Vì: - Đối với người chấp hành án treo: Căn cứ Khoản 1 Điều 88 Luật THAHS “Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA CHƯƠNG 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN
Bộ Môn: Luật Thi Hành Án Hình Sự
Giảng Viên: ThS Đinh Văn Đoàn
Nhóm: 04
Thành Viên:
3 Nguyễn Đăng Kim Cương 1953801013026
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2021.
Trang 2VẤN ĐỀ 1:
NHẬN ĐỊNH.
Câu 1 Người bị kết án tử hình không được gặp thân nhân.
Nhận định Sai Vì:
- Trong thời gian bị giam giữ để chờ thi hành án tử hình người bị kết án tử hình vẫn
có quyền được gặp thân nhân Căn cứ vào Khoản 2 Điều 37 Luật thi hành tạm
giữ tạm giam 2015 thì “việc thăm gặp đối với người bị kết án tử hình mà bản án đã
có hiệu lực pháp luật, đang chờ thi hành án do Giám thị trại tạm giam quyết định; đối với người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Luật này Việc tổ chức thăm gặp phải bảo đảm tuyệt đối an toàn”.
=> Như vậy, người bị kết án tử hình vẫn có quyền được gặp thân nhân.
CSPL: Khoản 2 Điều 37 Luật thi hành tạm giữ tạm giam 2015.
Câu 2 Phạm nhân có quyền kháng cáo bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Nhận định Sai Vì:
- Phạm nhân chỉ có các quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật THAHS
2019 Phạm nhân chỉ có thể kháng cáo đối với bản án, quyết định của Toà án chưa
có hiệu lực pháp luật trong thời hạn luật định (theo điểm m, khoản 2 điều 61 BLTTHS 2015).
=> Như vậy, phạm nhân không có quyền kháng cáo bản án đã có hiệu lực pháp
luật
CSPL: Khoản 1 Điều 27 Luật THAHS 2019.
Câu 3 Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới mọi hình thức.
Nhận định Sai Vì:
- Căn cứ theo Khoản 2 Điều 50 Luật THAHS 2019 quy định “Phạm nhân theo tôn
giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp
và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo”
=> Như vậy, Phạm nhân theo tôn giáo không được sử dụng kinh sách xuất bản dưới
mọi hình thức
CSPL: Khoản 2 Điều 50 Luật THAHS 2015.
Trang 3Câu 4 Thời gian chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ có thể được tính vào thời gian công tác.
Nhận định Đúng Vì:
- Đối với người chấp hành án treo: Căn cứ Khoản 1 Điều 88 Luật THAHS “Người
được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công
an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật”.
- Đối với người đang chấp hành án cải tạo không giam giữ Căn cứ Khoản 1 Điều
101 Luật THAHS 2015 quy định “Người chấp hành án là cán bộ, công chức, viên
chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật”.
=> Như vậy, thời gian chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ có thể được tính
vào thời gian công tác
CSPL: Khoản 1 Điều 88, Khoản 1 Điều 101 Luật THAHS 2019.
Câu 5 Nghĩa vụ của người được hưởng án treo và người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là giống nhau.
Nhận định Sai Vì:
- Nghĩa vụ của người được hưởng án treo và người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là không giống nhau
- Đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ theo Khoản 3 Điều 99
Luật THAHS 2019 “phải thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật”
trong khi đó tại Điều 87 Luật THAHS 2019 không quy định nghĩa vụ này đối với
người được hưởng án treo
CSPL: Khoản 3 Điều 99; Điều 87 Luật THAHS 2019
Câu 6 Người chấp hành án phạt cấm cư trú không được đến địa phương bị cấm cư trú trong mọi trường hợp.
Nhận định Sai Vì
Trang 4Theo điểm a Khoản 2 Điều 109 Luật THAHS 2019 quy định “người chấp hành
án phạt cấm cư trú có các nghĩa vụ sau đây: Không được cư trú ở những nơi đã bị
cấm cư trú, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này” cụ thể ở điểm a
Khoản 1 của Điều này quy định “Khi có lý do chính đáng và được sự đồng ý của
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đến quyết định nhưng mỗi lần không quá 05 ngày”.
=> Như vậy, người chấp hành án phạt cấm cư trú khi có lý do chính đáng và được
sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi đến quyết định nhưng mỗi lần không quá 05 ngày
CSPL: điểm a Khoản 1,2 Điều 109 Luật THAHS 2019.
Câu 7 Người chấp hành án phạt quản chế ba tháng một lần phải trình diện và báo cáo với UBND cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế Nhận định Sai Vì:
- Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 114 Luật THAHS 2019 thì người chấp hành
án phạt quản chế mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng phải trình diện và báo cáo với UBND cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy chế về quản chế Vì vậy, thời hạn ở đây không phải ba tháng lần mà phải là mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng
=> Vậy, người chấp hành án phạt quản chế không phải ba tháng một lần phải trình diện và báo cáo với UNBD cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy chế về quản chế
CSPL: điểm b khoản 2 Điều 114 Luật THAHS 2019
Câu 8 Trong thời gian chờ xuất cảnh, người chấp hành án phải vào cơ sở lưu trú của Bộ Công an
Nhận định Sai Vì:
- Theo khoản 1 Điều 121 Luật THAHS 2019, trong thời gian chờ xuất cảnh người
chấp hành án phải lưu trú tại nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh chỉ định
=> Vậy trong thời gian chờ xuất cảnh, người chấp hành án không phải vào cơ sở lưu trú của Bộ Công an
CSPL: khoản 1 Điều 121 Luật THAHS 2019.
Trang 5Câu 9 Trong trường hợp thông thường, phạm nhân là người dưới 18 tuổi được gặp thân nhân nhiều lần hơn trong một tháng so với phạm nhân là người
đủ 18 tuổi trở lên.
Nhận định Đúng Vì:
- Theo khoản 1 Điều 52 Luật THAHS 2019 quy định phạm nhân được gặp nhân
thân 01 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 76 Luật THAHS 2019 phạm nhân là người dưới 18
tuổi được gặp nhân thân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá
03 giờ
- Vậy phạm nhân là người dưới 18 tuổi được gặp nhân thân không quá 03 lần trong
01 tháng như vậy là nhiều lần hơn so với phạm nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, trong khi đó số lần gặp nhân thân của phạm nhân là người đủ 18 tuổi trở lên chỉ có
01 lần trong 01 tháng
-> Nhận định trên là đúng
CSPL: khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 76 Luật THAHS 2019.
Câu 10 Trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được xuất cảnh theo quy định của pháp luật.
Nhận định Sai Vì:
- Theo khoản 3 Điều 67 Luật THAHS 2019 trong thời gian thử thách, người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện không được xuất cảnh theo quy định của pháp
luật
CSPL: khoản 3 Điều 67 Luật THAHS 2019.
Câu 11 Phạm nhân được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Nhận định Đúng Vì:
- Theo Điểm i khoản 1 Điều 27 Luật THAHS 2019 thì phạm nhân được sử dụng
kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật
=> Vậy nhận định trên đúng
CSPL: Điểm i khoản 1 Điều 27 Luật THAHS 2019.
Trang 6VẤN ĐỀ 2:
BÀI TẬP.
Bài tập 1 T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị Tòa án tuyên phạt 04 năm
tù và chấp hành án tại trại tạm giam X T cho rằng mình bị oan nên muốn làm đơn kháng cáo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Hỏi:
a Theo quy định của pháp luật trong trường hợp này T có quyền làm đơn kháng cáo kêu oan không?
- Theo quy định của pháp luật trong trường hợp này T không có quyền làm đơn
kháng cáo Căn cứ tại Khoản 1 Điều 3 LTHAHS 2019 thì người chấp hành án là
người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành Trong trường hợp này, Tòa đã tuyên phạt 04 năm tù cho T và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên T được coi là người chấp hành án
- Mà theo như Điều 331 BLTTHS 2015 quy định về các đối tượng được kháng cáo
thì người chấp hành án không thuộc các đối tượng được quyền kháng cáo
=> Vì vậy, trong trường hợp này T không có quyền làm đơn kháng cáo kêu oan
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 3 LTHAHS 2019, Điều 331 BLTTHS 2015
b Giả sử trong quá trình chấp hành án T mang thai thì quyền và nghĩa vụ của
T có gì khác biệt so với phạm nhân nữ khác?
Theo Nghị định 133/NĐ-CP hướng dẫn luật THAHS quy định đối với phạm nhân
nữ khi mang thai sẽ được hưởng 1 số chế độ khác biệt so với các phạm nhân nữ
khác, cụ thể là tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định 133/NĐ-CP có quy định rằng phạm
nhân nữ trong thời gian mang thai, nghỉ sinh con hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong cơ sở giam giữ phạm nhân thì tổng định lượng ăn bằng 02 lần tiêu chuẩn
ăn ngày thường so với định lượng quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ
=> Như vậy, giả sử trong quá trình chấp hành án T mang thai thì quyền và nghĩa vụ
của T có khác biệt so với phạm nhân nữ khác
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 10 Nghị định 133/NĐ-CP hướng dẫn luật THAHS.
c Giả sử trong quá trình chấp hành án T nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì quyền lợi của T và con được đảm bảo như thế nào?
Trang 7Căn cứ Điều 51 Luật THAHS và Điều 10 NĐ 133/2020/NĐ-CP nếu trong quá
trình chấp hành án T nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì T và con được đảm bảo các quyền lợi sau:
Thứ nhất, đối với T:
- T sẽ được bố trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con
- Tổng định lượng ăn của T sẽ bằng 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường
- Được đi cùng con và chăm sóc con khi con bị bệnh nặng phải chuyển đến cơ sở y
tế của nhà nước để điều trị
Thứ hai, đối với con của T (Nếu ở cùng mẹ trong trại giam trong thời gian chờ đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội):
- Được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em
- Chế độ ăn: hưởng như đối với trẻ em dưới 04 tuổi tại cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành; ngày lễ, Tết chế độ ăn bằng 05 lần ngày thường, ngày Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu chế độ ăn bằng 02 lần ngày thường Mỗi tháng được cấp sữa và đồ dùng sinh hoạt cần thiết trị giá tương đương 20 kg gạo tẻ/trẻ em
Và tùy vào lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tế, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân hoán đổi định lượng chế độ ăn cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của trẻ
em ở cùng mẹ trong trại giam hoặc quy đổi thành tiền và gửi lưu ký để mẹ trẻ em sử dụng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng
- Chế độ mặc: sẽ được cấp 04 khăn mặt/năm; 02 kg xà phòng/năm; 03 bộ quần áo bằng vải thường/năm; 01 màn phù hợp với lứa tuổi/03 năm; 02 đôi dép/năm; 01 chăn phù hợp với lứa tuổi/03 năm (từ tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc và 05 tỉnh Tây Nguyên); 01 bộ quần áo ấm/01 năm (cấp từ tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc và 05 tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn lại không cấp)
- Chăm sóc y tế: được cấp thẻ bảo hiểm y tế, chăm sóc y tế, khám chữa bệnh theo quy định của Luật Trẻ em và Luật Bảo hiểm y tế Tiền thuốc chữa bệnh thông thường được cấp không quá 03 kg gạo tẻ/trẻ em/tháng
- Nếu chưa có giấy khai sinh thì sẽ được cấp giấy khai sinh
Cơ sở pháp lý: Điều 51 Luật THAHS và Điều 10 NĐ 133/2020/NĐ-CP
d Trong thời gian chấp hành án chị T có quyền gặp chồng trong “phòng hạnh phúc không”? Điều kiện để chị T được gặp chồng là gì?
Trang 8Trong thời gian chấp hành án chị T có quyền được gặp chồng trong “phòng hạnh
phúc” Căn cứ Điều 52 Luật THAHS và Điều 3, Điều 5 Thông tư 14/2020/TT-BCA, điều kiện để chị T để được gặp chồng:
- Có ít nhất hai quý liền kề thời điểm gặp thân nhân được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên và thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm gặp thân nhân được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên hoặc Có ít nhất 4 quý liền kề thời điểm gặp thân nhân được xếp loại tốt; thời gian từ khi xếp loại quý liền kề gần nhất đến thời điểm gặp thân nhân được nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù tốt; được khen thưởng do có thành tích lao động, học tập
- Phải có đủ thủ tục theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 TT 14/2020/TT-BCA và
các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận kết hôn hoặc Trích lục kết hôn hoặc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện thân nhân là vợ hoặc chồng của phạm nhân; đơn xin gặp vợ, chồng ở phòng riêng của thân nhân phạm nhân đồng thời cam kết việc chấp hành pháp luật, nội quy Nhà gặp phạm nhân, thực hiện phòng, chống các bệnh truyền nhiễm; đơn xin gặp vợ, chồng ở phòng riêng của phạm nhân đồng thời cam kết việc chấp hành pháp luật, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, nội quy Nhà gặp phạm nhân và các quy định pháp luật về dân số, kế hoạch hóa gia đình hiện hành; phạm nhân nữ phải sử dụng biện pháp tránh thai và có giấy cam kết không mang thai để bảo đảm thời gian chấp hành án phạt tù
Cơ sở pháp lý: Điều 52 Luật THAHS và Điều 3, Điều 5 Thông tư
14/2020/TT-BCA
e Giả sử trong thời gian chấp hành án cha mẹ của T chết, theo quy định của Luật Thi hành án hình sự T có được về chịu tang cha, mẹ hay không?
Giả sử trong thời gian chấp hành án cha mẹ của T chết thì theo quy định của Luật
Thi hành án hình sự T không được về chịu tang cha, mẹ Vì theo Điều 20 Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam thì trường hợp về chịu tang cha, mẹ không thuộc trường
hợp được trích xuất theo quy định của pháp luật
Mặt khác, theo quy định tại Điều 27 LTHAHS 2015 về quyền của phạm nhân thì
cũng không có quy định rằng phạm nhân được về chịu tang cha mẹ
=> Như vậy, giả sử trong thời gian chấp hành án cha mẹ của T chết thì theo quy
định của Luật Thi hành án hình sự T không được về chịu tang cha, mẹ
Cơ sở pháp lý: Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Điều 27 LTHAHS
2015
Trang 9f Trong thời gian chấp hành án, chị T có quyền được tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật không?
Trong thời gian chấp hành án, chị T có quyền được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
Vì căn cứ theo điểm h khoản 1 Điều 27 của LTHAHS 2015 có quy định về vấn đề
này
=> Như vậy, trong thời gian chấp hành án, chị T có quyền được tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
Cơ sở pháp lý: Điểm h Khoản 1 Điều 27 của LTHAHS 2015
Bài tập 2 Anh N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án kết án tử hình Ngày 20/8/2014 bản án tử hình có hiệu lực pháp luật Hỏi:
a Anh N có quyền và nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật?
b Giả sử Chị M là người yêu anh N muốn kết hôn với anh N Theo anh chị Anh N có quyền kết hôn với chị M hay không? Tại sao?
c Anh N có quyền được hiến bộ phận cơ thể không? Tại sao
d Anh N có nguyện vọng muốn được thi hành án tử hình ngay sau khi bản án
tử hình có hiệu lực pháp luật Hỏi nguyện vọng của anh N có được chấp nhận không? Tại sao?
a Anh N có quyền:
- Được gởi đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước trong vòng 7 ngày kể từ ngày bản án
có hiệu lực pháp luật
- Có quyền hưởng những quy định về chế độ tạm giam theo quy định tại NĐ 89/1998 của Chính phủ;
- Khi đưa ra thi hành án được quyền ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại thân nhân;
- Được nghe đọc quyết định THA, quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC, quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước
* Anh N có nghĩa vụ:
- Tuân thủ theo quy định tại trại tạm giam
b Căn cứ vào khoản 1 Điều 44 BLHS 2015, thì anh N (tử tù) không bị tước bỏ quyền thân nhân về kết hôn Nếu anh N đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật
Trang 10HNGĐ 2014 thì hoàn toàn có quyền kết hôn Tuy nhiên, tại Điều 18 Luật Hộ tịch
2014 thì có quy định rõ “Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.” Với quy định trên, pháp luật yêu cầu cả 2 bên phải có mặt để đăng ký kết hôn, đây là giao dịch không thể ủy quyền Mà theo bộ luật THAHS 2019 không có điều luật nào cho phép người bị kết án tử hình có cơ hội thực hiện thủ tục kết hôn
=> Vì vậy, anh N có quyền kết hôn nhưng trên thực tế, anh N không thể kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành
c Căn cứ Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác.” Về nguyên tắc, muốn lấy tạng một người ghép cho người còn sống thì cơ quan đó phải còn nguyên vẹn và đảm bảo các yếu tố như tim ngừng đập hoàn toàn
và phải thực hiện lấy tạng gấp rút trong vòng 45 phút Tuy nhiên, với quy định thi hành án tử bằng hình thức tiêm thuốc độc thì các cơ quan cơ thể (tạng phủ) sẽ bị hủy hoại, không phục hồi được Như vậy, khi thi hành án xong thì không lấy được
bộ phận nào của cơ thể có thể tái sinh để ghép cho người được Căn cứ Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp 2013 thì pháp luật Việt Nam không cấm anh N hiến tạng, tuy nhiên như đã nói ở trên, anh N không thể hiến tạng
=> Vì vậy, anh N có quyền hiến tạng; nhưng việc hiến tạng của anh không khả thi, khó có thể thực hiện
d Căn cứ theo Điều 367 BLTTHS 2015, sau khi trải qua các bước, bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước
=> Do trải qua nhiều bước phức tạp mới thi hành án được vì vậy theo quy định của pháp luật, nguyện vọng của anh N không được chấp nhận
Bài tập 3 B phạm tội cố ý gây thương tích, bị TAND TP Thủ Đức (TP HCM) tuyên phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo B Chấp hành án tại P HBP,
TP Thủ Đức, TP HCM Hỏi:
a B có quyền thành lập doanh nghiệp không?
- B không có quyền thành lập doanh nghiệp Vì:
+ Theo điểm e khoản 2 Điều 17 LDN 2020 có quy định rằng: “Người đang
bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù,