Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng giới thì: Bìnhđẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội pháthuy năng lực của mì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG Ở
VIỆT NAM BÀI TIỂU LUẬN MÔN TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG
Sinh Viên Thực Hiện : Nguyễn Hoàng Vũ
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2022
- -ĐỀ TÀI:
Trang 2BÀI TIỂU LUẬN MÔN TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2022
Nhận xét của giảng viên:
Sinh Viên Thực Hiện : Nguyễn Hoàng Vũ
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu khóa học em đã nhận được rất nhiều sự quantâm, giúp đỡ tận tình từ phía Cô Đinh Nguyễn Thúy Nguyệt Em xin gửi lời cảm ơn chânthành đến Cô Đinh Nguyễn Thúy Nguyệt - Giảng viên trực tiếp giảng dạy học phần mônTin học đại cương và hướng dẫn đề tài này, cảm ơn cô đã trang bị cho chúng em nhữngkiến thức quý báu tạo tiền đề cho các bài tiểu luận sau này
Bài tiểu luận được thực hiện trong khoảng 10 ngày với tất cả sự cố gắng tuy nhiên
do kiến thức còn hạn chế và chưa thật sự có nhiều kinh nghiệm trong các bài tiểu luận nênkhông tránh khỏi các thiếu sót, em rất mong nhận được những lời nhận xét đóng góp của
cô giúp em hoàn thiện đề tài hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
TP.HCM, ngày 30 tháng 4 năm 2022
Người thực hiệnNguyễn Hoàng Vũ
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc năm 1999 2
Bảng 2 Bảng số liệu: SRB ở Việt Nam 2005 – 2009 4
Bảng 3 Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp 5
Bảng 4 Tỷ lệ nữ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp (%) 6
Bảng 5 Tỷ lệ nữ cán bộ trong UBND các cấp chia theo giới tính (%) 6
Bảng 6 Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường cao đẳng, đại học (%) 8
Bảng 7 Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học 9
Bảng 8 Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (%) 11
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Tỷ lệ SRB năm 2005-2009 4
Hình 2 Nữ Đại biểu Quốc hội trẻ nhất là Quảng Thị Nguyệt 6
Hình 3 Trẻ em gái vùng cao được đến trường nâng cao trình độ văn hóa và học vấn 7
Hình 4 Đảm bảo bình đẳng giới trong lao động 12
Hình 5 Ba mẹ thương yêu con trai, không quan tâm con gái 13
Hình 6 Thiên chức của phụ nữ là trở thành mẹ 14
Hình 7 Cân bằng giới tính nam-nữ 15
Hình 8 Phụ nữ vùng nuối phải làm việc cực khổ 17
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
MỤC LỤC iv
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI 1
I Một số khái niệm 1
II Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 3
I Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) 3
II Bất bình đẳng giới trong chính trị 5
III Bình đẳng giới trong giáo dục 7
IV Bất bình đẳng giới trong kinh tế, lao động – việc làm 10
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM .13
I Nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng giới ở Việt Nam 13
1 Trọng nam khinh nữ 13
2 Thiên chức của phụ nữ 14
3 Nhận thức xã hội 15
II Giải pháp khắc phục hạn chế bất bình đẳng giới 16
III Giải pháp hạn chế bất bình đẳng giới trong vùng dân tộc thiểu số, miền núi 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO v
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
I Một số khái niệm
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liênquan đến nam và nữ Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trò quyết định đến cơ hộicuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế Giớichỉ khác biệt về xã hội và quan hệ về quyền lực giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ
và nam giới được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền vănhóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ rang trongvui chơi, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn và thuận lợi của các giới tính
Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng giới thì: Bìnhđẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội pháthuy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ nhưnhau về thành quả của sự phát triển của cộng đồng về thành quả của phát triển đó Bìnhđẳng giới đề cập tới sự bình đẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội của nam giới và nữgiới, trẻ em gái và trẻ em trai Theo Luật Bình đẳng giới, thì mọi người, dù là nam giớihay phụ nữ, với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội đểphát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quátrình phát triển chung như:
- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội )
- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực
- Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
- Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển
Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hộibất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng góp và hướng thụ từ sựphát triển của gia đình của đất nước
II Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được đo bằng cácchi tiêu khác nhau Trong báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển Liênhiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:
Trang 9- Chỉ số phát triển giới (GDI) Chỉ số này phản ánh những thành tựu trong các khíacạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều chỉnh cáckết quả đó theo bất bình đẳng giới Trong mỗi nước, nếu giá trị của GDI càng gần vớiHDI thì sự khác biệt theo giới tính càng ít (trường hợp của Na Uy và Singapore-Bảng4.9) Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng
và phát triển con người giữa nam và nữ (Lucxămbua và Ai Cập Xê út) Ngược lại, nếu thứhạng GDI là cao hơn, cho thấy một sự phân phối bình đẳng hơn về phát triển con ngườigiữa nam và nữ Sau đây là bảng so sánh giá trị và xếp hạng một số nước theo HDI vàGDI năm 1999
Bảng 1 So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước chọn lọc năm 1999
Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệ
có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới
Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệcác vị trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các vị trị trongnghành kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm
Trang 10 Quyền đối với các nguồn kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính của phụ nữ vànam giới (PPP-USD).
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mứcthu nhập hoặc giai đoạn phát triển
- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ
- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bặc về sự bất bình đẳnggiới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và ở các nướctrên thế giới
Vì vậy bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêu củaphát triển, đồng thời là một yếu tố để năng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia và xóađói giảm nghèo
Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển của các nướcđang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình đẳng giới trong dài hạn.Tuy nhiên, nếu chỉ có sự tăng trưởng thì sẽ không tạo ra được kết quả mong muốn mà còncần có một môi trường thể chế để mang lại quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ vànam giới, cần có những giải pháp chính sách cho phụ nữ và nam giới, cần có những giảipháp chính sách liên quan đến bất bình đẳng giới
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực dovậy là bất bình đẳng giới cũng tồn tại ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực Để tìm hiểu hết thựctrạng của bất bình đẳng giới là một điều hết sức khó khăn nhưng nhìn sâu trong một sốlĩnh vực thì chúng ta cũng có thể hiểu thực trạng của bất bình đẳng giới đang tồn tại trong
xã hội của Việt Nam như thế nào Sau đây là tìm hiểu về thực trạng bất bình đẳng giớimột số ngành:
I Tỷ số giới tính khi sinh (SRB)
Tỷ lệ giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ sơ sinh trai trên một trăm trẻ sơ sinh gáiđược sinh ra Tỷ lệ này được xem là bình thường khi có 105 đến 108 bé trai được sinh ra
so với 100 bé gái, bởi vì tỷ lệ chết ở trẻ trai thường cao hơn trẻ gái một chút do vậy khiđến tuổi trưởng thành số nam và nữ sẽ cân bằng nhau Tỷ số sinh khi sinh có thể coi là
Trang 11một trong các chỉ số để đo vị thế của phụ nữ ở khía cạnh bất bình đẳng giới, tỷ số nàycàng cao rõ rang nhận thấy đây là hậu quả của tư tưởng thích con trai hơn con gái và pháthai có sự lựa chọn giới tính Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ suất này chênhlệch khỏi mức sinh học bình thường điều này phản ánh những can thiệp có chủ định ở cácmức độ khác nhau đến sự mất cân bằng tư nhiên Ở Việt Nam tỷ số giới tính khi sinh tăngrất nhanh trong những năm gần đây được thể hiện như sau:
Bảng 2 Bảng số liệu: SRB ở Việt Nam 2005 – 2009.
Trang 12nước ta đang ở vào mức cao, tăng nhanh, liên tục trong 5 năm qua và có thể vượt ngưỡng
115 trẻ trai/100 trẻ gái trong vòng ba năm tới Đặc biệt ở nhóm các địa phương vùng đồngbằng Bắc bộ, nơi người dân khao khát sinh con trai và có phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, tỉ
số giới tính khi sinh đã lên đến 130 trẻ trai/100 trẻ gái ở Hưng Yên, 122 trẻ trai/100 trẻ gái
ở Bắc Ninh, 120 trẻ trai/100 trẻ gái ở Hải Dương trai dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn,nghèo nàn, con cái không được học SRB ra tăng rất nhanh ở Việt Nam là sự chỉ báo về sựmất cân bằng giới tính, kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực, tác động xấu đến chất lượng sốngcủa người dân: làm mất cân bằng nghiêm trọng cơ cấu dân số; các cơ sở y tế, bói toánhành nghề ăn theo phục vụ nhu cầu sinh con theo ý muốn; tình trạng nạo phá thai nhi khikết quả siêu âm, chuẩn đoán cho biết là gái gia tăng; xu hướng người chồng có quan hệvới những người phụ nữ khác để tìm con trai, gây tan vỡ hạnh phúc gia đình ngày càngnhiều; mâu thuẫn, bất hòa, cuộc sống nặng nề ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống củanhiều gia đình, con cái không được dạy dỗ chu đáo, có suy nghĩ lệch lạc, phát triển khôngđồng đều, dễ xa vào tệ nạn xã hội; vì cố sinh con hành cũng như hưởng các điều kiệnsống cần thiết…Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội chưa thực sự được đề cao,bất bình đẳng giới gia tăng
II Bất bình đẳng giới trong chính trị
Ngày nay người phụ nữ không chỉ lo việc bếp núc mà phải đi ra ngoài làm việc,cuộc sống nâng cao thì cả chồng cả vợ mới có thể đủ khả năng chăm sóc gia đình và nuôinấng con cái Tại công sở, người phụ nữ nếu mà được những chức vụ cao, những chức vụkhá quan trọng, thì vấn đề bình đẳng giới tự nhiên bị đặt ra như một rào chắn, hay mộtvấn đề mà người phụ nữ đó phải phấn đấu để vượt qua Để khẳng định được mình trong
vị trí lãnh đạo và quản lý thì thứ nhất bản thân những phụ nữ đó phải có năng lực, phải cótrình độ, được đồng nghiệp tín nhiệm Thực tế hiện nay nhiều phụ nữ có năng lực và cótrình độ Nam giới họ cũng khẳng định về năng lực và trình độ đó Tuy nhiên do quanniệm cho rằng phụ nữ lãnh đạo thì hiệu quả sẽ không cao bằng nam giới, nên tỷ lệ phụ nữ
có chức vụ cao vẫn còn hạn chế được thể hiện dưới bảng các bảng số liệu sau đây:
Bảng 3 Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
Các cấp
Trang 13Cấptỉnh
Cấphuyện
Cấpxã
Trang 14Hình 2 Nữ Đại biểu Quốc hội trẻ nhất là Quảng Thị Nguyệt
III Bình đẳng giới trong giáo dục
Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xãhội Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau vànhững đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ
em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hànhnhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thểđạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnhhưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai Khi mức độ bất bình đẳnggiới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khitrình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượngđầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ củangười mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tưnhiều hơn cho giáo dục đối với con cái Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóngvai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái Về lâu dài, các tácđộng này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao độngtrung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên Chứng tỏ trình độ của phụ nữ và trẻ em gáicũng rất cao và tốt nên cần được học tập sâu rộng và được phát huy tại mọi nơi, mọi lúc
mà không bị ràng buộc bởi một rào cảng nào khác về giới tính Đồng thời cần để cho trẻ
em gái được học tập cùng trẻ em trai để cả hai cùng nhau phát triển toàn diện Vì với khảnăng tuy duy của trẻ em gái sẽ giúp đỡ, hỗ trợ cho trẻ em nam biết thêm và cả hơi cùngnhau phát huy và phát tiển một cách hiệu quả nhất
Trang 15Hình 3 Trẻ em gái vùng cao được đến trường nâng cao trình độ văn hóa và học vấn
Tại Việt Nam Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trongnâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục quacác năm không ngừng tăng lên: năm 2002 chiếm 16,7%; năm 2005 chiếm 18%; năm 2008chiếm 20% so với tổng ngân sách Mức chi cho giáo dục của Việt Nam cao ngang bằngvới một số nước phát triển Kết quả của những ưu tiên này đã thu hẹp khoảng cách giới vàviệc đầu tư vào con người đã góp phần làm cho Việt Nam đạt được chỉ số phát triển conngười (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) khá cao Tỷ lệ phụ nữ so với nam giới trong
số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về tỷ lệ học sinh nam - nữ trong tất cảcác cấp bậc học được thu hẹp Về cơ bản, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cáchbiệt giới ở các cấp học trước năm 2015 Có bốn loại hình giáo dục không chính quy, chủyếu dành cho người lớn, trong đó có phụ nữ Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hộihọc tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước Nhận thức được thực trạng và tầm quantrọng của người phụ nữ, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành Giáo dục &Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt vấn đề bình đẳng giới Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đàotạo Đặng Huỳnh Mai đã khẳng định vai trò to lớn của giới nữ: “Chiếm hơn 70% đội ngũtoàn ngành, giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp Giáo dục & Đàotạo nước nhà” Một số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống nam giới lãnh đạo như Đạihọc Bách khoa Hà Nội nay đã có nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng Nhiều nữ nhà giáođược phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, được công nhận chức danh Phó Giáo sư Đặcbiệt, nhiều học sinh nữ, sinh viên nữ tự khẳng định vai trò của giới mình bằng cách tíchcực học tập và rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc Trong các kỳ tuyển sinh vào cao đẳng, đạihọc nhiều thủ khoa là học sinh nữ Còn trong các kỳ thi tốt nghiệp, nhiều sinh viên nữnhận bằng cử nhân với thành tích xuất sắc: thủ khoa Ở bậc đại học và cao đẳng, tỷ lệ sinhviên, học sinh là nữ đang có xu hướng tăng dần đều qua các năm 2004-2007 (47,79%,48,49%, 53,32%), trong đó năm học 2006-2007 tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ còn cao hơn
tỷ lệ nam học sinh, sinh viên (nữ 53,32%, nam 46,68) (Bảng 6)
Bảng 6 Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ trong các trường cao đẳng, đại học (%)