DANH MỤC BẢNGBảng 1: Phân tích các biến quan sát Bảng 2: Thước đo hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online tại ứng dụng GrabMart của các bà nội trợ trên địa bàn TP.. Hà Nội Bảng 3: Cơ cấu m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HỌC PHẦN NGHIÊN CỨU MARKETING
BẢN BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU HÀNH VI SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĐI CHỢ ONLINE QUA ỨNG DỤNG GRABMART CỦA BÀ NỘI TRỢ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THU THẬP, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 8
2 Đánh giá tần suất và tính tỷ lệ phần trăm của các biến 23
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phân tích các biến quan sát
Bảng 2: Thước đo hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online tại ứng dụng GrabMart của các bà nội trợ trên địa bàn TP Hà Nội
Bảng 3: Cơ cấu mẫu nghiên cứu
Bảng 4: Tần suất sử dụng dịch vụ đi chợ GrabMart
Bảng 5: Tiêu chí lựa chọn cửa hàng trên GrabMart
Bảng 6: Mối quan hệ giữa thu nhập và mức chi tiêu trung bình cho mỗi lần đi chợ online trên GrabMart
Bảng 7: Mối quan hệ giữa nhóm tuổi và loại sản phẩm thường được tiêu dùng trên GrabMart
Bảng 8: Kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo Cách thức sử dụng dịch vụ đi Bảng 9: Kiểm định Cronbach’s Alpha lần 2 cho thang đo Cách thức sử dụng dịch vụ đi chợ GrabMart
Bảng 10: Kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo Lý do sử dụng dịch vụ đi chợ GrabMart
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Mô hình nghiên cứu của nhóm
Hình 2: Quá trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
Hình 3: Quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu Marketing
Hình 4: Quy trình cơ bản thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
Hình 5: Đặc điểm của mẫu theo độ tuổi
Hình 6: Đặc điểm của mẫu theo thu nhập
Hình 7: Đặc điểm của mẫu theo vùng địa lý
Hình 8: Tiêu chí lựa chọn cửa hàng trên GrabMart
Hình 9: Thời gian sử dụng GrabMart phổ biến nhất trong tuần
Hình 10: Thời gian sử dụng GrabMart phổ biến nhất trong ngày
Hình 11: Mối quan hệ giữa thu nhập và mức chi tiêu trung bình cho mỗi lần đi chợ online bằng GrabMart
Hình 12: Mối quan hệ giữa nhóm tuổi và loại sản phẩm thường được tiêu dùng trên GrabMart
Hình 13: Mô hình nghiên cứu mới
Hình 14: Bảng hỏi online của nhóm xây dựng bằng Google Form
Trang 5CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CUỘC
NGHIÊN CỨU
1 Bối cảnh nghiên cứu
Chợ - địa điểm thân thuộc, gần gũi với mọi gia đình Việt Nam qua nhiều thế hệ, là nơi chứađựng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp Dù trong thời hiện đại, dưới sự phát triểnkhông ngừng của khoa học kĩ thuật, chợ truyền thống vẫn duy trì và giữ cho mình một chỗđứng nhất định
Tuy nhiên, trải qua những tác động của đại dịch Covid 19 dẫn đến sự thay đổi đáng kể trongthói quen tiêu dùng của nhiều hộ gia đình, xu hướng người tiêu dùng mua hàng online ngàycàng tăng Gần đây Lazada đã thực hiện một cuộc khảo sát và đã cho ra kết quả rằng hơn85% người được khảo sát có xu hướng chi nhiều tiền hơn chỉ phục vụ cho việc mua sắmonline, đặc biệt từ sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát và đợt cách ly diễn ra Cùng với đó,các chợ truyền thống cũng đang bị vây quanh bởi các ông lớn như Bách hóa Xanh,Vinmart+, Co.op Food, SatraFoods đã và đang tham gia cạnh tranh thị phần Đứng trướcnhững khó khăn ấy, các chợ truyền thống buộc phải “chuyển mình” để thích nghi với xuhướng tiêu dùng chung
Nắm bắt được những điều trên, đầu năm 2020, Grab tiên phong cho ra đời dịch vụGrabMart với mục tiêu chính là số hóa chợ truyền thống - lần đầu tiên điều này được thựchiện trên 1 nền tảng và ứng dụng tại Việt Nam Dù đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực côngnghệ, kinh doanh số nhưng Grab cũng phải đối mặt với những khó khăn nhất định Vậy để
có được sự tin tưởng của khách hàng và tạo được cho họ thói quen đi chợ online trênGrabMart, các nhà quản lý cần có sự tìm hiểu sâu sắc những hành vi sử dụng của người tiêudùng từ đó đưa ra những quyết định, giải pháp đúng đắn và phù hợp nhất cho các hoạt độngcủa dịch vụ GrabMart
2 Lý do nghiên cứu
Tại Việt Nam, mua sắm trực tuyến nói chung và mô hình dịch vụ “đi chợ hộ" nói riêng đangngày càng trở nên phổ biến và mở rộng với quy mô lớn, đặc biệt kể từ khi xảy ra đại dịchCovid-19 Chính bởi ảnh hưởng của đại dịch, nhu cầu tìm kiếm những cửa hàng thiết yếutrên môi trường online tăng mạnh, người dân dành sự quan tâm đặc biệt đến thực phẩm tươisống, đồ uống, thực phẩm đóng gói và rau củ quả đảm bảo dinh dưỡng, an toàn vệ sinh
Nắm bắt xu hướng này, Grab triển khai thêm tính năng GrabMart với hy vọng mang đếnmột cầu nối để nâng cao trải nghiệm đi chợ trong bối cảnh sống hiện đại, vừa giữ vững đượcnhững giá trị tốt đẹp của chợ truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu sống tiện lợi hơn, dễ dànghơn
Việc đi chợ online không chỉ giúp cho người tiêu dùng trải nghiệm việc mua sắm dễ dàng,tiết kiệm thời gian, chi phí di chuyển, mà người dùng còn dễ dàng so sánh giá cả và được
Trang 6hưởng nhiều chính sách ưu đãi từ GrabMart Tuy nhiên đây vẫn còn là một mô hình mới,khó có thể tránh được những khó khăn vì văn hoá đi chợ truyền thống của người Việt Namvẫn luôn được duy trì từ trước đến nay và sự hạn chế về số lượng cửa hàng liên kết chưa đủ
để thu hút thêm nhiều người dùng
Chính vì thế nên nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hành vi sử dụngdịch vụ đi chợ online của bà nội trợ qua GrabMart” nhằm tìm hiểu hành vi người tiêu dùng,
cụ thể là các bà nội trợ để từ đó đề xuất cho doanh nghiệp những giải pháp nhằm tiếp cậngần hơn với người tiêu dùng
3 Vấn đề nghiên cứu
3.1 Vấn đề nghiên cứu
Sau thời gian dài dưới sự hoành hành của đại dịch Covid-19, nhu cầu và thói quen sử dụngcác dịch vụ trực tuyến thay cho trực tiếp được hình thành và trở nên phổ biến, đó chính là cơhội cho ứng dụng đa chức năng Grab phát triển hơn và nâng cao trải nghiệm của người dùngGrab, đồng thời mở rộng cơ hội tăng thu nhập cho đối tác tài xế, giúp nâng cao hiệu quảkinh doanh cho các thương nhân liên kết GrabMart
Chính vì vậy kế hoạch này được lập ra nhằm nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ đi chợonline của bà nội trợ trên địa bàn TP Hà Nội tại ứng dụng GrabMart Qua đó ban quản trịcủa Grab có thể đưa ra các quyết định, giải pháp cho các vấn đề một cách hợp lý, có căn cứ
sử dụng dịch vụ đi chợ online GrabMart của các bà nội trợ
+ So sánh mức độ khác nhau về các khía cạnh của hành vi sử dụng dịch vụ đichợ online trên GrabMart (thời điểm, lý do, tần suất…) đối với các đặc điểmnhân khẩu học khác nhau (nhóm tuổi, thu nhập) của bà nội trợ
+ Đề xuất các giải pháp marketing cho doanh nghiệp nhằm thúc đẩy các bà nộitrợ sử dụng dịch vụ đi chợ online trên GrabMart
Trang 7Nghiên cứu Markting Chương 1 Bài tập tìn…Nghiên
2
Thiên long - bài tập quản trị kênh phân…Nghiên
43
BẢNG HỎI KHẢO SÁT BẢN ĐẸP
Nghiên
5
Trang 83.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng dịch vụ đi chợ online của các bà nội trợ hiện nay như thế nào?
- Các khía cạnh của hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online trên GrabMart của các bànội trợ là gì và được đo lường như thế nào?
- Có sự khác nhau về các khía cạnh của hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online trênGrabMart giữa các nhóm tuổi, thu nhập… khác nhau của bà nội trợ hay không?
- Giải pháp Marketing nào có thể giúp Công ty TNHH Grab thúc đẩy các bà nội trợ sửdụng dịch vụ đi chợ online trên GrabMart?
4 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: các bà nội trợ, người lo liệu mọi việc hằng ngày trong sinhhoạt của gia đình
- Đặc điểm nhân khẩu học:
● Độ tuổi: từ 25 tuổi đến 55 tuổi
● Giới tính: nữ
● Thu nhập: từ mức 5.000.000 đến 30.000.000 VNĐ
● Tình trạng hôn nhân: đã kết hôn
● Địa lý: địa bàn thành phố Hà Nội
- Đặc điểm hành vi: được xem là người giữ “tay hòm chìa khoá", các bà nội trợ khôngchỉ điều hành và quản lý mọi công việc trong gia đình mà còn là người quyết địnhcho mọi chi tiêu trong gia đình từ việc mua sắm, đi chợ, nấu ăn… Với khách thểnghiên cứu là các bà nội trợ, nhóm tin rằng có thể thu thập được nhiều thông tin hữuích để tiến hành cuộc nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: thành phố Hà Nội
- Thời gian: bắt đầu từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022
5 Mô hình nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu mô hình của các tác giả trên thế giới, nhóm thấy được quá trình muahàng hay sử dụng dịch vụ mua hàng của người tiêu dùng bao gồm nhiều hành vi khác nhau.Nhìn chung, chưa có mô hình cụ thể nào về hành vi sử dụng của người tiêu dùng được đưa
ra từ trước đến nay, nhưng đã có sự thống nhất về quá trình ra quyết định mua và phân loạicác đặc điểm về hành vi mua
Do còn nhiều hạn chế về địa lý, thời gian, kinh phí và nguồn nhân lực nên nhóm đã thựchiện nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online trên GrabMart của các bà nội trợ dựatrên mô hình Wh-question (mô hình các câu hỏi trong Tiếng Anh nhằm lấy thông tin chi tiết
5 - Báo cáo kết ưuar Nghiên cứu các nhâ…Nghiên
71
Bản đề xuất NC MarketingNghiên
21
Trang 9từ người được hỏi) Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm các khía cạnh: lý do sử dụng, đặcđiểm sử dụng, thời điểm sử dụng, tần suất sử dụng và cách thức sử dụng Cụ thể mô hìnhnghiên cứu sẽ là:
Hình 1: Mô hình nghiên cứu nhóm đề xuất
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THU THẬP, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH
DỮ LIỆU
1 Thu thập, biên tập và mã hoá dữ liệu
1.1 Thiết kế nghiên cứu
Sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin, dữ liệu cần thiết, để tiếp tục tiến hành nghiên cứu vềhành vi sử dụng dịch vụ GrabMart, nhóm đã tiến hành lựa chọn loại hình nghiên cứu phùhợp để cho ra kết quả chính xác nhất Cụ thể như sau:
- Dựa theo loại thông tin thu thập:
Cuộc nghiên cứu lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng Khi thực hiệnphương pháp này, nhóm hy vọng dựa theo mô hình lý thuyết có sẵn có thể kiểm tramối quan hệ giữa các biến Từ đấy, nhóm sẽ tiến hành chỉnh sửa và bổ sung thêm cácbiến quan sát để phù hợp với những tiêu chí, những mục tiêu của cuộc nghiên cứu
Sau khi thu thập những dữ liệu liên quan đến các biến đo lường hành vi sử dụng dịch
vụ đi chợ online GrabMart của bà nội trợ trên địa bàn Hà Nội, nhóm sử dụng các kỹthuật phân tích nội dung, kỹ thuật toán học để đưa ra các kết luận chính xác
Để nghiên cứu các đặc điểm liên quan đến các đối tượng nghiên cứu, nhóm sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng để tiến hành phân tích các đặc điểm như nhânkhẩu học, hành vi, tâm lý, Đối với phương pháp này, để thu lại những kết quả,thông tin chân thực và chính xác nhất, nhóm sẽ tiến hành khảo sát cả trực tiếp và trựctuyến để thu về được nhiều dữ liệu hơn Nhóm đã chuẩn bị sẵn bảng hỏi, các câu hỏitrong bảng hỏi được đưa ra nhằm thu về những thông tin cần thiết phục vụ cho việc
How often:
Tần suất sử dụng ?Hành vi sử
dụng dịch vụ
đi chợ online Grabmart của
bà nội trợ trên địa bàn Hà Nội
How: Sử dụng như thế nào ? Why: Tại sao
sử dụng ?
When: Sử dụng vào những thời điểm nào ?
What: Mua sắm những
gì ?
Trang 10nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ GrabMart Các câu hỏi được biên tập dưới dạngcâu hỏi đóng, với những phương án trả lời cho sẵn.
Bảng hỏi đã được nhóm biên tập, ngoài các câu hỏi đóng với các đáp án có sẵn, bảnghỏi còn gồm những câu hỏi mở cho người khảo sát trả lời Hình thức khảo sát có haihình thức chính là khảo sát trực tiếp và khảo sát trực tuyến (online survey) Nhómđăng tải đường link khảo sát trong các group hoặc in phiếu và gửi cho người trả lời.Ngoài ra nhóm tập trung khảo sát trực tiếp, trực tiếp phỏng vấn các đối tượng mụctiêu bằng bảng hỏi trên địa bàn các quận trong nội thành Hà Nội
- Dựa theo mục tiêu của cuộc nghiên cứu:
Phương pháp được nhóm sử dụng chính để tiến hành phân tích là nghiên cứu thống
kê mô tả Sau khi khảo sát, nhóm thu về được những dữ liệu thô liên quan đến hành
vi sử dụng dịch vụ GrabMart của khách thể mục tiêu Từ dữ liệu thô, nhóm đã tiếnhành lọc, loại bỏ những thông tin không đạt tiêu chuẩn và chuyển đổi thành các dạng
dữ liệu thích hợp phục vụ cho việc nghiên cứu và giải thích để tìm ra câu trả lờichính xác và phù hợp nhất với cuộc nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu của nhóm diễn ra theo quy trình sau:
Hình 2: Quá trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
Bước 1: Chuẩn bị
Đối với giai đoạn đầu tiên của quy trình nghiên cứu, nhóm đã lên ý tưởng rõ ràng vềcuộc nghiên cứu, sau khi đã hiểu rõ và xác định được vấn đề cần giải quyết, nhóm đãhình thành được các mục tiêu cần thực hiện và đưa ra các câu hỏi nghiên cứu phục vụcuộc nghiên cứu
Bước 2: Thiết kế cuộc nghiên cứu
Trang 11Sau khi xác định các nguồn thông tin, nhóm lựa chọn phương pháp thu thập thập tin,tiếp đến là triển khai kế hoạch tổng quát, thu thập thông tin và lập kế hoạch phântích, xử lý dữ liệu.
Bước 3: Tiến hành thu thập dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: nhóm tiền hành tập hợp thông tin dựa trên các nguồn đã có sẵn nhưcác trang báo, tạp chí, các tài liệu hoa học có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Dữ liệu sơ cấp: Qua khảo sát trực tuyến và thu thập các phiếu phỏng vấn trực tiếp,nhóm tiến hành sàng lọc, phân tích các số liệu như độ tuổi, thu nhập, và các thông tin
Nhóm sẽ đưa ra những kiến nghị và đề xuất những giải pháp để có thể giúp ứng dụng
“đi chợ hộ" GrabMart tiếp cận nhiều hơn tới khách hàng mục tiêu
Bước 7:
Nhóm triển khai tổng hợp, hoàn thành bản báo cáo nghiên cứu và thuyết trình về bảnbáo cáo nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online trên ứng dụng GrabMartcủa các bà nội trợ trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2 Thiết kế mẫu nghiên cứu
1.2.1 Xác định tổng thể mục tiêu:
Tổng thể mục tiêu nghiên cứu: những người phụ nữ, là bà nội trợ trong độ tuổi từ 25-55, lànhững người thường đảm nhận trách nhiệm và lo liệu mọi việc trong cuộc sống hàng ngàycủa các hộ gia đình
Dấu mốc đánh dấu người phụ nữ chính thức thành một bà nội trợ phổ biến nhất tại Việt Nam
là kết hôn Theo Điều tra biến động dân số 2020 của Tổng cục Thống kê, phụ nữ tại cácthành phố lớn có xu hướng kết hôn từ 24-26 tuổi và con số này đang có xu hướng tăng Khinhững người phụ nữ già đi tức là ngoài độ tuổi lao động (theo Điều 169 Bộ luật Lao động2019: Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động nữ trong điều kiện lao động bìnhthường là đủ 55 tuổi 04 tháng), những bà nội trợ này được hỗ trợ và thay thế trong các côngviệc bếp núc, mua sắm Ngoài ra theo như quan sát của nhóm, thời điểm hiện tại đa số ngườigià trên 55 tuổi nếu sử dụng smartphone thường ít phục vụ nhu cầu mua sắm mà thay vào
đó giải trí nhiều hơn
- Phạm vi: trên địa bàn thành phố HN
- Thời gian: bắt đầu từ tháng 09/2022
Trang 12Dựa vào các đặc điểm nhân khẩu học của khách thể nghiên cứu, nhóm xác định tổngthể mục tiêu nghiên cứu như trên Ngoài ra, theo đúng tiến độ của bài nghiên cứu,nhóm bắt đầu xây dựng nghiên cứu khảo sát từ tháng 09/2022 và tiến hành khảo sátvào tháng 11/2022.
1.2.2 Khung lấy mẫu:
Vì không có nguồn thông tin có sẵn về các bà nội trợ đã và đang sử dụng dịch vụ đi chợonline tại GrabMart, chính vì vậy nhóm đã lập một danh sách các bà nội trợ mới thông quaviệc khảo sát bằng bảng hỏi Để nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ onlineGrabMart của các bà nội trợ, nhóm nhận thấy cần phải hiểu rõ về khách thể nghiên cứuthông qua những thông tin về nhân khẩu học (nghề nghiệp, thu nhập, mức độ chi tiêu choviệc đi chợ hàng tháng…)
Ngoài danh sách phỏng vấn trực tiếp và khảo sát trực tuyến, nhóm cũng thiết lập một sốdanh sách khác để xác định khung lấy mẫu như sau:
- Danh sách địa bàn các vùng dịch tại Hà Nội (quận, phường, xã)
Lý do lựa chọn: Ứng dụng GrabMart bắt đầu trở nên phổ biến sau khi đại dịch bùngphát Do thời gian cách ly diễn ra trong thời gian dài, người dân không thể tự dothoải mái mua sắm tại các khu chợ, cửa hàng, siêu thị… họ dần chuyển qua sử dụngdịch vụ đi chợ hộ trên nền tảng online, không những đáp ứng kịp thời, nhanh chóng,đảm bảo an toàn mà còn đa dạng các mặt hàng phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau Vìvậy, thực hiện khảo sát tại các địa bàn từng bị cách ly do đại dịch để dễ dàng tiếp cậnđến các khách thể nghiên cứu và thu về được lượng thông tin hữu ích cho cuộc khảosát
- Danh sách hội nhóm dành cho các bà nội trợ trên mạng xã hội
Lý do lựa chọn: Các hội nhóm là nơi để các bà nội trợ trò chuyện, trao đổi và chia sẻnhững câu chuyện và kinh nghiệm của bản thân trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.Những thành viên trong nhóm là người thường xuyên cập nhật xu hướng mua hàng,
đi chợ và phổ biến cho các thành viên còn lại Điều này giúp nhóm tìm hiểu đượcthêm về những tiêu chí đánh giá cũng như hành vi tiêu dùng của khách thể nghiêncứu
1.2.3 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu phi xác suất, cụ thể là lấy mẫu đánh giá được nhóm chọn sử dụng cho
đề tài nghiên cứu
Về phương pháp lấy mẫu đánh giá, đây là kỹ thuật lấy mẫu trong đó các phần tử mẫu đượcchọn lựa dựa trên những đánh giá của người nghiên cứu, căn cứ vào một số đặc điểm nhấtđịnh Đối với mẫu nghiên cứu của nhóm, nhóm dự kiến tập trung vào các bà nội trợ từ 25-
55 tuổi ở các quận từng là trọng điểm dịch COVID-19 trên địa bàn Hà Nội Do từng là vùng
bị cách ly nên có khả năng các bà nội trợ sinh sống ở những vùng này sử dụng dịch vụ đi
Trang 13chợ GrabMart nhiều hơn các vùng khác Đồng thời, nhóm cũng đi tới các khu chung cư, cáckhu vực đông dân, dễ tiếp cận để tiến hành khảo sát
Nhờ điểm mạnh của phương pháp lấy mẫu này, nhóm có thể khắc phục yếu tố thời gian, chiphí cũng như nguồn nhân lực để tiến hành cuộc khảo sát Tuy nhiên, nhóm cũng chưa thểkhắc phục hoàn toàn nên các phiếu khảo sát chủ yếu đến từ các quận đông dân, dễ tiếp cận
và từng là vùng dịch Những phiếu này được thu thập và sàng lọc để đạt yêu cầu về sốlượng
1.2.4 Xác định kích thước mẫu (phần tử mẫu)
Nhóm xác định kích thước mẫu gồm 120 phần tử (30 bà nội trợ trả lời cho bảng hỏi trựctuyến, 90 bà nội trợ trả lời cho phỏng vấn trực tiếp)
Vì những giới hạn về nguồn lực, quy mô khảo sát không lớn, nhóm nhận thấy số lượng mẫukhảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích chỉ cần đủ nên nhóm quyết định số lượngmẫu là 120 mẫu
1.3 Thiết kế bảng hỏi
Nhóm đã thiết kế bảng hỏi dựa trên mô hình nghiên cứu đã được nêu ở phần trên xoayquanh các khía cạnh của hành vi và nhằm trả lời những vấn đề được đặt ra ở các câu hỏinghiên cứu bao gồm:
- Thực trạng sử dụng dịch vụ đi chợ online của các bà nội trợ hiện nay như thế nào?
- Các khía cạnh của hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online trên GrabMart của các bànội trợ thể hiện như thế nào và được đo lường ra sao?
- Điểm khác biệt về tần suất, sức mua, loại sản phẩm, phương thức thanh toán, giữacác nhóm tuổi, thu nhập, vùng địa lý khác nhau của các bà nội trợ hay không?Sau khi xác định được những nội dung cần nghiên cứu, nhóm đã xác định những câu hỏicần có trong bảng hỏi Nhóm xây dựng các tiêu chí để đánh giá mức độ phù hợp của câu hỏi
và những kết quả rút ra từ câu hỏi đó để tiến hành chọn lọc Vì sử dụng 2 hình thức là phỏngvấn trực tiếp và bảng hỏi trực tuyến nên các câu hỏi cần có sự sắp xếp và số lượng tối ưucho người tham gia đảm bảo được chất lượng câu trả lời
Phiếu khảo sát của nhóm có bố cục 4 phần chính bao gồm:
- Phần 1: Mở đầu
+ Tiêu đề, lời giới thiệu về nhóm nghiên cứu và mục đích của cuộc nghiên cứu+ Lời cam kết bảo mật thông tin cá nhân và tính trung thực, khách quan của kếtquả nghiên cứu
- Phần 2:
+ Những câu hỏi được biên tập mang tính chất chọn lọc người tham gia khảo sátđược trình bày đầu tiên như: mức độ biết đến, thực trạng sử dụng,
Trang 14+ Các câu hỏi tiếp theo khai thác chuyên sâu hơn về các khía cạnh như mua sảnphẩm gì, ở đâu, khi nào, vì sao, quá trình mua thực hiện như thế nào, thóiquen mua sắm và chi tiêu trên ứng dụng như thế nào,
+ Phần quà dành cho người tham gia khảo sát (online)
Sau khi đưa ra cấu trúc bảng hỏi và các câu hỏi dự kiến, nhóm đã dành 3-4 ngày để thamkhảo ý kiến từ các chuyên gia, giảng viên đại học để đánh giá các khía cạnh xoay quanhmức độ hợp lý của bảng hỏi: nội dung, cấu trúc các câu hỏi, các thang đo đang được sửdụng, độ dài của phiếu khảo sát, Nhóm đã nhận về nhiều ý kiến đóng góp hữu ích sau đó
đã thảo luận và chỉnh sửa nội dung Trong quá trình khảo sát chính thức phía sau đó nhómcũng đã có cập nhật về mặt hình thức để bảng hỏi dễ nhìn, dễ hiểu và tối ưu hơn
1.4 Thu thập dữ liệu và công việc trên hiện trường
1.4.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp cho cuộc nghiên cứu
Hình 3: Quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu Marketing
- Xác định những thông tin cần thiết có thể kể đến như: tình trạng hoạt động củaGrabMart trên địa bàn thành phố Hà Nội, những ưu điểm và khuyết điểm của dịch vụnày, hành vi mua sắm các nhu yếu phẩm, hàng tiêu dùng của các bà nội trợ trên địabàn thành phố Hà Nội…
Trang 15- Tìm kiếm các nguồn dữ liệu - nơi cung cấp các thông tin cần thiết: báo, tạp chí điện
tử, website chính thức của Grab…
- Tiến hành thu thập các thông tin:
+ Sưu tầm các thông tin nghiên cứu phù hợp với đề tài
+ Ghi chú và kiểm tra độ chính xác
- Đánh giá các dữ liệu đã thu thập được:
+ Dữ liệu thứ cấp nhóm tìm được tương đối phong phú và đa dạng nhưng cũngchứa những thông tin không cần thiết, không có giá trị cho cuộc nghiên cứu.+ Những nguồn dữ liệu thứ cấp bên trong nội bộ khó có thể thu thập được do cónhiều hạn chế về bảo mật thương hiệu, quy mô cuộc nghiên cứu
+ Với nguồn dữ liệu thứ cấp bên ngoài, các thông tin có sẵn trên báo,tạp chíđiện tử, mạng xã hội đã được chọn lọc kỹ càng về tính chính xác, độ tin cậy,đảm bảo tính cập nhật
1.4.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp
Nhóm sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu khảo sát (đã được đề cập trongmục 1.3: “Thiết kế bảng hỏi”) và điều tra trực tuyến thông qua bảng hỏi online - GoogleForm
Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp được diễn ra như sau:
Hình 4: Quy trình cơ bản thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
Sau khi tiến hành xây dựng bảng hỏi, trải qua giai đoạn thử nghiệm là phỏng vấn thử vàtham khảo ý kiến chuyên gia, điều chỉnh và đưa ra bảng hỏi đạt yêu cầu Nhóm bắt đầu thựchiện các bước tiếp theo:
- Công khai phiếu khảo sát
Trang 16- Tiếp nhận các phiếu đã trả lời.
- Giải đáp các câu hỏi liên quan, ghi nhận các góp ý (nếu có)
- Liên tục kiểm tra độ đạt chuẩn của các phiếu trả lời Hủy bỏ các phiếu không đạt yêucầu Trình tự này được lặp lại liên tục cho đến khi thu thập đủ số lượng mẫu đã đề ra
Theo kế hoạch, nhóm tiến hành nghiên cứu khảo sát từ ngày 21/11 đến 29/11 Dưới đây làcác bước thực hiện cụ thể:
- Ngày 21/11, mỗi thành viên của nhóm đã bắt đầu gửi bảng hỏi hoàn chỉnh theo formtrực tuyến (đã qua thử nghiệm, tiếp thu nhận xét từ thầy và chỉnh sửa hoàn thiện) tớicác hội nhóm, cộng đồng các bà nội trợ trên địa bàn thành phố Hà Nội Nhóm códành tặng phần quà cho những người thực hiện khảo sát là học bổng giảm giá cáckhóa học tại trung tâm Anh ngữ AMES (do có thành viên nhóm đang làm việc tạiđây) Nhóm lựa chọn tặng học bổng khóa học nhằm tăng động lực tham gia khảo sátcủa các bà mẹ để có cơ hội nhận được học bổng cho con
- Từ ngày 22/11 - 28/11, nhóm thực hiện khảo sát trực tiếp Nhóm bắt đầu từ các quậnnơi các thành viên sinh sống, cụ thể tại khu vực từng bị cách ly do dịch COVID-19,các khu vực đông dân cư và tập trung ở các khu chung cư để tiếp cận với nhiều đápviên
- Ngày 29/11 nhóm ngừng phỏng vấn trực tiếp, đóng form khảo sát để rà soát số phiếu
và kiểm tra chất lượng Dù đã cố gắng tích cực trong công tác khảo sát nhưng nhómchưa thể hoàn thành mục tiêu 120 phiếu khảo sát đạt tiêu chuẩn do gặp phải nhiềukhó khăn về thời gian, địa điểm và số lượng các bà nội trợ sử dụng GrabMart vẫn còn
ít Tổng kết lại nhóm có 107 phiếu thu thập được và 105 phiếu đạt yêu cầu
- Sau khi tổng kết kết quả thu thập dữ liệu, đêm ngày 29/11 nhóm chuẩn bị cho việclàm sạch dữ liệu và tiến hành nhập liệu trên SPSS 22.0
1.5 Xây dựng thang đo
Để xác định được những khúc mắc còn tồn đọng và thúc đẩy hành vi sử dụng dịch vụ đi chợonline GrabMart của các bà nội trợ, bảng hỏi của nhóm được xây dựng theo dạng nghiêncứu định lượng, bao gồm các câu hỏi đóng và thang đo Likert Khách thể nghiên cứu bày tỏquan điểm, ý kiến của mình bằng việc đánh dấu vào đáp án phù hợp và đánh giá các phátbiểu sẵn có dựa trên mức độ từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý
Nhằm thiết lập thang đo cho Bảng khảo sát, nhóm thực hiện nghiên cứu khảo sát địnhlượng, chọn lọc 4 thang đo bao gồm: định danh, thứ bậc, khoảng, tỷ lệ và thang đo Likert 5bậc chứa các câu hỏi đóng Với thang đo Likert được quy ước theo 5 bậc: Hoàn toàn khôngđồng ý, Không đồng ý, Trung lập, Đồng ý, Hoàn toàn đồng ý Dưới đây là thứ tự trình bàycác thang đo trong Bảng khảo sát
Bảng 1: Phân tích các biến quan sát
Trang 17Biến Chỉ số cấu thành Thang đo
Tiêu chí chọn cửa hàng Định danh
Mức tiền chi trả mỗi lần mua Tỉ lệ Chỉ số đo
Tần suất sử dụng trong tuần Thứ bậc
Khoảng thời gian cho mỗi lần sử dụng Khoảng
Trang 18Dựa trên thước đo của mô hình Wh-question, cuối cùng nhóm lựa chọn thước đo cho cuộcnghiên cứu theo 5 khía cạnh:
Lí do sử dụng: liên quan đến các căn cứ giải thích cho việc tại sao các bà nội trợ sử
dụng dịch vụ đi chợ online GrabMart
Đặc điểm sử dụng: liên quan đến các đặc điểm về loại sản phẩm thường mua, số lượng
mua hàng, cửa hàng trên GrabMart và số tiền chi trả cho mỗi lần mua
Thời điểm sử dụng: liên quan đến các mốc thời gian mà các bà nội trợ sử dụng dịch vụ
đi chợ online GrabMart trong ngày, trong tuần
Tần suất sử dụng: liên quan đến số lần các bà nội trợ sử dụng dịch vụ đi chợ online
GrabMart trong tuần, trong tháng và khoảng thời gian của mỗi lần sử dụng
Cách thức sử dụng: liên quan đến quá trình diễn ra hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ
online GrabMart của các bà nội trợ, từ lúc bắt đầu đến trong khi sử dụng, thanh toán và nhậnhàng và cuối cùng là trải nghiệm sau khi sử dụng
Bảng 2: Thước đo hành vi sử dụng dịch vụ đi chợ online tại ứng dụng GrabMart của
các bà nội trợ trên địa bàn TP Hà Nội
HÀNH VI SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĐI CHỢ ONLINE GRABMART
Lí do sử dụng
(A1)
Dễ dàng tìm kiếm cửa hàng yêu thích hoặc sản phẩm cần
Mỗi lần mua hàng trên GrabMart cô/chị thường mua số
lượng bao nhiêu?
Trang 19dụng (A3) Quá bận nên không thể ra ngoài mua sắm A3.2
Sản phẩm cần mua quá nhiều, nặng không tiện tự vậnchuyển
A3.3
Nhận được thông tin ưu đãi tại thời điểm định mua sắm A3.4 Cô/chị thường mua sắm trên GrabMart vào thời gian nàotrong ngày?
Tôi có thể tìm kiếm các cửa hàng và sản phẩm một cách tối
ưu nhất trên GrabMart (nhờ công cụ tìm kiếm, cách sắpxếp )
Trang 20Tôi có thể trao đổi thông tin và nhận được sự hỗ trợ của
shipper trong quá trình chờ nhận hàng
2.1 Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp
Nhóm tìm kiếm thông tin từ các nguồn khác nhau trên Internet như website chính thức củaGrab, số liệu của Cục thống kê, báo chí điện tử… để triển khai thu thập dữ liệu thứ cấp.Tiếp theo nhóm tổ chức sàng lọc và tổng hợp thông tin Nhóm sử dụng nhiều phương phápkhác nhau để phân loại và đánh giá dữ liệu: thống kê dữ liệu theo thời gian, so sánh đốichiếu dữ liệu, phân tích đánh giá…sau đó rút ra thông tin có ích cho GrabMart và dữ liệungười dùng phù hợp, cần thiết để hoàn thiện nền tảng lý thuyết cho bản báo cáo
2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp
Sau khi ngừng thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn và form khảo sát, nhóm bắt đầu tập hợp,kiểm tra và sàng lọc phiếu khảo sát
Nhóm lựa chọn phần mềm IBM SPSS Statistics phiên bản 22.0 để phân tích và thống kê các
số liệu Cụ thể nhóm tiến hành sử dụng SPSS với 3 bước như sau:
- Bước 1 Mã hóa dữ liệu:
+ Độ tuổi: dưới 25 tuổi được biểu thị bằng (1), 25-dưới 40 tuổi (2), 40-dưới 55tuổi (3), trên 55 tuổi (4)
+ Thu nhập: dưới 5 triệu (1), 5-dưới 10 triệu (2), 10-dưới 15 triệu (3), 15-dưới
30 triệu (4), trên 30 triệu (5)
+ Với các câu hỏi về lý do và cách thức sử dụng GrabMart, thang Likert 5 bậcđược sử dụng với quy ước như sau: (1) “Hoàn toàn không đồng ý”; (2)
“Không đồng ý”; (3) “Trung lập”; (4) “Đồng ý” và (5) “Hoàn toàn đồng ý”
- Phân tích đặc điểm mẫu nghiên cứu:
+ Các đặc điểm về nhân khẩu học bao gồm: độ tuổi, thu nhập và khu vực sinhsống được tiến hành thống kê trước
+ Từ kết quả của các bảng thống kê, nhóm đã có sự hình dung rõ hơn về đặcđiểm cá nhân của các bà nội trợ, cũng như đặc điểm của từng nhóm bà nội trợtheo độ tuổi, thu nhập
- Phân tích đặc điểm hành vi sử dụng GrabMart của các bà nội trợ:
+ Nhóm sử dụng kĩ thuật phân tích thống kê mô tả để đo lường hành vi sử dụngGrabMart qua 5 khía cạnh
Trang 21+ Từ những dữ liệu đã thống kê và phân tích, nhóm đã đưa ra những giải pháp,hàm ý marketing thích hợp để nâng cao hơn nữa hành vi sử dụng dịch vụ đichợ online GrabMart của các bà nội trợ.
Sau khi phân tích thống kê mô tả, nhóm tiếp tục phân tích hệ số Cronbach’s Alpha để kiểmtra độ tin cậy của các biến có thang đo Likert Hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha của cácbiến phải từ 0.6 trở lên, như vậy thang đo mới đạt đủ điều kiện Nếu một biến nào đó có hệ
số < 0.6, nhóm sẽ xem xét loại bỏ để đưa ra thang đo hợp lý hơn
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Bảng 3: Cơ cấu mẫu nghiên cứu
Trang 22Thanh Trì 1 1,0%
1.1 Theo độ tuổi:
Hình 5: Đặc điểm của mẫu theo độ tuổi
Dựa vào bảng số liê ’u đã phân tích, có thể thấy các mẫu khảo sát của nhóm sau khi sàng lọc
đã tiếp cận đúng với các khách thể mục tiêu trong khung độ tuổi như đã trình bày ở phầnthiết kế mẫu Cụ thể là nhóm các bà nội trợ từ 40 - dưới 55 tuổi chiếm 48 phiếu với tỷ lệ45,7% và nhóm các bà nội trợ từ 25 - dưới 40 tuổi chiếm 54 phiếu tương ứng với tỉ lệ51,4% Ngoài ra, nhóm dưới 25 tuổi và trên 55 tuổi chiếm thiểu số do không phải khách thểmục tiêu của nhóm nên chiếm tỉ lệ rất nhỏ dưới 2% Đồng thời những người trong nhómtuổi trên 55 tuổi nhóm tiếp cận được hầu như chưa từng sử dụng ứng dụng GrabMart
1.2 Theo thu nhập:
Hình 6: Đặc điểm của mẫu theo thu nhập
Theo bảng số liệu, nhóm các bà nội trợ có mức thu nhập từ 10-15 triệu đồng chiếm tỉ lệ caonhất cụ thể là 43 phiếu với 41% Đứng thứ hai đó là mức thu nhập từ 15-30 triệu chiếm tỉ lệ29,5% (31 phiếu) Tuy nhiên, nhóm thu nhập trên 30 triệu chỉ chiếm 11,4% với 12 phiếu
Trang 23Chênh lệch về tỉ lệ mức thu nhập tương đối cao vì vậy có thể kết quả này không có tính đạidiện cho nhóm thu nhập trên 30 triệu đồng Về nhóm thu nhập dưới 5 triệu, vì đây khôngphải nhóm khách thể mục tiêu đã đề ra trước đó đồng thời mức thu nhập trung bình củangười đi làm trên địa bàn Hà Nội là 6 triệu đồng/tháng (theo Báo Quân đội Nhân dân, 2022)nên kết quả nhóm này chiếm tỉ lệ rất nhỏ là có thể giải thích được.
1.3 Theo vùng địa lý:
Hình 7: Đặc điểm của mẫu theo vùng địa lý
Theo kết quả nghiên cứu trong vùng địa lý, các quận chiếm tỉ lệ người tham gia khảo sátnhiều nhất là Hà Đông, Hai Bà Trưng và Đống Đa với các tỉ lệ lần lượt là 24,8% (26 phiếu),21,9% (23 phiếu) và 18,1% (19 phiếu) Lý giải cho kết quả này là bởi nhóm đã đề xuất chọnmẫu theo phương pháp đánh giá - đó là lựa chọn các khu vực đông dân cư, dễ tiếp cận vàtừng là vùng dịch cần phải cách ly Từ lối tiếp cận đó, nhóm thu thập được số lượng phiếuđạt yêu cầu nhiều nhất ở 3 khu vực này Các khu vực khác lần lượt chiếm tỉ lệ nhỏ hơn donhiều lí do như: sự giới hạn về mă ’t thời gian, nguồn kinh phí và nguồn nhân lực, khó tiếpcận dân cư, đặc điểm dân cư chưa phù hợp với đề tài nghiên cứu
2 Đánh giá tần suất và tính tỷ lệ phần trăm của các biến
2.1 Tần suất sử dụng dịch vụ đi chợ GrabMart
Bảng 4: Tần suất sử dụng dịch vụ đi chợ GrabMart
Cô/chị thường sử dụng GrabMart bao nhiêu lần một tuần?
Trang 24Tổng 105 100
Dựa theo kết quả khảo sát trên quy mô mẫu là 105, nhóm nghiên cứu đã đưa ra được kếtluận về tần suất sử dụng dịch vụ đi chợ online như sau Những người mua hàng và sử dụngvới mức độ ít, rất hiếm cụ thể là 1 đến 2 lần mỗi tháng chiếm khoảng ⅓ số người (25,5%).Còn chủ yếu mọi người sẽ mua sắm đồ cho gia đình mình 1-2 lần mỗi tuần, có tới gần mộtnửa người tham gia khảo sát lựa chọn phương án mua sắm là “Thỉnh thoảng” Với mức sửdụng là “Thường xuyên” có số lựa chọn ít nhất ở mức 21,9%, những người này sẽ có thóiquen mua sắm trên GrabMart 3-4 lần/ tuần, có nghĩa là có thể cách mỗi ngày họ sẽ đi chợonline 1 lần
2.2 Tiêu chí lựa chọn địa điểm mua hàng trên GrabMart
Những địa điểm thường được đặt mua hàng nhất thường có những đặc điểm phổ biến nhưsau: Có sản phẩm mình cần, đa dạng hàng hóa, thương hiệu nổi tiếng: BigC, Coopmart ,rate 5 sao có nhiều đánh giá tốt, gần địa chỉ nhận hàng, địa điểm mua hàng yêu thích vànhiều ưu đãi hấp dẫn: giảm giá, freeship Trong đó những người mua hàng đa số sẽ lựachọn những gian hàng có sản phẩm mà họ cần, tức là việc lựa chọn 1 cửa hàng hoàn toàn là
có chủ đích, số lựa chọn cho tiêu chí này chiếm khoảng 27,7% trong tất cả những lựa chọncủa người tham gia khảo sát Các yếu tố quan trọng tiếp theo với những bà nội trợ sử dụngGrabMart lần lượt là các cửa hàng từ các thương hiệu nổi tiếng (19,4%), gần địa chỉ nhậnhàng (15,3%), nhiều ưu đãi hấp dẫn (12,7%) Các yếu tố được cho là kém quan trọng hơngồm: Rate 5 sao, đánh giá tốt (11,8%), đa dạng hàng hóa (9,9%), địa điểm mua hàng yêuthích (3,2%)
Bảng 5: Tiêu chí lựa chọn cửa hàng trên GrabMart
Nhiều ưu đãi hấp dẫn: giảm giá, freeship 40 12,70%
Trang 25Hình 8: Tiêu chí lựa chọn cửa hàng trên GrabMart
2.3 Thời gian sử dụng GrabMart phổ biến nhất
So sánh giữa các ngày trong tuần có 2 thời điểm các bà nội trợ sẽ truy cập GrabMart để đichợ, mua sắm online các sản phẩm cho gia đình mình đó là giữa tuần (thứ 4,5,6) và cuốituần (thứ 7, chủ nhật) Trong đó mức cuối tuần (41%) chiếm tỷ lệ cao hơn 1% so với giữatuần (40%) và cao hơn gấp đôi so với đầu tuần (19%)
So sánh giữa các khung giờ trong ngày thì có tới gần một nửa (44,8%) bà nội trợ tham giakhảo sát thường mua sắm trên GrabMart vào buổi chiều từ khoảng 13 giờ đến 18 giờ Tiếptheo đó lần lượt là các khung giờ trưa (10h-13h) chiếm 28,6%, các khung giờ sáng (7h-10h)
và tối (18h-22h) là ít nhất chiếm 13,3%
Hình 9: Thời gian sử dụng GrabMart phổ biến nhất trong tuần
Trang 26Hình 10: Thời gian sử dụng GrabMart phổ biến nhất trong ngày
3 Lập bảng chéo giữa các biến có mối liên hệ
3.1 Mối liên hệ giữa thu nhập và mức chi tiêu trung bình cho mỗi lần đi chợ online trên GrabMart
Bảng 6: Mối liên hệ giữa thu nhập và mức chi tiêu trung bình cho mỗi lần đi chợ
online trên GrabMart Cô/chị thường chi bao nhiêu tiền cho mỗi lần đặt hàng qua GrabMart?
Dưới
100 nghìn đồng
Từ 100 - dưới 300nghìn đồng
Từ 300 dưới 500nghìn đồng
-Từ 500 nghìn - dưới 1 triệu đồng
Trên 1 triệu đồngThu
Trang 27Hình 11: Mối quan hệ giữa thu nhập và mức chi tiêu trung bình cho mỗi lần đi chợ
online bằng GrabMart
Đối với 2 nhóm thu nhập đầu tiên là dưới 5 triệu đồng và từ 5 đến 10 triệu đồng mỗi tháng,các bà nội trợ chủ yếu sẽ bỏ ra khoảng 100 đến dưới 300 nghìn đồng cho mỗi lần mua sắm.Khi thu nhập tăng lên mức 10 đến 15 triệu ta có thể thấy một xu hướng chi tiêu cho mỗi lầnmua sắm tăng lên trong khoảng từ 300 đến dưới 1 triệu đồng, nhóm thu nhập này cũng làđối tượng có mức chi tiêu lớn nhất trong các nhóm từ kết quả khảo sát Đối với nhóm thunhập từ 15 đến 30 triệu đồng thì cơ bản cũng tương tự nhóm trước tuy nhiên tỷ lệ mua sắmtrên 1 triệu đồng tăng cao hơn rất nhiều, đây là nhóm có mức chi tiêu mỗi lần trên 1 triệuđồng cao nhất và đặc biệt mức chi tiêu dưới 300 nghìn đồng mỗi lần mua sắm với nhóm này
so với các nhóm trước đã có một sự giảm đáng kể Với nhóm thu nhập trên 30 triệu thì giữacác mức chi tiêu không thấy được sự khác biệt giữa mức chi tiêu trung bình mỗi lần muasắm
3.2 Mối quan hệ giữa độ tuổi và loại sản phẩm thường được mua
Bảng 7: Mối quan hệ giữa nhóm tuổi và loại sản phẩm thường được tiêu dùng trên
GrabMart
Trang 28Nhóm thực hiện bảng chéo đối với 2 biến “Nhóm tuổi” và “Những sản phẩm thường đượcmua” Kết quả cho thấy nhóm “Hàng hóa tiêu dùng hàng ngày (gạo, mì tôm, đồ uống,bánh…)” được mua nhiều nhất thông qua dịch vụ GrabMart chiếm lần lượt 45/54 phiếu(83,3%) của người dùng ở độ tuổi 25-40 và 40/48 phiếu (83,3%) của người dùng ở độ tuổi
từ 40 - dưới 55 Đứng thứ hai là “Sản phẩm tươi sống (thịt gia cầm, thịt bò, hải sản, rau vàtrái cây, )” chiếm 35/54 phiếu (64,8%) của người dùng ở độ tuổi 25-40 và 26/48 phiếu(54,2%) của người dùng ở độ tuổi từ 40 - dưới 55 Nhóm “Sản phẩm chăm sóc sức khỏe vàlàm đẹp (kem đánh răng, sữa rửa mặt, )” và “Quà tặng, văn phòng phẩm (sách, hoa, bộquà tặng, )” lần lượt chiếm vị trí 3 và 4 ở khoảng cách xa hơn
Có thể thấy, GrabMart đang thực hiện tốt định vị của mình là trung gian giữa người mua vớicác cửa hàng bán lẻ, chợ truyền thống vì các mặt hàng chính của các cửa hàng tạp hóa vàchợ truyền thống đang được tiêu dùng chủ yếu trên nền tảng này Cũng có thể kết luận,nhóm tuổi từ 40-dưới 55 tuổi dè dặt và cân nhắc kĩ hơn khi mua các sản phẩm tươi sống(54,2%) so với nhóm tuổi trẻ hơn là từ 25-dưới 40 (64,8%) qua dịch vụ GrabMart Vì đặcđiểm độ tuổi có thể họ vẫn ưu tiên mua những sản phẩm tươi sống bằng cách trực tiếp hơn
Nhóm tuổi
Những sản phẩm thường được mua
TổngHàng hóa
tiêu dùng
hàng ngày
Sản phẩm tươisống
Quà tặng, vănphòng phẩm
Sản phẩmchăm sóc sứckhỏe và làmđẹp