1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) đề bài phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức liên hệ với quan niệm về hôn nhân của thanh niên việt nam hiện nay

20 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức Liên Hệ Với Quan Niệm Về Hôn Nhân Của Thanh Niên Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Đinh Thụy Thu Uyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết Học Mác – Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

V.I Lênin cũng chỉ rõ: “không thể đem lại cho hai khái niệm nhận thức luận này một định nghĩa nào khác ngoài cách chỉ rõ ràng trong hai khái niệm đó, cái nào được coi là có trước” - Theo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

BÀI TẬP LỚN

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

ĐỀ BÀI: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Liên hệ với quan niệm về hôn nhân của thanh niên Việt Nam hiện nay

Họ và tên: Đinh Thụy Thu Uyên

Mã sinh viên: 11226803 Lớp: TH MLN 13

HÀ NỘI – 2022 MỤC LỤC

Trang 2

MỤC LỤC 2

LỜI MỞ ĐẦU 2

I Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của Triết học 3

1 Vật chất: 3

1.1 Khái niệm về vật chất theo quan điểm của Triết học Mác - LêNin: 3

1.2 Phương thức tồn tại của vật chất: 5

1.3 Hình thức tồn tại của vật chất: 6

2 Ý thức: 7

2.1 Nguồn gốc của ý thức: 7

2.2 Bản chất của ý thức: 10

2.3 Kết cấu của ý thức: 11

3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: 12

II Liên hệ với quan niệm về hôn nhân của thanh niên Việt Nam hiện nay 15 1 Đặt vấn đề: 15

1.1 Khái niệm về hôn nhân: 15

1.2 Vấn đề về hôn nhân: 15

2 Quan niệm về hôn nhân của thế hệ trước: 16

3 Quan niệm về hôn nhân của thanh niên Việt Nam hiện nay 16

3.1 Tình yêu: 17

3.2 Kết hôn: 17

3.3 Nền tảng của việc xây dựng hôn nhân bền vững: 19

3.4 Xu hướng chia sẻ cuộc sống hôn nhân của giới trẻ hiện nay: 20

4 Quan điểm cá nhân: 20

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

“Tình yêu là lý tưởng, hôn nhân là thực tế” Hôn nhân là một cuốn mốc quan trọng của cuộc đời mỗi con người Để tiến đến một cuộc hôn nhân lâu dài, con người cần phải trải qua một thời kỳ tìm hiểu, trải qua các nghi thức, tới quá khứ cho đến hiện tại, các quan niệm về hôn nhân, nghi thức, trang phục, quà cáp, cũng dần thay đổi làm cho các phong tục truyền thống cũng có sự thay đổi theo Triết học Mác-Lênin góp phần không nhỏ vào việc duy trì sự tồn tại về tư duy, quan điểm cũng như nền tảng cơ bản của hôn nhân xưa và nay

Hiện nay, triết học là một bộ phận gắn liền và không thể tách rời trong bất

kỳ hình thái kinh tế xã hội nào Với những vấn đề Triết học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, luôn là cơ sở, nền tảng, là phương hướng cho hôn nhân ở Việt Nam hiện nay dù ở bất kỳ thời đại nào Bản thân em muốn có những tìm hiểu sâu hơn, có những suy nghĩ sâu sắc, đúng đắn hơn về quan niệm trong hôn nhân Đó là lý do em chọn đề tài này trong số 2 đề tài được giao Thông qua bài tập lớn, em muốn vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

để liên hệ với quan niệm về hôn nhân của thanh niên Việt Nam ngày nay Nội dung bài tập lớn của em sẽ được thể hiện qua 2 phần lớn chính là:

I Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của Triết học

II Liên hệ với quan niệm về hôn nhân của thanh niên Việt Nam hiện nay Trong quá trình thực hiện bài tập lớn, em sử dụng nguồn tham khảo chính là giáo trình triết học Mác-Lênin Do bộ giáo dục và đào tạo làm chủ biên và những nguồn tham khảo khác được trích dẫn tương ứng trong bài Em rất mong nhận được sự góp ý, và những lời nhận xét quý báu từ giảng viên TS Nguyễn Thị lê Thư trong bài tập lớn đầu tiên này!

Em xin chân thành cảm ơn!

I Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của Triết học

1 Vật chất:

1.1 Khái niệm về vật chất theo quan điểm của Triết học Mác - LêNin:

- Trong quá trình phát triển kéo dài, để phản bác lại chủ nghĩa duy tâm,

Trang 1

Trang 4

thuyết bất khả tri và chủ nghĩa duy vật siêu hình, C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin

đã đưa ra những tư tưởng rất quan trọng về vật chất

- Lênin đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa cho phạm trù này, với tư cách là một phạm trù triết học và đem đối lập với phạm trù ý thức trên phương diện nhận thức luận cơ bản V.I Lênin cũng chỉ rõ: “không thể đem lại cho hai khái niệm nhận thức luận này một định nghĩa nào khác ngoài cách chỉ rõ ràng trong hai khái niệm đó, cái nào được coi là có trước”

- Theo Lênin, Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chép lại, chụp lại, phản ánh và nó tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác ( Theo Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán)

- Định nghĩa vật chất của Lênin bao hàm các nội dung sau:

+ Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài

ý thức và không lệ thuộc vào ý thức

+ Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác

+ Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó

- Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của triết học Mác – Lênin: Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng; cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chống lại chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trong triết học tư sản hiện đại về phạm trù này Nó còn tạo sợi dây liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tạo thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo nên nền tảng lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của duy vật lịch sử

Trang 5

- Về phần mình, C.Mác không đưa ra bất kỳ một định nghĩa cụ thể nào về vật chất nhưng vẫn vận dụng đúng đắn quan điểm duy vật biện chứng để phân tích các vấn đề chính trị - xã hội Đặc biệt trong phân tích quá trình sản xuất vật chất của xã hội, ngoài ra còn mở rộng quan điểm duy vật biện chứng về vật chất

để phân tích tồn tại xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

- Còn với Ph.Ăngghen, theo ông thì để có một quan niệm đúng về vật chất thì cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học với bản thân các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất Vật chất với tính cách là vật chất, là sáng tạo thuần túy của tư duy và đồng thời cũng

là một trừu tượng thuần túy, không có sự tồn tại cảm tính Ông cũng chỉ ra rằng, bản thân phạm trù vật chất cũng không phải sự sáng tạo tùy tiện của con người

mà là kết quả của con đường trừu tượng hóa của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng có thể cảm biết được bằng các giác quan

- Đặc biệt, Ph.Ăngghen khẳng định rằng, về thực chất, nội hàm phạm trù vật chất chẳng qua là sự tóm gọn, tập hợp theo những thuộc tính chung của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất

- Từ nghiên cứu lịch sử của C.Mác và Ph.Ăngghen rút ra được, vật chất trong xã hội chính là sự tồn tại, tồn tại ở đây chính là bản thân con người cùng với những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người, hoạt động vật chất và những quan hệ vật chất giữa người với người

1.2 Phương thức tồn tại của vật chất:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất

- Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể

từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

- Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong

Trang 3

Trang 6

vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất

- Dựa trên thành tựu khoa học trong thời đại mình, Ăngghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội

- Các hình thức vận động nói trên được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Các hình thức vận động khác nhau

về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó: hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có

- Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp ngành khoa học tư tưởng về sự thống nhất nhưng khác nhau về chất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại khuynh hướng đánh đồng các hình thức vận động hoặc quy hình thức vận động này vào hình thức vận động khác trong quá trình nhận thức

- Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính

cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ đã khẳng định vận động là vĩnh viễn Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời

và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động

1.3 Hình thức tồn tại của vật chất:

- Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất:

- Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định và tồn tại trong những mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,…Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời

Trang 7

Discover more from:

UML232

Document continues below

Ngôn ngữ mô hình

hóa thống nhất

Đại học Kinh tế Quốc dân

14 documents

Go to course

Classdiagram - Sơ đồ lớp (class diagram)

Ngôn ngữ mô hình hóa

1

Tú-Phương-1 - dai hoc kinh te quoc dan

Ngôn ngữ mô hình hóa

2

2011 008254 OK

-lkjhgfdjhbgvcxnbvcx

Ngôn ngữ mô hình hóa

30

Thuvienhoclieu.com-Bai-tap-TA-10- Global- Success-…

Ngôn ngữ mô hình hóa

17

Trachnhiem A

-gfgcgnfcgfcbgvmbj,hbjhgvhgv

Ngôn ngữ mô hình hóa

2

Trang 8

- Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời

gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”

Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất

tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại

ngoài vật chất vận động

- Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên

không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật chất,

đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn

- Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều còn thời gian chỉ có một

chiều tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian biểu hiện hình

thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động

2 Ý thức:

Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lênin là một phạm trù được

quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất

khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mối

quan hệ biện chứng với vật chất

2.1 Nguồn gốc của ý thức:

- Nguồn gốc tự nhiên:

+Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức, trong đó, hai

yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới

khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo

+Về bộ óc người: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao

là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của

bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu

quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc Điều này lý giải tại sao

quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận

thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh

lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc

+Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình

phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan

là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế

Trần phú - qTyhdruzryrj

Ngôn ngữ mô hình hóa

8

Trang 9

giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức

+Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng

+Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức, trình độ: phản ánh vật lý, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của các dạng vật chất tự nhiên

+Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý - hóa qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động

+Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật

có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống

+Phản ánh tâm lý là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh thông qua cơ chế phản xạ

có điều kiện

+Phản ánh năng động, sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có

tổ chức cao nhất là bộ óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện

ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh năng động, sáng tạo này được gọi là ý thức

- Nguồn gốc xã hội:

Trang 6

Trang 10

+Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức; trong đó, cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ

+Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Lao động cũng là quá trình vừa làm thay đổi cấu trúc cơ thể người, vừa làm giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động, v.v của nó qua những hiện tượng mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động đến bộ óc người và bằng hoạt động của bộ

óc, tri thức nói riêng, ý thức nói chung về thế giới khách quan hình thành và phát triển

+Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung

ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thế hiện

+Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính xã hội Mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ, con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thể hệ này qua thế hệ khác

+Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động

là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, đã làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức

2.2 Bản chất của ý thức:

- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm — sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ảnh còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, v.v trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản chất, quy luật

Ngày đăng: 05/12/2023, 05:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w