KHÁI NIỆM Theo khoa học luật dân sự trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu "là bộphận hợp thành của chế định trách nhiệm dân sự; là quan hệ pháp luật dân sự phátsinh giữa chủ thể gây
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP NHÓM Môn Pháp luật Đại cương
Đề bài: Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thực thi thực tiễn tại Việt Nam
Lớp học phần: LUCS1129(222)_17
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Phạm Đức Chung
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Hà Nội – 6/2023
Trang 2MỤC LỤC Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 2
1.1 KHÁI NIỆM 2
1.2 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 2
1.3 NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 3
1.4 NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN 4
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC THI TẠI VIỆT NAM 8
2.1 GÂY THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT 8
2.2 THIỆT HẠI THỰC TẾ 9
2.3 THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN 11
2.4 THIỆT HẠI VỀ TINH THẦN DO TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM 11
2.5 TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TỔ CHỨC KINH DOANH HÀNG HÓA 13
2.6 MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG THỰC TIỄN 14
2.7 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LUẬT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
PHỤ LỤC 20
PHỤ LỤC 1: CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 20
PHỤ LỤC 2: PHÂN CHIA CÔNG VIỆC TỪNG THÀNH VIÊN 23
1
Trang 3Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1 KHÁI NIỆM
Theo khoa học luật dân sự trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu "là bộphận hợp thành của chế định trách nhiệm dân sự; là quan hệ pháp luật dân sự phátsinh giữa chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại; là biện pháp cưỡng chế ápdụng đối với chủ thể có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho chủ thể khác."Theo một quan điểm khác thì "trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh dưới tác động trực tiếp của các quy phạmpháp luật, khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoàihợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồithường thiệt hại do mình gây ra
Như vậy, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sựphát sinh bên ngoài, giữa các chủ thể, bên có lỗi, gây hại đến tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, uy tín tài sản, quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân vàcác chủ thể khác
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm hình sự.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với mọi cá nhân,pháp nhân và các chủ thể khác nhưng trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá
nhân hoặc pháp nhân thương mại.
1.2 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Bộ luật dân sự 2015 đã có những quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho bên bị hại Theo đó, tráchnhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:
Một là, có thiệt hại xảy ra Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc
sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một
2
Trang 4lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán đượcthành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đauthương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòngtin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Hai là, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật
trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông quahành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của người khác, bao gồm: làm những việc mà pháp luật cấm, khônglàm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luậtcho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyênnhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tínhquy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếutrong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng mộtkhả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại
Thời điểm xác định trách nhiệm: Phát sinh từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệthại
1.3 NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong điều 558
Bộ luật dân sự 2015:
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thểthỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặcthực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác
3
Trang 5- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồithường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tếcủa mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặcbên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyềnkhác thay đổi mức bồi thường
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thườngphần thiệt hại do lỗi của mình gây ra
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy
ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hạicho chính mình
Bên vi phạm pháp luật gây thiệt hại có nghĩa vụ bù đắp toàn bộ thiệt hại mà bên
bị vi phạm đã phải gánh chịu bồi thường phải kịp thời mức bồi thường có thể do haibên tự thỏa thuận không tự thoả thuận được thì sẽ do cơ quan có thẩm quyền xácđịnh.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối vớingười có hành vi trái pháp luật thì còn áp dụng đối với người khác như cha mẹ củangười chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đốivới người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề…
1.4 NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA
CÁ NHÂN
Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây thiệt hại ngoài hợp đồngđược quy định tại điều 586 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường
- Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phảibồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường màcon chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thườngphần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này
4
Trang 6Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồithường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phảibồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì ngườigiám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu ngườiđược giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám
hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh đượcmình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồithường.”
Theo quy định trên thì việc xác định trách nhiệm của cá nhân gây thiệt hại ngoàihợp đồng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên các mức độ năng lựchành vi dân sự khác nhau:
- Mức độ thứ nhất: Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải
tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra Điều này xuất phát từ “khả năng bằng hành vicủa họ tự tạo ra quyền và thực hiện nghĩa vụ” Như vậy, người có đầy đủ năng lựchành vi dân sự, người đã thành niên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình,phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình và không phụ thuộc vào tình trạngtài sản của bản thân người này Người đã thành niên có hành vi gây thiệt hại chongười khác phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình và có
đủ tư cách làm bị đơn dân sự trước tòa án, là người có trách nhiệm dân sự bồithường toàn bộ thiệt hại
Theo quy định trên thì nhằm hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân khitham gia vào quan hệ giao dịch dân sự mà có liên quan đến tài sản của người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự nhưng không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sựcủa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi có hành vi gây thiệt hại cho ngườikhác Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người đã trưởng thành, phải chịutrách nhiệm về mọi hành vi của mình vì khi tham gia giao dịch dân sự, chủ thể tự
5
Trang 7Pháp luật
50
tóm tắt nội dung plđc chương 123Pháp luật
đại cương 99% (98)
14
Đề cương pháp luật đại cương
đại cương 99% (80)
14
ĐỀ CƯƠNG PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG…
32
Trang 8mình tham gia theo ý chí ,tự nguyện, tự do, tự định đoạt và có nhiệm vụ thực hiệncác quyền và nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản của mình.
- Mức độ thứ hai: Với những người dưới 18 tuổi bao gồm 3 trường hợp:
Trường hợp 1: Người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ
phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, theo đó, cha mẹ của người gây thiệt hại trong độtuổi này có tư cách là bị đơn dân sự trước tòa án Nếu tài sản của cha mẹ không đủ
mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu.Tráchnhiệm của cha, mẹ người dưới 15 tuổi phải bồi thường thiệt hại do con chưa thànhniên gây ra là trách nhiệm pháp lý, không cần có điều kiện lỗi Việc lấy tài sản củacon để bồi thường trong trường hợp này không được hiểu là nghĩa vụ bổ sung màchỉ là khắc phục phần còn thiếu về tài sản
Trong quan hệ bồi thường thiệt hại thì cha mẹ của người dưới mười lăm tuổi
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn người con trực tiếp gây thiệt hại không phải
là chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.Việc lấy tài sản của con là đểbảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại và nhằm bảo vệnguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời Ngoài ra, cũng có trường hợp nhữngngười dưới 15 tuổi ,người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thờigian ở trường học, bệnh viện quản lý thì trường hợp, bệnh viện phải bồi thường
“Thời gian quản lý” được hiểu là thời hạn trong đó các tổ chức theo quy địnhcủa nghề nghiệp có nghĩa vụ giáo dục, chữa bệnh mà họ đã không thực hiện chứcnăng của họ, do lỗi của họ quản lý không tốt, người không có năng lực hành vi,người dưới mười lăm tuổi gây ra thiệt hại cho những người khác (như tổ chức laođộng cho các học sinh không tốt, không có các biện pháp an toàn, bảo hộ, việc nhânviên bệnh viện không có biện pháp quản lí các bệnh nhân tâm thần…) Nếu các tổchức trên không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường
Trường hợp 2: đối với những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình và người này là chủ thể bồithường thiệt hại Pháp luật quy định người từ đủ 15 tuổi gây thiệt hại có trách nhiệmbồi thường thiệt hại là căn cứ vào điều kiện xã hội thực tế Bộ luật lao động quy định
6
Pháp luật
ĐỀ THI PLDC ĐÃ THI 01
Pháp luậtđại cương 98% (46)
10
Trang 9những người từ đủ mười lăm tuổi được tham gia giao kết hợp đồng lao động vớinhững công việc phù hợp với nhận thức và sức khỏe của người đó.
Theo đó, những người ở độ tuổi này tham gia lao động và được hưởng cáckhoản tiền lương ,tiền thưởng và các khoản phúc lợi khác và là chủ sở hữu với cáckhoản thu nhập hợp pháp đó Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì nhữngngười trong độ tuổi này có quyền tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơnhoặc bị đơn dân sự trước tòa án Người ở độ tuổi này đã nhận thức được hành vi củamình và phần nào cũng tự định đoạt ý chí tham gia vào các quan hệ dân sự phổ biếntrong cuộc sống Pháp luật đã dựa vào những cơ sở này để quy định năng lực chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại của người ở độ tuổi này
Xét về tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự thì cá nhân trong độtuổi này có một phần năng lực hành vi dân sự, họ có trách nhiệm về hành vi củamình trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mìnhgây ra bằng tài sản của mình Nếu những người này không đủ tài sản để bồi thườngthì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
Trường hợp 3: Địa vị pháp lí của người giám hộ hoàn toàn khác biệt so với địa vị
pháp lí của người là cha, mẹ của những người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự Người giám hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có lỗi trongviệc thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ mà để người được giám hộ gây thiệt hạicho người khác Người giám hộ đương nhiên, giám hộ được xử đối với những ngườiphải có giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường Ngườigiám hộ có nghĩa vụ bổ sung.Tuy nhiên, nếu họ chứng minh được rằng họ không cólỗi trong việc giám hộ thì họ không phải lấy tài sản của mình để bồi thường Trongtrường hợp này sẽ không có người bồi thường thiệt hại bởi những người được giám
hộ không có khả năng về năng lực hành vi để bồi thường nên người bị thiệt hại trongtrường hợp này xem như phải chịu rủi ro
Theo quy định người từ đủ 15-18 tuổi không còn cha, mẹ, cha mẹ mất nănglực hành vi không buộc phải có người giám hộ Theo nguyên tắc chung người từ đủ
7
Trang 1015 tuổi đến 18 tuổi phải chịu trách nhiệm dân sự, do vậy nếu có hành vi gây thiệt hại
thì lấy tài sản của họ để bồi thường.
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC THI TẠI VIỆT NAM
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những loạitranh chấp dân sự phổ biến hiện nay Trong đó, tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệthại do sức khoẻ bị xâm phạm; do tính mạng bị xâm phạm, do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm đã có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướngdẫn áp dụng pháp luật nên việc giải quyết tranh chấp của các cấp Tòa án khá toàndiện, triệt để, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự Tuy nhiên,việc xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và mức bồithường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất vềtinh thần còn có vướng mắc trên thực tế Dưới đây là thực tiễn việc áp dụng bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Việt Nam
2.1 GÂY THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua tồn tại những cách hiểu khác nhau
về tính trái pháp luật có thể dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử khi đánh giácác chứng cứ liên quan đến hành vi trái pháp luật Về mặt luật thực định và tínhthống nhất của BLDS, giữa hai cách hiểu trên thì nên áp dụng cách diễn giải thứnhất, tính trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng tớihậu quả sẽ phù hợp với chức năng của chế định từ góc nhìn lý thuyết bù đắp thiệt hạitrong trường hợp chủ thể bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp
Xét bản án hình sự 26/2023/HS-PT ngày 07/02/2023 về tội cố ý gây thương tích của TAND tỉnh Quảng Ngãi:
Chiều ngày 15/01/2022, Nguyễn Nhật T1 đi cùng với một thanh niên đến tiệmtạp hoá của bà Nguyễn Thị Thanh H để mua hàng hóa Lúc này bà H nhờ T1 vàngười thanh niên trên đi cùng bà H đến nhà ông Huỳnh Văn H1 để đòi nợ Nghe vậyT1 và người thanh niên đồng ý, cả ba người cùng đến nhà ông H1 nhưng không cóông H1 ở nhà, bà H gặp vợ ông H1 là Nguyễn Thị C, bà C hẹn đến ngày 22/01/2022
8
Trang 11âm lịch sẽ trả tiền cho bà H Sau đó mọi người ra về Đến khoảng 15 giờ 40 phút,ngày 16/01/2022, Nguyễn Nhật T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Ultimo,màu đen, biển số 76Z1-3262 chở Nguyễn Hoài B đến nhà ông H1 để tiếp tục đòi nợ.Khi đến nhà ông H1, T1 và ông H1 nói chuyện được một lúc thì xảy ra cãi vã, sau
đó T1 lấy xe đi về Lúc dắt xe T1 nói với ông H1 “Mày chờ xí tao quay lại bây giờ”,ông H1 nghe vậy vào nhà lấy một khúc gỗ chạy ra đánh T1 T1 nhặt một chậu câygần chỗ T1 đang đứng ném về phía của ông H1 nhưng không trúng rồi bỏ chạy vàomột con hẻm gần đó Ông H1 tiếp tục tiến đến chỗ B đang đứng, dùng khúc gỗ đánhtrúng vào chân trái của B nhưng không gây thương tích Lúc này ông H1 bị trượtchân ngã ra phía sau và làm rơi khúc gỗ, ông H1 ngã tư thế nằm ngửa, co hai chânlên thủ thì B cầm dao đâm nhiều cái vào vùng chân của ông H1, trong đó có mộtnhát trúng vào phía sau đùi phải của ông H1 gây thương tích Sau đó được mọi canngăn thì T1 chở B bỏ đi Ông H1 được người thân đưa đi cấp cứu và điều trị tạiBệnh viện Phúc Hưng, tỉnh Quảng Ngãi
Tại giai đoạn sơ thẩm, bị hại Huỳnh Văn H1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Hoài B bồithường số tiền: 411.000.000 đồng nhưng không cung cấp các tài liệu chứng cứ nào
để chứng minh thiệt hại Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30/9/2022 bị hại Huỳnh VănH1 khai: “Khoản bồi thường thiệt hại do sức khỏe của bị hại bị xâm phạm để tự haibên thỏa thuận riêng” (Bút lục 224) nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét xử lý vềphần trách nhiệm dân sự Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết phần dân sự
do các bên tự thỏa thuận nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sẽ không đảm bảo chế
độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm quy định tại Điều 27 Bộ luật tố tụng hình sự Do đó,Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo này của bị hại Bị hại có quyềnkhởi kiện một vụ án dân sự khác về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dosức khỏe bị xâm phạm tại Tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo quy địnhcủa pháp luật
2.2 THIỆT HẠI THỰC TẾ
Một nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “Thiệt hại thực tế phảiđược bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường,
9
Trang 12hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phươngthức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện nay không có hướng dẫn cụ thể thế nào là thiệt hạithực tế và cơ sở để xác định thiệt hại thực tế dựa trên nguồn nào, tuy nhiên tùy từng
vụ án thì Tòa án thường có những đánh giá chứng cứ khác nhau
Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2019/DS-ST ngày 06/5/2019 của TAND thị
xã T, tỉnh B về vụ án “Yêu cầu bồi thường thiệt hại” giữa nguyên đơn là ông Thái Văn T với bị đơn là ông Nguyễn Công Tr
Nội dung: Trong quá trình sử dụng đất, năm 2013 ông T phát hiện ông Tr khaithác khoáng sản làm sụt lở đất của ông T (thửa số 52) Ông Tr có giấy phép khaithác khoáng sản số 15 Thửa đất số 28 ông Tr khai thác khoáng sản có một cạnh giápvới thửa đất của ông T Phía nguyên đơn cho rằng: việc khai thác khoáng sản của bịđơn làm sụt lở đất của nguyên đơn Còn phía bị đơn cho rằng: Tiếp giáp thửa 28 vàthửa 52 có dòng nước chảy từ đường ĐH 423 đổ xuống qua hai thửa đất làm sụt lởmột phần thửa 28 của ông Tr Tiếp giáp thửa 28 và thửa 52 có dòng nước chảy từđường ĐH 423 đổ xuống qua hai thửa đất làm sụt lở một phần thửa 28 của ông Tr Tòa án cấp sơ thẩm nhận định rằng hành vi khai thác đất của ông Tr là có thật,đại diện bị đơn thừa nhận việc khai thác đất cạnh phần đất của ông T và đồng ý gia
cố, lắp cống, đổ đất để khắc phục cho nên có căn cứ xác định hành vi khai thác đất ởthửa đất số 28 là một trong những nguyên nhân gây ra sạt lở đất ở thửa số 58 Ông
Tr là chủ công trình khai thác đất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo qui địnhtại Điều 627 BLDS năm 2005 Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 01/11/2017của Tòa án nhân dân thị xã T, có cơ sở xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại vềquyền sử dụng đất của ông T ngoài việc do ông Tr khai thác đất còn có đường nướcchảy qua, địa hình dốc, trời mưa gây sụt lở đất Như vậy, ngoài hành vi khai thác đấtcủa ông Tr còn có yếu tố tự nhiên, thời tiết gây ra sụt lở Thực tế, thiệt hại xảy ra donguyên nhân chứ không phải do hành vi khai thác đất của ông Tr cho nên có cơ sởxác định ông Tr chỉ có ½ lỗi gây ra thiệt hại Như vậy, Tòa án nhân dân thị xã T xác
10