MỞ ĐẦU Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc nước ta đoàn kết, gắn bó với nhau chế ngự thiên tai, chống giặc ngoại xâm Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu, cội nguồn của sức mạnh dân[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc nước ta đoàn kết, gắn bóvới nhau chế ngự thiên tai, chống giặc ngoại xâm Đoàn kết dân tộc là truyền thốngquý báu, cội nguồn của sức mạnh dân tộc làm nên những chiến thắng vẻ vang Tuynhiên, do điều kiện tự nhiên và lịch sử để lại, đời sống của đồng bào các dân tộcthiểu số chậm phát triển, có nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới.Ngay từ khi ra đời Đảng ta xác định công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc làvấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của đất nước Quanđiểm cơ bản, xuyên suốt của Đảng về công tác dân tộc là: “Các dân tộc trong đạigia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”
Nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cườngquản lý nhà nước về công tác dân tộc - thiết thực củng cố mối quan hệ dân tộc vàđại đoàn kết dân tộc là một nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
I Lý do lựa chọn đề tài.
Xã Đăk Drô nằm ở phía nam thuộc huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, cách trungtâm huyện 02km,là một xã thuần nông, ranh giới hành chính giáp với các xã:
Phía đông giáp với xã Nam Đà
Phía nam giáp với xã Nam Nung
Phía tây giáp với xã xã Tân thành
Phía bắc giáp với TT Đăk Mâm
Toàn xã có 8 thôn, buôn, với tổng diện tích tự nhiên 5.435,2 ha; dân số 2326
hộ với 9064 nhân khẩu, bao gồm 13 dân tộc cùng sinh sống; trong đó ĐBDTTSngười chiếm khoảng 30%, chủ yếu tập trung tại 5 thôn, buôn gồm: Buôn 9, BuônK62, Buôn OL, thôn E xa Nô, thôn Đăk Tâm Tổng số hộ nghèo năm 2022 là 147
hộ = 665 khẩu; trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số là 128 hộ = 606 khẩu Hộcận nghèo 124 hộ = 447 khẩu; trong đó hộ cận nghèo dân tộc thiểu số 71 hộ= 257khẩu Trên địa bàn có 03 tôn giáo chính gồm: Đạo phật, đạo Tin Lành, Đạo cônggiáo Số người tham gia hoạt động tôn giáo là 1669 người Trong thời gian qua,dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền xã, công tác dân tộc đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn, góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị, kinh tế, xã hộitrên địa bàn xã nói riêng và cả huyện nói chung Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiềuhạn chế trong công tác dân tộc trên địa bàn xã, nhiều chương trình, dự án, chínhsách Đảng và Nhà nước vẫn chưa thực sự phát huy hết hiệu quả của nó Tình trạngđói nghèo, lạc hậu, kém phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là một vấn
đề nan giải chưa được giải quyết dứt điểm Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Đăk Drô, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”làm vấn đề nghiên cứu
trong sáng kiến kinh nghiệm
II Mục đích
Trang 2Sáng kiến này chỉ mong góp phần làm rõ hơn vấn dân tộc tại địa bàn xã ĐăkDrô để từ đó tham khảo góp phần nâng cao chất lượng đồi sống người đồng bàodân tộc thiểu số trên địa bàn xã.
III Đối tượng nghiên cứu
Các hộ dân người đồng bào dân tộc thiểu trên địa bàn xã
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TA
1 Một số khái niệm.
1.1 Khái niệm về dân tộc.
Khái niệm “dân tộc” thường được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau,thông thường khái niệm “dân tộc” thường được tiếp cận dưới hai góc độ:
Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị – xã hội đượcchỉ đạo bởi nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự liênminh của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộphận tộc người…
Dân tộc (Ethnic) đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dântộc Tày, dân tộc Ba na… Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số củamột dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau, được liên kết với nhau
bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người.
Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, chính vì thế trong quản lý nhà nước vềdân tộc ở nước ta, dân tộc (Ethnic) được hiểu với nghĩa là tộc người
1.2 Khái niệm công tác dân tộc.
Công tác dân tộc là hoạt động tổ chức thực hiện chính sách dân tộc củaĐảng và Nhà nước ta
Công tác dân tộc bao gồm tất cả các hoạt động nhằm thực hiện và đưa vàothực tiễn các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước, đây là nhiệm vụ của toànĐảng, toàn quân và toàn dân ta
Nhiệm vụ chủ yếu của công tác dân tộc là nâng cao chất lượng cuộc sốngcho đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, đồng thời thực hiện có hiệuquả các chương trình quốc gia đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Đảng ta đã xác định rằng “công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc
là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và củatoàn bộ hệ thống chính trị
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.
Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng, một nhân tốgóp phần quyết định sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam Bởi vì, đồng bào các
Trang 3dân tộc thiểu số cũng là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một bộphận khăng khít của các lực lượng cách mạng Việt Nam.
Lịch sử cách mạng nước ta đã chứng minh rằng, cách mạng muốn giànhđược thắng lợi toàn diện thì Đảng phải tập hợp được sức mạnh của toàn dân, đượcnhân dân ủng hộ, tin yêu, chính vì thế, Đảng phải luôn chăm lo đến đời sống củatất cả đồng bào các dân tộc trên đất nước, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộcthiểu số
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam về công tác dântộc, trên cơ sở nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác – LêNin, Người đã vận dụngđúng đắn và sáng tạo vào tình hình thực tiễn của nước ta, chủ tịch Hồ Chí Minh
nói rằng: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…”.
Điều này đã thể hiện quan điểm đại đoàn kết của Người, luôn xem trọng công tácnâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, và coi đó là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng cần phải được thực hiện
Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta là sinh sống chủ yếu ởcác vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, lại nắm giữ các khu vực trọng yếu, ảnhhưởng rất lớn đến an ninh – quốc phòng Nhận thức được tầm quan trọng đó, vì thếchính Người đã luôn luôn căn dặn các cán bộ làm công tác dân tộc phải luôn luônnêu cao tinh thần trách nhiệm, luôn quan tâm đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu
số, vì đồng bào dân tộc thiểu số cũng là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, cùng
là anh em ruột thịt một nhà, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc Chính Phủ thì có “Nhà dân tộc thiểu số” để săn sóc cho tất cả đồng bào…” Theo Người, trong sự nghiệp
cách mạng của đất nước, phải luôn nêu cao tính bình đẳng, tính đoàn kết và dânchủ trong Đảng, Đảng không phân biệt đồng bào dân tộc thiểu số hay đồng bàodân tộc đa số, tất cả các dân tộc sống trên đất nước đều có quyền bình đẳng nhưnhau, được Đảng và Nhà Nước quan tâm, chăm sóc như nhau Trong giai đoạnphát triển kinh tế thì công tác dân tộc lại càng trở nên quan trọng, Đảng phải làmsao để cho các dân tộc thiểu số cùng phát triển, tìm nhiều biện pháp để nâng caochất lượng cuộc sống cho đồng bào, làm cho đồng bào luôn tin yêu vào Đảng, vàoNhà Nước
Ngày nay, những tư tưởng của Người không những vẫn giữ nguyên giá trị
mà còn được Đảng và Nhà Nước ta vận dụng một cách sáng tạo, áp dụng những tưtưởng đó một cách có hiệu quả vào thực tế công tác quản lý nhà nước về dân tộc
3 Quan điểm của Đảng ta về dân tộc và công tác dân tộc.
Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và công tác dân tộc, Đảng taluôn coi trọng vai trò và vị trí quan trọng của công tác dân tộc trong sự nghiệp cáchmạng của mình, luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 4Chính sách dân tộc của Đảng đã được nêu một cách cụ thể: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán và tín ngưỡng của các dân tộc Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kì thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế – xã hội phải phù hợp với đặc thù từng vùng và các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số”.
Tại đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc…”
Đại hội XIII vẫn tiếp tục khẳng định các nguyên tắc trong quan hệ dân tộc ởViệt Nam, đó là “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhaucùng phát triển”
Những quan điểm cơ bản về công tác dân tộc của Đảng ta hiện nay là:
- Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâudài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ,giúp nhau cùng phát triển
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội và an ninh – quốcphòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giảiquyết các vấn đề xã hội
- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toànĐảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và của toàn bộ hệ thống chínhtrị Ngày 12/10/2021, UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành Kế hoạch số 714/KH-UBND thực hiện Chương trình số 26-CTr/TU ngày 31/8/2021 của Tỉnh ủy về thựchiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ XII về nâng caođời sống vật chất - tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giai đoạn 2021 – 2025với mục tiêu:
“ Phát triển kinh tế - xã hội, củng cố tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng
cao đời sống vật chất - tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là đầu tư cho phát triển bền vững, toàn diện gắn liền với giảm nghèo bền vững Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương trong vùng, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, thu hút các nguồn lực đầu tư tập trung vào vùng đồng bào DTTS một cách có trọng tâm, trọng điểm, tạo điều kiện để các DTTS phát huy được nội lực nhằm tự lực vươn lên cải thiện rõ rệt đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của tỉnh.
Trang 5Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS; nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực nhất là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người DTTS; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước”
Những quan điểm trên là sự tổng kết thực tiễn nhiều năm thực hiện đườnglối, chính sách dân tộc và công tác dân tộc của Đảng và Nhà Nước ta Đó chính lànhững nền tảng tư tưởng cho các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị thựchiện những nhiệm vụ về công tác dân tộc
Chương II THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐĂK DRÔ
1 Đặc điểm đồng bào dân tộc thiểu số xã Đăk Drô.
Xã Đăk Drô nằm về phía phía nam thuộc huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, cách trungtâm huyện 02km, tổng diện tích tự nhiên của xã là 5.435,2ha, có 8 thôn buôn; trong
đó có 3 buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ Dân số có 2.291 hộ,với 8.618 khẩu; trong đó dân tộc thiểu số là 437 hộ/1.788 khẩu; bao gồm 13 thànhphần dân tộc cùng sinh sống
Kết quả phân định khu vực giai đoạn 2021- 2025:
+Xã thuộc vùng dân tộc thiểu số; xã Drô thuộc khu vực I
+Thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số: Buôn 9, Buôn K62, Buôn OL, thôn Exa
Nô, thôn Đăk Tâm
+ Thôn vùng đặc biệt khó khăn: Buôn 9
Trong đó có 02 dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống lâu đời trên địa bàn đó là:
- Dân tộc M’Nông có 340 hộ, 1.992 nhân khẩu là dân tộc thiểu số tại chỗsinh sống lâu đời trên địa bàn xã, hiện nay tập trung ở các Buôn 9, Buôn Ol, BuônK62:
- Dân tộc Ê Đê có 22 hộ, với 31 nhân khẩu, sinh sống chủ yếu tại Buôn Ol,Buôn 9 Cũng là dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn xã, có quan hệ mật thiết,gắn bó lâu đời và có nhiều mối tương đồng với dân tộc M’Nông
Ngày 17/01/1984 Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ nước Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam) ra quyết định số 13/QĐ-HDBT thành lập xã Đắk Rồ, trên
cơ sở xã Nam Nung, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Lắk Xã khi mới thành lập có diệntích 16.860 ha, dân số 720 người, gồm có 04 buôn là: Buôn K62, Buôn 9A, BuônGiang Trum và Buôn OL Ngày 06/6/2005 Chính phủ ban hành Nghị định70/2005/NĐ-CP “ về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập xã, đổi tên xã
Trang 6thuộc các huyện Đắk R’Lấp, Đắk Song, Đắk Mil và Krông Nô, tỉnh Đắk Nông”Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập xã Tân Thành, xã Đắk Rồ còn lại5.430 ha diện tích tự nhiên và 5.663 nhân khẩu Đổi tên xã Đắk Rồ thành xã ĐắkDrô Sau điều chỉnh địa giới hành chính 364, tổng diện tích tự nhiên của xã là 5.435,2hađến nay Tình hình kinh tế, cơ sở hạ tầng ngày càng được phát triển, do đó, dân di
cư tự do vào địa bàn xã khá đông, trong đó bao gồm rất nhiều đồng bào dân tộcthiểu số di cư vào, tổng số 247 hộ/1.015 khẩu bao gồm một số dân tộc như: Tày
,Thái, Nùng, Dao thôn Giang Cách, Đăk Tâm, E Xa Nô
Dân tộc thiểu số trên địa bàn xã với đặc điểm là sống tập trung, phần lớn dân
cư sống định canh, định cư, các dân tộc lại sống xen kẽ với nhau cho nên có mốiquan hệ gắn bó khá mật thiếu, có sự tương hỗ với nhau Phần lớn đồng bào các dântộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn xã là căn cứ cách mạng trước đây
2 Tình hình kinh tế và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã.
Từ khi thành lập, xã Đăk Drô đã được chú trọng đầu tư khá nhiều về kinh tế,
cơ sở hạ tầng Đảng bộ và chính quyền xã đã có nhiều chính sách và biện pháp đểphát triển đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Bên cạnh đó,cộng với tinh thần chịu khó, ý chí vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số trênđịa bàn xã nên đời sống kinh tế của đồng bào có nhiều biến chuyển sâu sắc, đã xuấthiện nhiều gia đình làm ăn khá giỏi, phần lớn đồng bào đã đổi mới trong nhậnthức, không còn tình trạng du canh, du cư, biết áp dụng những kinh nghiệm vàotrong sản xuất nông nghiệp, nhiều gia đình đã bắt đầu có những tích luỹ để xâydựng sản xuất, con cái được học hành…
Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 53 triệu đồng/ người/năm Tỷ lệ hộ
sử dụng điện ước thực hiện cả năm đạt 98% đạt 100% KH giao; Tỷ lệ thôn, buôn,bon có điện lưới quốc gia là 100% ; 100% các bon, buôn trên địa bàn xã có 1-2kmđường nhựa
Tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2021 đầu năm 2022 còn 147 hộ đạt 6.32%,(Tổng số hộ toàn xã)
Đến nay hệ thống thủy lợi cơ bản đã được đáp ứng trong vùng đồng bào dântộc thiểu số, nhiều công trình có giá trị lớn như: đập thủy lợi Đăk Rồ năm đầunguồn Buôn K62, … đã phát huy hiệu quả sử dụng lớn, tạo thuận lợi cho nhân dânsản xuất, ổn định đời sống Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì tập quán sảnxuất chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tự sản, tự tiêu cho nên hệ thống thuỷ lợiđóng vai trò rất lớn trong sản xuất, nếu hệ thống thuỷ lợi mang lại hiểu quả thì sẽgóp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao được đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.Chính vì thế mà trong nhưng năm vừa qua, UBND xã đã chỉ đạo cho cán bộchuyên môn thực hiện các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi trong xã,đặc biệt là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Buôn Ol, Buôn K62, Buôn9
Về giao thông, 100% các bon, buôn trên địa bàn xã có 1-2km đường nhựa
Hệ thống giao thông cơ bản được hoàn thiện, tạo thuận lợi rất nhiều cho việc phát
Trang 7triển kinh tế và sản xuất của bà con dân tộc thiểu số Tình hình kinh tế vùng đồngbào dân tộc thiểu số có nhiều bước phát triển khá, đời sống của đồng bào ngàycàng được nâng lên.
Tuy nhiên, một thực trạng dễ nhận thấy ở đồng bào dân tộc thiểu số trên địabàn xã đó là việc còn khá nhiều những hộ đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thuộcdiện nghèo, đặc biệt khó khăn cần trợ giúp của nhà nước Đến cuối năm 2021, tổng
số hộ nghèo trên địa bàn xã là 147 hộ, trong đó hộ đồng bào DTTS là 16 hộ; hộđồng bào dân tộc tại chỗ là 112 hộ Hộ cận nghèo là 124 hộ; trong đó hộ cận nghèoDTTS là 8 hộ; hộ đồng dân tộc tại chỗ là 63 hộ Tổng số hộ nghèo là đồng bào dântộc chiếm 5,5% hộ nghèo toàn xã Đây là một vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Đảng
bộ và chính quyền xã để làm sao giảm nghèo nhanh và bền vững, tránh tình trạngtái nghèo, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc tại chỗ
Nền kinh tế ở các vùng dân tộc, nhìn chung còn chậm phát triển, còn lúngtúng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu, còn thiếu vốn
để đầu tư sản xuất
Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn, tình trạng du canh, du cưvẫn còn xảy ra cục bộ ở một số hộ gia đình Một số hộ thiếu đất sản xuất Kết cấu
hạ tầng còn thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ở các vùng
3 Tình hình văn hóa – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3.1 Về Giáo dục và Đào tạo.
Tình hình Giáo dục – đào tạo đã đạt được khá nhiều những thành tựu đáng
kể, mặt bằng dân trí được nâng cao, toàn xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểuhọc và xóa mù chữ, hệ thống trường lớp được mở mang và đầu tư
Đến nay, toàn xã đã có 4 trường học Trong đó:
- Mầm Non 01 trường 551 trẻ; trong đó, trẻ DTTS là 141 cháu (chiếm tỉ lệ25,5%);
- Tiểu học 02 trường/30 lớp có 824 học sinh; trong đó, học sinh là DTTS là
365 (chiếm tỉ lệ 44,3%);
- Trung học cơ sở có 01 trường/ 13 lớp có 494 học sinh; trong đó, học sinhDTTS là 184 em (chiếm tỉ lệ 37,1%)
Toàn xã có 03 trường đạt chuẩn quốc gia, tổng số học sinh các cấp là 1871
em, bình quân cứ 3,4 người dân thì có một người được đi học, tỷ lệ trẻ em trong độtuổi đến trường hàng năm đạt trên 96%, chất lượng giảng dạy và học tập ở cáctrường ngày càng nâng lên, số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đạttrên 95%
Chất lượng giáo dục cho con em đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng đượcnâng cao Hệ thống cơ sở vật chất dạy và học được nâng cao đáng kể, không còntính trạng học ca 3, số học sinh bỏ lớp giảm xuống đáng kể
Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của cả huyện thì chất lượng giáo dục –đào tạo còn có hạn chế, chưa chú trọng đến việc đào tạo nghề, đây là một hạn chế
mà Đảng bộ và chính quyền xã cần phải quan tâm giải quyết trong thời gian tới
Trang 83.2 Về Y tế.
Đây là một lĩnh vực luôn được quan tâm thường xuyên, UBND xã đã chỉđạo ngành y tế làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giữgìn sức khỏe, tăng cường công tác phòng ngừa dịch bệnh, ăn ở đảm bảo vệ sinh…
Các bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và đẩy lùi, việc khám chữa bệnh chongười nghèo được quan tâm hơn, trạm y tế xã đạt chuẩn theo quy định Tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi 24,8%; Tỷ lệ người tham gia BHYTđạt 77,79%
Hiện nay, xã đã cơ bản xóa được bệnh dịch tả, sốt rét trong đồng bào dân tộcthiểu số, tình trạng suy dinh dưỡng từng bước giảm, các trường hợp ốm đau, bệnhtật đều được đưa đến trạm y tế để khám chữa bệnh, không còn thờ cúng, mê tín dịđoan như trước đây
Mạng lưới y tế thôn, bon của xã thường xuyên được củng cố, kiện toàn Đếnnay toàn xã có 100% thôn, bon có nhân viên y tế Công tác khám chữa bệnh chocác đối tượng là đồng bào dân tộc đã được các cơ sở y tế tuyến xã trên địa bàntriển khai đúng theo quy định của Nhà nước, đảm bảo mọi quyền lợi về chăm sócsức khỏe cho người dân
Tuy nhiên, công tác chăm sóc sức khỏe còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống cơ
sở vật chất y tế phục vụ khám – chữa bệnh ở các trạm y tế xã còn thiếu, chất lượngđội ngũ y bác sĩ còn chưa cao, tỉ lệ trẻ em tiêm chủng còn thấp, chủ yếu rơi vàocon em người đồng bào tại chỗ đạt 65%
3.3 Tình hình an ninh trật tự.
Nhìn chung tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùngđồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã được giữ vững, không có bạo loạn, biểutình xảy ra Song còn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, các đối tượng phản độnglưu vong ở nước ngoài luôn tìm mọi cách móc nối với phần tử xấu bên trong đểchống phá nhà nước ta, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoànkết dân tộc, kích động xúi dục một số phần tử nhỏ trong đồng bào dân tộc thiểu sốtại chỗ về vấn đề tôn giáo, đất đai…
4 Kết quả thực hiện các chính sách về công tác dân tộc.
- Căn cứ quyết định 1658/QĐ-UBND ngày 28/10/2015 của UBND tỉnh ĐắkNông, về việc phê duyệt đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giaiđoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (theo Quyết định số 33/QĐ-TTg, ngày10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ), theo đó UBND xã Đắk Drô được phê duyệttổng số 72 đối tượng thuộc diện hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015
có khó khăn về nhà ở được hỗ trợ Tính đến thời điểm hiện tại 41 hộ tự xây, 22 hộđược hỗ trợ xây, 7 hộ xây từ nguồn hỗ trợ khác và 2 hộ không có đất Tất cả các hộ
đủ điều kiện trong danh sách phê duyệt đều đã xóa được nhà tạm, nhà dột nát Nhưvậy UBND xã đã hoàn thành việc triển khai thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
Trang 91, Chương trình hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt tập trung cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Quyết định 755/QĐ- TTg):
Chương trình hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt (Quyết định TTg của Thủ tướng chính phủ) Căn cứ công văn số: 4491/UBND- VX, ngày 14tháng 10 năm 2013 của UBND tỉnh Đăk Nông về việc triển khai thực hiện quyếtđịnh số: 755/QĐ/TTg, ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ
755/QĐ-Chương trình hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộcthiểu số nghèo, đời sống khó khăn triển khai thực hiện hỗ trợ nước phân tán và cấpđất, cụ thể:
Chương trình, chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt đã tổ chức thực hiện hỗ trợ 7bồn nước cho đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Hàng quý xãđều tổ chức các buổi truyền pháp luật, tảo hôn, bình đẳng giới cho 160 lượt ngườitham dự
2 Chương trình 135 (Quyết định 551/QĐ-TTg):
Chương trình 135 thực hiện trong năm 2017: - Ngân sách nhà nước bố trí:85.000.000 đồng; Ngân sách địa phương bố trí: 0 đồng; Nguồn vốn huy động cộngđồng:0 đồng
Chương trình 135 thực hiện trong năm 2018: - Ngân sách nhà nước bố trí:145.000.000 đồng; Ngân sách địa phương bố trí: 0 đồng; Nguồn vốn huy độngcộng đồng:0 đồng; Mô hình giảm nghèo, dự án phát triển sản xuất hỗ trợ được 41con bê gống cho các hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo
Chương trình 135 thực hiện trong năm 2019: - Ngân sách nhà nước bố trí:92.400.000 đồng; Ngân sách địa phương bố trí: 0 đồng; Nguồn vốn huy độngcộng đồng:0 đồng; Mô hình giảm nghèo, dự án phát triển sản xuất được hỗ trợ
7360 Kg phân bón cho 21 hộ, trong đó: 16 hộ thoát nghèo, 6 hộ thoát cận nghèo
Chương trình 135 thực hiện trong năm 2020: - Ngân sách nhà nước bố trí:101.250.000 đồng; Ngân sách địa phương bố trí: 0 đồng; Nguồn vốn huy độngcộng đồng:0 đồng; Mô hình giảm nghèo, dự án phát triển sản xuất được hỗ trợ9360Kg phân bón cho các hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo Các chính sách hỗ trợkhác được triển khai thực hiện:
Kinh phí phân bổ theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 củaThủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giaiđoạn đầu từ năm 2021 – đến năm 2025 là : 110 triệu đồng thực hiện việc duy tubảo dưỡng nhà cộng đồng Buôn 9; quyết định số 90/QĐ – TTg ngày 18/01/2022của thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bềnvững giai đoạn 2021 – 2025: 57 triệu đồng thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuấttrong lĩnh vực nông nghiệp đến nay các chương trình đang chờ kế hoạch phân bổ
vốn để thực hiện.
3 Chương trình chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân theo quyết định 102/2009/QĐ-TTg:
Trang 10Hỗ trợ sản xuất theo quyết định 102/QĐ-TTg, năm 2016 cấp cho 395 hộnghèo = 1700 khẩu Tổng số lượng giống đã cấp là : 1489,8 kg bắp giống và545,33 kg lúa giống, trị giá: 157.159.950 đồng
+Các mô hình trồng rau sạch ở Buôn K62, Quýt Việt Gap Giang Cách, Nuôi
cá bống, Cá thác lát ở thôn Exa Nô, góp phần nhân rộng mô hình trồng trọt chănnuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao
4 Thực hiện quyết định 18/QĐ-TTg về chính sách đối với người có uy tín:
Thực hiện Quyết định số 56/2013/QĐ-TTg ngày 07/10/2013 của Thủ tướngChính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uytín trong vùng ĐB DTTS và Thông tư Liên tịch số; 01/2014/TTLT-UBDT-BTCngày 10/01/2014 của ủy Ban dân tộc và Bộ tài chính quy định chi tiết và hướngdẫn thực hiện chính sách đối với người có uy tín trong vùng ĐB DTTS Chính sáchđối với người có uy tín thường niên hỗ trợ tiền 500.000 đồng và tài liệu báo, tạpchí Dân tộc Miền núi Có 03 người uy tín
5 Hỗ trợ vay vốn tín dụng cho người nghèo, đặc biệt khó khăn :
Thực hiện mục tiêu Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016-2021, phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh sinh viên nghèo có nhucầu vay vốn, có điều kiện tiếp cận và được tín chấp vay vốn phát triển sản xuấttăng thu nhập, chi phí học tập Tính đến năm 2021 tổng nguồn vốn trên địa bàn
được giải ngân là: 46.299.860.000 đồng
Nhờ chính sách tín dụng ưu đãi mà trong những năm qua, đa số người nghèođều có vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, người nghèo mạnh dạn hơn trongviệc vay vốn, ý thức trách nhiệm cũng như kinh nghiệm sử dụng vốn vay đượcnâng lên Đây chính là yếu tố quan trọng mang lại kết quả xoá đói giảm nghèonhanh, bền vững trong nhân dân
5 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tại, những tồn hạn chế 5.1 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác dân tộc.
Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số cònkhó khăn, thiếu thốn, kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung vẫn cònchậm phát triển so với mặt bằng chung của toàn xã Phương thức canh tác của sốđông đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm không cao,dẫn đến thu nhập thấp Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các hộ có xuhướng gia tăng Chất lượng giáo dục, y tế trong vùng đồng bào dân tộc thiểu sốcòn có nhiều hạn chế
Công tác tuyên truyền, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước về công tác dân tộc đạt hiệu quả chưa cao Một bộ phận không nhỏđồng bào dân tộc còn thiếu hiểu biết pháp luật, chính sách dân tộc, còn tồn tạinhiều tập quán lạc hậu, luật tục trái với Luật pháp Nhà nước Một bộ phận đồngbào dân tộc thiểu số còn có tư tưởng ỷ lại, trong chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước