập trung kinh tế và chia các ngưỡng thôngbáo tập trung kinh tế thành hai nhóm căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệpnày: nhóm thứ nhất áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghềkhông phải là các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán; và nhómthứ hai là các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán

Đối với nhóm thứ nhất, các giao dịch thỏa mãn một trong các tiêu chí sau đây thìphải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế trước khi thực hiện:

a) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp hoặc nhóm doanhnghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tàichính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế;

b) Tổng doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam củadoanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt

Trang 18

3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trungkinh tế;

c) Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế từ 1.000 tỷ đồng trở lên; hoặc

d) Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế từ20% trở lên trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thựchiện tập trung kinh tế

Đối với hoạt động tập trung kinh tế của các doanh nghiệp thuộc nhóm 2, cácngưỡng thông báo tập trung kinh tế được quy định như sau:

a) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp hoặc nhóm doanhnghiệp bảo hiểm liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên, của công ty hoặc nhóm công

ty chứng khoán liên kết mà công ty đó là thành viên đạt 15.000 tỷ đồng trở lên trong nămtài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế; tổng tài sản trên thị trườngViệt Nam của tổ chức tín dụng hoặc nhóm tổ chức tín dụng liên kết mà tổ chức tín dụng đóviên đạt 20% trở lên trên tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng trên thị trường ViệtNam trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế;

b) Tổng doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam củadoanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp bảo hiểm liên kết mà doanh nghiệp đó là thànhviên đạt 10.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tậptrung kinh tế; tổng doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam củacông ty hoặc nhóm công ty chứng khoán liên kết mà công ty đó là thành viên đạt 3.000 tỷđồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế;tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của tổ chức tín dụng hoặc nhóm tổ chức tín dụngliên kết mà tổ chức tín dụng đó là thành viên đạt từ 20% trở lên trên tổng doanh thu của hệthống các tổ chức tín dụng trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tậptrung kinh tế;

c) Giá trị giao dịch của tập trung kinh tế của doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứngkhoán từ 3.000 tỷ đồng trở lên; giá trị giao dịch của tập trung kinh tế của tổ chức tín dụng

Ngày đăng: 05/12/2023, 14:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w