TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐẠI HỌC HUẾ DANH SÁCH THÀNH VIÊN Ngô Thị Thùy Linh 20F7540358 Đoàn Thị Kiều Oanh 20F7540439 Nguyễn Thị Thu Đông 20F7540247 Lê Thị Thạch Đan 20F7540019 Phan Thị Lý 19F7541120 H[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ-ĐẠI HỌC HUẾ
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Đoàn Thị Kiều Oanh 20F7540439
Nguyễn Thị Thu Đông 20F7540247
Hoàng Thị Phương Huyền 20F7540331
Nguyễn Thị Kim Ngân 20F7540394
Năm học: 2023-2024
GIẢNG VIÊN: LIÊU THỊ THANH NHÀN
Trang 2ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ ẨM THỰC TRONG TIẾNG HÁN
VÀ TIẾNG VIỆT
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Lịch sử vấn đề
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
2.1.1 Khái niệm về “ẩm thực”
2.1.2 Khái quát về thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ trong tiếng Hán
2.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ trong tiếng Việt
2.1.2.3 So sánh khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt 2.1.2.4 So sánh đặc điểm thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt
2.1.3 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
2.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
2.2.1 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán
2.2.1.1 Về số lượng âm tiết
2.2.1.2 Về cấu trúc của thành ngữ
2.2.1.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
2.2.1.4 Về yếu tố văn hóa liên quan đến thành ngữ
2.2.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Việt
2.2.2.1 Về số lượng âm tiết
2.2.2.2 Về cấu trúc của thành ngữ
2.2.2.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
2.2.2.4 Về yếu tố văn hóa liên quan đến thành ngữ
2.3 So sánh đối chiếu thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
2.3.1 Về số lượng âm tiết
2.3.2 Về cấu trúc thành ngữ
2.3.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
2.3.4 Về yếu tố văn hóa liên quan đến thành ngữ
3 KẾT LUẬN
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là một hoạt động đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Dù trong cuộc sống hay trong công việc, giao tiếp đều là cầu nối quan trọng giữa con người với con người, giúp chúng ta hiểu nhau hơn Chúng ta đều biết phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất của con người chính là ngôn ngữ Chính vì vậy trong các thập kỉ gần đây, ngành ngôn ngữ học thu hút được rất nhiều sự quan tâm chú ý Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ thuộc từ vựng - đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học Thành ngữ giống như gia vị để thêm hương vị cho một ngôn ngữ, làm đa dạng
và phong phú cho hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó Hiện nay, thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp Việc hiểu và sử dụng thành ngữ một cách chính xác có thể nâng cao kỹ năng ngôn ngữ
Các thành ngữ thường được lấy từ các hình ảnh gần gũi, thân thuộc đối với đời sống nhân dân như hình thành từ đời sống văn hóa - xã hội, hình thành
từ thế giới tự nhiên (động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên) Việt Nam và Trung Quốc là hai đất nước láng giềng ở cùng khu vực châu Á, do đó có rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa, trong đó có cả nền ẩm thực Với điều kiện
tự nhiên đa dạng, chủ yếu là khí hậu nhiệt đới và gần đại dương lớn, cho nên nền ẩm thực của Việt Nam và Trung Quốc vô cùng đa dạng và phong phú Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực của Việt Nam và Trung Quốc cũng vô cùng
đa dạng và phong phú Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực là các thành ngữ thông qua nguyên liệu, gia vị, món ăn, phương thức chế biến, cách ăn uống,…
để thể hiện nếp ăn uống, tình cảm, văn hoá ẩm thực lâu đời trong mỗi quốc gia và một số mục đích khác
Thông qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đề tài về ẩm thực luôn là đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm của dư luận Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về đề tài “Thành ngữ có yếu tố chỉ
ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt” Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu Thông qua quá trình nghiên cứu
về đề tài này, chúng tôi hy vọng có thể làm tăng thêm vốn kiến thức về đặc trưng văn hoá ẩm thực của Việt Nam và Trung Quốc
1.2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó, có một số tác giả đã đưa ra các công trình nghiên cứu hoàn chỉnh
Trang 4Ở nước ngoài:
- Tác giả Shi Shi (1979) xuất bản công trình nghiên cứu《汉语成语研汉语成语研
究》》(Hán ngữ thành ngữ nghiên cứu), ông tập trung nghiên cứu về nguồn
gốc của thành ngữ tiếng Hán, và cho rằng thành ngữ có hai nguồn gốc chính, một là lưu truyền qua khẩu ngữ, hai là lưu truyền qua văn bản.(Shi Shi, 1979, tr.12)
- Tác giả Liu Jiexiu (1985) xuất bản công trình nghiên cứu《汉语成语研成语》
(Thành ngữ), đây là một công trình có sức ảnh hưởng to lớn, trong đó có thảo
luận về sự nhận diện, nguồn gốc, ngữ nghĩa, phát âm, sự vận dụng của thành ngữ (Liu Jiexiu, 1985)
- Tác giả Li Danong (1994), trong công trình nghiên cứu《汉语成语研成语与中国
文 化》》(Thành ngữ và văn hoá Trung Quốc), đã chỉ ra đặc sắc văn hoá của
thành ngữ tiếng Hán được thể hiện ở hai phương diện, một là hình thức của thành ngữ và hai là nội dung của thành ngữ (Li Danong, 1994, tr.15)
- Tác giả Wang Qingjiang (2000), trong công trình nghiên cứu《汉语成语研成语语
义类型及其对词汇——语义搭 配的限制》》(Loại hình ngữ nghĩa của thành ngữ và sự hạn chế của nó đối với sự kết hợp từ vựng -ngữ nghĩa ), ông cho
rằng nghĩa khái niệm, nghĩa tình cảm, nghĩa tu từ, nghĩa liên tưởng vừa ảnh hưởng vừa hạn chế khả năng kết hợp từ vựng - ngữ nghĩa của thành ngữ.( Wang Qingjiang, 2000, tr.21)
- Tác giả Mo Pengling (2001), trong công trình nghiên cứu《汉语成语研汉 语成语
与汉文化》》(Hán ngữ thành ngữ và văn hoá Hán) đã chỉ ra thành ngữ là tinh
hoa của ngôn ngữ, cũng là tinh hoa của văn hóa, trong thành ngữ tiếng Hán gần như phản ánh tất cả mọi phương diện của văn hoá Hán đó là ẩm thực, trang phục, tiêu chuẩn đo lường, phương tiện giao thông, lễ nghi, âm nhạc, thiên văn, lịch sử, địa lý, văn học, quân sự, chế độ thi cử.( Mo Pengling, 2001,tr.12)
- Tác giả Long Qingran (2009) trong công trình nghiên cứu《汉语成语研汉语成语
结构 , 对称类析》》(Phân tích cấu trúc đối xứng của thành ngữ tiếng Hán), đã
chỉ ra đặc trưng đối xứng của thành ngữ tiếng Hán được thể hiện ở hai mặt, một là tính đối xứng của cấu trúc và hai là tính đối xứng về thành phần.(Long Qingran, 2009, tr.17)
- Tác giả Wang Zheng (2011), đã xuất bản công trình nghiên cứu《汉语成语研汉语
成语的结 构特点及汉译法等效研究》》(Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc thành ngữ tiếng Hán và phương pháp Hán dịch) và dựa vào cấu trúc của thành ngữ,
tác giả đã tiến hành thảo luận về việc phiên dịch thành ngữ tiếng Hán sang tiếng Pháp.( Wang Zheng, 2011)
- Tác giả Su Chunmei (2004), trong công trình nghiên cứu《汉语成语研“吃”的寓意
——成语中的饮食文化》》(Ngụ ý của “ăn” -văn hoá ẩm thực trong thành
Trang 5ngữ), tác giả đã dựa vào thành ngữ phân tích văn hoá ẩm thực và quan niệm
trích học của người Hán.( Su Chunmei, 2004)
- Tác giả Xu Dachen (2006), đã có công trình nghiên cứu《汉语成语研齿颊生香:
饮食文化》与成语》(Xỉ giáp sinh hương: văn hoá ẩm thực và thành ngữ), đây
là một chuyên khảo về thành ngữ liên quan đến ẩm thực, tác giả liệt kê ra 429 thành ngữ tiếng Hán liên quan đến ẩm thực và dựa vào từng cái thành ngữ cụ thể thảo luận về thành ngữ ẩm thực và văn hoá (Xu Dachen, 2006)
- Tác giả Trần Thúy Vân và Trần Thị Tường Vân (2016) có công trình
nghiên cứu "Food idioms across cultures: A contrastive study of English and Vietnamese" (Thành ngữ ẩm thực qua các văn hóa: Một nghiên cứu so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Việt), công trình này đã đi sâu vào việc so sánh và
phân tích các thành ngữ về ẩm thực trong tiếng Anh và tiếng Việt, giúp người học hiểu rõ các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này Công trình này cũng khám phá cách thức sử dụng thành ngữ trong văn hóa và tư duy của người nói mỗi ngôn ngữ.( Trần Thúy Vân và Trần Thị Tường Vân, 2016)
Ở Việt Nam:
- Tác giả Dương Quảng Hàm (1943) trong cuốn Việt nam học sử yếu ông
là người đầu tiên thảo luận về sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, mặc dùông không đi sâu thảo luận về thành ngữ, nhưng ông đã khiến cho thành ngữ trở thành một đối tượng nghiên cứu riêng (Dương Quảng Hàm, 1943)
- Tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1972) trong trong công trình nghiên cứu
Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ có quan điểm cho rằng thành ngữ và
tục ngữ khác nhau về ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp.( Nguyễn Văn Mệnh,
1974, tr.27)
- Tác giả Nguyễn Văn Tú (1976) trong công trình nghiên cứu Từ và vốn
từ tiếng Việt hiện đại đã có quan niệm rằng thành ngữ thuộc về ngữ cố định,
Trang 6nghĩa của các từ tố trong thành ngữ không độc lập, nghĩa của thành ngữ không phải nghĩa của các từ tố mà cấu tạo nên nó Tác giả có thảo luận về nguồn gốc của thành ngữ là từ sáu phương diện: câu chuyện lịch sử, tôn giáo, phương ngữ, lời nói hàng ngày, những lời nói của lãnh đạo nhà nước, thành ngữ ngoại lai.( Nguyễn Văn Tú, 1976, tr.43)
- Tác giả Bùi Khắc Việt (1978) trong công trình nghiên cứu Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt có quan điểm cho rằng nghĩa biểu trưng
của thành ngữ có liên quan đến đời sống xã hội, lịch sử, phong tục tập quán
và tín ngưỡng (Bùi Khắc Việt, 1978, tr.6)
- Tác giả Nguyễn Đức Dân (1986) trong công trình nghiên cứu về Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng và bài Vận dụng tục ngữ, thành ngữ
và danh ngôn trên báo chí đã có chỉ ra nghĩa của thành ngữ được hình thành
theo con đường biểu trưng, chúng ta hiểu thành ngữ theo nghĩa biểu trưng, một điều khái quát có thể được biểu trưng bằng nhiều từ ngữ cụ thể.( Nguyễn Đức Dân, 1986, tr.9)
- Trong giới Việt ngữ học, tác giả Hoàng Văn Hành (2004) trong cuốn
Thành ngữ học tiếng Việt, tác giả đã tiến hành thảo luận về sự nhận diện của
thành ngữ, nguồn gốc của thành ngữ, quy tắc cấu tạo, cơ cấu nghĩa của thành ngữ tiếng Việt một cách có hệ thống, đồng thời, tác giả cũng có dành một phần để thảo luận thành ngữ từ góc nhìn của văn hoá học (Hoàng Văn Hành, 2004)
- Tác giả Nguyễn Thị Tân (2004), trong công trình nghiên cứu Các dạng thức tồn tại của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt đã phân tích sáu loại
thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt (Nguyễn Thị Tân, 2004)
- Tác giả Hoàng Văn Hành (2004) đã xuất bản công trình Thành ngữ học tiếng Việt, tác giả dành sáu chương để thảo luận thành ngữ tiếng Việt một
cách có hệ thống, bao gồm: khái quát về thành ngữ tiếng Việt, thành ngữ ẩn
dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng, thành ngữ so sánh, giá trị
và nghệ thuật sử dụng thành ngữ tiếng Việt, thành ngữ từ góc nhìn của văn hoá học (Hoàng Văn Hành, 2004)
=> Nhìn chung, trong tiếng Hán và tiếng Việt, đề tài nghiên cứu, phân tích, đối chiếu về thành ngữ rất phong phú và phổ biến, đa dạng với nhiều chủ
đề và từ nhiều góc độ khác nhau Song, việc nghiên cứu đối chiếu về thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt vẫn còn hạn chế, chưa được khai thác một cách triệt để, vì vậy, chúng tôi sẽ tìm hiểu một cách
sơ bộ về chủ đề này
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Về lý luận: Kết quả của việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt về kết cấu, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ
Trang 7dụng đồng thời hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về thành ngữ có yếu tố ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt Ngoài ra làm phong phú thêm
lý thuyết thành ngữ học nói chung và thành ngữ có yếu tố ẩm thực nói riêng
- Về thực tiễn: Bài nghiên cứu có thể là một tài liệu tham khảo, góp phầnphục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu ngôn ngữ học Qua đó giúp cho người học nắm vững những đặc trưng cơ bản của thành ngữ, từ đó giúp cho người học dễ dàng phân biệt và sử dụng thành ngữ một cách chính xác hơn Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn góp giá trị thiết thực trong việc biên phiên dịch và biên soạn từ điển
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là các thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
- Phạm vi nghiên cứu: Được giới hạn trong nguồn ngữ liệu gồm 100 thành ngữ tiếng Hán và 100 thành tiếng Việt, nhằm tập trung nghiên cứu về
số lượng âm tiết, ngữ nghĩa, cấu trúc và yếu tố văn hóa liên quan đến các thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng để thực hiện đề tài này là:
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê để thu thập và thống kê thành ngữ có yếu tố ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
- Phương pháp miêu tả:
+ Luận giải bên trong: Sử dụng phương pháp miêu tả sau khi tiến hành thu thập và thống kê để miêu tả cấu trúc, ngữ pháp, ngữ nghĩa, số lượng âm tiết của thành ngữ có yếu tố ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
+ Luận giải bên ngoài: miêu tả các thành ngữ dựa trên yếu tố văn hoá, ngữ dụng trong tiếng Hán và tiếng Việt
- Phương pháp đối chiếu:
+ Thủ pháp đối chiếu chuyển dịch hai chiều: tìm ra những điểm giống nhau và khác biệt trong thành ngữ có yếu tố ẩm thực của tiếng Hán và tiếng Việt
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
2.1.1 Khái niệm về “ẩm thực”
Trang 8Theo từ điển tiếng Việt, “ẩm” là uống, “thực” là ăn, vậy nên “ẩm thực” cóthể hiểu đơn giản chính là “ăn và uống” Ăn và uống là nhu cầu chung của nhân loại, không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến…,nhưng mỗicộng đồng dân tộc do sự khác biệt về hoàn cảnh địa lý, môi trường sinh thái, tín ngưỡng, truyền thống lịch sử…nên đã có những thức ăn, đồ uống khác nhau, những quan niệm về ăn uống khác nhau…từ đó đã hình thành nên những tập quán, phong tục về ăn uống khác nhau.
2.1.2 Khái quát về thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ trong tiếng Hán
Khái niệm:
- Tác giả Lu Shuxiang và Ding Shengshu (2005) trong quyển 《汉语成语研现代汉语
词典》(Từ điển Hán ngữ hiện đại) định nghĩa thành ngữ rằng: “Thành ngữ là
những tổ từ hay đoản cú cố định, hình thức ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc, mà được mọi người lâu nay quen dùng Thành ngữ tiếng Hán phần lớn là bốn âmtiết và thường có nguồn gốc xuất xứ” (Lu Shuxiang và Ding Shengshu,
2005, tr.236)
- Tác giả Shi shi (1979) trong cuốn《汉语成语研汉语成语研究》》(Nghiên cứu Hán
ngữ thành ngữ) định nghĩa thành ngữ như sau: “Thành ngữ được sử dụng từ
lâu trong ngôn ngữ và do ước định mà thành, thông thường có cấu trúc và thành phần cố định, có nghĩa nhất định nào đó, không thể nhìn chữ đoán nghĩa, chức năng trong câu đương tương một cụm từ cố định và câu ngắn” ( Shi Shi, 1979, tr.12)
- Tác giả Mo Pengling (2001),《汉语成语研汉语成语与汉文化》》(Hán ngữ thành
ngữ và văn hoá Hán) Tác giả nói: “Thành ngữ là tinh hoa của ngôn ngữ,
cũng là tinh hoa của văn hoá trong thành ngữ tiếng Hán gần như phản ánh tất cả mọi phương diện của văn hoá Hán ẩm thực, trang phục, tiêu chuẩn đo lường, phương tiện giao thông, lễ nghi, âm nhạc, thiên văn, lịch sử, địa lý, văn học, quân sự, chế độ thi cử ”(Mo Pengling, 2001, tr.9)
- Tác giả Liu Jiexiu (1985) trong sách《汉语成语研成语》(Thành ngữ)có định nghĩa
sau: “Cụm từ cố định hoặc câu ngắn có hình thức cố định, với hình thức ngắn
gọn và nghĩa sâu sắc, được người ta sử dụng từ lâu” ( Liu Jiexiu, 1985, tr.3)
=> Tóm lại các quan điểm chính trên đây, chúng tôi có nhận định rằng:
Thành ngữ tiếng Hán là một loại cụm từ cố định hoặc câu ngắn, thành ngữ tiếng Hán phần lớn là bốn chữ Và thành ngữ được sử dụng từ lâu, có thành
Trang 9phần và cấu trúc cố định, nghĩa của thành ngữ rất sâu sắc và không thể đoán
- Về ngữ nghĩa: Thành ngữ có tính chỉnh thể hóa có nghĩa là ý nghĩa của từ
và thành ngữ phải giống nhau, phần lớn không phải ý nghĩa của thành ngữ đơn giản rõ ràng, mà nhìn từ ý nghĩa chỉnh thể khái quát để có sự biểu đạt riêng, có nghĩa là thông qua ý nghĩa của mặt từ để hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của thành ngữ, sinh động, ngắn gọn, sâu sắc, chứa đựng những kiến thức lịch sử, xã hội, văn hóa phong phú, kinh nghiệm sống …
- Về nguồn gốc : Thành ngữ có nguồn gốc từ các tác phẩm nổi tiếng kinh điển thời cổ đại, cũng có thể bắt nguồn từ những câu chuyện lịch sử lâu đời được mọi người sử dụng lâu dài trở thành phương tiện chung dùng để giao tiếp trong cuộc sống thường ngày
2.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của thành ngữ trong tiếng Việt
không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo
nên nó” (Hoàng Phê, 2002, tr.915)
Trang 10- Tác giả Hoàng Văn Hành (2008) trong công trình “Thành ngữ học tiếng Việt” có định nghĩa rằng: “Thành ngữ là những tổ hợp từ cố định,
định danh cho sự vật, hiện tượng, quá trình biểu thị khái niệm bằng hìnhảnh biểu trưng và có hai tầng ngữ nghĩa được tạo bằng phương thức so
sánh và ẩm dụ hoá” ( Hoàng Văn Hành, 2008, tr.27)
- Tác giả Nguyễn Công Đức (1995) trong công trình “Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng và bài Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí” có định nghĩa rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố
định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên cho sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy; có hiệunang trong giao tiếp và là đơn vị ngôn ngữ văn hoá” ( Nguyễn Công Đức,
1995, tr.23)
=> Tóm lại các quan điểm chính trên đây, chúng tôi có nhận định rằng: thànhngữ tiếng Việt là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từtạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh
Đặc điểm
Từ những kết luận của các tác giả ở trên, chúng tôi đã tổng hợp những đặc điểm cơ bản trong thành ngữ tiếng Việt như sau:
- Về mặt cấu trúc: Thành ngữ chưa thể coi là một câu hoàn chỉnh vì nó chưa
có đủ cấu tạo cơ bản của một câu kết cấu từ hai từ ghép hoặc bốn từ đơn theokiểu nối tiếp hoặc xen kẽ Đây là kiểu thành ngữ phổ biến nhất của thành ngữtiếng Việt
- Về mặt ngữ nghĩa: Nghĩa của chúng không dựa vào những từ cấu tạo nên chúng Thường mang ý nghĩa gần gũi hơn, rõ ràng hơn và thường không yêu cầu người nghe hoặc đọc phải hiểu sâu về ngữ cảnh như trong thành ngữ tiếng Hán Thành ngữ mang ý nghĩa nhất định nhưng phải gắn với các thành
tố khác để tạo thành câu và ý nghĩa cụ thể trong ngữ cảnh nhắc đến
- Về mặt nguồn gốc: Thành ngữ bắt nguồn từ chính những chất liệu quen thuộc trong đời sống hàng ngày, từ lời ăn tiếng nói của người Việt
2.1.2.3 Sự giống nhau và khác nhau về thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng
Việt
Trang 11 Về khái niệm
- Giống nhau:
+ Phần lớn các tác giả đều cho rằng thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt là thuộc về cụm từ cố định, chỉ một số quan điểm cho rằng thành ngữ tiếng Hán có thể là câu ngắn
+ Về mặt ý nghĩa, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt thường có nghĩa bóng, nhiều khi không thể chỉ dựa vào các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ mà đoán nghĩa
+ Về mặt cấu trúc, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đều rất ổn định và chặt chẽ
+ Về mặt nguồn gốc, đều bắt nguồn từ chính những chất liệu quen thuộc trong đời sống hàng ngày, từ lời ăn tiếng nói, được sử dụng từ lâu đời
- Khác nhau:
+ Thành ngữ còn được xem như
một câu ngắn có hình thức cố định
+ Chỉ được xem là các cụm từ cố định
+ Thành ngữ tiếng Hán có phong
cách văn bản, yêu cầu người nghe
hoặc đọc phải hiểu sâu về ngữ cảnh
+ Thành ngữ tiếng Việt thì phần lớn
có phong cách khẩu ngữ, mang ý nghĩa gần gũi hơn, rõ ràng hơn và thường không yêu cầu người nghe hoặc đọc phải hiểu sâu về ngữ cảnh
Về đặc điểm
- Giống nhau
+ Về mặt cấu trúc, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đều có tính
ổn định cao và thành ngữ có kết cấu 4 chữ chiếm tỷ lệ cao nhất
+ Thành tố và trật tự kết cấu của thành ngữ không thể thay đổi tùy ý được, cũng không thể tùy tiện thêm bớt thành tố trong thành ngữ
+ Về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đều có nghĩa đen và nghĩa biểu trưng
Trang 12+ Cả thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đều có rất nhiều dấu ấn lịch sử và đều thể hiện đặc trưng văn hoá – dân tộc của người Hán và người Việt.
+ Trong thành ngữ tiếng Việt thì các dấu ấn lịch sử chủ yếu được thể hiện qua nội dung của thành ngữ.+ Thành ngữ tiếng Việt thì gần gũi với cuộc sống hàng ngày của dân tộc Việt, có khá nhiều nội dung liên quan đến nông nghiệp, thiên nhiên
- Trong nhiều trường hợp không thể chỉ nhìn mặt chữ mà đoán nghĩa
- Câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống
và đạo đức thực tiễn của nhân dân bắt nguồn từ chính những chất liệu quen thuộc trong đời sống hàng ngày, từ lời ăn tiếng nói của người
- Cả hai đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan
Khác nhau:
Trang 13Hình thức - Là một cụm từ cố định, một
thành phần câu
- Diễn đạt một khái niệm có hìnhảnh, thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi sự biến đổi về cách sắpxếp hay ngữ pháp của câu
- Là một câu hoàn chỉnh
- Thường xuất hiện dưới dạng câu hoặc cụm từ ngắn gọn, ít bịchịu ảnh hưởng bởi các nguyêntắc ngữ pháp
Nội dung - Mang ý nghĩa nhất định nhưng
chưa diễn đạt một ý trọn vẹn, chỉ
đề cập đến một khái niệm
- Chỉ là một cụm từ, nên người ta thường dùng xen trong câu nói
- Tục ngữ diễn đạt trọn vẹn một ý, có thể là một nhận xét, một sự đánh giá, đúc rút nhữngkinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nhân dân
-Thường miêu tả một tình huống cụ thể hoặc một quy tắc thông qua các câu chuyện, truyện ngụ ngôn hoặc ví dụ thực tế
Chức năng Thành ngữ lại có phần hướng đến
cảm xúc, những nhận định về sự việc xung quanh Thành ngữ mang đến giá trị nhân văn từ những câu từ, nhịp điệu Góp phần truyền tải thông điệp cuộc sống dành cho cho người đọc
Tục ngữ thường phản ánh sự chân thực từ con người đến thiên nhiên Tạo cho mọi ngườimột cảm giác gần gũi, như được trải nghiệm vào trong từng câu chữ Ngoài ra, tục ngữmang đến những kinh nghiệm sống, bài học quý giá về thời tiết, thiên nhiên
2.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
2.2.1 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán
2.2.1.1 Về số lượng âm tiết
Bảng 1: Thống kê số lượng âm tiết của thành ngữ trong tiếng Hán có yếu tố
ẩm thực
Số âm tiết Tần suất xuất hiện Tỷ lệ (%) Ví dụ
Trang 14là thành ngữ có 5 và 6 âm tiết, tần suất xuất hiện là 3 lần, mỗi âm tiết chiếm tỉ lệ3% Cuối cùng là thành ngữ có 9 và 11 âm tiết, với tần suất xuất hiện 1 lần, chiếm tỉ lệ 1%.
- Theo tìm hiểu, việc thành ngữ 4 âm tiết chiếm đa phần trong hệ thống thành ngữ tiếng Hán bởi lẽ thành ngữ 4 âm tiết có những ưu điểm nổi trội: về nội dung, thành ngữ 4 âm tiết biểu đạt nội dung một cách ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn bảo đảm ý nghĩa; về mặt hình thức, thành ngữ 4 âm tiết gọn gàng, cân đối;
về mặt phát âm, thành ngữ 4 âm tiết được phát âm một cách mượt mà, dễ nghe
- Ngoài ra, việc thành ngữ 4 âm tiết trở thành thành ngữ chủ đạo trong hệ thống thành ngữ tiếng Hán, một phần là do ảnh hưởng của Kinh Thi, các tác phẩm trong Kinh Thi đa phần cũng là thơ 4 chữ và thành ngữ ngày nay đa phần cũng bắt nguồn từ tác phẩm này mà ra
2.2.1.2 Về cấu trúc của thành ngữ
Trang 15Bảng 2: Thống kê cấu trúc của thành ngữ trong tiếng Hán có yếu tố chỉ ẩm
lệ 1%
- Cấu trúc so sánh chiếm tỉ lệ thấp nhất bởi lẽ tiếng Hán là một ngôn ngữ giàu hình ảnh và ẩn dụ, nghĩa là nó thường sử dụng các thành ngữ, tục ngữ,…để
Trang 16diễn đạt một ý nghĩa sâu sắc, sinh động Điều này làm cho việc so sánh trực tiếp giữa hai đối tượng lại trở nên khô khan, thiếu sáng tạo, không thể hiện được nét đẹp của tiếng Hán Do đó, trong 100 thành ngữ mà chúng tôi thu thập, cấu trúc so sánh chiếm tỉ lệ thấp nhất.
2.2.1.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
Bảng 3: Thống kê tỷ lệ nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực trong thành ngữ tiếng
Hán có yếu tố ẩm thực Yếu tố Tần suất xuất hiện Tỷ lệ Ví dụ
- Trong 100 câu thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ có nghĩa trung tính chiếm đa
số, tần suất xuất hiện là 44 lần, chiếm tỉ lệ 44% Tiếp theo là thành ngữ có nghĩa tiêu cực, tần suất xuất hiện là 38 lần, chiếm tỉ lệ 38% Cuối cùng là thànhngữ có nghĩa tích cực, tần suất xuất hiện là 18 lần, chiếm tỉ lệ 18%
- Việc thành ngữ có nghĩa tích cực chiếm tỉ lệ thấp nhất vì thành ngữ có tính hình tượng, được xây dựng dựa trên những hình ảnh thực tế, cụ thể, do đó mà thành ngữ có khả năng diễn đạt sự khắc khổ, đau thương, bất công, giận dữ, châm biếm, chế nhạo,…một cách sắc sảo và sinh động hơn những từ ngữ thôngthường Mặt khác, những thành ngữ có nghĩa tích cực thường mang ý nghĩa khen ngợi, ca tụng, biểu lộ tình cảm,…Việc sử dụng quá nhiều thành ngữ mang nghĩa tích cực có thể gây ra hiệu ứng ngược, làm mất đi sự chân thành và
tự nhiên
- Trong 100 câu thành ngữ, thành ngữ tiếng Hán chỉ con người lại chiếm đa số.Nguyên nhân là vì con người là đối tượng quan trọng nhất trong xã hội, là chủ thể của mọi hoạt động và sự kiện, con người cũng là nguồn gốc của mọi vấn đề
và mọi mối quan hệ Song song với đó, thành ngữ còn là một phương tiện để phản ánh từ ngoại hình, tính cách, phẩm chất đế hành vi, cử chỉ, tâm lý… của
Trang 17con người Vì vậy, thành ngữ tiếng Hán chỉ con người chiếm đa số trong hệ thống thành ngữ tiếng Hán.
Bảng 4: Thống kê những thành ngữ mang nghĩa tích cực trong thành ngữ
tiếng Hán có yếu tố ẩm thực
Thành ngữ mang
nghĩa tích cực
Tần suất xuất hiện
Con người 13 72,22% 糟糠之妻: Người vợ luôn cùng
chồng vượt qua mọi khó khăn, thử thách
Cuộc sống 3 37,5% 丰衣足食: Miêu tả cuộc sông đầy
đủ, sung túc
món ăn ngon, quý hiếm
Trang 18lâu không có thức ănĐịa điểm 1 2,27% 鲍鱼之肆: Chỉ nơi có nhiều người xấu
Trang 20sự đoàn tụ, gắn kết giữa các thành viên trong nhà Họ tin rằng, những người thànhcông trong cuộc sống đều hiểu được tầm quan trọng của truyền thông văn hóa này.
Vì vậy, trong một ngày, bữa cơm tối được xem là quan trọng nhất và không thểthiếu trong mỗi gia đình Cho nên các thành ngữ có yếu tố “饭 chiếm tỉ lệ khá” cao Ví dụ các thành ngữ có yếu tố “饭 : ” 爷饭娘羹 (Cơm cha canh mẹ), 看菜吃饭 (Liệu cơm gắp mắm ), 三茶六饭 (Ba trà sáu bữa), Ngoài yếu tố ẩm thực trongthành ngữ được nhắn đến khá cao là “饭 thì “ ” ” 食 cũng là một trong những yếu tốchiếm tỷ lệ khá cao đứng sau “饭 ”
- Trung Quốc được biết đến là một đất nước có diện tích vô cùng rộng lớn và sốdân đông nhất Thế giới Chính vì vậy, nền ẩm thực ở Trung Quốc vô cùng phongphú và đa dạng, giống như một bức tranh đa màu sắc từ hương vị cho đến cáchtrang trí Để nói đến sự phong phú và đa dạng của các món ăn Trung Quốc thì phải
Trang 21nhắc đến 4 nền ẩm thực chính, đó là: Quảng Đông, Sơn Đông, Tứ Xuyên và Giang
Tô Trong đó, mỗi món ăn là một sự kết hợp hoàn hảo giữa nguyên liệu và cáchchế biến, không chỉ ngon miệng mà còn tốt cho sức khỏe Ví dụ các thành ngữ cóyếu tố “食 : ” 不吃烟火食 (Không ăn thức ăn chín), 解衣推食 (Nhường cơm sẻáo), 食树护树 (Ăn cây nào rào cây ấy), Sau tất cả, bữa cơm gia đình luôn đóngvai trò quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Trung Quốc Trong xã hộihiện đại ngày nay, nhiều người bận rộn với công việc hằng ngày hay thậm chí thờigian có thay đổi, con người có thay đổi nhưng người Trung Quốc vẫn sẽ một mựcgiữ vững truyền thống văn hoá bữa cơm gia đình Và xuyên suốt chiều dài hơn
5000 năm lịch sử, dưới sự ảnh hưởng của nhiều vùng văn hóa khác nhau, TrungQuốc đã sở hữu cho mình một nền văn hóa ẩm thực to lớn với đa dạng các món ăn
2.2.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Việt
2.2.2.1 Về số lượng âm tiết
Bảng 8: Thống kê số lượng âm tiết của thành ngữ có yếu tố ẩm thực trong
Trang 22Bảng thống kê về số lượng âm tiết của thành ngữ có yếu tố ẩm thực trongthành ngữ tiếng Việt cho thấy được thành ngữ có chứa yếu tố ẩm thực gồm 4
âm tiết chiếm tỷ lệ nhiều nhất và chiếm 64%, thành ngữ có 6 âm tiết chiếm 16%
và xếp thứ 2, 5 âm tiết chiếm 11% đứng thứ 3, thành ngữ 3 âm tiết và 8 âm tiếtchiếm tỷ lệ lần lượt là 4% và 3% Và thành ngữ có 7 âm tiết chiếm tỷ lệ thấpnhất, chiếm 2% và xếp vị trí cuối cùng
Tỷ lệ (%)
Ví dụ
mực
Từ bảng thống kê về cấu trúc thành ngữ, có thể thấy rõ chiếm tỷ lệ lớn nhất
là cấu trúc đẳng lập, nó chiếm đến 41% trong khi đó cấu trúc chính phụ lạichiếm tỷ lệ thấp nhất với 1 phần trăm Điều này chứng tỏ, trong văn hóa giaotiếp của người Việt Nam, cách nói đối xứng giữa hai vế xuất hiện tương đối
Trang 23nhiều Việc nói đối xứng khiến cho câu nói trở nên có nhịp điệu và đây cũng làmột phần nhỏ trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam.
2.2.2.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
Bảng 10: Thống kê về ngữ nghĩa tích cực và tiêu cực có yếu tố chỉ ẩm
thực trong thành ngữ tiếng Việt Ngữ nghĩa Tần suất xuất hiện Tỷ lệ Ví dụ
Thông qua bảng thống kê về ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt có yếu tố
ẩm thực, các thành ngữ mang nghĩa tiêu cực chiếm tỷ lệ cao nhất với 68%,trong khi thành ngữ mang nghĩa tích cực chỉ chiếm 22% và thấp nhất là nhữngthành ngữ mang nghĩa trung tính Điều này thể hiện rõ, thông qua các câu thànhngữ mang nghĩa tiêu cực người nói muốn chỉ ra, lên án, phê phán những thói hưtật xấu, những điều không hay của con người và các sự vật hiện tượng trong xãhội, từ đó giúp cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
Bảng 11: Thống kê về thành ngữ mang nghĩa tích cực trong tiếng Việt có yếu
tố ẩm thực Thành ngữ mang nghĩa tích
cực
Tần suất xuất hiện
Trang 24Về cuộc sống 5 22% Trà dư tửu hậu
Tần suất xuất hiện Tỉ lệ Ví dụ
những thứ dư thừa, thấp
kém
Trang 25Bảng 13: Thống kê số liệu về thành ngữ mang nghĩa trung tính trong tiếng
Trang 26Giấm 1 0,63% Chua như giấm
đường phèn
Trang 28Tửu 1 0,63% Trà dư tửu hậu
Trang 29Sung 1 0,63% Há miệng chờ sung
ăn chung chung) Mâm cao cỗ đầy (bữa tiệc gồm nhữngmón ăn sáng trọng) Tham bát bỏ mâm (dụng cụ ăn uống)
2.3 So sánh đối chiếu thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán
và tiếng Việt
2.3.1 Về số lượng âm tiết
Bảng 15: So sánh đối chiếu về số lượng âm tiết của thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm
thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 30+ Thành ngữ có yếu tố có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt đều
đa dạng về số lượng âm tiết: 4 âm tiết, 8 âm tiết, 5 âm tiết….Trong cả thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt thì thành ngữ có 4 âm tiết đều chiếm tần suất cao nhất, cụ thể tiếng Hán 84% tiếng Việt 64% Các số lượng âm tiết còn lại chiếm tần suất nhỏ hơn
- Khác nhau:
+ Ở tiếng Hán với số âm tiết là 4 thì chiếm 84%, rồi lần lượt là 8 âm tiết là 6%,
5 và 6 âm tiết 3%, 7 âm tiết 2 %, 9 và 11 âm tiết 1% Điều này cho thấy rằng tiếng Hán có sự đồng đều và ổn định trong việc sử dụng các thành ngữ với số
âm tiết khác nhau
+ Ở tiếng Việt với số âm tiết 4 thì chiếm 64%, 8 âm tiết là 3%, 5 âm tiết là 11%, 6 âm tiết là 16%, 7 âm tiết 2%, 3 âm tiết 4% còn 9 và 11 âm tiết thì không
có Sự phân bố các thành ngữ trong tiếng Việt có một chút biến đổi hơn so với tiếng Hán, với sự thay đổi chủ yếu trong tần suất của các loại thành ngữ 5 âm tiết và 6 âm tiết
2.3.2 Về cấu trúc thành ngữ
Bảng 16: So sánh đối chiếu về cấu trúc của thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực
trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 31- Khác nhau:
+ Với tiếng Hán thì cấu trúc liên hợp chiếm tỷ lệ cao nhất là 37% rồi lần lượt là chính phụ là 19%, chủ vị 17%, sau đó là liên động là 10%, động tân chiếm 8%, động bổ và cấu trúc lặp đều là 3%, rút gọn, so sánh và đẳng lập đều có tỷ lệ thấp nhất là 1%
+ Nhưng có vẻ như cấu trúc trong thành ngữ tiếng Việt lại ngược lại với số lượng cấu trúc đẳng lập chiếm tỷ lệ cao nhất là 41%, sau đó là so sánh chiếm 18%, liên động chiếm 16%, chủ vị là 10%, rồi đến cấu trúc lặp chỉ có 6%, nhỏ hơn nữa là động tân với 5%, động bổ 2%, chính phụ là 1%, thấp nhất là rút gọn với tần suất 0% Sau khi mô tả và đối chiếu các đặc điểm cấu trúc giữa hai nhóm thành ngữ, chúng ta thấy rằng sự khác nhau trong hai nhóm thành ngữ thực ra nhiều hơn sự giống nhau
2.3.3 Về ngữ nghĩa của thành ngữ
Bảng 17: So sánh đối chiếu về ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực
trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 32Bảng 18: So sánh đối chiếu về nghĩa tiêu cực của thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm
thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
Bảng 19: So sánh đối chiếu về nghĩa tích cực của thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm
thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 33Bảng 20: So sánh đối chiếu về nghĩa trung tính của thành ngữ có yếu tố chỉ
ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt
Bảng 21: So sánh đối chiếu về tần suất xuất hiện của các yếu tố chỉ ẩm thực
trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Yếu tố Tiếng Hán Tần suất Tiếng Việt Tần suất
Trang 34nguồn dinh dưỡng mà còn là biểu tượng của sự sung túc, giàu có, an lành Cơm, gạo cũng liên quan đến nền văn minh lúa nước, là nền tảng của nền kinh tế, văn hóa, xã hội của hai dân tộc Do đó, cơm, gạo được nhắc đến nhiều trong các thành ngữ để thể hiện những ý nghĩa, giá trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phong tục của người Hán và người Việt Ngoài ra, cơm, gạo là những từ có tính ứng dụng cao trong đời sống thường nhật Cơm, gạo liên quan đến nhu cầu cơ bản của con người,
là ăn uống Cơm, gạo cũng liên quan đến nhiều hoạt động, sự kiện, lễ hội, tập quán, truyền thống của người Hán và người Việt Cơm, gạo cũng là một phần của văn hóa ẩm thực, văn hóa dân gian, văn hóa tâm linh của hai dân tộc Do đó, cơm, gạo được sử dụng nhiều trong các thành ngữ để diễn đạt, miêu tả, so sánh, ví von, nhấn mạnh, biểu lộ, … những điều liên quan đến đời sống, con người, xã hội, văn hóa của người Hán và người Việt Ngoài đồ ăn, lương thực, đồ uống, gia vị và mùi
vị, củ quả thì các yếu tố còn lại chiếm tần suất thấp nhất
- Khác nhau:
+ Tuy có sự giống nhau nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại không ít sự khác biệt do văn hóa ẩm thực của hai nước Về yếu tố lương thực trong tiếng Hán chiếm 11,5% nhưng tiếng Việt chỉ chiếm 3,7% Đối với yếu tố ăn uống thì tiếng Hán cũng nhiều hơn với tỷ lệ 10,7% còn tiếng Việt 7% Trong văn hóa ẩm thực hai nước thì gia vị
và mùi vị là thứ không thể thiếu, tiếng Hán chiếm tỷ lệ 8,2% ít hơn so với tiếng Việt chiếm tới 15,3% Yếu tố củ quả trong tiếng Hán có 5,7%, tiếng Việt có tới 14,7% Mặc dù có một số yếu tố đều phản ánh đặc điểm của nền văn hoá lúa nước, nhưng nhìn chung các yếu tố khác thì rất khó tìm được điểm chung
3 KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu về thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi đã tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các thành ngữ đó Thành ngữ được hình thành và sử dụng rộng rãi trong trong đời sống lao động và sinh hoạt hằng ngày của con người, nên mỗi quốc gia có một
hệ thống cấu tạo nên thành ngữ riêng biệt Nhờ vào việc nghiên cứu điểm tương đồng và khác biệt trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cuộc sống, quan điểm sống cũng như văn hóa của hai quốc gia, hai dân tôc, đồng thời giúp chúng tôi hiểu rõ sâu sắc hơn về tư duy ngôn ngữ cũng như lời ăn tiếng nói của hai dân tộc, hai đất nước Trung - Việt
Sau khi cho ra kết quả của quá trình đối chiếu thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy rằng, Trung Quốc và
Trang 35Việt Nam là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về mặt văn hóa và lối sống Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có nét văn hóa riêng của mình, cho dù năm tháng xảy ra nhiều biến đổi thì vẫn giữ gìn được nét đặc sắc riêng trong ngôn ngữ và văn hóa của họ.
Trang 36DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Shi Shi (1979),《汉语成语研汉语成语研究》》,tr.12
2.Liu Jiexiu (1985),《汉语成语研成语》
3.Li Danong (1994),《汉语成语研成语与中国文 化》》,tr.15
4.Wang Qingjiang (2000), 《汉语成语研成语语义类型及其对词汇——语义搭 配的限.制》》, tr.21
10.Trần Thúy Vân và Trần Thị Tường Vân (2016), "Food idioms across cultures:
A contrastive study of English and Vietnamese"
11 Dương Quảng Hàm (1943), Việt nam học sử yếu
12 Nguyễn Văn Mệnh (1972), Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ, tr.7
13 Cù Đình Tú (1973), Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ, tr.5.
14 Nguyễn Thiện Giáp (1974), Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, tr.27
15 Nguyễn Văn Tú (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, tr.43
16 Bùi Khắc Việt (1978), Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt, tr.6.
17 Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng và bài Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí, tr.9.
18 Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt.
19 Nguyễn Thị Tân (2004), Các dạng thức tồn tại của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt.
Trang 3720 Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt.
21 Lu Shuxiang và Ding Shengshu (2005), 《汉语成语研现代汉语词典》, tr.236
22 Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, tr.77.
23 Hoàng Phê (2002), Từ điển Tiếng Việt, tr.915.
24 Hoàng Văn Hành (2008), Thành ngữ học tiếng Việt, tr.27.
25 Nguyễn Công Đức (1995), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng và bài Vận dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí, tr.23.
Trang 38PHỤ LỤC Phụ lục 1: Số lượng âm tiết của thành ngữ có yếu tố ẩm thực trong tiếng Hán