Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần hai ...5 2.1.4... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “các vua Hùng đã có công dựng nước, báccháu ta phải cùng nhau giữ
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUYÊN THỦY ĐẾN 1930
ĐỀ TÀI:
NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
LÝ - TRẦN - LÊ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ LÝ, TRẦN, LÊ SƠ 2
1.1 Khái niệm nghệ thuật quân sự 2
1.2 Hoàn cảnh lịch sử trong thời kì Lý, Trần, Lê Sơ 2
CHƯƠNG II: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ ĐẶC SẮC TRONG THỜI KỲ LÝ, TRẦN, LÊ SƠ 4
2.1 Thời lý 4
2.1.1 Âm mưu xâm lược của quân Tống 4
2.1.2 Tổ chức quân sự dưới triều Lý 5
2.1.3 Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần hai 5
2.1.4 Nhận xét 8
2.2 Thời Trần 10
2.2.1 Âm mưu xâm lược của quân mông nguyên 10
2.2.2 Tổ chức quân sự dưới thời Trần 10
2.2.3 Nghệ thuật quân sự của ta trong cuộc kháng chiến lần 1 (1257 – 1258) 11
2.2.4 nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến lần hai năm 1285 14
2.2.5 Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến lần ba ( 1287 -–1288) 16
2.2.6 Đánh giá 19
2.3 Thời Lê Sơ 20
2.3.1 Âm mưu xâm chiếm của quân Minh và hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ 20
2.3.2 Nghệ thuật quân sự trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn 22
CHƯƠNG III: LIÊN HỆ 26
KẾT LUẬN 27
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước Trảiqua hàng chục cuộc kháng chiến và khởi nghĩa lớn của dân tộc, ông cha đã để lạicho thế hệ hôm nay nhiều kinh nghiệm quý báu, nhiều nét đặc sắc trong nghệ thuật
tiến hành chiến tranh Sở dĩ công cuộc dựng nước và giữ nước luôn đi đôi với nhau
bởi, nước ta luôn luôn bị các thế lực bên ngoài dòm ngó với một mảnh đất màu mỡ
và vị trí địa lý thuận lợi Tuy nhiên trên thực tế, các cuộc chiến tranh xâm lượcnước ta dù kẻ địch có mạnh hơn ta cả về số lượng và chất lượng, dù ta có nhiềukhó khăn gian khổ thì công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước vẫn luôn không ngừngnghỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “các vua Hùng đã có công dựng nước, báccháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” vận dụng lịch sử vào thực tiễn, tổng kết kinhnghiệm, truyền thống, nghiên cứu về nghệ thuật quân sự qua các cuộc kháng chiến
để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nướctrong thời kì mới
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về nghệ thuật quân sự Việt Namtrong thời kỳ Lý, Trần, Lê Với nhiệm vụ nghiên cứu là tập hợp tư liệu, tham khảotài liệu để hiểu biết về chiến lược, chiến thuật trong cuộc đấu tranh chống ngoạixâm Để từ đó xác định đối tượng nghiên cứu đó là nghệ thuật quân sự của dân tộcViệt qua thời kì Lý, Trần, Lê Trong đó phạm vi nghiên cứu bao gồm: Không gian
là nước Việt Nam và thời gian là thời kì Lý, Trần, Lê (thời Lê chỉ nói về Lê Sơ,nhóm tác giả không đưa nhà Hậu Lê vào đề tài) Phương pháp nghiên cứu là sửdụng phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, Qúa trình nghiên cứu đem lại ýnghĩa lý luận là tìm hiểu nghệ thuật quân sự trong các cuộc kháng chiến chốngngoại xâm qua đó rút ra kinh nghiệm Ý nghĩa thực tiễn là từ những bài học kinhnghiệm đó mà ứng dụng vào giải quyết các vấn đề tranh chấp hiện nay Ngoài mởđầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương lớn
Trang 4NỘI DUNGCHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ
TRONG THỜI KỲ LÝ, TRẦN, LÊ SƠ
1.1.Khái niệm nghệ thuật quân sự
Nghệ thuật quân sự: Là hệ thống các quan điểm về quân sự và các vấn đề liênquan đến vấn đề về chiến lược, chiến thuật, chiến dịch trong hoạt động quân sự củamột tổ chức, tập đoàn quân Chính sách quân sự: là đường hướng của tập đoàn lãnhđạo và phương thức hoạt động của tập đoàn đó về mặt quân sự
1.2.Hoàn cảnh lịch sử trong thời kì Lý, Trần, Lê Sơ
Lịch sử việt nam từ khi trải qua hơn 1000 năm Bắc Thuộc cho đến các triềuđại phong kiến độc lập đều liên tiếp trải qua các cuộc xâm lăng chiếm đất, mở rộnglãnh thổ của thực dân phương Bắc Từ thời kì bản lề tức triều đại Ngô, Đinh, Tiền
Lê đến thời kì phong kiến độc lập chính thức tức triều Lý, Trần, Lê thì âm mưuxâm lược của phương Bắc cũng như tinh thần đấu tranh của nhân dân ta vẫn luônkhông ngừng nghỉ Sở dĩ nhân dân ta luôn khát vọng độc lập tự chủ, luôn luônvùng lên đấu tranh bởi tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân ta luônđược nuôi dưỡng và trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, kết tinh thành ý thứcđấu tranh giành độc lập, chủ quyền dân tộc đem đến thắng lợi cuối cùng và tạo cơ
sở cho tư tưởng yêu nước của người Việt Nam phát triển mạnh
Trải qua thời kì bản lề bước vào thời kì phong kiến độc lập, thời kì mới vớimột triều đại mới và tình hình chính trị xã hội ổn định, triều đình và nhân dân cóđiều kiện để bắt tay vào xây dựng, phát triển đất nước làm cho đất nước vữngmạnh đủ sức chống lại sự xâm lược từ các thế lực ngoại bang
Trong thời kỳ lý, trần, lê sơ nước ta trải qua 5 cuộc chiến chống ngoại xâmlớn: nhà Lý với cuộc kháng chiến chống Tống lần 2 ( 1075 – 1077); nhà Trần với 3lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên ( lần 1: 1257 – 1258; lần 2: 1285; lần
Trang 53: 1287 – 1288); khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân Minh xâm lược và lập ra nhàHậu Lê ( 1418 - 1427)
Với tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc của nhân dân ta Cùng với đó là
sự xuất hiện của các vị tướng giỏi, biết cách bày binh bố trận, hiểu và nắm bắt tìnhhình địch để đưa ra các chiến lược chiến thuật nhằm đánh thẳng vào điểm yếu củađịch để đi đến thắng lợi cuối cùng
Trang 6CHƯƠNG II: NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ ĐẶC SẮC TRONG THỜI KỲ LÝ,TRẦN, LÊ SƠ
2.1 Thời lý
2.1.1 Âm mưu xâm lược của quân Tống
Cuối thế kỉ X, năm 981, Lê Hoàn đánh tan hai đạo quân xâm lược tống, bảo
vệ vững chắc nền độc lập đại cồ việt và buộc nhà tống phải giữ “ hòa hiếu” trongmột thời gian dài, tuy nhiên trong thâm tâm các vua Tống vẫn chưa từ bỏ ý đồ xâmchiếm nước ta
Từ giữ thế kỉ XI, nhà Tống gặp nhiều khó khăn chồng chất trong nước thìngân khố cạn kiệt, tài chính nguy ngập, nội bộ mâu thuẫn Nhân dân bị đói khổ đãdẫn đến sự nổi dậy đấu tranh ở nhiều nơi Vùng biên cương thường xuyên bị 2nước Liêu – Hạ quấy nhiễu Từ cuối thế kỉ X và đầu thế kỉ XI luôn có chiến tranhTống – Liêu, Tống – Hạ
Nhà Tống muốn nhân cuộc chiến với đại việt nhằm trấn áp các phe trong triều
và dọa nạt hai nước Liêu - Hạ bởi “ nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu Hạ
sẽ phải kiêng nể”
Đặc biệt nhà Tống tổ chức khu cực biên giới Việt - Trung thành một hệ thốngcăn cứ xâm lược lợi hại làm cho con đường hành quân từ nước Tống vào Đại Việtchỉ có một, ngoài ra còn củ các tướng giỏi về phụ trác, giám sát xây Thành UngChâu một cách kiên cố
Qua đó, đã bộ lôc rõ mưu toan bành trướng của triều tống đối với Đại Việt.nhận thức rõ được vấn đề đó, Vương triều Lý đã chủ động lên kế hoạch bảo vệ tổquốc Ngoài việc sử sụng chính sách ngoại giao mềm dẻo thì Vua tôi nhà Lý đã nốitiếp chính sách của triều Tiền Lê là tăng cường phong thủ biên giới phía bắc, kiênquyết chống trả những cuộc xâm lấn của quân Tống
Trang 72.1.2 Tổ chức quân sự dưới triều Lý
Quân đội dưới thời lý được chia làm hai bộ phận cấm quân và quân địa phương.Cấm quân với nhiệm vụ bảo vệ Vua và kinh thành Quân địa phương được tổ chứctheo chế độ ngụ binh u nông tức là cho quân đóng tại các lộ, luân phiên nhau vừatập luyện vừa làm ruộng Đây là thời đại đầu tiên thực hiện chính sách “ ngụ binh
ư nông “ Trong bộ Đại Việt sử kí, Ngô Sĩ Liên có viết “ Đời xưa giữ quân lính ởviệc làm ruộng là phục việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện Binh chế buổi đầu nhà
Lý đem quân lính chia phiên về làm nghề nông để mệt nhọc và nhàn hạ được chiađều, việc cấp lương thực được giảm bớt
Nhà Lý có biện pháp quản lý hộ tịch và kiểm kê nhân khẩu khá chặt chẽ để dựtuyển binh lính Đây chính là cơ sở xác định quân hạng Nhà nước dựa vào quân số
do các hương kê khai làm chuẩn định Theo quy định thì tất cả đinh nam từ 18 tuổitrở lên đều được biên vào cuốn sổ màu vàng ( hoàng nam ), 20 tuổi trở lên ( đạihoàng nam ) Theo luật này, nhà nước đặt hết tất cả dân binh đến tuổi trưởng thànhvào loại người chịu binh địch và tiến hành tuyển sinh
Ở thời Lý, quân đội Đại Việt chia làm 2 bộ phận quân thuỷ và quân bộ Ở kinhthành có khu giảng tập binh pháp, có nơi huấn luyện vũ thuật, cung nỏ
2.1.3 Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần hai
Chủ động tấn công trước bẻ gẫy thế chủ động của quân Tống Năm 1072vua Lý Thánh Tông chết Vua Nhân Tông mới 6 tuổi lên nối ngôi Vua Nhân Tônglúc này còn nhỏ nên quyền bihnh đều nằm trong tay quan phụ quốc thái úy LýThường Kiệt Trước tình thế quân Tống xây dựng hệ thống căn cứ xâm lược ở biêngiới và chuẩn bị tiến hành xâm lược Đại Việt Lý Thường Kiệt không bị động chờgiặc mà quyết định tấn công trước để đẩy giặc vào thế bị động với tư tưởng “ Ngồiyên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc“ (Tiên
Trang 8phát chế nhân), Lý Thường Kiệt cùng Tông Đản đã tổ chức một đợt tập kích chớpnhoáng vào đất Tống nhằm mục đích gây thanh thế tuyên truyền (qua việc công bốbản Phạt Tống lộ bố văn), tiêu diệt các căn cứ tập kết quân sĩ, phá hủy kho tàng.Hơn 10 vạn quân sĩ thủy, bộ của nhà Lý đã tiến đánh châu Khâm, châu Liêm (vùngQuảng Đông), tiến tới vây hãm thành Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây) Sau 42ngày chiến đấu, quân nhà Lý hạ được thành, tướng Tô Giàm phải tự tử Đạt đượcmục tiêu, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân, chuẩn bị phòng tuyến chặn địch ởtrong nước Đợt tập kích vào đất Tống của Lý Thường Kiệt đã làm thay đổi kếhoạch và làm chậm lại cuộc tấn công xâm lược Đại Việt của nhà Tống.
Mục đích của cuộc tiến công Ứng Châu là để tự vệ một cách tích cực Đó làmột bộ phận khăng khít, là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống quân xâmlược Tổng Bằng cuộc tiền công tao bạo đó, Lý Thường Kiệt đã đẩy kẻ thù vào thế
bị động và tạo ra nhiều điều kiện có lợi để đánh bại kẻ thủ khi chúng kéo sang xâmlược Những căn cứ quân sự và hậu cần mà nhà Tống dốc bao công phu, bao thờigian xây dựng, phút chốc bị phá hủy tan tành Cuộc hành binh xâm lược của chúngsắp tới sẽ phải chậm trễ vì gặp nhiều khó khăn
Chủ động xây dựng phòng ngự, xây dựng phòng tuyến chặn giặc Sau khi vềnước, Lý Thường Kiệt đã cho chuẩn bị sẵn thế trận đánh giặc mà quan trọng nhất
là lập phòng tuyến Như Nguyệt Nắm rõ tình hình địch sau khi ta chủ động tấncông còn yếu và đặc biệt là sự uy hiếp của hai nước Liêu Hạ Lý Thường Kiệtquyết định sẽ chặn đứng bước tiến của quân địch Ở mặt biển, tướng Lý KếNguyên phụ trách một đọi thủy binh đóng dọc sông Đông Kênh chặn bằng đượcthủy binh của địch, làm thất baạ kế hoạch phối hợp quân thủy bộ của quân Tống Ởvùng núi thì giao cho các tù trưởng chỉ huy quân đội thiểu số chặn đánh địch Chođội phục binh chặn ở các con đưởng chính mà quân Tống tiến vào nước ta nhưđường chính Lạng Sơn – Thăng Long, đèo Quyết Lý, ải Giáp Khẩu, Tuy nhiên dù
đi đường nào đến Thăng Long thì cũng phải qua sông Cầu Tại Nam bờ sông NhưNguyệt, lý thường kệt do đắt đất làm chiến lũy dọc sông, ông cho đóng cọc tre làm
Trang 9nhiều lớp giậu, dưới bãi sông còn có những hố chông ngầm Sông rộng, chôngngầm, giậu dày, lũy cao kết hợp với nhau chặt chẽ tạo thành một chiến tuyến lợihại.
Mùa đông năm 1076, quân Tống cho một vài những đội quân tiên phongđánh chiếm một vài nơi địa đầu ở nước ta để tham dò tình hình Sau khi đánhchiếm được trại Ngọc Sơn – Móng Cái liền ra lệnh cho Hòa Mâu và Dương TùngTiên đem quân thủy lên đường theo sông Đông Kênh tiến vào Bạch Đằng Lý KếNguyên lập tức cho quân ra chặn đứng quân thủy của quân Tống theo đúng trongtoàn bộ kế hoạch của Lý Thường Kiệt Quân của Quách Kỳ cũng đúng theo dựđoán tiến về phía sông Cầu Tại đây quân Tống bị ta mai phục đánh cho tan tácphần lớn quân địch bị tiêu diệt, Miêu Lý và số ít tàn binh liều chết chạy về bờ bắc.Cuộc tiến công mở màn của địch nhanh chóng bị ta dập tắt
Lần hai vượt sông, Quách Kỳ cho đóng bè lớn chở quân sang nhưng lại thấtbại do quân ta từ trận chiến lũy đánh xuống dữ dội, lớp trước bị tiêu diệt, lớp sausang cứu viện cũng bị đánh tan Sau hai lần thất bại, Quách Kỳ quyết định chờquân thủy vào tiếp ứng Trong hai tháng chờ đợi, đội quân của Quách Kỳ luôn bịquân ta tiến hành các hoạt động du kích, quấy rối, chặn đánh nhưng đoàn phu vậnchuyển lương thực trong lúc chính quân của Quách Kỳ đang tập trung đối phó vờithủy binh của ta thì đồng Thời Lý Thường Kiệt cũng trục tiếp chỉ huy đại quân nửa
đê vượt bến đò Như Nguyệt đánh úp doanh trại phó tướng Triệu Tiết làm cho cảtướng và quân đều trở ta không kịp, quân số bị tiêu diệt năm sau phần mười, binh
sỹ thương vong gần hết
Chủ động kết thúc chiến tranh Trước chiến thắng Như Nguyệt, ngay lập tứcquân Tống rút lui trong cảnh hỗn loạn Sợ quân ta tập kích, Quách Kỳ cho quân bímật rút lui vào ban đêm Quân Tống rút đến đâu Lý Thường Kết cho binh sỹ theosát lấy lại đất đai đến đó Biết rõ ý chí xâm lược của giặc đã bị đè bẹp, Lý ThườngKiệt liền chủ động đề nghị "giảng hòa", thực chất là mở một lối thoát cho quânTống Đó là chủ trương kết thúc chiến tranh mềm dẻo của Lý Thường Kiệt: "dùng
Trang 10biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tônmiếu”.
Trận đánh trên sông Như Nguyệt nằm trong tổng thể ý đồ tác chiến chiếnlược của Lý Thường Kiệt (tiến công sang đất địch - tổ chức phòng ngự chiến lược
để phản công đánh bại hoàn toàn ý đồ xâm lược của chúng) là bước phát triển củanghệ thuật giữ nước, khẳng định chủ quyền dân tộc Ta đã chủ động phòng ngự,phòng ngự trong thế giặc mạnh và phòng ngự thắng lợi Trong tác chiến, ta đã kếthợp phòng ngự chính diện với đánh địch ở phía sau, khiến địch bị tiêu hao, mỏimệt Sau đó nắm thời cơ, ta bất ngờ tung ra đòn phản công mạnh tiêu diệt tập đoànchủ yếu của địch, kết thúc chiến tranh Cùng với các đòn tiến công sang đất địch,trận Như Nguyệt một lần nữa khẳng định cách đánh giải quyết nhanh của quân độinhà Lý Ở đây, lần đầu tiên đã xuất hiện một phương thức kết thúc chiến tranh vớigiặc ngoại xâm: trong thế thắng, ta vẫn chủ động giảng hòa, mở đường cho giặc rút
Trong cuộc chiến này Lý Thường Kiệt đã khéo léo kết hợp hai cách đánh “tiến công” và “ phòng ngự” để từ đó đánh bại chiến lược tiến công của địch
Lý Thường Kiệt đã khéo vận dụng kết hợp giữa tác chiến trên bộ và trên sôngbiển, giữa bộ binh và thủy binh, đánh tan kế hoạch hiệp đồng thủy bộ của quân
Trang 11Tống Tạo được một thế trận phòng thủ chiến lược mạnh có thể chặn đánh, phá kếhội sư thủy bộ của địch, đồng thời lại tạo điều kiện để thực hiện tác chiến phôi hợpgiữa quân triều đình và thổ binh; vừa có thể đánh địch ở phía trước vừa quấy rối,tiêu hao địch ở sau lưng chúng, vừa đập tan được các đột tiến công quy mô củađịch, vừa có thể liên tục thực hành tiến công cục bộ, từng bước đẩy quân thù vàotình thế khó khăn Kết hợp tác chiến các loại quân và kết hợp đánh nhỏ tiêu haovới đánh lớn, tạo thời tạo thế phản công tiêu diệt giặc.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống đã xuất hiện nhiều hình thức chiến thuậtnhư đánh chặn, tiến công bao vây các đồn trại, dựa vào chiến tuyến đánh phòngngự, thực hành phản đột kích, đánh phục kích, tập kích tiêu hao địch, rồi cuối cùng
là những trận đánh tập trung, đánh, đánh tiêu diệt và truy kích quân địch Trongchiến tranh, tổ tiên ta đã vận dụng các hình thức tác chiến phù hợp với nhiệm vụchiến đấu trong từng khu vực, từng địa bàn, cả trên bộ và trên thủy
Trong cuộc tiến công sang đất Tống (1075), Lý Thường Kiệt đã khéo léo vậndụng phổ biến hình thức chiến thuật tập kích, đánh úp, đánh bất ngờ Nhờ đó, quânđội Đại Việt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: hàng loạt thành trại của giặc đã bị
hạ Trường hợp đối với thành Ung châu - căn cứ lớn nhất và chủ yếu của giặc, cóthành vững với lũy cao hào sâu và do 5 vạn quân trấn giữ, Lý Thường Kiệt đã kiênquyết dùng cách đánh “cường công”, tức đánh thành bằng sức mạnh Các kỹ thuật,chiến thuật công thành thời ấy đều được áp dụng: dùng vân thê vượt tường thànhđánh vào, cho quân đào hầm từ dưới đất đánh lên, dùng hỏa tiễn làm kế “hỏacông” đốt phá trại giặc, rồi đắp đất cao ngang tường thành để trèo lên v.v Đángchú ý là Lý Thường Kiệt, trong khi đánh thành còn kết hợp với diệt viện và kết quảcủa trận tiêu diệt một vạn viện binh địch ở cửa Côn Luân đã tác động mạnh mẽ vàtạo điều kiện thuận lợi cho trận công phá thành Ung Trận đánh thành Ung là trậncông thành bằng sức mạnh đầu tiên trong lịch sử quân sự dân tộc, chứng tỏ ông cha
ta đã đạt đến trình độ cao trong chiến thuật công thành ở thời bấy giờ
Trang 12Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý có vị trí đặc biệt trong lịch sử chiếntranh chống giặc ngoại xâm cũng như lịch sử phát triển của dân tộc ta Dựa vào sựđánh giá đúng đắn tương quan thế và lực giữa ta với địch, tạo thời cơ chủ độngsáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kết hợp với tính chất chính nghĩa củacuộc chiến tranh tự vệ, lòng nhân ái khoan dung của dân tộc ta thể hiện rõ rệt tronggiải quyết giữa đánh và đàm Đánh cho quân địch thiệt hại nặng, đè bẹp ý chí xâmlược của chúng thì chủ động thương lượng đuổi quân địch khỏi đất nước ta, kếtthúc chiến tranh, khôi phục nền độc lập Truyền thống vừa đánh vừa đàm trongchiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta bắt đầu từ đây.
Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý còn có bước phát triển mới về ý chí độclập tự chủ, quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của dân tộc ta qua bài thơ bất hủnhư bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, tương truyền của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên định phận tại Thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phậmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
2.2 Thời Trần
2.2.1 Âm mưu xâm lược của quân mông nguyên
Thế kỷ XIII, các bộ tộc du mục Mông Cổ (Thát Đát, Tác Ta) ở vùng thảonguyên châu Á, rất giỏi về cưỡi ngựa, bắn cung, đã lập nên một đế quốc rộng lớn
từ Á sang Âu Thủ lĩnh nổi tiếng là Thành Cát Tư Hãn Sau khi tấn công tiêu diệtnhà Tống ở Trung Quốc, năm 1271, Hốt Tất Liệt (cháu Thành Cát Tư Hãn) lập nênnhà Nguyên Hốt Tất Liệt thực hiện âm mưu xâm lược Đại Việt và Cham-pa đểlàm cầu nối xâm lược và thôn tính các nước ở phía Nam Trung Quốc
2.2.2 Tổ chức quân sự dưới thời Trần
Trang 13Quân đội nhà Trần được tuyển dụng theo chính sách “ Ngụ binh ư nông” và theo chỉ trương ‘’ Quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông ‘’
Về tổ chức, phiên chế: quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ, quân các
lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh Nhà Trần đặc biệt chú ý tới cấm quân (quân túc vệ) Bộ phận này gồm có tàm quân, đứng đầu mỗi quân là 1 vị đại tướng Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại hội Mỗi đô lạicó 5 ngũ, chỉ huy mỗi ngũ là đầu ngũ Nếu theo cách tính này thì số cấm quân ngày thường có khoảng 20,000 ( đóng ở Thăng Long, Tức Mặc và 1 số địa phương quan trọng) Đây là quân chuyên nghiệp Cấm quân ở kinh thành có chữ “ thiên tử quân “ vào trán Trong chiến tranh chống Mông Nguyên thì toàn quân đặt dưới quyền của 1 vị tiết chế do quý tộc Trần Quốc Tuấn phụ trách Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác
Trong chiến tranh, Nhà Trần có thể tập hợp lực lượng quân đội lớn mạnh, đông đảo chủ yếu còn do thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự theo chính sách “ngụ binh ư nông” Thư tịch bấy giờ có viết “ việc lấy quân bấy giờ không có số nhất định, chỉ chọn dân binh nào khỏe mạnh thì lấy Cứ năm người một ngũ, mười người một đô, Khi có việc điều động thì gọi ra, không có việc thì trở về nhà làm ruộng”
Nhà trần rất coi trọng binh pháp và nghĩa vụ quân sự Trần Thái Tông lập Giảng Võ đường để cho các võ quan tập trung học hỏi binh pháp rèn luyện võ nghệ
2.2.3 Nghệ thuật quân sự của ta trong cuộc kháng chiến lần 1 (1257 – 1258)
2.2.3.1 Nghệ thuật “ cử quốc nghênh địch”
Tháng 1 năm 1258, hai đạo quân Mông Cổ đi trước cùng đến hội quân ở BạchHạc Sau đó chúng theo đường bộ, định tiến về Thăng Long qua ngả Bình LệNguyên Tại Bình Lệ Nguyên (huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), trên sông Cà Lồ,
Trang 14vua Trần Thái Tông đã lập phòng tuyến chặn giặc Bình Lệ Nguyên chính là trậnđầu tiên quân dân Đại Việt đối đầu trực diện với quân Mông Cổ Tuy nhiên, địahình Bình Lệ Nguyên lại khá thuận lợi cho kị binh Mông Cổ phát huy sở trường.
Vì thế, trận địa của quân dân nhà Trần bị lấn dần Đạo quân của tướng Lê Tần (LêPhụ Trần) được lệnh vừa đánh vừa rút lui lực lượng
Khi quân địch vào thành Thăng Long Ta sử dụng kế hoạch “ vườn không nhàtrống” huy động sức mạnh toàn dân cùng tham gia chống giặc Năm 1258, đế chếMông Cổ kéo quân xâm lược Đại Việt Trước sức mạnh của kẻ thù, triều đình nhàTrần đã dùng kế “thanh dã” hay còn gọi là kế “ vường không nhà trống” đánh giặc.Vua Trần Thánh Tông ra lệnh cho hoàng tộc, các quan và gia đình họ cùng dânchúng 61 phường trong kinh thành rút khỏi Thăng Long Đây là lần đầu tiên tronglịch sử, dân chúng kinh thành sơ tán để đánh giặc Triều đình cho chuyển tất cả cáckho tàng, của báu với mục đích không để thứ gì lọt vào tay giặc Công lao to lớnnày thuộc về Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, vợ của Thái sư Trần Thủ Độ -người sáng lập ra triều Trần và là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quânNguyên Mông lần thứ nhất Bà đã tổ chức cho hoàng gia, các gia đình tướng sĩđang chiến đấu ngoài mặt trận rời khỏi kinh thành an toàn Tại nơi sơ tán, bà sắpxếp lại cuộc sống, đồng thời cho dân chúng thu gom vũ khí, cung cấp cho quânđội
Quân giặc ào vào chiếm được kinh thành dễ dàng mà không gặp phải sựkháng cự nào, nhưng chúng bất ngờ vì Thăng Long chỉ là tòa thành trống rỗng.Chúng cho quân lùng sục, song bao trùm 61 phường là không gian lặng im khôngtiếng gà gáy, không tiếng chó sủa khiến chúng hoang mang lo lắng Chúng chỉ tìmthấy trong ngục thất những tên sứ giả bị trói chặt, trong đó có những tên đã chết
Đó là những sứ giả được phái sang dụ dỗ, đe dọa, buộc triều Trần phải đầu hàng
Trang 152.2.3.2 Nghệ thuật chỉ đạo linh hoạt sáng tạo giữa rút lui với phản công
và tiến công Nắm chắc thời cơ phản công địch theo tư tưởng “lấy sức nhàn thắng sức mỏi”.
Kết hợp kế “ thanh dã” với tổ chức đánh các điểm chặn làm cho quân địch bịphân tán lực lượng và luôn trong tình thế bị uy hiếp, căng thẳng, mệt mỏi, thiếulương thảo Chỉ sau mấy ngày vào thành Thăng Long, quân Mông Cổ hoàn toànmất hết nhuệ khí chiến đấu, đã không có lương thực để ăn còn bị làng xóm xungquanh chống lại, quân lính bị hoảng hốt đên cực điểm Đánh địch trên đường rútlui là lúc chúng đang vận động ngoài căn cứ, sức lực mệt mỏi, tinh thần hoangmang, tâm lí thất bại; đó là thời cơ hết sức thuận lợi để tiêu diệt triệt để sinh lựcđịch Nắm vững thời cơ triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóngThăng Long Quân Mông Cổ bị đánh bật khỏi kinh đô sau trận chiến ở Đông BộĐầu vào ngày 29-1-1258 Đó là trận quyết chiến chiến lược Thua trận, quân Mông
Cổ buộc phải rút khỏi Thăng Long, và trong cuộc chiến này, chúng chỉ chiếm đượcThăng Long trong 11 ngày (từ ngày 18-1 đến 29-1-1258) Chiến thắng Đông BộĐầu năm 1258 thời Trần là thắng lợi hiển hách đầu tiên của những nước bị đế quốcMông Cổ xâm lược
Mở trận thủy chiến, quân và dân nhà Trần đã tận dụng đường sông để cơ động
và triển khai lực lượng một cách bí mật, bất ngờ Đây là lối đánh tập kích đườngsông hết sức tài giỏi của quân và dân ta, nhằm lúc địch rời khỏi lưng ngựa, không
có lực lượng thủy chiến yểm trợ, nên đã giành thắng lợi to lớn
2.2.3.3 Nghệ thuật tiến hành kháng chiến do tài năng lỗi lạc của những người lãnh đạo
Chiêu mộ được người tài tướng giỏi cho đất nước, những con người dũngcảm, kiên cương, bất khuất, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc như: tấm gương
hi sinh của Trần Bình Trọng với câu nói “ ta thà làm ma nước Nam chứ khôngthem làm vương đất Bắc”; Tấm gương của Trần Quốc Toản: Không được tham gia