Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu vấn đề tôn giáo chủ yếu dưới góc độ chínhtrị - xã hội, nếu triết học Mác – Lê nin nghiên cứu vấn đề tôn giáo với tư cách là một hìnhthái xã hội nói c
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA TÀI CHÍNH
BÀI THU HOẠCH Môn học: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Chủ đề: VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VÀ QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN
GIÁO Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Anh Tuấn
Trang 2BẢNG CHẤM CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC
Đánh giá (Thang 100%)
Trương Văn Toàn
Khánh 31221022782 - Nghiên cứu và thu thập thông tin- Lập kế hoạch và thiết kế bài thuyết
trình
- Theo dõi, kiểm tra đảm bảo tínhchính xác của bài thuyết trình
- Thuyết trình nội dung
- Tổng hợp nội dung, làm bài thuhoạch
- Đánh giá mức độ hoàn thành côngviệc của từng thành viên
100
Nguyễn Nhạc
Công 31221022860 - Nghiên cứu và thu thập thông tin 100
Tống Thành Phát 31221022320 - Theo dõi, kiểm tra đảm bảo tính
chính xác của bài thuyết trình
- Nghiên cứu và thu thập thông tin
- Tổng hợp nội dung, làm bài thuhoạch
100
Lê Huỳnh Thanh
Thủy 31221021817 - Theo dõi, kiểm tra đảm bảo tínhchính xác của bài thuyết trình
- Nghiên cứu và thu thập thông tin
- Tổng hợp nội dung, làm bài thuhoạch
100
Đỗ Quỳnh Minh
Thư
31221026548 - Nghiên cứu và thu thập thông tin
- Tạo đồ họa, thiết kế tài liệu trìnhchiếu
100
Hà Kiều Mi 31221023892 - Nghiên cứu và thu thập thông tin
Trang 3Trần Nhi Diễm
Nhi 31221023825 - Nghiên cứu và thu thập thông tin- Tạo đồ họa, thiết kế tài liệu trình
chiếu
100
Nguyễn Kim Anh 31221026405 - Nghiên cứu và thu thập thông tin
Phạm Thiên
Lê Hoàng Bảo
Ngọc
31221024031 - Nghiên cứu và thu thập thông tin
- Thuyết trình nội dung
100
Lê Thụy Phương
Linh 31221021569 - Nghiên cứu và thu thập thông tin- Tạo đồ họa, thiết kế tài liệu trình
chiếu
100
Nguyễn Võ
Quỳnh Giao
31221024748 - Nghiên cứu và thu thập thông tin
- Thuyết trình nội dung
- Hoàn thiện bài thu hoạch
100
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 5
PHẦN II: NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH 6
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo: 6
1.1 Khái niệm và bản chất của tôn giáo: 6
1.2 Nguồn gốc, tính chất, chức năng của tôn giáo: 6
1.3 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo: 12
2 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam: 14
2.1 Đặc điểm tôn giáo: 14
2.2 Chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước ta hiện nay: 17
3 Quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam: 20
3.1 Đặc điểm quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam: 20
3.2 Quan hệ dân tộc và tôn giáo: 21
4 Định hướng giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam ta hiện nay: 25
PHẦN III: MINDMAP 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vấn đề tôn giáo từ lâu là một vấn đề nhạycảm không chỉ riêng nước ta mà còn nhiều nước trên thế giới Hiện nay, tôn giáo ngàycàng can thiệp sâu hơn vào đời sống chính trị với nhiều hình thức khác nhau, vì thế chúng
ta luôn cần sự hiểu biết thấu đáo đối vấn đề này
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu vấn đề tôn giáo chủ yếu dưới góc độ chínhtrị - xã hội, nếu triết học Mác – Lê nin nghiên cứu vấn đề tôn giáo với tư cách là một hìnhthái xã hội nói chung thì chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu vấn đề tôn giáo như mộttrong những nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân trong chủ nghĩa xã hội, có quan
hệ đến nhiều lĩnh vực khác như lĩnh vực chính trị, tư tưởng và đời sống văn hóa, tinhthần
Trong những năm qua, tôn giáo ở Việt Nam có cả tôn giáo nội sinh và có cả tôngiáo du nhập vào dần trở nên phong phú, đa dạng và đang có chiều hướng phát triển rộngrãi trên phạm vi cả nước
Công cuộc đổi mở theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thànhcông trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hành
Trang 6động, đồng thời phải xuất thân từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm củathời đại hiện nay.
Quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đó, Đảng và nhà nước ta phải đổi mới tưduy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, và định hướng giảiquyết đúng đắn về vấn đề tốn giáo
Vì vậy, ở phạm vi của bài thu hoạch này, nhóm sinh viên chúng em viết về “Cácnguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học trong giải quyết vấn đề tôn giáo đối vớiViệt Nam”
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót, mongthầy và các bạn đóng góp ý kiến về đề tài để bài thu hoạch đạt kết quả tốt hơn Chúng emxin chân thành cảm ơn!
PHẦN II: NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo:
I.1 Khái niệm và bản chất của tôn giáo:
- Khái niệm tôn giáo: Là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực kháchquan, thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên trở thành siêu tự nhiên,thần bí
Ví dụ: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo hồi,…
- Tín ngưỡng mê tín, dị đoan: Quan điểm về nhà nước và các quốc gia trên thếchúng ta thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng hiện tượng mê tín
dị đoan đều phải loại bỏ ra khỏi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo Bởi hiện tượng mêtín dị đoan tạo nên hậu quả ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần xã hội
- Bản chất của tôn giáo:
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hóa do chính con người sáng tạo
ra Bản chất là sản phẩm của con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phảitôn giáo sáng tạo ra con người
Trang 7Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo thực hiện khách quan Qua phản ánh kháchquan thì những lực lượng tự phát trong tự trong tự nhiên, trong xã hội đềutrở thành những lực lượng thần bí và nó tác động, chi phối đời sống conquyết định số phận con người
I.2 Nguồn gốc, tính chất, chức năng của tôn giáo:
- Nguồn gốc của tôn giáo:
Nguồn gốc kinh tế - xã hội:
Trong thời nguyên thủy, trình độ về sản xuất còn rất thấp kém, nên conngười nguyên thủy bất lực trước những sức mạnh tự phát trong tựnhiên (mưa, gió, bão, lũ.) Bị tác động tiêu cực nhưng con người chưa
đủ khoa học, chưa đủ trình độ để giải thích những hiện tượng đó Nênngười ta thần thánh hóa những sức mạnh tự phát trong tự nhiên (thầnsấm, thần mưa, thần nắng ), nhờ đó nó hình thành lên những biểutượng đầu tiên của tôn giáo
Khi xã hội có giai cấp, áp bức, bóc lột giai cấp xảy ra Ngoài việcngười ta không giải thích được việc những hiện tượng thiên nhiên xảy
ra thì người ta còn không giải thích được việc nguyên nhân dẫn tớinhững sự phân hóa giai cấp Cho nên con người thường hướng niềmtin của mình vào một thế giới hư ảo dưới hình thức vào các tôn giáo.Lấy tôn giáo làm chỗ dựa tinh thần, xoa dịu những lỗi đau của họ
Nguồn gốc nhận thức:
Xuất phát từ quá trình nhận thức của con người bao giờ cũng đi từđiều chưa biết đến những điều đã biết Khoảng cách cái biết và cáichưa biết luôn luôn tồn tại Cái gì biết rồi thì được khoa học giải thích,những cái chưa biết đó chính là mảnh đất cho những quan niệm duytâm tôn giáo phát triển Qua giải thích của tôn giáo sẽ đến một lựclượng siêu nhiên nào đó tác động, chi phối đời sống con người
Trang 8 Con người luôn luôn hướng đến việc nhận thức thế giới đầy đủ hơn,sâu sắc hơn, khái quát thành những phạm trù, quy luật Khi mà conngười càng khái quát hóa, càng trừu tượng hóa, thì càng xa rời hiệntượng khách quan.
Tình cảm thái quá của con người đối với tự nhiên, xã hội, con ngườicũng là cơ sở để tín ngưỡng, tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển (lòngbiết ơn, sự kính trọng với những người bậc tiền nhân vì nghĩa lớn, vìđộc lập dân tộc, vì cộng đồng
Ví dụ: tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc, thờ ông bà tổ tiên….
- Tính chất của tôn giáo:
Tính lịch sử của tôn giáo:
Có sự hình thành, phát triển trong giai đoạn hình thành lịch sử nhấtđịnh Tôn giáo là một mảng trù lịch sử Có điểm khởi đầu và kết thúc
Có nhiều tôn giáo ra đời phát triển hưng thịnh nhưng có nhiều tôn giáođang dần mất đi ở quốc gia này hoặc quốc gia khác Đã từng là quốcgiáo ở một quốc gia nhưng ở thời điểm này nó đã không phải là quốcgiáo nữa Thay đổi của tôn giáo phù hợp với kinh tế xã hội của quốcgia đó
Trang 9 Nhưng việc biến đổi của tôn giáo diễn ra rất chậm Bởi vì tôn giáo làmột hình thái ý thức xã hội nhưng nó là một trong những hình thái bảothủ lạc hậu nhất Nó có thay đổi nhưng so với hình thái xã hội là rấtchậm
Tính quần chúng của tôn giáo:
Biểu hiện ở số lượng tín đồ của tôn giáo có số lượng rất lớn Theothống kê thì 4/5 dân số trên thế giới theo tín ngưỡng tôn giáo
Tôn giáo chính là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần của một bộ phầnquần chúng nhân dân Tôn giáo được ra đời rất lâu nên được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác Ăn sâu vào tâm thức của con người và trởthành nếp nghĩ, thói quen, trở thành một lối sống của một cộng đồng.Đáp ứng nhu cầu của một bộ phận quần chúng nhân dân
Ở một số dân tộc, tôn giáo đó đã gắn liền với đời sống dân tộc Trởthành nhu cầu sinh hoạt tinh thần của một dân tộc và gắn liền với sựtồn tại và phát triển của dân tộc đó Đóng góp vào xây dựng quốc giadân tộc và trở thành bản sắc của dân tộc đó
Tính chính trị của tôn giáo:
Xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp Đặc biệt là trong xã hội
có giai cấp đối kháng Giai cấp thống trị thường sử dụng tôn giáo, coitôn giáo là công cụ để nô dịch về mặt tinh thần đối với quần chúngnhân dân Dùng tôn giáo để chống lại các giai cấp lao động và lựclượng xã hội chống lại giai cấp thống trị
Ví dụ: Trong xã hội phong kiến ở Châu Âu, Thần Quyền và Thế cấu
kết với nhau để thống trị nhân dân Khoa học không phát triển, triếthọc không phát triển nên đã trở thành “con ở” của thần học, làm nô lệcủa thần học Các nhà khoa học phải sống trong tù tội hoặc là phải lêndàn lửa thiêu
Trang 10 Tính chính trị tôn giáo gắn liền với tính chính trị tiêu cực của các giaicấp thống trị phản động
Luận điểm của Mác khi nói về tôn giáo: “Tôn giáo là tiếng thở dài củachúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinhthần trật tự không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"
- Chức năng của tôn giáo:
Chức năng của thế giới quan:
Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ramột bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thứccủa con người dưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấybao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục Trên cơ
sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội
Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêunhiên, thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực
Tuy nhiên, chức năng thế giới quan của tôn giáo cũng có thể dẫn đến
sự chủ quan và kiêu ngạo trong tư tưởng của con người Nếu conngười không có sự tự giác và khả năng phê bình, họ có thể trở thànhnhững người mù quáng và thiếu văn minh trong suy nghĩ và hànhđộng
Đồng thời, chức năng này của tôn giáo cũng có thể dẫn đến sự phânbiệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính và sự phân hóa xã hội Những giá trị
và quan điểm của tôn giáo có thể trở thành công cụ cho sự phân biệt
và phân hóa xã hội
Chức năng thế giới quan của tôn giáo đa số là thế giới quan duy tâmthần bí, phản ánh thế giới một cách hoang đường, hư ảo Nên mỗi tôngiáo xây dựng nên một bức tranh riêng tưởng tượng về thế giới Cáctôn giáo lớn như Phật giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo đã xây dựng một hệthống thế giới quan tương đối hoàn chỉnh
Trang 11 Chức năng đền bù hư ảo: Đó là thiên đường, chứ không phải hạnh phúc nơi
trần gian thật sự này
Con người trong thế giới đời thường luôn bị sức ép của những sứcmạnh tự nhiên cũng như xã hội (sự bóc lột giai cấp) không tìm đượclời giải đáp chính xác về nguyên nhân của những bất bình đẳng xã hội
và biện pháp khắc phục nó, cũng như bất lực trong cuộc đấu tranh giaicấp, phải sống trong nỗi lo sự khốn cùng, bất hạnh, trong khi chưađược soi sáng bởi một chân lý – chân lý cách mạng – có thể tìm thấytrong tôn giáo những giải đáp làm nguôi ngoai đi những khổ đau và ấp
ủ một hi vọng hư ảo
Tôn giáo giúp con người có thể vượt qua những giây phút đau khổ,tuyệt vọng nhất hướng đến những giá trị cao đẹp của chân – thiện –
mỹ và hạn chế được những hành vi vô nghĩa, gây tai hại cho xã hội
Niềm tin trong trí tưởng tượng của con người về sự tồn tại của các thếlực siêu nhiên, về sức mạnh của thần thánh, phần nào có tác dụng xoadịu, an ủi nỗi đau, phần nào có tác dụng đem lại cho con người sựthăng bằng về trạng thái tâm lí
Tính tiêu cực của chức năng này là có khả năng khiến cho con ngườichấp nhận sống trong khổ ải, sống chịu đựng, triệt tiêu động lực đấutranh của con người Mặt khác tôn giáo hướng con người đến thế giớikhông có thật, những hạnh phúc hư ảo Điều này có thể dẫn đến sựphản đối, xung đột và kìm hãm sự tiến bộ của xã hội Nếu con ngườichỉ tìm kiếm giải pháp trong tôn giáo thay vì tìm kiếm sự tiến bộthông qua khoa học và tri thức, thì xã hội sẽ rơi vào trạng thái tồi tệhơn
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức:
Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằmđiều chỉnh hành vi của những con người có đạo thông qua những điều
Trang 12cấm ki, răn dạy các tín đồ, những chuẩn mực bắt buộc các tín đồ phảithưc hiện.
Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vitrong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đìnhcũng như ngoài xã hội của giáo dân Những tình huống như bệnh tật,tai nạn, mất mát trong gia đình, tôn giáo có thể trở thành niềm an ủi,
hy vọng và sự khích lệ cho tín đồ Tôn giáo cũng thường xuyên tổchức các hoạt động từ thiện nhằm giúp đỡ những người nghèo khó,khó khăn và người già yếu
Chức năng liên kết cộng đồng, truyền tải, bảo lưu văn hóa:
Tôn giáo có khả năng liên kết những con người cùng tín ngưỡng Họ
có chung một niềm tin, cùng bị ràng buộc bởi giáo lý, giáo luật, cùngthực hiện một số nghi thức tôn giáo và những điểm tương đồng khác
Sự liên kết giữa các cộng đồng cùng tôn giáo rất chặt chẽ và lâu bền
Ngoài ra, tôn giáo còn có chức năng giáo dục và truyền bá các giá trịvăn hóa Tôn giáo có thể giúp tăng cường nhận thức về trách nhiệm cánhân và xã hội của con người Những giá trị như lòng nhân ái, trungthực, chân thành và đoàn kết có thể được truyền bá qua các giáo lý và
lễ nghi của tôn giáo
Tôn giáo cũng là một trong những thành tố góp phần tạo nên tính đặcthù và bản sắc văn hóa của một quốc gia, đóng vai trò như một yếu tốgóp phần giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc và giữa các nền văn hóa
Bên cạnh đó, cũng cần nhận thức rằng tôn giáo cũng có thể góp phầnlàm rạn nứt các mối quan hệ xã hội khi các mối quan hệ đó không cònphù hợp với lợi ích của xã hội
I.3 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo:
Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
nhân dân
Trang 13Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào đấng tối cao,đấng thiêng liêng nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng Do
đó, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng thuộc quyền tự do tư tưởngcủa nhân dân Quyền này nói lên rằng việc theo đạo, đổi đạo, hay khôngtheo đạo là thuộc quyền tự do lựa chọn của mỗi người dân, không một cánhân, tổ chức nào, kể cả các chức sắc tôn giáo, tổ chức giáo hội… đượcquyền can thiệp vào sự lựa chọn này Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự dotheo đạo, đổi đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đềuxâm phạm đến quyền tự do tư tưởng của họ
Tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thểhiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủnghĩa không can thiệp và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đếnquyền tự do tín ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo củanhân dân Các tôn giáo và hoạt động tôn giáo bình thường, các cơ sở thờ tự,các phương tiện phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng của người dânđược Nhà nước xã hội chủ nghĩa tôn trọng và bảo hộ
Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với
quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Nguyên tắc này để khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ hướng vào giảiquyết những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân
mà không chủ trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo Chủnghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cầnphải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong
tư tưởng con người, phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy Điều cầnthiết trước hết là phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức,bất công, nghèo đói và thất học… cũng như những tệ nạn nảy sinh trong xãhội Đó là một quá trình lâu dài, và không thể thực hiện được nếu tách rờiviệc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Trang 14 Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuầntuý về tư tưởng Nhưng khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thì dấu ấn giai cấp– chính trị ít nhiều đều in rõ trong các tôn giáo Từ đó, hai mặt chính trị và
tư tưởng thường thể hiện và có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo
và bản thân mỗi tôn giáo
Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ với phản tiến bộ, phản ánhmâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp, mâuthuẫn giữa những thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạngvới lợi ích của nhân dân lao động Mặt tư tưởng biểu hiện sự khác nhau vềniềm tin, mức độ tin giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và nhữngngười không theo tôn giáo, cũng như những người có tín ngưỡng, tôn giáokhác nhau, phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng
Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thựcchất là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tạitrong bản thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo Sự phân biệt này, trongthực tế không đơn giản, bởi lẽ, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khiphản ánh sai lệch bản chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáothường đan xen vào nhau Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, tôngiáo thường bị yếu tố chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn
đề chính trị hay tư tưởng thuần tuý trong tôn giáo Việc phân biệt hai mặtnày là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý,ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo
Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo
Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, ngược lại, nó luônluôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh
tế – xã hội – lịch sử cụ thể Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có quátrình tồn tại và phát triển nhất định Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai