Cách mạng khoa học - công nghệ là cuộc cách mạng có sự biến đổi về chất và sự kết hợp giữa những phát minh lớn lao trong các ngành khoa học và nhữngphát triển trong kĩ thuật sản xuất, tạ
Trang 1TIỂU LUẬNTIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
ĐỀ TÀI:
Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện
đại từ 1945 đến nay
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
I Những khái niệm cơ bản 3
1 Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ là gì? 3
2 Những đặc tính nổi bật của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghê hiện đại 5
II Những thành tựu của cuộc các mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại từ năm 1945 đến nay 6
1 Tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật công nghệ hiện đại sau năm 1945 trên thế giới 6
2 Ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ từ 1945 đến nay tại Việt Nam 13
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nhiều thay đổi lớn trên thế giới ảnhhưởng đến sự phát triển của từng quốc gia Nhiều quốc gia phát triển vượt bựcnhờ phát triển áp dụng sáng tạo khoa học kỹ thuật vào mục đích sản xuất, làmtăng chất lượng của sản phẩm, cũng như tạo ra nhiều tài sản cho đất nước.Nền kinh tế các nước cuối thế kỉ XX phát triển vượt bậc
Cuộc cách mạng công nghiệp được dánh giá rất cao cho sự phát triển củaloài người Tuy nhiên, để nối tiếp thành công đó, không thể không nhắc đếnvai trò quan trọng mà thành công do cuộc cách mạng khoa học mang lại Lợiích của sự phát triển khao học kỹ thuật hiện giờ là bằng chứng chính xác nhất
để khẳng định sự thành công của nó
Đề tài này sẽ được khai thác tối đa những gì mà cuộc cách mạng côngnghiệp nói chung và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nói riêng đem lại cholịch sử thế giới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tiểu luậ nhằm làm rõ nét hơn về cuộc cách mạng khoa học –
kỹ thuật công nghê từ năm 1945 đến nay
Những thành công mà cuộc cách mạng đem lại trên thế giới, sức người laođộng và sự thay đổi toàn cầu về kinh tế, xã hội cũng như tác động vào sự pháttriển của các quốc gia
Tiểu luận cũng làm rõ thêm những nguyên nhân dẫn tới sự thành công và
sự ảnh hưởng không nhỏ của cuộc cách mạng quan trọng của nhân loại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thành tựu mà cuộc cách mạng đem lại cho nhân loại
Thời gian sau năm 1945 đến nay, nền kinh tế và sự phát triển của các quốcgia phụ thuộc vào kỹ thuật, khoa học, đặc biệt là công nghệ trong sản xuất
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 4Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên những nghiên cứu trước đó của nhữngnhà nghiên cứu trên thế giới, những giảng viên có nhiều kinh nghiệm cũngnhư những tài liệu liên quan đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong lịch
sử thế giới
Tiểu luận cũng sử dụng nhiều phương pháp như tìm kiếm, thống kê, đánhgiá những sự vật khách quan, những ý nghĩa và cả những tiêu cực trong quátrình bắt đầu cuộc cách mạng và hệ lụy sau này
5 Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận này được trình bày dưới 2 phần chính:
- Phần 1: Những khái niệm cơ bản về cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật,công nghệ từ năm 1945 đến nay Ở phần này cũng cấp những thông tin cở bảnnhất về quá trình hình thành cũng như đặc điểm, tính chất của cuộc cáchmạng
- Phần 2: Những thành tựu mà cuộc cách mạng mang lại cho thế giới, ViệtNam Ngoài ra còn những hạn chế, những tiêu cực làm gia tăng mộ số vấn đềtoàn cầu chưa được giải quyết, ảnh hưởng đến nhiều thành phần xã hội
Trang 5NỘI DUNG
I Những khái niệm cơ bản
1 Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ là gì?
Cách mạng khoa học - công nghệ là cuộc cách mạng có sự biến đổi về chất
và sự kết hợp giữa những phát minh lớn lao trong các ngành khoa học và nhữngphát triển trong kĩ thuật sản xuất, tạo thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ,trong đó nhấn mạnh yếu tố công nghệ Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngàynay bắt nguồn từ những năm 40 của thế kỉ XX
Lịch sử hình thành
Học giả người Anh J D Bernal vào năm 1939 đã giới thiệu khái niệm
"Cách mạng khoa học - kỹ thuật" trong tác phẩm "The Social Function ofScience" (Chức năng xã hội của khoa học) để mô tả vai trò mới của khoa học -
kỹ thuật trong tiến trình phát triển của xã hội Bernal đã vận dụng thuyết về lựclượng sản xuất của Các Mác để minh chứng rằng khoa học đang trở thành một
"lực lượng sản xuất" trong xã hội Lý luận của Bernal đã được áp dụng tronggiới khoa học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa Tác phẩm Văn minh ởngã tư đường của học giả người Séc Radovan Richta (1969) trở thành chuẩnmực cho các nghiên cứu về chủ đề này Tuy nhiên, trong nội bộ giới trí thức XôViết cũng có nhiều quan điểm không hoàn toàn giống nhau về khái niệm này Daniel Bell vào năm 1980 phản bác lại thuyết này, ông cho rằng xã hội sẽtiến vào giai đoạn hậu công nghiệp với các ngành dịch vụ sẽ thay thế vai trò chủđạo của các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế và điều đó sẽ dẫn đếnmột xã hội dịch vụ thay cho xã hội theo khuôn mẫu của chủ nghĩa xã hội Lậpluận của Bell được một số nhà khoa học ủng hộ, tỉ như ZbigniewBrzezinski (1976) với tác phẩm "Technetronic Society" Một số định nghĩa vềtên gọi Cách mạng thông tin cũng nghĩ rằng cuộc cách mạng bắt đầu từ giữa thế
kỷ 20 với sự ra đời của vi mạch và chip, từ đó dẫn tới các thay đổi mang tính
Trang 6cách mạng trong đời sống với sự phát triển vượt bậc của máy vi tính, máy tính,các công nghệ điện tử viễn thông khác và dẫn tới ngành dịch vụ ngày càng trởnên quan trọng hơn so với ngành sản xuất công nông nghiệp, và sản phẩm củanhững nhân công tay nghề cao chủ yếu là kiến thức và thông tin mà họ mang lạicho xã hội
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ XX bắt nguồn từ những nhu cầucàng lúc càng tăng cao của con người trong suốt tiến trình lịch sử trong khi sứclực và khả năng (sinh học) của con người có hạn không thể đáp ứng tất cả cácnhu cầu ngày càng tăng, đồng thời tài nguyên thiên nhiên, vật liệu tự nhiên về sốlượng và tính chất cũng có giới hạn, không thể đáp ứng những yêu cầu mới nảysinh trong cuộc sống Hơn thế nữa, trong cuộc sống hiện đại, các vấn đề về cạnkiệt tài nguyên thiên nhiên, bùng nổ dân số, chiến tranh càng ngày càng cấpbách đòi hỏi những bước phát triển kịp thời của kỹ thuật, công nghệ để khắcphục những khó khăn và đáp ứng các đòi hỏi ngày càng đắt đỏ của nhân loại.Đồng thời, do sống gắn bó chặt chẽ với các hiện tượng tự nhiên (gió, bão, mưa,sấm chớp, lũ lụt, động đất, ) và chịu nhiều ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực từchúng, con người buộc phải đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học để hiểu rõ về tựnhiên nhằm khắc phục các tác hại và tận dụng các thuận lợi của tự nhiên chomình
Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật từ giữa thế kỷ XX cũng đã cónền tảng vững chắc từ những phát triển mang tính bước ngoặt về khoa học từcuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, như lý thuyết nguyên tử hiện đại, cấu trúc vềnguyên tử, thuyết tương đối và các thành tựu nổi bật khác trong vật lý, sinh học,hóa học, Rất nhiều các phát minh lớn của thế kỷ XX như bán dẫn,tia laser, năng lượng hạt nhân, máy tính điện tử, đều có liên quan đến nhữngthành tựu khoa học này
Cũng cần phải kể đến hai sự kiện mang tính bước ngoặt có tác dụng thúcđẩy việc đi sâu vào nghiên cứu khoa học Thứ nhất, đó là cuộc Chiến tranh thếgiới lần thứ hai (1939-45), nó đặt ra yêu cầu phát triển các phương tiện chiến
Trang 7tranh tối tân hơn nhằm nâng cao tính cơ động, xây dựng mạng lưới chỉ huy vàthông tin liên lạc hiệu quả (ra đa) cùng những vũ khí có sức sát thương lớn (bomnguyên tử, tên lửa) Và thứ hai, đó là cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 đã gây ra
sự khủng hoảng toàn diện về cả kinh tế lẫn chính trị, đặt ra nhiều vấn đề cầnphải giải quyết trong đó có việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học - kỹ thuật theochiều sâu nhằm giải quyết khủng hoảng và tiếp tục phát triển
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại có thể được chia ra làm haigiai đoạn Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ thập niên 1940 tới giữa thập niên 1970.Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ cuộc khủng hoàng dầu mỏ năm 1973 đến nay, vớiđặc điểm khoa học kỹ thuật phát triển theo chiều sâu thay vì chiều rộng, trọngtâm đặt nhiều về việc phát triển về nghiên cứu các loại công nghệ và cách mạng
về công nghiệp được nâng lên hàng đầu
2 Những đặc tính nổi bật của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghê hiện đại.
So với cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại
có nội dung phong phú, đa dạng và rộng lớn hơn rất nhiều Sự phát triển vượtbậc không những diễn ra trong các ngành khoa học cơ bản (toán học, vật lý, sinhhọc, hóa học) mà còn thể hiện ở việc phát sinh của nhiều ngành khoa học, kỹthuật mới như khoa học vũ trụ, điều khiển học; ngoài ra cuộc cách mạng khoahọc - kỹ thuật còn đi sâu vào những lĩnh vực mới (thế giới vi mô, các vùng địa
lý bí hiểm, bí mật của sự sống ) và hình thành nên ra các kỹ thuật mới, nguyênvật liệu mới, năng lượng mới mà các giai đoạn trước đó chưa từng tiếp cận hayhình dung được
Một đặc tính khác của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại là vaitrò chủ đạo và định hướng của khoa học trong sự phát triển của công nghệ vàsức sản xuất Nhìn lại giai đoạn cách mạng công nghiệp, khoa học không bắt kịpvới kỹ thuật, không dẫn tới các tiến bộ kỹ thuật và các phát minh, cải tiến kỹthuật cũng không bắt nguồn từ các phát kiến khoa học và các nhà phát minhthường là những người lao động thay vì các nhà khoa học Tuy nhiên, trong
Trang 8cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, khoa học đã đi trước kỹ thuật rất
xa, mở đường cho sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ, là nguyên nhân, nguồngốc của các tiến bộ kỹ thuật, thâm nhập sâu sắc vào sự phát triển của sức sảnxuất và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều này cũng có nghĩa là thờigian ứng dụng khoa học vào phát triển công nghệ và sản xuất càng ngày càngngắn: trong khi từ nguyên lý máy ảnh đến chế tạo ra chiếc máy ảnh đầu tiên mất
100 năm, thì quá trình tương tự xảy ra đối với mạch vi điển tử chỉ mất 3 năm vàtia la-de chỉ mất 2 năm Đồng thời, hiệu quả kinh tế của việc đầu tư vào khoahọc càng lúc càng lớn và lợi nhuận cao hơn so với nhiều lĩnh vực khác
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật như trên đãdẫn tới hiện tượng "bùng nổ thông tin", tức là số lượng thông tin, kiến thức khoahọc, tài liệu khoa học và đội ngũ các nhà khoa học đã tăng nhanh một cách độtbiến với tốc độ phát triển gấp nhiều lần so với quá khứ Vốn kiến thức khoa họccủa nhân loại theo ước tính cứ 7 năm tăng gấp đôi, và số nhà khoa học cứ 10năm thì lại tăng 2 lần Một nửa số tài liệu khoa học xuất bản của nhân loại (tínhđến cuối thế kỷ XX) được xuất bản trong 15-20 năm cuối cùng của thế kỷ này
II Những thành tựu của cuộc các mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại từ năm 1945 đến nay.
1 Tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật công nghệ hiện đại sau năm 1945 trên thế giới.
Trong những thập kỷ qua, cuộc Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật (KHKT)hiện đại đã có vai trò và tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội thếgiới, đặc biệt là ở các nước phát triển Các nước này có nguồn kinh phí lớn vànhiều điều kiện thuận lợi đầu tư cho nghiên cứu KHKT cũng như ứng dụng kếtquả nghiên cứu vào thực tiễn Do vậy, các nước phát triển được hưởng lợi nhiềuhơn và ngày càng giàu thêm nhờ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT.Những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT không những góp phần tạo ranhiều loại máy móc; thiết bị hiện đại; có nhiều phát minh tác động tích cực đến
Trang 9sự phát triển kinh tế – xã hội, mà còn không ít phát minh gây tác động tiêu cựcđến sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường như: những phát minh ra vũ khígiết người, các chất hóa học gây ô nhiễm môi trường…
a, Cuộc Cách mạng KHKT – công nghệ đưa loài người đến một nền văn minh mới
Cuộc Cách mạng KHKT đã và đang đưa loài người chuyển sang một nềnvăn minh mới, được gọi với nhiều tên: “Nền văn minh hậu công nghiệp”, “Nềnvăn minh truyền tin” Ở nền văn minh này, con người có thể phát huy cao độnăng lực sáng tạo trong sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, nâng cao chấtlượng cuộc sống
Những thành tựu to lớn của cuộc Cách mạng KHKT đã làm thay đổi cơ bảncác nhân tố sản xuất và đời sống như: máy móc, thiết bị, công nghệ, năng lượng,nguyên liệu, thông tin, y học, các giống cây trồng, vật nuôi… Nhờ vậy, tronghơn 60 năm từ sau Thế chiến thứ hai, con người đã tạo ra lượng của cải vật chấtnhiều hơn tất cả các thế hệ trước kia cộng lại
b, Cuộc Cách mạng KHKT – công nghệ đã làm thay đổi căn bản phương thức lao động của con người
Nhờ những phát minh, sáng chế ra nhiều loại máy móc, thiết bị hiện đại, conngười trong các ngành sản xuất được chuyển từ lao động thể lực sang hình thứclao động có văn hóa và có KHKT Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạngKHKT đòi hỏi người lao động phải được đào tạo và tự đào tạo, không ngừngnâng cao trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp và trình độ KHKT công nghệ.Nguồn lao động có trình độ KHKT và kỹ năng nghề nghiệp cao là nhân tố quantrọng, quyết định nhất để phát triển nền kinh tế tri thức của các quốc gia
c, Cách mạng KHKT làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân
Thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế
Các ngành thuộc khu vực I bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp có xu hướnggiảm tỷ lệ lao động và tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc nội (Gross DomesticProduction – GDP) ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Hiện
Trang 10nay, ở các nước phát triển G8 tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chỉ còn chiếm từ
1 – 2% tổng số lao động, và giá trị thu nhập của ngành này chỉ còn chiếm từ 1 –4% GDP
Các ngành thuộc khu vực II bao gồm các ngành công nghiệp có xu hướngtăng nhanh trong tỷ trọng GDP, cơ cấu các ngành ngày càng đa dạng và thay đổinhanh Ở nhiều nước phát triển, những năm 50 phát triển các ngành điện lực,công nghiệp khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí chế tạo máy, công nghiệp hóa dầu;những năm 60 phát triển công nghiệp điện tử, công nghiệp vũ trụ, hóa chất ;những năm 70 phát triển công nghiệp tự động hóa (người máy), hàng không vũtrụ, dệt sợi nhân tạo; từ năm 1980 đến nay phát triển các ngành tin học viễnthông, kỹ thuật vi điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, sử dụngnăng lượng mới, công nghiệp hàng không vũ trụ…
Các sản phẩm có hàm lượng tri thức và công nghệ cao ngày càng có giá trị
và được sản xuất nhiều Sản phẩm xã hội ngày càng nhiều, đa dạng theo hướngtôn trọng con người, tôn trọng môi trường, phục vụ thị hiếu của người tiêu dùng.Các ngành thuộc khu vực III bao gồm các ngành dịch vụ có xu hướng pháttriển nhanh, chiếm ưu thế cả về tỷ lệ lao động và tỷ trọng trong GDP
Thay đổi hình thức và cơ chế tổ chức sản xuất
Hình thức tổ chức quản lý phân đoạn và cơ chế tổ chức quản lý hai tầngđược ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp và hoạt động dịch vụ ởnhiều nước Bên cạnh việc phát triển các công ty xuyên quốc gia, những công ty
có quy mô lớn, sức cạnh tranh cao; các công ty, xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏnhưng có thiết bị máy móc hiện đại được chú trọng phát triển để thích ứng vớinăng lực quản lý, sự đổi mới công nghệ và yêu cầu của thị trường
Từ những năm 80 đến nay, ở hầu hết các nước phát triển và các nước NICs,những ngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều nguyên, nhiên liệu vànhân công có xu hướng suy giảm như công nghiệp luyện kim, đóng tàu, côngnghiệp dệt may Ngược lại, những ngành công nghiệp mang lại giá trị cao vàmới được phát triển mạnh
Trang 11Hàm lượng KHKT và công nghệ đầu tư trong các ngành sản xuất tăngnhanh, song lực lượng lao động trong các ngành này có xu hướng giảm, khốilượng hàng hóa sản xuất ngày càng nhiều, sự phân công lao động sâu sắc, sựcạnh tranh thị trường ngay trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia ngày càngkhốc liệt Sản xuất muốn phát triển cần có các ngành dịch vụ phát triển như:thương mại, tài chính, ngân hàng, giáo dục, nghiên cứu và ứng dụng KHKT,marketing, bảo hiểm, giao thông vận tải, tư vấn, lắp đặt và bảo dưỡng thiết bịmáy móc… Khi nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, nhiềudịch vụ phục vụ con người cũng phát triển theo như: y tế, chăm sóc sức khỏe vàsắc đẹp, văn hóa nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch…
Cuộc Cách mạng KHKT hiện dại cũng đã làm thay đổi cơ cấu sản phẩm.Năng lượng, nguyên liệu, vật tư, lao động thể lực và thời gian để tạo ra sảnphẩm có xu hướng giảm Trong các quá trình sản xuất, các yếu tố tự động hóa,đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa (giảm thiểu tác động tới mỏi trường), chi phí chomôi trường và cho dịch vụ, lao động có KHKT, nghiên cứu và ứng dụng khoahọc công nghệ được tăng cường
Thay đổi cơ cấu lao động
Trong những thập kỷ gần đây, do tốc độ phát triển mạnh mẽ của cuộc Cáchmạng KHKT nên phát triển nền kinh tế tri thức trở thành xu hướng và mục tiêuphát triển ở nhiều quốc gia Vì vậy, trong các ngành kinh tế, số lượng lao độngthể lực giảm, nhưng lao động có trình độ tri thức khoa học công nghệ và taynghề cao lại tăng nhanh Do tăng cường cơ giới hóa và tự động hóa trong cácquá trình sản xuất nên tỷ lệ lao động trong các ngành nông nghiệp và côngnghiệp có xu hướng giảm, tỷ lộ lao động trong ngành dịch vụ có xu hướng tăng
d, Cuộc Cách mạng KHKT làm thay đổi phân bố sản xuất
Nhờ các phát minh, sáng kiến, một số loại nguyên liệu, năng lượng mớiđược sử dụng, nhiều ngành sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ caophát triển đã làm cho nhiều vùng hoang vắng trở thành những trung tâm công
Trang 12nghiệp, kinh tế sầm uất như vùng phía đông nam Hoa Kỳ, vùng phía đông namnước Pháp, vùng phía tây nam Trung Quốc, vùng phía nam Ấn Độ…
e, Cuộc Cách mạng KHKT đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở nhiều quốc gia trên quy mô toàn cầu
Nhờ những thành tựu nghiên cứu và ứng dụng của Cách mạng KHKT trongsản xuất cũng như đời sống nên đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhândân ở hầu hết các quốc gia đều tăng, đặc biệt ở những nước phát triển (năm1950: GDP/người của các nước phát triển đạt 3.840 đôla Mỹ (USD), của cácnước nghèo nhất đạt 165 USD ; năm 1994 : GDP/người các nước phát triển đạt18.130 USD, của các nước nghèo nhất đạt 300 USD Mức tiêu thụ các sản phẩmtính trung bình của 1 người ở Mỹ hiện nay so với đầu thế kỷ XX tăng 6,6 lần.Đời sống được nâng cao, nhiều-dịch bệnh bị đẩy lùi nên tỷ lệ tử vong trung bìnhcủa cả thế giới đã giảm (năm 1950 là 15%o và hiện nay là 7 – 8%o) Hơn nửathế kỷ qua, nhờ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT nên nhìn chungcác chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống của nhân dân ở nhiều quốc gia đều đượcnâng cao
f, Các nước ngày càng bị phụ thuộc vào nhau
Cuộc Cách mạng KHKT làm cho các nước ngày càng bị phụ thuộc vào nhau
về vốn, nguyên, nhiên liệu, lao động và khoa học công nghệ Vì vậy, đã làm chonền kinh tế – xã hội thế giới ngày càng có xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóacao Một thị trường thế giới bao gồm tất cả các nước có chế độ xã hội khác nhauđang được hình thành Các nước tăng cường giao lưu, hợp tác trong nhiều lĩnhvực như: kinh tế, KHKT, y tế, giáo dục, văn hóa, an ninh, du lịch, môi trường… Ngày càng nhiều tổ chức kinh tế – xã hội với quy mô khác nhau được thànhlập, hoạt động có hiệu quả làm cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới gắn bóvới nhau chặt chẽ hơn
g, Hậu quả của Cách mạng KHKT
Bên cạnh những thành tựu to lớn tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xãhội, cuộc Cách mạng KHKT cũng gây nhiều hậu quả đến sự phát triển kinh tế –
Trang 13xã hội, môi trường đối với từng quốc gia cũng như quy mô trên toàn thế giới.Những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT đã giúp Loài người sản xuất ramột khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, song một lượng lớn tài nguyên bị khaithác và một khối lượng lớn chất thải được đưa vào môi trường đã dẫn đến cácnguồn tài nguyên ngày càng bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nướcsạch, suy giảm sự đa dạng sinh học…
Các loại nguyên, nhiên liệu mà loài người sử dụng ngày càng tăng Năm
1983 nhu cầu về dầu mỏ của thế giới ở mức 59 triệu thùng/ngày Đến năm 2004nhu cầu về dầu mỏ của thế giới đạt mức 85,5 triệu thùng/ngày, mức tăng hằngnăm là 1,4% (trong khi đó sản lượng cung dầu lửa quý in năm 2004 là 82 triệuthùng/ngày và quý IV năm 2004 là 83,6 triệu thùng/ngày*) Sản lượng thép củathế giới trong 10 năm trở lại đây kể từ năm 1994 có mức tãng hằng năm là3,32%, mỗi năm tăng thêm 50 triệu tấn, Sản lượng thép của thế giới sản xuấtnăm 1994 là 725,1 triệu tấn, đến năm 2004 là 1.000 triệu tấn
Nhu cầu về các loại nguyên, nhiên liệu của toàn cầu tăng nhanh, cầu vượtquá cung, trong khi các mỏ khoáng sản ngày càng cạn kiệt, không đáp ứng đượcnhu cầu sản xuất Các nhà khoa học dự báo nguồn dầu mỏ của thế giới chỉ có thểdùng được khoảng 30 – 35 năm nữa Loài người phải tính đến việc sử dụngnhững nguồn năng lượng mới Nhu cầu sử dụng các loại nguyên liệu tăng đãlàm cho giá tất cả các loại nguyên vật liệu đầu vào, giá các dịch vụ, giá cả cảcmặt hàng đều tãng nhanh Và kết quả đã làm suy thoái nền kinh tế toàn cầu cũngnhư từng quốc gia
Nãm 1973, giá dầu lửa của thế giới tăng 400%, trong khi đó tăng trưởngkinh tế của thế giới năm 1973 là 6,47% và trong hai năm tiếp theo giảm xuốngchỉ còn 1%
Từ cuối nãm 2003 đến nay, giá dầu lửa thế giới liên tục tăng, giá 1 thùng từ
25 USD vào tháng 10 năm 2003, ngày 20/7/2005 cao điểm lên tới 72 USD vàtháng 1 năm 2006 là gần 68 USD
Trang 14Giá thép phế liệu trong năm 2004 tăng 65%, giá quặng sắt tăng trung bình20% so với năm 2003, giá thép thành phẩm năm 2004 so với năm 2003 tăng 25– 30% ở thị trường Viễn Đông và 60 – 70 % ở thị trường Mỹ.
Giá các nguyên liệu đầu vào, giá các mặt hàng tăng cao nhưng do nhiềuquốc gia trên thế giới có các biện pháp ứng phó và thực hiện các chiến lược cải
tổ nền kinh tế nên năm 2004 mức tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn đạt 5%, songtheo các chuyên gia Quỹ Tiển tệ Quốc tế (Intemationnal Monetary Fund – IMF)mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2005 giảm xuống chỉ đạt 4,3%)
Nhiều phát minh sáng kiến khoa học chưa được kiểm nghiệm và đánh giáthấu đáo để thấy được những hạn chế đã đưa vào ứng dụng rộng rãi dẫn đếnnhững tác động tiêu cực lớn tới hiệu quả về kinh tế – xã hội cũng như môitrường… Như việc ứng dụng những giống mới, những phương pháp độc canh,chuyên canh của cuộc “Cách mạng Xanh” thực hiện ở Hoa Kỳ, Ân Độ, vùngTrung Đông của Liên Xõ (cũ)… thời kỳ 1965 – 1970 đã làm bạc màu, hoanghóa một diện tích lớn đất canh tác của các nước này Hay việc sử dụng các chấtbảo vệ thực vật, phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia
đã gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên Sự cố các nhà máy hóa chất,
vụ nổ các nhà máy điện nguyên tử, việc khai thác và chuyên chở dầu mỏ… cũng
đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…
Các phát minh sáng kiến khoa học còn được áp dụng để sản xuất các loại vũkhí chiến tranh, đặc biệt là các loại vũ khí hóa học, vũ khí nguyên tử nhằm sáthại con người, gây ô nhièm môi trường
Những nước phát triển có nhiều vốn, nguồn lực để nghiên cứu và ứng dụngKHKT Do vậy, các nước này được hưởng lợi nhiều hơn từ những thành tựu củacuộc Cách mạng KHKT và ngày càng giàu thêm Ngược lại, các nước đang pháttriển do không có nhiều nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng KHKT nênkinh tế chậm phát triển và ngày càng nghèo
Như vậy, cuộc Cách mạng KHKT còn góp phần làm gia tăng sự chênh lệch
vể trình độ phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia và các tầng