1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) đề tài tác động của hình thức học tập trực tuyến đến hiệu quả học tập của sinh viên trên địa bàn hà nội

105 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Hình Thức Học Tập Trực Tuyến Đến Hiệu Quả Học Tập Của Sinh Viên Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Bùi Thị Lan Anh, Ma Thị Thu Hương, Đỗ Thị Ngọc Đào, Thùy Giang Hà, Hương Giang Nguyễn, Thế Dương Phạm, Thị Hằng Bùi, Huyền Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Marketing
Thể loại Bài Tập Nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 11,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do trên nhóm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của hình thức học tập trực tuyến đến hiệu quả học tập của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” với mong muốn tìm ra được các y

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA MARKETING

BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ XÃ HỘI

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài: TÁC ĐỘNG CỦA HÌNH THỨC HỌC TẬP TRỰC TUYẾN ĐẾN HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI Nhóm số: 03 Lớp: Marketing 62A

Bùi Thị Lan Anh

Ma Thị Thu Hương

Đỗ Thị Ngọc Đào Thùy Giang

Hà Hương Giang Nguyễn Thế Dương Phạm Thị Hằng Bùi Huyền Trang

MSV:11204240 MSV: 11201715 MSV: 11202805 MSV: 11201064 MSV: 11207640 MSV: 11204928 MSV: 11201335 MSV: 11203978

Hà Nội, tháng 10 năm 2021

Trang 2

MỤC L C Ụ

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 4

1.2.2 T ng quan nghiên cổ ứu trong nước 8

1.2.3 Khoảng trống nghiên cứu 11

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 11

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 12

1.5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 13

1.5.2 Khách thể nghiên cứu 13

1.5.3 Phạm vi nghiên cứu 13

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 13

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15

2.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỌC TẬP VÀ HỌC TẬP TRỰC TUYẾN 15

2.1.1 Học tập 15

2.1.2 Học tập trực tuyến 15

2.2 HIỆU QUẢ HỌC TẬP 17

2.3 LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 18

2.3.1 Mô hình lý thuyết Con người Môi trường- -Công việc (PEOT) của Law, 1996 18

2.3.2 Lý thuyết về hiệu quả giáo dục 19

2.3.3 Mô hình đề xuất 20

2.3.4 Giả thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 27

3.2 THIẾT KẾ CÔNG CỤ THU THẬP DỮ LIỆU 28

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp 28

Trang 3

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp 28

3.3 KẾ HOẠCH CHỌN MẪU 29

3.3.1 Quy mô và cách lấy mẫu nghiên cứu 29

3.3.2 Cách thức tiếp cận và thu thập thông tin 29

3.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 30

3.4.1 Mục tiêu của nghiên cứu định tính 30

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 30

3.5 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 31

3.5.1 Mục tiêu của nghiên cứu định lượng 31

3.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 32

3.5.2.1 Thống kê mô tả 32

3.5.2.2 Phân tích bảng chéo hai yếu tố Crosstabs 33

3.5.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 34

3.5.2.4 Phân tích nhân tố khám phá - EFA 34

3.5.2.5 Phân tích tương quan Pearson 35

3.5.2.6 Phân tích hồi quy đa biến 36

3.5.2.7 So sánh giá trị trung bình Compare Mean - Independent T-Test 37

3.5.2.7 Phân tích phương sai ANOVA 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 39

4.1.1 Giới tính 39

4.1.2 Trường Đại học 39

4.1.3 Năm Đại học 40

4.1.4 Nền tảng học trực tuyến 41

4.2 ĐÁNH GIÁ TỪ SINH VIÊN VỀ CÁC NHÂN T ỐTÁC ĐỘNG T I Ớ HIỆU QU H C T P TRẢ Ọ Ậ ỰC TUYẾN 42

4.2.1 Nhân t s ố ựáp lực 43

4.2.2 Nhân t s t ố ự ự tin vào năng lực bản thân 43

4.2.3 Nhân t gi ng viên 44 ố ả 4.2.4 Nhân t s ố ự tương tác 45

4.2.5 Nhân tố môi trường họ ậc tp 46 4.2.6 Nhân tố năng lự ực t qu n lý 47 ả

Trang 4

4.2.7 Đánh giá về sự hiệu quả trong học tập trực tuyến 48

4.3 PHÂN TÍCH BẢNG CHÉO CROSSTABS 49

4.4 PHÂN TÍCH H I QUYỒ 51

4.4.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha 51

4.4.2 Phân tích nhân t khám phá EFA 57 ố 4.4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá cho biến độc lập 57

4.4.3 Phân tích tương quan Pearson 62

4.4.4 Phân tích hồi quy đa biến 63

4.6 Kiểm định Oneway ANOVA 70

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 79

5.1 K T LU N NGHIÊN CẾ Ậ ỨU 79

5.2 H N CH C A NGHIÊN C U 80Ạ Ế Ủ Ứ 5.3 ĐỀ XU T CHO CÁC NGHIÊN CẤ ỨU TRONG TƯƠNG LAI 81

5.4 M T S KHUYỘ Ố ẾN NGHỊ 81

5.4.1 Đối với giảng viên 82

5.4.2 Đối với sinh viên 83

5.4.3 Đố ới nhà trười v ng 85

5.4.4 Đối với các nhà phát hành ứng dụng học tập trực tuyến và nhà mạng 85 TÀI LI U THAM KH O 87Ệ Ả

Trang 5

CHƯƠNG 1 CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đại dịch COVID 19 với các biến thể mới đã và đang làm ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người dân, sức khỏe nền kinh tế và còn nhiều diễn biến khó lường Với loại dịch bệnh này, virus có thể xâm nhập vào cơ thể bất cứ ai không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần, nghề nghiệp Sự lây lan của dịch bệnh ở Việt Nam nói riêng và trên toàn cầu nói chung là rất đáng quan ngại, thậm chí nó thúc ép các quốc gia, các tổ chức cần thay đổi nhận thức, cách tiếp cận mới cho sự phát triển trong bối cảnh mới Dịch bệnh đã làm thế giới thay đổi và những thay đổi đó đang định hình lại tương lai của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức và mỗi con người bởi những phương pháp phát triển truyền thống có thể không còn phù hợp, rõ nhất là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

-Theo T ch c Gi o d c, Khoa h c v Vổ ứ á ụ ọ à ăn hóa Liên h p quợ ốc (UNESCO), đại dịch COVID-19 bùng phát đã làm gián đoạn việc học của trên 1,7 t ọc sinh, sinh viên tại ít hnhất 192 quốc gia và vùng lãnh thổ Một năm sau đại dịch, gần 50% học sinh toàn cầu vẫn bị ảnh hưởng vì trường học đóng cửa toàn bộ hoặc một phần Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) nhận định thế giới đang chứng kiến “tình trạng khẩn cấp về giáo dục” hết sức nghiêm trọng bởi đại dịch đã ảnh hưởng tiêu cực tới quyền học tập và hưởng các phúc lợi xã hội tại trường học, đồng nghĩa với việc tương lai và hạnh phúc của trẻ

em cũng chịu tác động Các nghiên cứu của UNESCO và UNICEF chỉ rõ trường học đóng cửa càng lâu, nguy cơ trẻ em và thanh thiếu niên mất đi tương lai càng cao Khoảng

24 triệu trẻ em và thanh niên có nguy cơ bỏ học Ngoài tình trạng “hổng kiến thức”, việc trường học đóng cửa kéo dài cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe tinh thần của trẻ

em Thực tế vừa qua cho thấy: Phương pháp học truyền thống: Thầy – trò, Trường – lớp trực tiếp tương tác đã không thể đáp ứng nhu cầu học tập an toàn trong mùa dịch Ngoài ra cách mạng 4.0 đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội và đặc biệt là trong giáo dục đối với tình hình hiện nay Công nghệ 4.0 - trong giáo dục là hệ thống giáo dục hiện đại áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội của thời đại công nghiệp 4.0 vào trong giáo dục Chúng ta có thể thấy sự

Trang 6

tác động rõ rệt nhất của cách mạng công nghiệp 4.0 trong giáo dục ở chỗ thay vì chỉ sử dụng giấy, bút, bảng, phấn để truyền tải nội dung học thì ngày nay rất nhiều công nghệ thông minh đã được đưa vào để hỗ trợ việc giảng dạy Thậm chí, trước những biến động trong cuộc sống ví dụ như đại dịch Covid 19 hiện nay, công nghệ 4.0 còn tạo ra cho người học một môi trường học mới là các phòng học trực tuyến Công nghiệp 4.0 trong giáo dục sẽ tạo ra những lớp học, thầy giáo, thiết bị đều là “ảo”, mang tính mô phỏng, bài giảng được số hóa và chia sẻ qua những nền tảng như Facebook, meeting, zoom… dần trở thành xu hướng phát triển mới trong quá trình hội nhập số để tiến gần hơn với mục tiêu phát triển và xây dựng công dân toàn cầu - công dân số.Vì vậy trong bối cảnh dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn, việc dạy và học trực tuyến có thể coi là

“cứu cánh” để đảm bảo quyền được giáo dục Nó không chỉ giúp người học tiếp cận được kiến thức trong thời gian giãn cách xã hội mà còn tạo điều kiện cho giảng viên tự trau dồi và phát triển những kỹ năng dạy học mới trong giai đoạn ‘đặc thù” Hình thức dạy và học online đang được các trường đại học thúc đẩy phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của mọi đối tượng người học Qua đó, việc dạy và học online là một xu thế tất yếu mà các nước trên thế giới cũng như Việt Nam hướng tới trong thời đại 4.0 hiện nay

Như vậy, chúng ta có thể thấy trong tình hình dịch bệnh COVID 19 với thời đại công nghệ số 4.0, hình thức học tập trực tuyến đã khắc phục khó khăn giai đoạn đầu trong ngành giáo dục Việt Nam nên nhiều trường đại học đẩy mạnh triển khai áp dụng phương pháp dạy và học online để đảm bảo tiến độ học tập của sinh viên Ngoài ra dưới

-sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, -sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, hiệu quả của cả hệ thống chính trị, ngành Giáo dục và đào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; thay đổi, điều chỉnh các hoạt động dạy học, tổ chức dạy học trực tuyến góp phần phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học, -thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để trẻ em, học sinh, sinh viên được học ở mọi nơi, mọi lúc và bảo

Trang 7

01.19.20 TV NHỮNG NHÂN TỐ… Nghiên

129

NCKH-2022- động-của-trí-tuệ-… Nghiên

107

Form TỐ-ẢNH-HƯỞNG-… Nghiên

120

Trang 8

3

đảm công tác phòng, chống dịch, thích ứng với tình hình của dịch COVID 19; đồng thời thực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học” đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của năm học

-Đối với giáo dục đại học, thực trạng đã có 150 cơ sở giáo dục đại học chuyển hình thức giảng dạy từ trực tiếp sang trực tuyến để phòng chống dịch Một số cơ sở giáo dục đại học thuộc khối ngành sức khỏe đã bố trí giảng viên, sinh viên tình nguyện hỗ trợ vùng dịch Tại một số địa phương, tùy theo diễn biến của dịch COVID 19, các cơ sở -giáo dục đại học đóng trên địa bàn đã chủ động quyết định việc tổ chức dạy và học theo hình thức trực tuyến hoặc trực tuyến kết hợp trực tiếp trong trường hợp đáp ứng các quy định hiện hành về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức đào tạo qua mạng; kết hợp tăng cường các giải pháp quản lý chất lượng lớp học trực tuyến Đặc biệt khu vực Hà Nội là nơi tập trung lượng lớn sinh viên trên khắp các tỉnh thành cả nước cũng đã triển khai phương án học tập trực tuyến nhanh chóng khi đại dịch diễn Cụ thể, căn cứ vào tình hình dịch bệnh phức tạp, Công điện số 05/CÐ-UBND ngày 02/5/2021

về việc đảm bảo an toàn giãn cách xã hội của Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội, hầu hết các trường đại học trên địa bàn Hà Nội đã chuyển từ hình thức học tập trực tiếp sang trực tuyến Ngoài ra báo Dân trí ngày 30/8/2021 có trích lời của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT khi chia sẻ trong giai đoạn dịch COVID 19: “Như với hầu hết các phương pháp giảng dạy khác, học trực tuyến cũng có những mặt tích cực và tiêu cực riêng Giải mã và hiểu được những mặt tích cực và tiêu cực này sẽ giúp việc dạy và học của giáo viên và học sinh có hiệu quả, đảm bảo hành” Đại dịch COVID 19 đã kích hoạt những cách dạy và -học mới Tuy nhiên để có thể triển khai một cách có hiệu quả học tập trực tuyến cần phải

có cái nhìn một cách khách quan về phương pháp này để có các bước thực hiện một cách hợp lý, khoa học nhằm thu được hiệu quả mong muốn

Vì những lí do trên nhóm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của hình thức học tập trực tuyến đến hiệu quả học tập của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” với mong muốn tìm ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập trực tuyến cũng mức độ

Phương pháp nghiê… Nghiên

19

Nhóm 3 Nghiên cứu

về sự hài lòng của… Nghiên

96

Trang 9

ảnh hưởng của chúng Kết hợp với sự so sánh giữa học tập trực tuyến và trực tiếp để tìm

ra giải pháp giúp nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến

1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Trong bài nghiên cứu “Research into the effectiveness of online learning in higher education” (Siragusa, 2002), tác giả đã sử dụng mô hình với biến độc lập là: cấu trúc; nội dung; động lực; ý chí, động lực học tập của người học; phản hồi/trợ giúp; sự tương tác; chiến lược học tập và biến phụ thuộc là hiệu quả học tập trực tuyến tại đại học Nhóm tác giả thực hiện khảo sát trên nhiều trang web giáo dục trực tuyến với các giảng viên trực tuyến và sinh về những gì họ cho là nguyên tắc thiết kế giảng dạy hiệu quả cho việc học trực tuyến Cuộc khảo sát sinh viên bao gồm hơn 250 sinh viên trả lời bảng câu hỏi trực tuyến và 25 sinh viên được phỏng vấn Kết quả mà bài nghiên cứu thu thập được qua phân tích dữ liệu sơ bộ: chỉ ra rõ ràng những điểm yếu cụ thể mà sinh viên nhận thấy

về cách các môi trường học tập trực tuyến đang được sử dụng; Các nhận xét của sinh viên trong các cuộc phỏng vấn cho thấy rằng họ hài lòng một cách hợp lý với môi trường học tập trực tuyến mà họ đang sử dụng Mặc dù một số ý kiến này cho thấy có một số vấn đề nhất định với môi trường học trực tuyến mà họ đang sử dụng, một số ý kiến cũng nêu bật một số điểm mạnh nhất định của việc học dựa trên web

Năm 2020, Tsang và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Higher Education during the Pandemic: The Predictive Factors of Learning Effectiveness in COVID-19 Online Learning” nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập trực tuyến trong thời kì Covid 19 Nghiên cứu này đã nâng cao hơn so với các nghiên cứu trước về học tập trực tuyến ở chỗ xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập trực tuyến có liên quan đến dịch bệnh Covid 19 Nó cũng kiểm tra được mối quan hệ giữa ba tham số hiệu quả học tập là: nhận thức kết quả học tập, sự chủ động và sự hài lòng của sinh viên Nhóm tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu bao gồm 4 biến độc lập là sự hỗ trợ của trường đại học ương giác giữa các sinh viên, tương tác giữa giảng viên và sinh viên, t ,

Trang 10

thiết kế khoá học và biến phụ thuộc là iệu quả học tập gồm 3 tham số nhận thức, cảm hnhận và sự hài lòng về kết quả học tập

Nguồn: Tsang và cộng sự (2020) Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Tsang và cộng sự (2020)Bằng việc thực hiện khảo sát với quy mô mẫu là 409 sinh viên đã học tập trực tuyến trong thời kì Covid, nhóm tác giả đã kết luận có 5 giả thuyết được chấp nhận: Mức độ tương tác giữa sinh viên cao sẽ dẫn đến mức độ nhận thức học tập trực tuyến trong thời kì Covid cao

Mức độ tương tác giữa giảng viên và sinh viên cao sẽ dẫn đến chủ động học tập trựctuyến trong thời kì Covid cao

Mức độ tổ chức khoá học sẽ dẫn đến mức độ cảm nhận học tập trực tuyến trong thời kì Covid cao

Mức độ nhận thức kết quả cao sẽ dẫn đến mức độ chủ động của sinh viên cao Mức độ cảm nhận kết quả cao sẽ dẫn đến mức độ hài lòng của sinh viên cao

Cảm nh n ậ

Sự hài lòng

Trang 11

Mức độ chủ đông cao sẽ dẫn đến mức độ hài lòng của sinh viên cao

Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các biến tương tác giữa các sinh viên và tổ chức học tập là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả học tập của sinh viên Nhóm cũng nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập trực tuyến khác với học tập trực tiếp Mặc dù sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên không có ảnh hưởng lớn tuy nhiên nó là biến duy nhất có ý nghĩa tác động đến sự chủ động của sinh viên khi học tập trực tuyến Kết luận đưa ra rất rõ ràng để từ đó giúp cho các trường học nắm bắt được các yếu tố tác động đến hiệu quả học tập để từ đó tìm ra giải pháp giúp nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến Tuy nhiên bài nghiên cứu chưa đề cập đến khuyến nghị và giải pháp học tập trực tuyến mà mới chỉ đưa ra kết luận cũng như mẫu nghiên cứu chỉ tập trung vào vài trường đại học chưa thể coi là đại diện cho tất cả sinh viên

Trong bài nghiên cứu “Effectiveness of Online Learning In Pandemic Covid 19” của Hahasoan và cộng sự (2020), nhóm tác giả đã xem xét xác định hiệu quả của việc học trực tuyến trong đại dịch Covid 19 Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả định -lượng sử dụng các phương pháp khảo sát được thực hiện trực tuyến Bài nghiên cứu đã

-sử -sử dụng mô hình với 4 biến độc lập: “ứng dụng”, “mức độ hài lòng”, “trở ngại trong bài giảng” và “tài liệu được cung cấp” cùng với một biến phụ thuộc “hiệu quả học tập trực tuyến” Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, trong

đó đối tượng lấy mẫu của nghiên cứu này là sinh viên Khoa Kinh tế, Đại học Tây Sulawesi Việc thu thập dữ liệu chính trong nghiên cứu này được thực hiện bởi bảng câu hỏi trực tuyến với 115 người được hỏi Dựa trên kết quả phân tích dữ liệu thu được từ việc điền vào bảng câu hỏi của sinh viên, có thể kết luận rằng hệ thống học tập trực tuyến được tiến hành trong đại dịch COVID 19 vừa hiệu quả vừa không hiệu quả iệu quả vì - Hcác điều kiện yêu cầu học trực tuyến; không hiệu quả bởi chi phí phát sinh nhiều hơn khi

so sánh với các bài giảng trực tiếp Chi phí phát sinh chủ yếu là khoản chi phí gia hạn internet để theo kịp với các bài giảng trực tuyến Một khó khăn khác là vấn đề về mạng Nghiên cứu vẫn còn tồn đọng khuyết điểm khi không đề xuất phương pháp học tập, bài

Trang 12

tập hiệu quả và kiểm tra nếu các bài giảng trực tuyến tiếp tục trong giai đoạn “New normal” bình thường mới.-

Năm 2020, nhóm tác giả Wei và Chou đã thực hiện đề tài “Online learning performance and satisfaction: Do perceptions and readiness matter?” nhằm nghiên cứu

về việc liệu nhận thức về học tập trực tuyến và sự sẵn sàng học tập trực tuyến có ảnh hưởng đến hiệu suất học tập của học sinh cũng như sự hài lòng trong khóa học hay không, từ đó đề xuất một mô hình cấu trúc toàn diện để xác định mức độ ảnh hưởng trên Với đối tượng là sinh viên từ ba trường đại học ở Đài Loan đã đăng ký một khóa học trực tuyến, nhóm tác giả đã thu thập dữ liệu chính cho nghiên cứu thông qua việc thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi trực tuyến và đã nhận được 356 câu trả lời phù hợp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính hiệu quả của máy tính/Internet và động cơ học tập của sinh viên có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đến điểm số thảo luận trực tuyến và sự hài lòng trong khóa học của họ Hơn nữa, người ta thấy rằng tính hiệu quả của máy tính/Internet đối với sự sẵn sàng học trực tuyến của sinh viên có ảnh hưởng trung gian không chỉ đến nhận thức học tập trực tuyến và điểm thảo luận trực tuyến mà còn đến nhận thức học tập trực tuyến và sự hài lòng với khóa học Dù vậy, các phát hiện của nghiên cứu này khái quát hóa tất cả các khóa học tập trực tuyến vì nó được thực hiện với một nhóm tương đối nhỏ sinh viên đại học và các câu trả lời cũng chưa xem xét ý kiến của tất cả các sinh viên Mặc dù đã cung cấp một mô hình cấu trúc hợp lý để giúp hiểu một cách toàn diện các mối quan hệ giữa kết quả và hiệu suất của chúng và sự hài lòng của khóa học trong môi trường học trực tuyến, như g thang đo này vẫn còn chỗ để cải nthiện Trong các nghiên cứu trong tương lai, các công cụ này nên được sửa đổi, và mô hình đo lường nên được đề xuất goài dữ liệu thu thập được từ bảng câu hỏi tự báo cáo N

có thể thu thập những nguồn dữ liệu khác nhau cung cấp thông tin trực tiếp, phong phú, chẳng hạn như thực tế hồ sơ tham gia trong một khóa học trực tuyến, để giảm sự thiên

vị mẫu và có thể có lỗi đảm bảo; thu thập dữ liệu định tính, chẳng hạn như dữ liệu phỏng vấn, để xác nhận thêm dữ liệu định lượng cũng sẽ hữu ích Hơn nữa, cần phải thận trọng

Trang 13

trong khái quát kết quả của nghiên cứu này sang các bối cảnh khác, chẳng hạn như học tập kết hợp môi trường hoặc các lĩnh vực chủ đề khác của học tập trực tuyến

Nguồn: Wei và Chou (2020) Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Wei và Chou (2020)

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Trong bài nghiên cứu “Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập trực tuyến của sinh viên Đại học Văn Lang” do tác giả Nguyễn Duy Thực thực hiện vào năm 2020, tác giả đã đề cập đến một số nhân tố đặc trưng trong môi trường học tập trực tuyến của sinh viên và sự ảnh hưởng của nó tới sự hiệu quả của việc học trực tuyến Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu với 7 biến độc lập bao gồm kiên định học tập trong học trực tuyến, phương pháp chuẩn bị học trực tuyến, động cơ học tập trực tuyến, cạnh tranh học

Tự định hướng h c tọ ập Kiểm soát người học

Động l c h c t p ự ọ ậ

Hiệu qu giao ti p ả ếtrực tuyến

Hiệu qu h c ả ọtập tr c tuy n ự ếĐiểm th o ảluận tr c tuy n ự ếĐiểm thi Điểm d án ựnhóm

Sự hài lòng

về óa khhọc tr c ựtuyến

Trang 14

tập trực tuyến, ấn tượng trường học qua quá trình học trực tuyến, phương pháp học trong giờ học trực tuyến, phương pháp tương tác với giảng viên và biến phụ thuộc là kết quả học tập của sinh viên Dựa trên dữ liệu sơ cấp được thu thập từ kết quả trả lời một bảng khảo sát trực tuyến về hiệu quả khi tham gia các lớp học trực tuyến của 456 sinh viên chính quy của trường Đại học Văn Lang, tác giả đã đưa ra kết luận rằng có 5 nhân tố tác động đến kết quả học tập trực tuyến của sinh viên Trường Đại học Văn Lang là phương pháp học trong giờ học trực tuyến, phương pháp chuẩn bị học trực tuyến, phương pháp tương tác với giảng viên trong giờ học tập trực tuyến, kiên định học tập trong giờ học trực tuyến và động cơ học tập trực tuyến Bài nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt trong kết quả học tập trực tuyến của sinh viên giữa các năm học: sinh viên năm 1 có kết quả tốt nhất sau đó đến năm 3 và cuối cùng là năm 2 Với kết quả này, tác giả đã đề xuất được một số giải pháp cải thiện hiệu quả của việc học tập trực tuyến qua việc đổi mới phương pháp học tập, cung cấp đề cương, học liệu đầy đủ cũng như nâng cao sự tương tác giữa sinh viên với giảng viên Dù vậy, bài nghiên cứu cũng có những hạn chế nhất định khi mới chỉ nghiên cứu với khách thể là sinh viên Trường Đại học Văn Lang, chưa

đủ sức khái quát hóa cho cả tổng thể

Năm 2021, trong bài nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo đại học bằng E Learning trong bối cảnh Covid 19 tại trường Đại - -học Lạc Hồng” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Đoàn Thị Hồng Nga, thang đo

đã được xây dựng trên cơ sở của lý thuyết về chất lượng dịch vụ, lý thuyết về thang đo chất lượng dịch vụ đã có, cụ thể là thang đo SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự, 1993) và lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng, để khảo sát sự hài lòng của sinh viên khi học tập trực tuyến, bao gồm 5 biến độc lập: Phương tiện hữu hình, Độ tin cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Đồng cảm Nghiên cứu được thực hiện online với sự tham gia của 1.935 SV đang học tập tại Trường ĐH Lạc Hồng Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên xếp theo thứ tự giảm dần bao gồm: phương tiện hữu hình, đồng cảm, sự tin cậy, khả năng đáp ứng và năng lực phục vụ Ngoài ra, kết quả khảo sát còn cho thấy bên cạnh số đông sinh viên hài lòng về việc học

Trang 15

trực tuyến thì tỉ lệ sinh viên mong muốn được học trên lớp kết hợp với học trực tuyến cũng tương đối cao với 60,57% Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực tế triển khai dạy

và học thông qua E learning tại Trường Đại học Lạc Hồng, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị rằng nhà trường cần tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện hệ thống các phần mềm chuyên dụng, giảng viên phụ trách cần cung cấp đề cương học phần, kế hoạch và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được quy định rõ ràng trên hệ thống E-learning

-Đề tài “Đánh giá hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh covid 19” của nhóm tác giả Lữ Thị Mai Oanh, Nguyễn Thị Như Thúy (2020) đã đánh giá hiệu quả học tập trực tuyến, chỉ ra những khó khăn, thách thức của sinh viên và tìm hiểu các yếu tố tác động để từ đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến cho sinh viên Mô hình nghiên cứu bao gồm 3 biến độc lập là hương ptiện và không gian hỗ trợ học tập ức khỏe tâm thần của sinh viên, s và tương tác giữa người dạy và học; biến phụ thuộc là hiệu quả học tập trực tuyến Nhóm tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu qua khảo sát 225 sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra kết luận để từ đó giúp cho các trường học nắm bắt được các khó khăn sinh viên gặp phải, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp hữu ích giúp nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên Dù bài nghiên cứu đã đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra ban đầu nhưng vẫn còn nhược điểm khi mới dừng lại bước đầu nhận diện và phân tích về hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên, quy mô mẫu nhỏ, không có tính đại diện tổng thể

Bài nghiên cứu “ Một số khó khăn của sinh viên khi học trực tuyến trong bối cảnh đại dịch Covid 19” do nhóm tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Thị Hoài Phương, - Trương Thị Xuân Nhi thực hiện vào năm 2021 đã thực hiện thu thập dữ liệu thứ cấp về sinh viên từ Phòng Đào tạo Đại học và Công tác sinh viên cũng như khảo sát bằng hình thức online với sinh viên ngành Công tác xã hội đang học tập tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, từ đó xác định các khó khăn của sinh viên khi học trực tuyến trong bối cảnh đại dịch thuộc nhóm 2 yếu tố chính là yếu tố chủ quan (kỹ năng tương tác với giảng viên, kỹ năng sử dụng các phương tiện công nghệ, tâm lý sinh viên) và yếu tố

Trang 16

khách quan (phương tiện học tập, mạng internet, không gian học tập) Dù vậy, nghiên cứu vẫn còn hạn chế về khách thể và địa bàn nghiên cứu, trong phạm vi nghiên cứu đề tài lần này, nhóm tác giả chỉ mới dừng lại ở việc mô tả và chỉ ra những khó khăn, rào cản của sinh viên ngành Công tác xã hội tại trường Đại học Khoa học Huế và chưa phân tích sâu về những yếu tố rào cản ảnh hưởng đến chất lượng học tập trực tuyến của sinh viên

1.2.3 Khoảng trống nghiên cứu

Nhìn chung, đã có rất nhiều nghiên cứu nước ngoài thực hiện tìm hiểu về những nhân tố tác động đến quá trình học tập trực tuyến Tuy nhiên, những nhân tố này còn tùy thuộc vào trình độ phát triển khoa học công nghệ ở từng nước khác nhau Ở bối cảnh một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, công nghệ chưa thực sự quá phát triển gây

ra rất nhiều hạn chế trong việc ứng dụng các nền tảng số vào lĩnh vực giáo dục Ngoài

ra, thu nhập của nhiều hộ gia đình còn chưa cao nên học sinh, sinh viên cũng gặp nhiều khó khăn khi không có thiết bị để học tập trực tuyến hay thiết bị cũng như đường truyền internet chưa đủ đảm bảo, chính vì vậy, khả năng sẽ phát sinh nhiều kết quả khác với các nghiên cứu trước đó

Tại Việt Nam cũng đã có một số lượng nghiên cứu quan tâm đến vấn đề học tập trực tuyến, tuy nhiên con số này chưa nhiều, cũng như đa số các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào kết quả học tập của sinh viên được thể hiện qua điểm số chứ chưa có - - nghiên cứu nào thực hiện so sánh giữa điểm số của sinh viên cũng như những chi phí khác như thời gian học tập của sinh viên

Nhận thấy được tính cấp thiết của đề tài cũng như xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu, nhóm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của hình thức học tập trực tuyến đến hiệu quả học tập của sinh viên trên địa bàn Hà Nội”

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích tác động của hình thức học tập trực tuyến đến hiệu quả học tập của sinh viên tại Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp

Trang 17

giảng dạy và học tập nhằm thúc đẩy hiệu quả học tập trực tuyến tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn Hà Nội

Để hướng đến mục tiêu tổng quát trên, nghiên cứu này đã được thực hiện hướng tới các mục tiêu cụ thể:

- Thứ nhất, khái quát khung lý thuyết về học tập trực tuyến và hiệu quả học tập của sinh viên

- Thứ hai, tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

và mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố đó

- Thứ ba, tìm ra những thói quen của sinh viên khi học tập trực tuyến

- Thứ tư, phân tích ưu, nhược điểm của hình thức học trực tuyến và đánh giá mức

độ hài lòng của sinh viên

- Thứ năm, so sánh hiệu quả học tập trực tuyến và trực tiếp của sinh viên

- Thứ sáu, tìm ra biện pháp giúp nâng cao hiệu quả học tập qua hình thức trực tuyến

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Hình thức học tập trực tuyến và hiệu quả học tập là gì?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của sinh viên? (rủi ro mạng internet, phương pháp học, thời gian học tập, tâm lý…)

- Sinh viên thường sử dụng những nền tảng nào để học tập trực tuyến? Những ưu, nhược điểm của nền tảng đó?

- Những phản ứng, thái độ của sinh viên khi học tập trực tuyến là gì? (không tập trung, chán nản, thoải mái )

- Hiệu quả của hình thức học trực tuyến và hình thức học trực tiếp có gì khác nhau?

- Có những biện pháp nào giúp sinh viên nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến?

Trang 18

1.5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của hình thức học trực tuyến tới hiệu quả học tập

1.5.2 Khách thể nghiên cứu

Nhóm hướng đến khách thể nghiên cứu là những sinh viên đang học tập tại các trường đại học thuộc nội thành Hà Nội, đã hoặc đang học tập trực tuyến tại nhà bởi dịch 1.5.3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Những trường đại học thuộc các quận trung tâm TP Hà Nội (Hai

Bà Trưng, Cầu Giấy, Ba Đình, Đống Đa, ) Nhóm nghiên c u l a chứ ự ọn địa bàn thành phố Hà Nội để ự thc hi n kh o sát, do Hà N i là khu v c t p trung nhiệ ả ộ ự ậ ều trường đại học,

số lượng sinh viên lớn, thu n ti n cho vi c ti n hành kh o sát, nghiên c u Theo th ng ậ ệ ệ ế ả ứ ố

kê c a B Giáo dủ ộ ục và Đào tạo, năm học 2019 – 2020, h thệ ống giáo d c có t ng s 237 ụ ổ ốtrường i h c gđạ ọ ồm 172 trường công lập và 65 trường đạ ọc ngoài công lập Tổng số i hsinh viên đào tạo lên t i trên 1.5 tri u sinh viên, t p trung phớ ệ ậ ần đông tại khu v c B c Bự ắ ộ,

đặc bi t là Hà Nội với 96 trường Đại học, Học viện ệ

Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 09/2021 tới tháng 11/2021 Trong đó, các dữ liệu thứ cấp sẽ được tìm kiếm, thu thập trong khoảng thời gian từ khi đại dịch Covid 19 bùng phát từ 01/2020 đến 09/2021 Các dữ liệu sơ -cấp sẽ được thực hiện khảo sát, điều tra trong tháng 10/2021

Nhóm t

Về nội dung: hực hiện khảo sát, nghiên cứu và đánh giá về các hình thức học tập trực tuyến, hiệu quả khi học tập trực tuyến của sinh viên đang học tập tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội dựa trên thuyết Con người Môi trường- - Công việc (Law, 1996) và Lý thuyết về hiệu quả giáo dục (Walberg, 1991)

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Dữ liệu thứ cấp: Nhóm nghiên cứu thu thập các bài báo trong nước và quốc tế, những tài liệu có sẵn và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã có trước đó, những thông tin, số liệu từ các website uy tín, có độ tin cậy từ đó chắt lọc thông tin

Trang 19

Dữ liệu sơ cấp: Nhóm tiến hành khảo sát trực tuyến hướng đến đối tượng sinh viên tại các trường trên địa bàn Hà Nội bằng phương pháp chọn mẫu phi xác suất 1.6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Mẫu nghiên cứu định tính được nhóm lựa chọn dựa trên phương pháp lấy mẫu “quả bóng tuyết” và thực hiện phỏng vấn sâu online Trong quá trình phỏng vấn, các dữ liệu được cho phép ghi trên tài liệu số

Trang 20

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỌC TẬP VÀ HỌC TẬP TRỰC TUYẾN

2.1.1 Học tập

Học tập là một quá trình tích cực, mang tính xây dựng, tích lũy, hướng tới mục tiêu (Shuell, 1986) Nó tích cực vì người học sẽ phải thực hiện những công việc nhất định trong khi xử lý các thông tin để trau dồi kiến thức và tìm hiểu tài liệu một cách có ý nghĩa Học tập mang tính xây dựng vì kiến thức mới phải được người dạy liên tục bồi đắp và liên quan đến các bài học giúp học sinh lưu giữ thông tin đơn giản và dần thấu hiểu những kiến thức phức tạp (Shuell, T J., 1988) Tất cả các hoạt động học tập sẽ được xây dựng dựa trên việc sử dụng kiến thức trước đây của người học bằng phương pháp xác định nội dung cần học và khối lượng kiến thức có thể học Shuell, T J., (1988) cũng cho rằng học tập cần được định hướng và có nhiều khả năng thành công nhất nếu người học nhận thức được mục tiêu mà người đó đang làm việc và có những kỳ vọng phù hợp

để đạt được kết quả mong muốn Như vậy có thể thấy đào tạo và giảng dạy được coi là các hoạt động đa dạng, khác nhau do giáo viên là người trực tiếp thực hiện; học tập xảy

ra với một cá nhân như là kết quả của một quá trình giảng dạy đó (Shuell,1988) 2.1.2 Học tập trực tuyến

Học tập trực tuyến là hình thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Trong những năm cuối thế k 20 và đầu thế k 21, học tập trực tuyến đã tiến hóa nhanh chóng gắn với sự phát triển của công nghệ và giáo dục dựa trên những nền tảng kinh tế và tổ chức phù hợp, tạo ra một khái niệm rộng và đa chiều Sau khi internet phát triển mạnh mẽ vào những năm cuối thế k 20 cùng với công nghệ web 2.0, học tập trực tuyến ngày càng phát triển, trong đó các hoạt động học tập được chuyển chủ yếu qua mạng internet với sự trợ giúp của các phần mềm hệ thống quản lý học tập (learning management system - LMS), quản lý nội dung học tập (learning content management system - LCMS) Cùng với sự phát triển của công nghệ di động, học tập di động (mobile learning) đang là một xu thế hiện nay Bên cạnh đó, sự bùng nổ của mạng

Trang 21

xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển học trực tuyến từ mạng xã hội (Bari và cộng

Sự phát triển của học tập trực tuyến là một quá trình đan xen và thúc đẩy lẫn nhau trên các phương diện công nghệ, giáo dục và kinh tế trong đó công nghệ giữ vai trò thúc đẩy, giáo dục mang lại các giá trị phù hợp và kinh tế, tạo nền tảng tài chính cho sự phát triển bền vững Chính vì sự phát triển đa nhiều như trên, mà học tập trực tuyến vẫn là một khái niệm có nhiều ý kiến khác biệt và chưa thống nhất (Oblinger và Hawkins, 2005)

Dưới góc độ phương pháp đào tạo/học tập, học tập trực tuyến được xem là “thuật ngữ chung bao gồm các ứng dụng và quy trình học tập dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, cụ thể như học tập dựa trên máy tính, học trên web, lớp học ảo, cộng tác

kỹ thuật số và kết nối mạng” (Urdan & Cornelia, 2000) Liên quan đến học tập trực tuyến trong lĩnh vực giáo dục đại học, OECD (2005) cho rằng học tập trực tuyến là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các tiến trình giáo dục đa dạng của trường đại học nhằm hỗ trợ và khuyến khích học tập; nó bao gồm cả sử dụng công nghệ này như một công cụ hỗ trợ, các khóa học trực tuyến và sự kết hợp cả hai hình thức Dưới góc độ công nghệ, học tập trực tuyến được hiểu đơn giản là việc dạy và học được số hoá với việc truyền tải các hoạt động, quá trình, sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, băng video, DVD, TV, các thiết bị điện tử cá nhân (Rosenberg, 2001)

Trang 22

Dưới góc độ người học, học tập trực tuyến là việc học được hỗ trợ bằng công nghệ thông tin và truyền thông

Đại dịch Covid 19 chính là một xúc tác quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hình thức học tập trực tuyến tại các trường học Đây là một hình thức làm việc giúp học sinh vừa được đảm bảo sức khỏe vừa không bỏ lỡ kiến thức

Đã có nghiên cứu về sự hiệu quả của việc học tập trực tuyến, sự hài lòng của sinh viên và thành tích học tập của sinh viên Họ thấy rằng sinh viên trong lớp học tập trực tuyến hài lòng hơn đáng kể so với sinh viên lớp giảng dạy truyền thống (Melton và cộng

sự, 2009) Trong các nghiên cứu được phân tích trong giai đoạn học tập trực tuyến phổ biến, các học giả đo lường hiệu quả trong việc học tập trực tuyến với các biến khác nhau như sự hài lòng, động lực, thành tích, thái độ, sự hợp tác, khả năng lưu giữ kiến thức, kỹ năng tư duy phản biện và tỉ lệ bỏ học ở nhóm sinh viên có nguy cơ Những phát hiện chung chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể về thành tích học tập giữa sinh viên học tập kết hợp và sinh viên học lớp truyền thống (Güzer và Caner, 2014)

2.2 HIỆU QUẢ HỌC TẬP

Hiệu quả học tập được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Trong nhiều nghiên cứu, hiệu quả học tập được thể hiện thông qua điểm số đạt được trong các khóa học khác nhau trong suốt thời gian học tại trường (Zhang, 2006; Elmore và cộng sự, 2017) hoặc điểm trung bình tích lũy (GPA) của cả học kỳ, đây được coi là phép đo tốt vì nó cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện về thành tích tương đối giữa các cá nhân và nhóm học sinh khác nhau (Masrom và Usat, 2015), sự hài lòng với việc học (Orakwue và Teng, 2014; Yuan và cộng sự, 2020), hay khả năng mà học viên có thể áp dụng kiến thức hoặc

kỹ năng đã học (Yin và Yuan, 2021) Về bản chất, nó không chỉ liên quan đến kiến thức

và kỹ năng cơ bản đã được học, mà quan trọng là khả năng áp dụng chúng Cũng có định nghĩa cho rằng hiệu quả học tập là mức độ mà học viên đạt được các mục tiêu học tập ngắn hạn hoặc dài hạn của họ (Stasolla và Passaro, 2020) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và không có sự thống nhất về cách đánh giá tốt nhất hay yếu tố nào

là quan trọng nhất trong việc tác động đến hiệu quả học tập Trong nghiên cứu này, nhóm

Trang 23

định nghĩa hiệu quả học tập được thể hiện qua việc so sánh tương đối giữa điểm trung bình môn học của sinh viên và khoảng thời gian mà sinh viên viên đó dành cho việc học tập

2.3 LÝ THUYẾT NỀN TẢNG

2.3.1 Mô hình lý thuyết Con người Môi trường Công việc (PEOT) của Law, 1996-

-Hình 2.1 Mô hình lý thuyết Con ngườ Môi trười- ng-Xã h ộ i

(Mary Law, 1996) Nguồn: The P.O.E.T Model, Mary Law (1996)

Mô hình lý thuyết Con người Môi trường Xã hội (PEOT) được phát triển- - và công

bố bởi Mary Law vào năm 1996 Đây là một mô hình nhấn mạnh hiệu suất nghề nghiệp được định hình bởi sự tương tác giữa con người, môi trường và nghề nghiệp Lĩnh vực con người bao gồm vai trò, quan niệm về bản thân, nền tảng văn hóa, tính cách, sức khỏe, nhận thức, hoạt động thể chất và khả năng cảm giác Lĩnh vực môi trường bao gồm môi trường vật chất, văn hóa, thể chế, xã hội và kinh tế xã hội Nghề nghiệp đề cập đến các nhóm nhiệm vụ mà một người tham gia và đáp ứng khả năng tự duy trì, thể hiện và hoàn thành của mình Ba miền phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau Trong mô hình này, vùng

E

Xã hội, văn hóa, môi trường vật

ch tấHiệu su t, thành tích, ấtương tác

Trang 24

chồng chéo của ba miền định hình động hiệu suất nghề nghiệp và cũng thể hiện mức độ tương tác giữa con người, môi trường và nghề nghiệp Với mức độ cộng hưởng cao hơn, chất lượng thực hiện công việc được tăng lên và ngược lại Ngoài ra, mô hình PEO có quan điểm về tuổi thọ và do đó, cả ba lĩnh vực và hiệu suất nghề nghiệp sẽ thay đổi theo thời gian Do đó, mô hình này có thể được xem như một công cụ đánh giá để hiểu và phân tích các lĩnh vực có vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp của khách hàng hoặc, như một công cụ can thiệp, để cải thiện hiệu suất nghề nghiệp của khách hàng bằng cách tăng cường tính đồng bộ của ba lĩnh vực

2.3.2 Lý thuyết về hiệu quả giáo dục

Hình 2.2 Mô hình Lý thuyết hiệu quả giáo dục (Walberd, 1981)

Nguồn: Theory of educational productivity, Walberg (1981)

Lý thuyết về hiệu quả giáo dục được nghiên cứu và công bố bởi Herbert J.Wahlberg vào năm 1981 Lý thuyết của Walberg đề cập đến những ảnh hưởng trong quá trình học tập đến kết quả học tập của một học sinh Walberg đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của một học sinh Ông đã

Sự hướng dẫ n trong giảng dạy

Môi trường tâm lý

Thành tích c a h c viên ủ ọ

Trang 25

phân tích lý thuyết của mình với sự giúp đỡ của các nhà lý thuyết khác nhau và tích hợp nghiên cứu của mình với hơn 3000 nghiên cứu Trong lý thuyết của mình, ông đã phân loại các biến vào các nhóm đại diện khác nhau Trong ba biến đầu tiên (khả năng, động lực và tuổi) phản ánh các đặc điểm của học sinh Các biến thứ tư và thứ năm phản ánh

sự hướng dẫn trong giảng dạy (số lượng và chất lượng), và bốn biến cuối cùng (môi trường lớp học, môi trường gia đình, nhóm đồng đẳng và tiếp xúc với phương tiện truyền thông) đại diện cho các khía cạnh của môi trường tâm lý Ông giải thích rằng những biến

số này có những tác động nhất định có thể gây ra các vấn đề đối với kết quả học tập của học sinh nếu nó không được hướng dẫn đúng cách

2.3.3 Mô hình đề xuất

Mô hình nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu sử dụng được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích tổng quan và kế thừa các nghiên cứu trước về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả học tập Đặc biệt, mô hình lý thuyết về hiệu quả giáo dục (Walberg, 1981) và

mô hình lý thuyết con người môi trường công việc (Law, 1996) là các mô hình đáng tin - cậy cho mục tiêu tìm hiểu hiệu quả, cụ thể là hiệu quả học tập, nhóm đã kế thừa từ các

-mô hình đi trước những yếu tố về bản thân và những yếu tố -môi trường làm việc, trong trường hợp này là môi trường học tập do nhận thấy sự quan trọng của hai yếu tố này Tuy nhiên, các nghiên cứu trước cũng chỉ ra bên cạnh yếu tố có trong những mô hình này còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả học tập Nhiều nghiên cứu đã tìm cách mở rộng và phát triển mô hình bằng cách bổ sung thêm các yếu tố phù hợp

Trang 26

Bảng 2.1: T ng quan nghiên cổ ứ u về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả ọc tập h

3 nhân t : kố ết quả ọ ậ hc tp trước đó, nghiên cứu sâu, khả năng tự ọ h c

2

A model of factors affecting

learning performance

through the use of social

media in Malaysian higher

education

2018 Al-Rahmi

và c ng s ộ ự

4 nhân t : hố ọ ậc tp có tính hợp tác, s d ng m ng xã ử ụ ạhội, s cam k t, s hài lòng ự ế ựcủa h c viên ọ

3

Psychosocial factors,

expectancy-value beliefs to

outcome-based education

approach and academic

performance among first

year students

2019 Sedillo và cộng s ự

6 nhân t : tìm kiố ếm sựgiúp đỡ, lòng tự trọng, quá tải trong h c tọ ập, nh n thậ ức

sự căng thẳng, s t tin ự ựvào năng lực bản thân, hỗ trợ xã h i ộ

5 nhân t : s quá t i công ố ự ảnghệ, s xâm chi m cự ế ủa công nghệ, s phự ứ ạc tp của công ngh , s bệ ự ất an toàn của công nghệ, tính không chắc chắn c a công ngh ủ ệ

5

How Working from Home

during COVID-19 Affects

Nguồn: T ng h p b i Nhóm 03 PPNCKTXH 05 ổ ợ ở –Nhận thấy sự tự tin vào năng lực của bản thân, sự căng thẳng công nghệ hay sự quá tải công việc, căng thẳng được nhận thức là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả học tập cũng như phù hợp với đặc điểm của khách thể nghiên cứu là sinh viên Hà Nội,

mô hình nghiên cứu của nhóm cũng đã kế thừa và có sự kết hợp của những yếu tố này thành hai biến là “Sự tự tin vào năng lực bản thân” và” Áp lực” Ngoài ra, sau quá trình

Trang 27

phỏng vấn sâu 8 sinh viên đến từ nhiều trường khác nhau trên địa bàn Hà Nội, nhóm cũng đã có được những ý kiến bổ sung về các yếu tố tác động đến quá trình và hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

“Trong quá trình học trực tuyến, đôi khi mình vẫn gặp những khó khăn khi tiếng

ồn từ môi trường quá lớn khiến mình không thể nghe giảng hoặc đường truyền internet không ổn định làm mình không thể tham gia lớp học Ngoài ra, việc không thể giao tiếp trực tiếp với thầy cô và các bạn trong lớp cũng khiến mình khó đặt câu hỏi, trình bày ý kiến cũng như trao đổi, bàn bạc bài với các bạn hơn” - Bạn N.T.T.H, sinh viên năm 2, Đại học Dược Hà Nội

“Mình thường khó tập trung và khó nắm bắt bài giảng do đường truyền không tốt, mất điện, mất mạng Môi trường xung quanh cũng ồn khiến mình không nghe được bài giảng do bị lẫn nhiều tạp âm từ cả phía mình và từ phía giảng viên Khi giảng dạy trực tuyến, nhiều thầy cô cũng giảng với tốc độ nhanh hơn khiến mình không chép kịp bài” – Bạn N.B.T, sinh viên năm 3, Đại học Hà Nội

Nguồn: Tổng hợp kết quả của Nhóm 03 – PPNCKTXH 05 Qua những ý kiến như trên, nhóm nhận thấy đa số sinh viên tham gia phỏng vấn sâu cho rẳng hiệu quả học tập của bản thân chịu ảnh hưởng từ môi trường học tập, sự tập trung, sự tương tác với giảng viên và sinh viên khác và giảng viên Chính vì vậy, dựa trên lý thuyết nền tảng, nhóm đã quyết định xem xét, điều chỉnh và bổ sung 4 biến là

“Năng lực tự quản lý bản thân”, “Giảng viên”, “Môi trường học tập” và “Sự tương tác”,

từ đó đưa ra mô hình đề xuất như sau:

Trang 28

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Nhóm 03 - PPNCKTXH 05 2.3.4 Giả thuyết nghiên cứu

H1: Năng lực tự quản lý có tác động tích cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

Năng lực tự quản lý bản thân là sự tự điều chỉnh của bản thân về nhận thức (suy nghĩ của một người) và hành động của chính mình (lập kế hoạch, giám sát và đánh giá

sự tiến bộ của cá nhân theo tiêu chuẩn) (Zimmerman, 1990) Người học tự điều chỉnh

“giám sát, chỉ đạo và điều chỉnh các hành động hướng tới các mục tiêu thu nhận thông tin, mở rộng kiến thức chuyên môn và cải thiện bản thân” (Paris & Paris, 2001) Đặc biệt, những người học tự điều chỉnh sẽ nhận thức được điểm mạnh và điểm yếu trong học tập của họ, và họ có một loạt các chiến lược mà họ áp dụng một cách thích hợp để giải quyết những thách thức hàng ngày của nhiệm vụ học tập Thành tích của học sinh

có thể so sánh được giữa môi trường học tập do người hướng dẫn và môi trường học tập tự điều chỉnh Trong một nghiên cứu của, sự tự điều chỉnh bản thân đã được chứng

Trang 29

minh là giúp nâng cao khả năng học tập của học viên (Lovett và cộng sự, 2008) Trong nghiên cứu này, nhóm sẽ đo lường cho biến “Năng lực tự quản lý bản thân” thông qua

sự tự đánh giá của sinh viên về mức độ kiểm soát bản thân và nỗ lực học tập trong quá trình học tập trực tuyến

H2: Giảng viên có tác động tích cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên Giảng viên được coi là chủ thể của quá trình dạy, vì thế, khi triển khai dạy học trực tuyến, giảng viên và cũng như phương pháp giảng dạy của giảng viên được xem là yếu

tố then chốt ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu mối tương quan giữa giáo viên và kết quả học tập của người học được công bố và cho thấy giáo viên là người truyền cảm hứng và định hướng phương pháp học tập nhằm giúp người học đạt hiệu quả tốt nhất Giảng viên có phương pháp giảng dạy và truyền đạt tốt, tạo hứng thú cho sinh viên khi học tập và cách giao tiếp, hỗ trợ của giảng viên đối với sinh viên sẽ giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn, thích thú với môn học hơn (Myles, 2016) Trong nghiên cứu này, nhóm sẽ tìm hiểu về mức độ ảnh hưởng của giảng viên thông qua chất lượng giảng dạy cũng như khả năng thúc đẩy năng lực học tập cho sinh viên của giảng viên

H3: Sự tự tin vào năng lực bản thân có tác động tích cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

Sự tự tin vào năng lực bản thân là sự đánh giá các khả năng của bản thân về khả năng tổ chức và thực hiện các khóa hành động cần thiết để đạt được những hiệu quả nhất định (Bandura, 1986) Nói cách khác, đây là sự tin tưởng vào năng lực của một người có thể giải quyết và thực hiện thành công được các tình huống, vấn đề cụ thể Sự tự tin vào năng lực của bản thân sẽ giúp các cá nhân đạt thành tích cao dễ dàng hơn thông qua sự cam kết, nỗ lực và kiên trì Những người có sự tự tin vào bản thân cao thường bình tĩnh đối mặt với các vấn đề phức tạp để tìm ra giải pháp cho vấn đề, cũng như kiên nhẫn trong suốt quá trình, nỗ lực nhiều hơn và kiên trì lâu hơn để vượt qua thách thức Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự tự tin vào năng lực bản thân có ảnh hưởng đáng kể đến việc học tập, động cơ và kết quả học tập của sinh viên (Sadi và Uyar, 2013)

Trang 30

H4: Môi trường học tập có tác động tiêu cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

Môi trường học tập là những tác động kích hoạt, kích thích học tập cả từ bên trong

và bên ngoài, đóng vai trò quan trọng và góp phần quyết định đến sự tập trung vào học tập Ashby và cộng sự (2011) đã khẳng định có mối quan hệ nhất quán giữa môi trường học tập và nhận thức của học sinh cũng như hiệu quả học tập Theo Bosque và Dore (1998), học sinh đạt thành tích cao có khả năng đã được tiếp xúc với nội dung chương trình học trong một môi trường học tập lý tưởng Frenzel và cộng sự (2007) cũng cho rằng việc học viên không đạt kết quả học tập là do điều kiện học tập kém, ngoài ra, môi trường sạch sẽ, yên tĩnh và thoải mái là những thành phần quan trọng đóng góp cho hiệu quả của việc học tập Tùy theo loại hình trường học và hình thức học tập khác nhau sẽ

có những yêu cầu về môi trường học tập khác nhau Do được đặt trong bối cảnh học tập trực tuyến, nhóm thực hiện đánh giá môi trường học tập chính là môi trường học tập trực tuyến của sinh viên

H5: Sự tương tác có tác động tích cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

Sự tương tác là một thuật ngữ rộng trong học tập trực tuyến Theo Gilbert & Moore (1998), tương tác có ba loại: Tương tác giữa sinh viên nội dung, tương tác giữa sinh - viên với sinh viên và tương tác giữa sinh viên – giảng viên Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào tương tác giữa các con người với con người, cụ thể là tương tác giữa sinh viên và sinh viên, và tương tác giữa giảng viên và sinh viên Trên thực tế, đã có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu về tác động của sự tương tác giữa sinh viên với giảng viên và giữa các sinh viên với nhau đến kết quả học tập của sinh viên đối với hình thức học tập trực tuyến Một số nghiên cứu cho thấy rằng sự tương tác giữa các sinh viên với nhau là rất quan trọng đối với cả sự hài lòng và kết quả học tập của sinh viên (Palmer

và cộng sự, 2008) Một số nghiên cứu khác cho thấy sự tương tác mạnh mẽ của người hướng dẫn cùng với nội dung khóa học chất lượng là những yếu tố cần thiết trong các khóa học tạo điều kiện thuận lợi cho việc học trực tuyến và gắn kết của sinh viên (Moore,

Trang 31

2014) Sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên là sự tương tác khi sinh viên và giảng viên có những trao đổi quan điểm trong đó giảng viên tìm cách kích thích sự quan tâm, làm rõ các câu hỏi, hướng dẫn, động viên và đối thoại với sinh viên Còn tương tác giữa sinh viên - sinh viên đề cập đến sự hỗ động giữa các sinh viên

H6: Áp lực có tác động tích cực đến hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

Áp lực là tình trạng căng thẳng tiêu cực về mặt tâm lý và sinh lý khi con người phải đối mặt với những tình huống nguy hiểm hay những tình huống đòi hỏi phải nỗ lực để thích ứng hoặc vượt qua Theo báo cáo chuyên đề về sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên Việt Nam, một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng stress ở thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 14 đến 25 là áp lực học tập Nhiều nghiên cứu đã cho thấy áp lực trong học tập của sinh viên có mối liên hệ với nhiều vấn đề, một trong số đó chính là kết quả học tập giảm sút (Struthers và cộng sự, 2000) Kemeny (2007) cho rằng các nguồn gây stress trong học tập là những suy nghĩ hay sự kiện làm giảm khả năng đạt được các mục tiêu liên quan đến học tập và thành công tại trường học của sinh viên Chẳng hạn, việc

ôn thi, làm bài thi, hay làm một bài tập nhóm là những nguồn gây stress trong học tập vì việc không đạt được kết quả như mong muốn trong các hoạt động này có thể gây cản trở cho việc tốt nghiệp của sinh viên

Trang 32

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Nhóm xác định sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính với các bước như sau:

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu

Bước 2: Thực hiện tổng quan nghiên cứu, đọc các bài nghiên cứu tương tự và các

lý thuyết liên quan Xác định giả thuyết và phương pháp nghiên cứu

Bước 3: Thiết kế nghiên cứu

● Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu

● Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

● Câu hỏi nghiên cứu

● Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu cần thiết: mô tả, liệt kê những dữ liệu cần thiết và cách thức thu thập

● Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu

● Kế hoạch chọn mẫu

● Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu

Bước 4: Nghiên cứu định tính

● Xây dựng bảng hỏi

● Phỏng vấn thử với quy mô mẫu 1 người

● Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu

Bước 5: Xây dựng bảng hỏi khảo sát

● Xây dựng bảng hỏi sơ bộ

● Khảo sát thử với quy mô mẫu 20 người

● Tìm ra hạn chế, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện bảng hỏi Bước 6: Thu thập dữ liệu

Bước 7: Xử lý dữ liệu

Bước 8: Phân tích dữ liệu

Trang 33

Bước 9: Thảo luận, tổng kết, đưa ra hạn chế, ưu điểm và định hướng cho các đề tài tiếp theo

Bước 10: Viết báo cáo và trình bày báo cáo

3.2 THIẾT KẾ CÔNG CỤ THU THẬP DỮ LIỆU

3.2.1 Dữ liệu thứ cấp

Quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp

* Dữ liệu thứ cấp cần thu thập bao gồm:

- Tạp chí nghiên cứu, tài liệu tham khảo, báo mạng về học trực tuyến, hiệu quả học trực tuyến

- Các báo cáo của những cuộc nghiên cứu:

+ Các bài nghiên cứu về hình thức học trực tuyến của học sinh, sinh viên + Các bài nghiên cứu về hiệu quả học trực tuyến của học sinh, sinh viên +Các bài nghiên cứu về việc sử dụng nền tảng học trực tuyến của học sinh, sinh viên

+ Các bài nghiên cứu về thói quen học trực tuyến của học sinh, sinh viên + Các bài nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến của học sinh, sinh viên

* Phương pháp thu thập: Thu thập từ Internet (Google, Google Scholar, Website của các trường đại học…) , tivi (các kênh thời sự, vtv )

3.2.2 Dữ liệu sơ cấp

* Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua quá trình phát phiếu khảo sát bảng hỏi số và phỏng vấn một số sinh viên thuộc các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội

* Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp khảo sát sử dụng bảng hỏi

để khảo sát online và phỏng vấn sâu

* Tiêu chí bảng hỏi: Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, tập trung

* Bảng câu hỏi (Được nhóm trình bày ở cuối báo cáo)

Trang 34

3.3 KẾ HOẠCH CHỌN MẪU

3.3.1 Quy mô và cách lấy mẫu nghiên cứu

Xác định tổng thể mục tiêu: Tập trung nghiên cứu vào đối tượng là sinh viên hiện đang học tập tại Hà Nội Cụ thể sinh viên thuộc các trường: Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Bách Khoa, Đại học Xây dựng, Đại học Hà Nội, Học viện Ngân hàng, Đại học Ngoại thương, Đại học Sư phạm, Đại học Kinh doanh và Công Nghệ, Học viện Báo chí

và Tuyên truyền, Học viện Tài chính

Chọn phương pháp lập mẫu: Do giới hạn về nguồn lực thời gian, con người và tài chính, nhóm nghiên cứu lựa chọn kết hợp giữa phương pháp lập mẫu phi xác suất ném tuyết, phi xác suất phán đoán và phi xác suất chia phần

Kích thước mẫu: Nhóm nghiên cứu lựa chọn kích thước mẫu là 900 người làm bảng khảo sát và 8 người tham gia phỏng vấn

Căn cứ lựa chọn quy mô mẫu: Theo phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhóm nghiên cứu chọn cách thức lấy mẫu theo Hair và cộng sự (1998) nên kích thước mẫu tối thiểu được xác định theo công thức:

3.3.2 Cách thức tiếp cận và thu thập thông tin

Nhóm nghiên cứu thu thập thông tin:

Qua phỏng vấn sâu trực tuyến: Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn 8 sinh viên đã/đang học tập trực tuyến, sau đó tiến hành phân tích dữ liệu thu được

Qua phiếu khảo sát cá nhân trên mạng: Nhóm nghiên cứu gửi phiếu điều tra qua các trang mạng xã hội và nhận được 1181 phản hồi trong vòng 7 ngày Sau khi tiến hành

Trang 35

lọc và loại bỏ các phiếu trả lời không hợp lệ, 1151 phiếu trả lời đã được nhóm nghiên cứu đưa vào phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành phân tích dữ liệu

3.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Nghiên cứu định tính được Babbie và Earl (2014) định nghĩa là một phương pháp khoa học quan sát, thu thập những dữ liệu phi số học Nghiên cứu định tính thường được thực hiện thông qua nghiên cứu các trường hợp cụ thể, những kinh nghiệm cá nhân, tự quan sát, qua những câu chuyện thường ngày, phỏng vấn, qua các hiện vật, sản phẩm hay các tài liệu văn hóa cùng với các tài liệu quan sát, lịch sử, sự tương tác hay các tài liệu hình ảnh (Denzin và cộng sự, 2005)

Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực học thuật, đặc biệt tập trung phần lớn vào nghiên cứu yếu tố nhân lực của các ngành khoa học tự nhiên, xã hội Ngoài các lĩnh vực học thuật, nghiên cứu định tính còn được áp dụng trong nghiên cứu thị trường định tính, kinh doanh, báo chí (Babbie, Earl, 2014) 3.4.1 Mục tiêu của nghiên cứu định tính

Giai đoạn trước nghiên cứu định lượng: ghiên cứu định tính nhằm có thêm dữ Nliệu để đánh giá, phân tích, điều chỉnh các thang đo về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu hiệu quả học tập trực tuyến ở sinh viên Từ đó có thể kiểm định sơ bộ mối quan hệ giữa các yếu tố trên được đề ra ở mô hình lý thuyết ban đầu, xác định tính phù hợp với bối cảnh nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp quan sát: Qua thực tiễn cuộc sống và quá trình học tập, nhóm tác giả nhận thấy hiệu quả học tập qua nền tảng trực tuyến khác ở đối tượng sinh viên thường khác nhau giữa các cá thể Dựa vào quan sát từ những người xung quanh và trải nghiệm của bản thân, nhóm tác giả bước đầu hình thành nên các mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan, xây dựng mô hình lý thuyết ban đầu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn là phương pháp khá phù hợp cho việc tiếp cận trực tiếp tới các đối tượng nghiên cứu Trong nghiên cứu này, bên cạnh việc phỏng vấn sơ bộ từ các bạn sinh viên bằng cách phát bảng hỏi khảo sát thử để lấy ý kiến

Trang 36

củng cố và hoàn thiện lại các tiêu chí đo lường của các biến sao cho phù hợp thì nhóm nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng hướng đến đó nhằm khai thác chi tiết về các tác nhân ảnh hưởng đến hiệu quả học tập trực tuyến Phương pháp này hoàn toàn phù hợp cho việc làm rõ kết quả nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị cũng như các phương hướng tiếp theo sau nghiên cứu bởi lẽ việc phỏng vấn trực tiếp cho phép nhóm nghiên cứu tiếp cận được nhiều đối tượng khác nhau không thông qua bảng hỏi để

có cái nhìn tổng quát nhất trong nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn sâu được nhóm sử dụng trong nghiên cứu này hoàn toàn trực tuyến thông qua nhiều ứng dụng: Facebook, Microsoft Teams điều này dựa trên hoàn cảnh thực tế trong thời gian nghiên cứu và cũng nhằm mục đích tiếp cận đến các đối tượng phỏng vấn thông qua Internet để làm sâu sắc hơn đề tài nghiên cứu Nhóm thực hiện phỏng vấn sâu trong giai đoạn đầu trước nghiên cứu định lượng với mục đích điều chỉnh và hoàn thiện mô hình nghiên cứu Các bạn sinh viên này đến từ các trường Đại học trong phạm vi nghiên cứu (lưới câu hỏi phỏng vấn được trình bày cụ thể ở các phụ lục)

3.5 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

Nghiên cứu định lượng là nghiên cứu dựa trên các điều tra thực nghiệm, có hệ thống các hiện tượng có thể quan sát được qua các kỹ thuật thống kê số liệu, toán học, hay các kỹ thuật tính toán (Given, 2008)

Nghiên cứu định lượng được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như tâm lý học, kinh tế, nhân khẩu học, xã hội học, tiếp thị, sức khỏe và phát triển con người, các nghiên cứu về giới tính hay khoa học chính trị,

3.5.1 Mục tiêu của nghiên cứu định lượng

Sau khi thu thập số liệu, nhóm tác giả tiến hành sàng lọc, thống kê, mã hóa và xử

lý qua phần mềm SPSS, tiến hành phân tích hệ số Cronbach's Alpha nhằm đánh giá độ tin cậy của các thang đo, từ đó loại bỏ những biến không phù hợp Các bước phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA để đưa ra kết luận chất lượng thang đo, chuẩn bị cho bước kiểm định giả thuyết nghiên cứu Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Khẳng định lại độ tin cậy của

Trang 37

mô hình bằng phương pháp Bootstrap và cuối cùng phân tích ANOVA và T–Test (Chi tiết sẽ trình bày trong phần phương pháp phân tích dữ liệu)

3.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.5.2.1 Thống kê mô tả

Thống kê tần số: Dữ liệu của những biến định tính về mẫu quan sát được phân tích bằng lệnh Frequencies nhằm thống kê các đặc điểm nhân khẩu học bao gồm: giới tính, nhóm trường; nhóm sinh viên; nền tảng sử dụng trong quá trình học trực tuyến Thống kê trung bình: Dữ liệu của các biến định lượng được thống kê qua phương pháp thống kê trung bình với các chỉ số: số trung bình (mean); giá trị min, max; độ lệch chuẩn (standard deviation)

Đối với những biến định lượng được đo lường bằng thang đo likert, từ các chỉ số trung bình và độ lệch chuẩn này ta có thể suy ra được ý nghĩa khảo sát của chúng như sau:

Bảng 3.1 – Ý nghĩa giá trị trung bình Giá trị trung bình của biến Ý nghĩa

Trang 38

Bảng 3.2 - Độ lệch chuẩn và ý nghĩa

< 0.81 Câu trả lời khá thống nhất

0.81 1.6 – Câu trả lời có sự khác biệt nhưng có thể chấp nhận

> 1.6 Câu trả lời khác biệt nên yêu cầu sự phân biệt

Nguồn: Nhóm 03 - PPNCKTXH 05 3.5.2.2 Phân tích bảng chéo hai yếu tố Crosstabs

Nhóm thực hiện phân tích bảng chéo Crosstabs để kiểm định mối quan hệ giữa các biến định tính với nhau bằng cách dùng kiểm định Chi square (Chi bình phương).-

Về mặt lý luận, khi thực hiện kiểm định, ta có 2 giả thuyết

- H0: không có mối quan hệ giữa các biến

- H1: có mối quan hệ giữa các biến

Để kết luận là chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H0, ta sẽ dùng các kiểm định phù hợp

Dựa vào giá trị P (p value) (SPSS viết tắt p value là sig.) để kết luận là chấp nhận - hay bác bỏ giả thuyết H0

-● p-value (sig.) ≤ α (mức ý nghĩa) là bác bỏ giả thuyết H0 Có nghĩa là có mối quan

hệ có ý nghĩa giữa các biến cần kiểm định

● value (sig.) > α (mức ý nghĩa) là chấp nhận H0 Không có mối quan hệ giữa các biến cần kiểm định

p-Mức ý nghĩa thông dụng nhất là 5% hay là 0.05

Cụ thể ở đây, dựa vào chỉ số Pearson Chi square trong bảng Chi- -Square tests SPSS,

ta có thể đánh giá được khái quát mối quan hệ giữa các biến định tính

Trang 39

3.5.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Việc phân tích hệ số Cronbach’s Alpha bằng lệnh Reliability Analysis được áp dụng đề đánh giá độ tin cậy của các thang đo so với các câu hỏi nghiên cứu

Để kiểm tra độ tin cậy các thang đo được xây dựng từ nghiên cứu định lượng, nhóm nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach’ Alpha Nunnally và Bernstein (1967) nhận định rằng thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0.8 đến xấp xỉ 1 là thang đo rất tốt, trong khoảng từ 0,7 đến xấp xỉ 0,8 là thang đo tốt, sử dụng được Đối với những nghiên cứu

có khái niệm là mới đối với người trả lời thì hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là đủ điều kiện và có thể chấp nhận được (Hainh và cộng sự, 1998), dưới 0.6 là thang đo không

đủ điều kiện và cần xem xét lại

Ngoài ra để thang đo có độ tin cậy cao thì hệ số tương quan biến tổng (Corrected tem - Totel Correction) cũng phải cao, thông thường hệ số tương quan với biến tổng phải lớn hơn hoặc bằng 0,3 thì kết quả giải thích mới có ý nghĩa (Nunnally và Bernstein, 1994) Nếu tương quan âm thì cần mã hóa dữ liệu theo hướng ngược lại

3.5.2.4 Phân tích nhân tố khám phá - EFA

Mục đích của phân tích nhân tố khám phá là đánh giá về giá trị phân biệt và mức

độ hội tụ của thang đo qua đó kiểm tra được khả năng gộp thành các nhân tố hay thành phần đo lường các biến trong mô hình Phương pháp này được đánh giá qua các tiêu chí như hệ số KMO, hệ số tải nhân tố, các giá trị đặc trưng và phương sai sai trích Mục đích của phân tích này là đánh giá về giá trị phân biệt và mức độ hội tụ của thang đo, đồng thời kiểm tra khả năng gộp thành các nhân tố, phản ánh chính xác thành phần đo lường các biến trong mô hình Theo Hair và cộng sự (1998), chỉ số Kaiser- Meyer-Olkin (KMO) kiểm định sự thích hợp của phân tích nhân tố phải lớn hơn 0.5 và phải nhỏ hơn 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân

tố có khả năng không thích hợp với dữ liệu

Kiểm định Bartlett xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương quan với nhau hay không Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (sig Bartlett’s Test < 0.05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân tố

Trang 40

Ngoài ra, hệ số tải nhân tố ở mức 0,3 là điều kiện tối thiểu để biến quan sát được giữ lại Trong phân tích này, các biến quan sát có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại

bỏ để giữ lại những thang đo có độ kết dính cao

Các nhân tố có Eigenvalue - đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi nhân

tố lớn hơn 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích, còn các nhân tố có Eigenvalue - nhỏ hơn 1 sẽ bị loại khỏi mô hình

Tổng phương sai trích ≥ 50% cho thấy mô hình EFA là phù hợp

3.5.2.5 Phân tích tương quan Pearson

Mục đích của phân tích tương quan là xác định được mức độ liên kết hay độ mạnh trong sự liên kết giữa hai biến với nhau Tương quan là sự xem xét mối liên hệ giữa từng cặp biến với nhau, nhằm kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập và sớm nhận diện được hiện tượng đa cộng tuyến khi các biến độc lập có tương quan mạnh với nhau

*Tương quan Pearson R có giá trị dao động từ 1 đến 1 và chỉ có ý nghĩa khi sig

-<0.05

● Nếu r càng tiến về 1, 1: tương quan tuyến tính càng mạnh, càng chặt chẽ Tiến

-về 1 là tương quan dương, tiến -về 1 là tương quan âm

-● Nếu r càng tiến về 0: tương quan tuyến tính càng yếu

● Nếu r = 1: tương quan tuyến tính tuyệt đối, khi biểu diễn trên đồ thị phân tán Scatter, các đường biểu diễn sẽ nhập lại thành 1 đường thẳng

● Nếu r = 0: không có mối tương quan tuyến tính Lúc này sẽ có hai tình huống xảy ra Một, không có một mối liên hệ nào giữa hai biến Hai, giữa chúng có mối liên hệ phi tuyến

* Tương quan Pearson sẽ chỉ ra mối liên hệ giữa các biến độc lập với nhau và mối liên hệ giữa các biến độc lập với các biến điều tiết

● Cần chú ý hệ số sig, nếu sig chỉ xuất hiện ở các biến độc lập tức là tại đó ta so sánh mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau Nếu sig < 0.05 thì sẽ xét hệ số

Ngày đăng: 05/12/2023, 05:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w