Các thiết bị truyền nhận tín hiệu trong hệ thống phải được lựa chọn sao phù hợp với hệ thống thông tin liên lạc tương ứng, và thường là các thiết bị đầu cuối của hệ thống Trong thực tế,
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
NGÀNH ĐIỆN TỬ - VIÊN THÔNG
LUẦN VĂN TỐT NGHIỆP
_ BIỂU KHIEN TU XA BANG SMS QUA MANG GSM
: TS HO NGQC BA : NGUYÊN TRUNG CHÍNH : 02DHDT020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
NHIỆM VỤ LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP
Chú ý : SV phải đóng bản nhiệm vụ này vào trang thứ nhất của luận án
7
Họ và tên SV: Khu 22+ & x3 Ck; nf mssv CIBHPT OR,
1 Bau dé ludn án tốt nghiệp :
23, Nhiệm vụ (Yêu cầu về nội dung và số liệu ban đầu) :
" "Ã for leas’ My ức ly ed fey y ke na ồ
3 Ngày giao nhiệm vụ luận án :Q2/1o/2006
4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ :12/o1/2007
Ú He} Js c lò tu ke wo LA — ME Tag PM
Nội dung và yêu cầu LATN đã dược thông qua NGƯỜI HƯỚNG DẦN CHÍNH
Trang 3Điểm đánh giá : Xếp loại : oc Series
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang |
Trang 4Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
Điểm đánh giá : 10
Giáo viên phản biện
Trang 6Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
LOI CAM ON
Sau một thời gian dài được đào tạo về tri thức và đạo đức tại trường đại học Kĩ
thuật công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện luận văn tốt nghiệp là một sự
khẳng định và củng cố các kiến thức, kĩ năng mà bản thân em đã được tiếp thu,
trau dồi tại trường, đông thời tích lũy thêm những kinh nghiệm và kĩ năng mới,
chuẩn bị cho quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội sau khi ra
trường
Để có được kết quả như ngày hôm nay, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến quí thây cô thuộc khoa điện điện tử nói riêng và toàn thể thầy cô trường
đại học Kĩ thuật công nghệ thành phố Hồ Chí Minh nói chung, đã trang bị cho bản
thân em và các sinh viên khác những kiến thức về chuyên ngành, về xã hội trong
suốt thời gian qua, giúp chúng em có được đầy đủ những tri thức về nghề nghiệp,
cuộc sống và sự tự tin cần thiết khi vào đời
Chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Hồ Ngọc Bá đối với ban
thân em trong suốt thời gian qua Sự hướng dẫn của thầy là những định hướng quí
báu cho đề tài, giúp em tích lũy được thêm rất nhiều kinh nghiệm cũng như kĩ
năng cần thiết trong quá trình thực hiện để tài, và hoàn thành tốt đẹp các nhiệm
vụ được giao
Ngoài ra em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nghiên cứu sinh Doan Hiệp tại
trường đại học Ulsan, Hàn Quốc cùng các thành viên của nhóm PICVIETNAM đã
tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian qua, bên cạnh sự hướng dẫn của các
thầy cô tại trường, xin cảm ơn các kĩ sư Nguyễn Hải Linh, Nguyễn Hồng Phước, đã
tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và sự hỗ trợ về những kiến thức, kĩ năng
còn thiếu sót của bản thân em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện đề tài
Nguyễn Trung Chính
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 3
Trang 7Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
MỤC LỤC
CHUONG 1: GIGI THIEU
1.1 Sự phát triển của hệ thống điều khiển từ xa -e-secesee 9 1.2 Mô hình tổng quát của hệ thống điều khiển từ xa -. 11
Trang 8
Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hé Ngoc Ba
3/2/22 Giải pháp cho khối biển thị -c-essrexeereeerrrrrrrere 32
CHƯƠNG 4 : NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN TỪ XA BẰNG SMS QUA MẠNG GSM
4.1 Cơ sở lí thuyết về vi điều khiển PIC wes 38
4.1.2 Một số tính năng của họ vi điều khiển PIC . -«- 38
4.1.4 RISC và CISC -<-s°<< 55s =sseeseerteersrsenesee 40
| 4.1.6 Các dòng vi điều khiển PIC và kí hiệu -<c-eeeseces 41
4.1.7 Ngôn ngữ lập trình cho vi diéu khiển PIC . - 42
4.1.8 Nạp chương trình cho vi điều khiển PIC . s-«- «=2 42
4.1.9 Vi điều khiển PIC18E4550) - 5 5-5 cescesesesersrnsrssrsrree 43 4.2 Cơ sở lí thuyết về giao tiếp USB -.-.<eeeeeeseseeesesrersrseseseersee 46 4.2.1 Cấu trúc đồ hình của USB (USB bus topology) . -e- 48
Trang 9Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
4.2.10 Modute giao tiếp USB trong vi điều khiển PIC18E4550 61
4.2.11 Kết luận 63
4.3 Cơ sở lí thuyết về tập lệnh AT dùng để điều khiển Modem GSM 64 4.3.1 Sơ lược về tập lệnh AT 64 43.11 Giới thiệu 64 4.3.1.2 Cú pháp chuẩn của tập lệnh AT a 66 4.3.1.3 Thanh ghi S 68 4.3.2 Một số lệnh AT cơ bản 68 4.3.3 Ứng dụng tập lệnh AT để truyền nhận SMS - 69
4.3.3.1 Các lệnh AT dùng cho thao tác truyền nhận SMS 70
4.3.3.2 Các thao tác truyền nhận SMS sử dụng tập lệnh AT 78
4.4 Cơ sở lí thuyết về dịch vụ bản tin ngắn điểm nối điểm 78
4.5 Các công cụ được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài 79
CHƯƠNG 5 : THIẾT KẾ MÔ HÌNH HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN TỪ XA BẰNG SMS
QUA MẠNG GSM
5.2 Xây đựng sơ đồ nguyên lÍ -.- 5-2 se ceesssstsstssssrarnssssasssensssee 81
Trang 10Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
Phu luc 1: Dich vu ban tin ngắn điểm nối điểm và các vấn đề có liên quan
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 7
Trang 11Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
LỜI MỞ ĐẦU
Điều khiển từ xa từ những ngày đầu tiên ra đời đã khẳng định được tầm quan
trong thời đại khoa học kĩ thuật ngày nay
nhiều cơ hội để phát triển, từ phương thức truyền nhận tín hiệu điều khiển đến các phương pháp thực hiện điều khiển
khoảng cách điều khiển của một hệ thống điều khiển từ xa có thể nói đã không còn
giới hạn nữa
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM
SMS qua mạng GSM” được thực hiện với phương châm: “thông tin lién lac không
một nhà máy,
Trang 8
Trang 12Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
CHƯƠNG 1
GIỚI THIẾU
1.1 Sự phát triển của hệ thống điều khiển từ xa
Ngày nay, điều khiển từ xa có thể xem là một phần không thể thiếu trong hoạt động hằng ngày của con người, giúp con người điều khiển máy móc và thiết bị một cách dễ dàng mà không cần tương tác trực tiếp với chúng Những máy móc hay thiết
bị được điều khiển có thể là những vật dụng hằng ngày như máy lạnh, truyền hình, cửa xe ôtô, hay những trang thiết bị của một dây chuyển sản xuất, thậm chí là một nhà máy
Người đầu tiên xây dựng một hệ thống điều khiển từ xa không dùng dây dẫn là
không dây được xây dựng bởi Marconi (người Italia) và William Preece (ngudi Anh) tai Toynbee Hall ở London vào năm 1896
Hệ thống “Telekine”, theo mô tả của Quevedo, bao gồm một hệ thống
telegraph hữu tuyến hoặc vô tuyến cho phép truyền tín hiệu để điều khiển vị trí một công tắc được dùng để bật tắt một động cơ
Hình 1.1: Cơ chế mã hóa lệnh của hệ thống Telekine được xây dựng bởi Quavedo
Trang 13Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
Các hệ thống điều khiến từ xa lúc bấy giờ về cơ bản, đều hoạt động trên cơ chế bật/tắt giống như nguyên lí hoạt động của hệ thống telegraph, do đó khả năng điều khiển còn rất hạn chế Quevedo từng nghĩ đến khả năng tổ hợp hai hay nhiều tín
hiệu bật/tắt để đa dạng hóa khả năng mã hóa tín hiệu, và tăng cường khả năng
điểu khiển, nhưng những hạn chế về khả năng đồng bộ tín hiệu lúc bấy giờ đã
không cho phép ông thực hiện ý tưởng của mình Thay vào đó, ông đưa ra một giải pháp thay thế dựa vào số xung điện mà bộ nhận tín hiệu nhận được, ví dụ như nhận được một xung thì thực hiện cộng việc 1, hai xung thì thực hiện công việc 2, (hình 1.1)
Hình 1.2 là một ví dụ về hệ thống Telekine ứng dụng trong điều khiển tau thủy
Hệ thống bao gồm bộ nhận tín hiệu telegraph Bộ nhận tín hiệu được kết nối với
công tắc đa điểm dùng để điều khiển chân vịt và bánh lái Khi có xung xuất hiện, từ trường sẽ được tạo ra làm cho vị trí của công tắc dịch chuyển lên một vị trí Mỗi vị trí của công tắc sẽ tương ứng với một thao tác được hệ thống thực hiện
Cùng với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật, diéu khiển từ xa ngày càng phat triển đa dạng và phong phú về phương thức truyễển nhận tín hiệu điểu khiển, môi trường truyền nhận tín hiệu (hữu tuyến với dây dẫn, cáp quang, ., vô tuyến với sóng điện từ, tia hổng ngoại, ), cơ chế mã hóa và giải mã tín hiệu điểu khiển, cơ chế bảo mật, Ngoài ra, sự phát triển không ngừng của hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu đã tạo nên những điều kiện về sơ sở hạ tang hết sức thuận tiện cho sự phát triển của các hệ thống điều khiển từ xa Sự phát triển này thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 14vài mét, vài chục mét, trong một tòa nhà hay một khu vực bạn chế nhất định,
mà thậm chí, con người có thể điều khiển một thiết bị nào đó cách họ nửa vòng trái đất, hoặc hơn nữa, hoặc nằm đâu đó ngoài không gian Giới hạn về khoảng cách có thể nói đã được khắc phục gần như triệt để
yêu cầu điều khiển cho phép vô số các thao tác điều khiển khác nhau, tạo nên rất nhiều thuận tiện cho người điều khiển, sử dụng thiết bị
động, còn có những cơ chế cho phép máy móc thông tin lại cho con người về trạng thái hoạt động, tình hình vận hành hệ thống, để cảnh báo, hoặc giúp người sử dụng đưa ra những yêu cầu mới phù hợp hơn với tình hình hoạt
động hiện tại của hệ thống
Thông tin liên lạc vô tuyến ngày nay đã phát triển rộng khắp và vô cùng đa dạng, phong phú Những hiệu ứng của thông tin liên lạc toàn cầu đối với cuộc sống của con người là hết sức rõ rệt, và mạng lại cho con người rất nhiều tiện nghi trong cuộc sống
Để thông tin liên lạc không chỉ còn đơn thuần là truyền nhận tin tức, là thông tin truyền nhận giữa con người và con người, mà có thể là giữa con người và máy móc,
cần có những hệ thống như hệ thống mà Quevedo đã từng xây dựng
Đề tài “điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM” được thực hiện dựa trên những ý tưởng và cơ sở khoa học đầu tiên này
1.2 Mô hình tổng quát của hệ thống điều khiển từ xa _„
mrs
Những ý tưởng được trình bày trong phần một cho ta một khái ahiệm tổng quát
về một hệ thống điểu khiển từ xa
Về cơ bắn, có ba khối tham gia vào một hệ thống điều khiển từ xa:
= Khéi xử lí thông tin trung tâm: khối này có nhiệm vụ đưa ra những yêu cầu điều khiển và vận hành cho toàn hệ thống Các yêu cầu điều khiển được đưa
ra có thể theo một qui trình được định sẵn, hoặc dựa vào các trạng thái hoạt động được phản hồi trở về từ hệ thống Khối này có thể do người điều khiển, máy tính hoặc một thiết bị có khả năng xử lí thông tin và ra quyết định đảm nhiệm
se _ Khối truyền nhận tín hiệu: khối này có nhiệm vụ nhận truyền tín hiệu điều khiển đi từ khối xử lí trung tâm, hoặc nhận các trạng thái phản hổi từ hệ
thống để truyền về khối xử lí trung tâm Mỗi khối truyền nhận tín hiệu bao gồm bộ giải mã, mã hóa tín hiệu điều khiến và khối truyền nhận tín hiệu điểu khiển Khối truyền nhận phải tương thích với hệ thống mạng thông tin
Trang 15Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
Mã hóa, Thiết ( Thiét Mã lại „| Thiết bị
Trang 16Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
= Khối thực thỉ: một hệ thống có thể bao gồm một hay nhiều khối thực thi,
mỗi khối có nhiệm vụ thực thi các yêu cầu được truyền đi từ khối xử lí trung tâm, hoặc phần hổi các thông tin về quá trình hoạt động, thực thi yêu cầu
Mỗi khối thực thi có thể bao gồm một hay nhiều thiết bị Mỗi khối thực thi cần
có một bộ truyền nhận tín hiệu điều khiển để cho phép truyền nhận thông tin voi
khối xử lí trung tâm
Đường truyền được đánh số (1) trong hình 1.3 đặc trưng cho hệ thống thông tin
liên lạc được sử dụng cho hệ thống Hệ thống thông tin liên lạc này cho phép truyền
nhận tín hiệu điều khiến giữa khối truyền nhận tín hiệu và các khối thực thi Các
thiết bị truyền nhận tín hiệu trong hệ thống phải được lựa chọn sao phù hợp với hệ
thống thông tin liên lạc tương ứng, và thường là các thiết bị đầu cuối của hệ thống
Trong thực tế, tùy theo từng ứng dụng cụ thể, có thể đơn giản hóa các thành
có thể giảm bớt thành phần thu tín hiệu, giải mã tín hiệu ở khối truyền nhận tín hiệu
và thành phần nhận tín hiệu, mã hóa tín hiệu điều khiển ở các khối thực thi Muốn
thành phần giải mã tín hiệu điều khiển, nhận tín hiệu ở khối thực thi và thành phần
truyền tín hiệu, mã hóa tín hiệu ở khối truyền nhận tín hiệu
1.3 Hệ thống điều khiển từ xa qua mang GSM
Mang GSM (Global System for Mobile communications) là một trong những hệ
thống thông tin di động toàn cầu được phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng Tại Việt Nam, mạng GSM chiếm lĩnh một vai trò chủ
chốt trong lĩnh vực thông tin di động với rất nhiều nhà cung cấp dịch vu Cơ sở hạ
tầng của mạng GSM tại Việt Nam cho phép phủ sóng trên toàn quốc, kết nối được
thông tin liên lạc khác như ISDN
thoại, dịch vụ tin nhắn SMS (Short Message Service), định vị toàn cầu GPRS, truy
cập web, và nhiều địch vụ khác
Trang 17
VỚI sự cơ động, thuận tiện của dịch vụ thông tin đi động, và sự hỗ trợ đác lực về
cơ sở hạ tầng của mạng GSM tại Việt Nam, có thể nói đây là sự lựa chọn phù hợp
nhất để phát triển hệ thống điều khiển từ xa tại Việt Nam, bằng cách tận dụng
những dịch vụ được cung cấp bởi hệ thống mạng
Trong phạm vi ứng dụng của để tài, dịch vụ tín nhắn SMS qua mạng GSM được lựa chọn do các nguyên nhân sau:
»=_ Dịch vụ này phù hợp với các yêu cầu về điều khiển: như nội dung thông
tin điều khiển không cần nhiều, dễ dàng giải mã và mã hóa các thông tin
điều khiển, khả năng bảo mật cao,
»=_ Dịch vụ này được cung cấp bởi hầu hết các thiết bị đầu cuối của mạng:
đó là các điện thoại di động, các tổng đài GSM, các modem GSM,
=_ Các thiết bị đầu cuối của mạng GSM rất đa dạng và phong phú, được sản
xuất bởi các hãng có uy tín và chất lượng đảm bảo, trong đó có một số thiết
bị đầu cuối hỗ trợ tính năng cho phép truy xuất thông tin của thiết bị, điển hình là tập lệnh AT dành cho điện thoại di động
Ngoài ra, trong định hướng phát triển của để tài, có thể chú trọng vào vào một
đa dạng, phong phú vàkhông ngừng được phát triển trong nhiều lĩnh vực của đời
sống, trong sinh hoạt hằng ngày, kinh doanh sản xuất, hoạt động khoa học Kĩ thuật,
quân sự,
Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật và hệ thống thông tin liên lạc trên toàn thế giới, điều khiển từ xa đã có được một cơ sở hạ tầng vô cùng thuận lợi để tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mang lại nhiều tiện ích hơn cho con người
Đóng một vai trò chủ chốt trong hệ thống thông tin di động ở Việt Nam cũng
như trên thế giới, trong phạm vi ứng dụng của để tài, mạng GSM và dịch vụ tin
nhắn SMS được lựa chọn để phát triển hệ thống điều khiển từ xa tại Việt Nam, đồng thời phát triển, nâng cấp không ngừng để khai thác tối đa các tính năng và
dịch vụ của hệ thống mạng GSM, qua đó góp phần mang lại nhiều tiện ích hơn cho
cuộc sống hiện đại ngày nay
Trang 18Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
2.1 Vài nét sơ lược về mạng thông tin di động toàn cầu GSM
(Global System for Mobile communication) ra đời từ chương trình phát triển của tổ chức này với hai mục đích chính:
gọi là D2 đã đi vào hoạt động ở Đức vào năm 1992
Sơ lược về các thông số lớp vật lí:
Bộ hiệu chỉnh
phân tán
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 15
Trang 19Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
hình TDMA để phát triển thành hệ thống vô tuyến di động Nó có một vài đặc điểm
nổi bật sau:
=_ Liên lạc di động trên các quốc gia tại châu Âu
“_ Liên kết với mạng ISDN thông qua hộp RA
= piéu khién céng suat truyền
® Nhảy tần
= Truyén khong liên tục
= Chuyén vùng di động
2.1.1 Kiến trúc mạng GSM
Mạng GSM bao gồm nhiều hệ thống nhỏ như máy thuê bao di động MS
(Operation Subsystem) (hinh 2.1)
Vv
Hình 2.1: Môi trường bên ngoài một BSS
hiện một dịch vụ nào đó hoặc cung cấp kết nối cho các thiết bị đầu cuối, ví dụ như
máy tính cá nhận hoặc máy fax MS bao gồm các thiết bị đi động ME (Mobile
không cần thiết phải luôn cố định cho một cá nhân đăng kí thuê bao nào đó SIM là một module dành cho thuê bao và chứa tất cả các thông tin liên quan đến thuê bao
Trang 20Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
các cuộc gọi sẽ được cung cấp cho thuê bao này ME không phải liên hệ trực tiếp với số được gọi, nó chỉ liên hệ trực tiếp với SIM được lắp vào ME
Hệ thống phụ trạm gốc BSS (Base Station Subsystem): BSS kết nối với MS
và NSS thông qua giao điện vô tuyến BSS bao gồm một trạm vô tuyến gốc (BTS)
‘ (Base Station Controller) cho phép điều khiển một vài BTS BTS bao gồm kênh truyền vô tuyến và thiết bị thu nhận giống như ME (trong MS)
GSM sử dụng mô hình lên kết hệ thống mở OSI (Open System
Interconnection) Có 3 giao điện chính trong mô hình OSI được mô ta như trong
hình 2.2:
A interface
Hình 2.2: cấu trúc các khối chức năng và các giao điện chính
giữa MS và BTS
Với những giao diện chung này, bộ hoạt động của hệ thống có thể tích hợp những sản phẩm sản xuất tại công ty A với những sản phẩm sản xuất tại công ty B
Sự khác nhau giữa giao diện và giao thức là:
Trang 21Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
= Giao diện được dùng ở những điểm tiếp xúc giữa hai thực thể liền kể (thiết bị hay hệ thống)
“ Giao thức cung cấp luồng thông tin đến giao diện
Ví dụ, giao diện vô tuyến GSM là điểm phát luồng thông tin gắn Hển với một
giữa người sử dụng hệ GSM và những người sửa dụng các mạng truyền thông khác
Sự quản lí của NSS bao gồm:
đi của người sử dụng GSM, đồng thời giám sát nhiều bộ điều khiển trạm gốc
Trang 22Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hé Ngọc Bá
“Chức năng tương tác IWE: là cổng giao tiếp giữa MSC và các mang bên ngoài để truyền thông với các thuê bao không dùng hé GSM, nhu mang dif liệu công cộng chuyển mạch gói PSPDN hay mạng dữ liệu công cộng
chuyển mạch mạch CSPDN Vắi trò của IWF phụ thuộc vào dữ liệu người sử dụng và mạng mà nó giao tiếp
khả năng chuyển mạch, cơ sở đữ liệu bao gồm thông tin thuê bao, thông tin liên quan đến vi trí hiện tại của thuê bao nhưng không phải là vị trí thật sự của thuê bao Một trạm bộ phận nhỏ của bộ ghi định vị thường trú (HLR) là trung tâm nhận thức AUC (Authentication Center) AUC quản lí dữ liệu bảo mật trong việc xác nhận thuê bao Một trạm khác của bộ ghi định vị thường trú HLR là bộ đăng kí nhận dạng thiết bị EIR Nó lưu trữ các dữ liệu của máy
di động (ME) hay các đữ liệu liên quan đến ME
thuê bao lưu trữ tạm thời được phục vụ liên kết với MSC, và lưu giữ nhiều dữ liệu chi tiết hơn 14 HLR Vi du, VLR c6 nhiều thông tin về vị trí đăng kí thuê bao hiện tại hơn thông tin có trong HLR
= Tổng đài di động cổng GMSC: dùng để cài đặt cuộc gọi yêu cầu, cuộc gọi
bắt đầu tìm đường đến một GMSC, GMSC tm được chính xác HLR vì nó biết được số thư mục đăng kí của thuê bao GSM GMSCcó giao diện với mạng bên ngoài thông qua các cổng, và mạng cũng dùng hệ thống báo hiệu
đầy đủ kênh số 7 (SS7) để báo hiệu giữa các NSS
„Điểm truyền tín hiệu STP: là một phần các chức năng của NSS, giống như một nút độc lập hay trong các thiết bị khác nhau của MSC Điểm chuyển báo hiệu STP tiết kiệm tối đa chi phí dùng để báo hiệu giữa MSC/VLR, GMSC, HLR
Như đã để cập trước đây, NNS giống như một mạng thông minh Nó tách cơ
sở đữ liệu trung tâm HLR từ các bộ chuyển mạch MSC và sử dụng điểm chuyển giao báo hiéu STP để truyền báo hiệu giữa tổng đài di động MSC và
bộ ghi định vị thường trú HLR
OSS được trình bày như trong hình 2.4, bao gồm các chức năng duy trì và hoạt động mạng, chức năng quản lí tài nguyên thuê bao, nạp tài khoản, tính cước cuộc gọi và chức năng quản lí thiết bị di động Các nhiệm vụ này yêu cầu phải có sự tác động lẫn nhau giữa các thiết bị OSS được bổ sung ở bất kì hình thức mạng nào
Trang 23
n
Ỷ BSS
Hình 2.4: Hoạt động của OSS
2.1.2 Mô hình phân lớp (mô hình OSI)
Hình 2.5: các phân lớp chức năng của GSM
Cấu trúc phân lớp của GSM gồm có 5 lớp: truyền dẫn (TX); quản lí tài nguyên
vô tuyến (RR); quản lí di động (MM); quản lí truyền tin (CM); vận hành, quản trị và bảo dưỡng (OAM) (xem hình 2.5)
Lớp TX: thiết lập kết nối giữa MS và BTS
Lớp RR: có giao thức quản lí truyền dẫn qua giao diện vô tuyến và cung cấp
đường truyền ổn định giữa MS và BSC BSS thực hiện hầu hết chức năng của lớp
RR
Trang 24Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
Lớp MM: quản lí cơ sở đữ liệu về thuê bao, kể cả số liệu định vị và quản lí hoạt
động đăng kí, SIM, HLR và AUC
Lớp OSS: là một phần các chức năng của lớp OAM
Tất cá các hệ thống nhỏ khác như là BSS và NSS đóng góp vào chức năng khai
thác và bảo dưỡng OAM
Lớp NSS: là một phần tử có ý nghĩa trong lớp CM Các chức năng hầu hết được
thực hiện bởi MSC, bao gồm:
lí những dịch vụ có định hướng, bao gồm thoại, dữ liệu, tương tác với MSC/VLR, GMSC, IWF, HLR (các khối này đều thuộc lớp CM)
cuộc gọi trong mạng và có thay đổi đặc biệt từ các dịch vụ cơ bản
kết nối với nhiều mạng Quá trình truyền nhận tin nhắn đồi hỏi việc thiết kập được đường truyền báo hiệu giữa MS và MSC
2.1.3 Quản línguồn tài nguyên vô tuyến
Trong mạng lưới thông tin di động, các kênh truyền vô tuyến phải được cấp phát
khi các cuộc gọi được thiết lập, chuyển vùng, cũng như giải phóng cuộc gọi Sự quản lí này được đưa thêm vào trong tập hợp các thủ tục thông thường vẫn thực hiện
để quản lí cuộc gọi của hệ thống mạng cố định Có 3 chức năng quản lí: định vị, chuyển vùng và liên lạc di động Các thành phần của các chức năng quản lí tài nguyên vô tuyến đồi hỏi phải có một vài giao thức giữa trạm di động và hệ thống mạng
Giao thức liên kết (Link Protocol)
Hầu hết các chức năng trao đổi thông tin đều được thiết kế thích hợp cho nhiều dạng thiết bị khác nhau, và có 3 giao thức liên kết được dùng để trao đổi thông tin:
=_ Giao thức liên kết vô tuyến RLP: giao thức truy cập liên kết trong hệ GSM bằng liên kết vô tuyến được gọi là LAPDm
= Giao thife MTP: ding dé truyén tín hiệu trong hệ thống mạng báo hiệu SS7 Tốc độ bản tin tín hiệu trong giao thức liên kết vô tuyến bằng 22,8 kbps Tốc độ
bắn tin tín hiệu trong các giao thức liên kết khác bằng 64 kbps ay tạ thon
Sinh vién thuc hién: Nguyén Trung Chinh o G AOWCOME $5 Trang 21
Trang 25Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hé Ngoc Ba
Các giao diện gắn liền với các giao thức liên kết trong hệ thống mạng
MSC-MSC (tín hiệu liên hệ cuộc gọ1) TUP (Telephone User Part)
| BSC-relay MSC (tín hiệu không liên hệ cuộc ISUP (ISDN User Part)
Trang 26
MAP/B: giao thức giữa BSC và relay MSC
MAP(/C: giao thức giữa GMSC và một HLR
MAP/D: giao thức giữa MSC/VLR và HLR
MAPKE: giao thức giữa các MSC
Mối quan hệ giữa các giao thức MAP/X được thể hiện trong hình 2.6
2.1.4 Quản lí di động MM (Mobility Management)
Sự di động của những người sử dụng hệ thống cellular yêu cầu cần phải có sự quản lí về cập nhật vị trí, thực hiện việc chuyển vùng và liên lạc di động Sự chuyển vùng này xảy ra khi kênh thoại thay đổi do trạm di động di chuyển vào một cell khác trong lúc đang thực hiện cuộc gọi Liên lạc di động là khả năng khởi tạo một
cuộc gọi trong một hệ thống mạng và cấp phát nó cho một hệ thống mạng khác
bằng cách sử dụng việc quản lí di động và quản lí việc cập nhật vị trí
Quần lí cập nhat vi tri (Location Update Management)
Thuê bao di động luôn được liên kết với mạng PLMN (Public Land Mobile Network) của nó Khách hàng liên lạc di động thực kết nối với các mạng PLMN dudc ghé qua (visited PLMN), Chung ta co thể xác định được một cuộc gọi bất kì là
từ một mạng PLMN hay từ một mạng PLMN được ghé qua bằng cách dựa vào vị trí của trạm di động Trong quá trình chọn lựa PUMN, MM thường tìm kiếm những cell chỉ nằm trong PLMN chủ Nếu không có dịch vụ nào thích hợp, người sử dụng có thể chọn hoặc tự động tìm kiếm mạng để tìm được PLMN như mong muốn Trong trường hợp dịch vụ giới hạn, MM tiếp tục giám sát 30 sóng mang mạnh nhất Dịch
vụ giới hạn thường quan tâm sự bao phủ tại các vùng biên của các quốc gia ngoài
Sự lựa chọn cell Việc chọn lựa cell tốt nhất từ một trạm di động phụ thuộc vào ba hệ SỐ:
= Hai thong s6 pl va p2 đặc trưng bởi cell
Ta goi day 1a cdc tiéu chuan C)
C, = A— max(B,0)
B = p2 — công suất RE cực đại của trạm di động
Trang 27pI là một giá tri nim trong khodng -110 dén 48 dBm
P2 là một giá tri nằm trong khoảng 13 đến 43 đBm
Cả hai giá trị p1 và p2 đều được phát đi từ các cell
Công suất cực đại của trạm di động nằm trong khoảng 29 đến 43 đBm
Thuật toán chọn cell được thực hiện như sau:
© Chon cell c6 gid tri C1 lớn nhất trong số các cell ứng cử C1 phải lớn hơn Ô
vụ
Quan lí bảo mật và bảo vệ người dùng
GSM tạo ra một qui trình xác nhận, mã hóa phức tạp nhằm chống nghe trộm cuộc gọi, bảo vệ hệ thống khỏi những sự truy cập không cho phép Các thông số bảo mật được lưu trữ trong SIM và AC
Lớp CM cung cấp các dịch vụ viễn thông như thoại, fax và dữ liệu cho người sử dụng thông qua các lớp RR và MM Người sử dụng bao gồm những người thực hiện cuộc gọi trong mạng GSM, những người nhận cuộc gọi trong mạng GSM và những người vừa thực hiện vừa nhận cuộ gọi Các chức năng quản lí của CM bao gồm điều khiển cuộc gọi, quản lí dịch vụ và phục vụ tin nhắn ngắn
Điều khiển cuộc gọi CC (Call Control)
CC quản lí hầu hết các dịch vụ hướng mạch như thoại, đữ liệu mạch thông qua MSC/VLR, GMSC, IWF và HLR Các chức năng của CC bao gồm thiết lập cuộc gọi, duy trì cụoc gọi và giải phóng cuộc gọi Để thiết lập cuộc gọi, số điện thoại của các thuê bao di động phải được chỉ định trước
Chuyển vùng
Giải thuật chuyển vùng trong hệ GSM không được định rõ thành một tiêu chuẩn
Đó chính là điểm đặc trưng của sự chuyển vùng hỗ trợ di động MAHO (Mobile Assistance HandOver) và được thực hiện trong một đơn vi Tram di động tìm kiếm một sóng mang vô tuyến khác dưới sự điều khiển của trạm gốc Nó quản lí các khe thời gian khác với những khe thời gian đã được chỉ định dành cho việc nhận tín
Trang 28Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
được đo trong một khung thời gian, và dựa trên yêu cầu, các phép đo được đẩy mạnh tại trạm gốc để giúp đỡ quá trình chuyển vùng Công việc này được gọi là
| chuyển vùng Hai tập hợp đó là:
Thông tin sau cùng là từ MAHO
Quản lí các dịch vụ bổ sung SSM (Supplementary Services Management)
CC cung cấp các dịch vụ bổ sung như chờ cuộc gọi, chuyển cuộc gọi và trả lời tự
động SSM là một dịch vụ quản lí điểm nối điểm Một trung tâm dịch vụ SSM SMMSC (SSM Service Centre) có thể được nối với một vài hệ thống mạng GSM SSM còn bao gồm các chức năng hỗ trợ cho dịch vụ SMS điểm nối điểm
Dich vu tin nhắn ngắn (Short Message Service)
CC còn phụ trách việc cung cấp dịch vụ tin nhắn ngắn điểm nối điểm (SMS-PP) Mạng GSM được kết nối với trung tâm dịch vụ tin nhắn ngắn, và sử dụng DPME để
truyền tín hiệu, điều khiển hộp maIl thoại, điều khiển máy trả lời, hội thảo,
2.1.6 Quan li mang NM (Network Management)
Một trung tâm NM có nhiệm vụ quản lí các công VIỆC sau:
thiết bị đi động ME (Mobile Equipment) bên trong số nhận dạng thiết bị đi
| này có 15 chữ số, bao gồm mã chấp nhận nhận dạng TAC (Type Approval
Code), mã nhóm cuối FAC (final Assembly code) va s6 serie được lưu trong EIR
kiểm tra và thông báo lỗi khi xảy ra tình huống hoạt động không đúng:
hoạt động này được tiến hành thông qua giao thức quản lí GSM Q3 Giao thức này có liên quan đến các thiết bị của hệ thống và các thiết bị xử lí luồng thông tin Hai khía cạnh quan trọng trong việc sử dụng giao thức GSM Q3 là giao thức liên lạc dữ liệu chuẩn ở cấp ứng dụng, ví dụ như sự truyền file và biểu diễn mô hình mạng trong giao thức GSM Q3
Trang 29Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
2.2 Giới thiệu về modem GSM
Cùng với sự đa dạng về tính năng và sự phong phú về các dịch vụ được cung cấp, các thiết bị đầu cuối tương thích với mạng GSM cũng rất nhiều Một trong những thiết bị đầu cuối thông dụng của mạng GSM là chiếc điện thoại di động sử dụng cho mạng GSM Với chiếc điện thoại trong tay, người sử dụng có thể tiếp cận được với hầu hết các dịch vụ được cung cấp như dịch vụ thoại, dịch vụ ban tin ngắn điểm nối điểm, dịch vụ truyền đữ liệu, Tuy nhiên, điện thoại di động đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của con người để điều khiển và sử dụng các dịch vụ của hệ thống mạng GSM, do đó khả năng khai thác các tính năng của điện thoại di động để phục
vu cho ting dung diéu khién tif xa qua mang GSM gap phai nhiéu điểm han chế Một thiết bị khác phù hợp hơn cho mục đích ứng dụng của để tài là modem
GSM Đây cũng là một trong số các thiết bị đầu cuối tương thích với mạng GSM,
cho phép sử dụng hầu hết các dịch vụ cung cấp bởi hệ thống mạng GSM, và cho phép điểu khiển bằng tập lệnh AT như các loại modem mạng khác
Modem GSM cũng được tích hợp trong một số chủng loại điện thoại di động như
Nokia 6210, Nokia 7210, Ericsson T10s, Ericsson T18, Ericsson T29, , nhung tat
cả các điện thoại được hỗ trợ modem hiện nay đều rơi vào tình trạng ngưng sản xuất, và rất khó tìm được trên thị trường điện thoại di động hiện nay
Hầu hết các điện thoại của hãng sản xuất Nokia đều được hỗ trợ các protocol
MBUS và FBUS để tương tác trực tiếp với máy, nhưng những tài liệu có liên quan cũng như các thông tin về các protocol này không được hãng sản xuất công bố hay xuất bản, cho nên việc tương tác với điện thoại di động của hãng Nokia thông qua
các protocol này là không thể thực hiện được
Sau một quá trình tìm hiểu, modem GSM là sản phẩm được lựa chọn cho mục đích ứng dụng của để tài Phần tiếp theo tiếp tục giới thiệu sơ lược về modem GSM
có tên gọi MTSMC-G-F1 được sản xuất bởi hãng MultiTech
Đây là một sản phẩm được sản xuất bởi hãng MultTech MultiTech được thành lập vào năm 1970 và có trụ sở chính đặt tại Hoa Kì Các sản phẩm của công ty bao gồm các thiết bị lên quan đến các giải pháp truy cập các hệ thống mạng hữu tuyến cũng như vô tuyến, các giải pháp truy cập và điều khiển từ xa,
Trang 30Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
Hình 2.7: Modem GSM MTSMC-G-F1 được sẵn xuất bởi hãng MultiTech
Một sản phẩm của công ty phù hợp với nôi dung ứng dụng của đề tài là modem
sau:
= Tuong thích với các yêu cầu của một thiết bị đầu cuối dành cho mạng GSM
=_ Giá thành hợp lí so với các sản phẩm cùng loại
hợp với mục đích ứng dụng cũng như định hướng phát triển của đề tài
Thông tin chỉ tiết về sản phẩm có thể tìm hiểu thêm tại trang web chính thức của
liệu đi kèm với sản phẩm
Trang 31Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
CHƯƠNG 3
HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN TỪ XA BẰNG SMS QUA
MANG GSM
Trong các phẩn trước ta đã để cập đến vai trò, tác dụng của hệ thống điều khiển
từ xa trong thực tế cuộc sống, và tìm biểu sơ lược về hệ thống mạng GSM cũng như dịch vụ tin nhắn SMS Phần này sẽ đi sâu vào chỉ tiết để xây dựng hệ thống điều khiển từ xa, và các thông tin, kiến thức cần thiết phục vụ cho việc xây dựng hệ
thống điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM
! 3.1 Xây dựng sơ đô khối tổng quát
Sơ đồ khối của hệ thống được xây dựng dựa trên mô hình của hệ thống điều khiển từ xa đã được đề cập đến trong chương 1 (hình 1.3)
Mô hình đã được để cập trong hình 1.3 đòi hỏi sự tham gia của nhiều khối chức
năng khác nhau, nhiều đối tượng khác nhau, với các vai trò và nhiệm vụ khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, mỗi khối phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
"_ Mã hóa và giải mã được thông tin điều khiển
máy tính, trong trường hợp cần thiết
Ngoài ra, các khối thực thi còn có thêm một chức năng khác là kết nối được với
hệ thống các thiết bị, điểu khiển được và kiểm soát được các trạng thái hoạt động
của thiết bị
Dựa trên những nhận định này, ta có thể xây dựng một khối tổng quát tương thích với hoạt động của toàn hệ thống, vừa có thể đảm nhận chức năng của một khối
khối chức năng tổng quát đảm bảo được các yêu cầu sau:
» Kiém soat va diéu khién duge qua trinh truyén nhan cdc thông tin điều
khiển thông qua các tính năng tương tác được hỗ trợ bởi thiết bị truyền nhận
Trang 32
“ _ Mã hóa và giải mã được thông tin điều khiển thông qua một protocol được
thiết lập trước Protocol này phải bảo đảm được tính đơn giản cho người sử
dụng, linh động, hiệu quả trong ứng dụng điều khiển thiết bị và phải bảo đầm được các tính năng về bảo mật thông tin điểu khiển
= Kết nối được với mạng thiết bị thông qua một giao diện thống nhất, cho
phép điều khiển các thiết bị trong mạng một cách linh động, và kiểm soát được trạng thái hoạt động của từng thiết bị trong mạng
cho người sử dụng trên hệ thống, hoặc có thể thông qua một máy tính
khối chức năng, tận dụng các tính năng ưu việt của máy tính và các nguồn tài nguyên vô tận trên máy tính để sử dụng cho quá trình xử lí thông tin điểu
khiển mà hệ thống không đủ khả năng xử lí, đồng thời khai thác được nhiều tính năng khác thông qua các hệ thống được hỗ trợ trên máy tính, ví dụ như
truy cập web
đảm an toàn, chống hỏng hóc trong quá trình vận hành hệ thống
Các khối chức năng và mối quan hệ giữa chúng nhằm đáp ứng được các yêu cầu
nêu trên được thể hiện như trong hình 3.1
Hình 3.1: dự kiến các tính năng của một khối tổng quát trong hệ thống điều khiển từ xa
Các phần tiếp theo sẽ phân tích những lựa chọn và các giải pháp để thực hiện
các khối và các đường liên kết trong khối tổng quát được đề ra trong hình 3.1
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 29
Trang 33Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hé Ngoc Ba
3.2 Các giải pháp nhằm xây dựng khối tổng quát cho hệ thống
Ngoài các giải pháp và các lựa chọn đã được đề cập trong chương 1 và chương 2,
ví dụ như lựa chọn dịch vụ trong hệ thống mạng GSM phục vụ cho hệ thống điều
khiển, lựa chọn thiết bị đầu cuối của mạng GSM sử dụng trong hệ thống, còn có
nhiều vấn để và giải pháp khác có liên quan để xây dựng một hệ thống hoàn thiện
như trong hình 3.1 Các giải pháp và các vấn để có liên quan sẽ được dé ra trong
các phần sau
3.2.1 Giải pháp cho khối xử lí trung tâm
Khối xử lí trung tâm đóng vai trò quyết định cho các tính năng và các hoạt động
của khối tổng quát Các nhiệm vụ của khối trung tâm sẽ là:
" Phân tích và thực thi thông tin điểu khiển nhận được
"Thực thi các yêu cầu của người sử dụng thông qua giao diện của người sử
dụng
" Hiển thị thông tin điểu khiển, trang thái hoạt động của mạng các thiết bị
khiển toàn bộ mọi họat động của mạng thiết bị, và gửi đi các thông báo cảnh
báo nếu cần về trạng thái hoạt động của mạng thiết bị
Với nhiều nhiệm vụ và các tính năng đa dạng cần được thực thi, giải pháp cho
khối xử lí trung tâm là một vi điều khiển Trong trường hợp này, đòng vi điều khiển
PIC được lựa chọn do các nguyên nhân sau:
Đây là vi điều khiển quen thuộc với bản thân người thực hiện để tài Các công
cụ làm việc và thí nghiệm với vi điều khiển này đã được trang bị sẵn
Được hỗ trợ nhiều tính năng cho phép đáp ứng được các yêu cầu của khối xử lí
trung tâm
Tính ổn định cao, hoạt động tốt trong thời gian dài và liên tục
Có được nhiều sự hỗ trợ về kĩ thuật của nhà sản xuất cũng như các công cụ làm
việc
Trang 34so với các vi điều khiển thông dụng khác hiện nay
Sự lựa chọn này là phù hợp với yêu cầu của hệ thống, đồng thời tạo nhiều điều
kiện thuận lợi cho bản thân người thực hiện để tài
3.2.2 Giải pháp cho khối hiển thị
Hiện nay các thiết bị có tác dụng hiển thị có thể nói là rất đa dạng Một số thiết
ưu nhược điểm riêng
tài
LED và ma trận LED sở hữu những ưu điểm tương tự như LED 7 đoạn, khả năng
phải là sự lựa chọn thích hợp
khối hiển thị của hệ thống
màn hình LCD là sự lựa chọn cần thiết
3.2.3 Giải pháp cho khối giao diện người sử dung
ứng dụng của để tài
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 31
Trang 35Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
Bên cạnh đó người sử dụng cũng có thể tương tác với hệ thống thông qua giao diện người sử dung được tạo ra trên máy tính Trong trường hợp này người sử dụng
có nhiều sự lựa chọn để can thiệp trực tiếp vào hệ thống
3.2.4 Giải pháp cho liên kết giữa modem GSM và khối xử lí
trung tâm
Đây là liên kết có vai trò quan trọng trong qui trình họat động của toàn bộ hệ
thống điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM Liên kết này phụ thuộc chủ yếu
vào các đặc tính kĩ thuật của modem GSM được sử dụng Trong trường hợp modem
được sử dụng là modem MTSMC-G-F1 (Xem phân 2.2.1), ta sẽ xây dựng liên kết
này như sau:
Lua chon Iép vat lí: dựa theo các đặc tính điện của modem, các chân tín
hiệu và điều khiển của modem, ta có thể lựa chọn lớp vật lí cho liên kết là
RS232 Đây là lớp vật lí thường được sử dụng cho liên kết giữa máy tính và
thiết bị ngoại vi thông qua cổng nối tiếp (cổng COM) Tuy nhiên, có một
điểm khác biệt trong trường hợp này, đó là mức logic các chân xuất nhập của
modem tương thích với mức logic TTL thông dụng, do đó có thể kết nối trực
tiếp modem với khối xử lí trung tâm sử dụng vi điểu khiển PIC mà không
cần thông qua các bộ chuyển đổi RS232/TTL
Lựa chọn phương thức liên kết khối xử lí trung tâm với modem GSM:
phương thức liên kết hoàn hoàn phụ thuộc vào các đặc tính của modem GSM Modem GSM hỗ trợ phương thức tương tác bằng tập lệnh AT, do đó ta cũng phải tuân thủ theo sự hỗ trợ này, và không có sự lựa chọn nào khác
Cần tìm hiểu rõ nguyên tắc điều khiển và cách sử dụng tập lệnh AT dùng
cho modem GSM, đặc biệt là các lệnh AT của dịch vụ SMS để thiết lập được các phương thức tương tác phù hợp
Lựa chọn protocol liên kết: protocol liên kết phụ thuộc vào sự lựa chọn dich vu mang GSM được sử dụng cho hệ thống điều khiển từ xa Trong phạm
vi ứng dụng của để tài, dịch vụ được lựa chọn là dịch vụ SMS, do đó đữ liệu truyền nhận giữa khối xử lí trung tâm và modem GSM phải tuân theo các protocol được qui định trong quá trình sử dụng dịch vụ SMS Đây là một
trong những nội dung quan trọng cần được giải quyết của để tài
Xây dựng protocol cho ứng dụng: protocol này phải được xây dựng dựa trên protocol của dịch vụ SMS, nhằm thống nhất các nội dung điểu khiển cần được trao đổi trong toàn bộ hệ thống, hay nói cách khác, đây chính là phần nội dung của tin nhắn điều khiển Protocol này do người thực hiện đề tài ứng dụng đề ra, và phải đảm bảo được các yêu cầu như: đơn giản, linh động và có tính năng bảo mật cao, do đó cần quan tâm xây dựng cơ chế giải mã, mã hóa nội dung một cách phù hợp
Trang 36Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
tiếp theo
3.2.5 Giải pháp cho liên kết giữa khối xử lí trung tâm và mạng
thiết bị
Liên kết này phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
của hệ thống
Các yêu cầu trên được đặt ra dựa trên các tình huống trong thực tế cuộc sống
xuất
Do đó, cần liên kết các thiết bị thành một mạng thiết bị, nhằm:
=_ Tăng cường khả năng giám sát, điều khiển các hoạt động của các thiết bị
=_ Tiết kiệm được chỉ phí trong quá trình lắp đặt
“ Nâng cao tính hiệu quả của hệ thống
Từ đó ta cũng thấy rằng các yêu cầu đặt ra cho liên kết giữa khối xử lí trung tâm
và mạng thiết bị là không hề thừa thải
nhiều trong công nghiệp
đưa vào định hướng phát triển cho để tài
Trang 37phan 3.1
song (cổng máy in, cổng LPT) hoặc cổng USB
bằng cổng USB được lựa chọn do các nguyên nhân sau:
trợ trong hầu hết các máy tính hiện nay, đặc biệt là trong các máy tính thế hệ mới
“_ Giao tiếp USB có thể thực hiện được bằng vi điều khiển PIC
LPT, và là sự lựa chọn hàng đầu hiện nay cho giao tiếp giữa máy tính và ngoai Vi
chương tiếp theo
3.3 Chương trình hoạt động của hệ thống điều khiển từ xa
Họat động của hệ thống sẽ được quyết định bởi khối xử lí trung tâm, đồng thời
cho phép sự can thiệp trực tiếp của con người và máy tính
Để đảm bảo được các yêu cầu nêu trên, cẩn để ra một chương trình hoạt động
hợp lí cho toàn hệ thống
Dựa vào sơ đổ các khối chức năng trong hình 3.1, và căn cứ vào phạm vi ứng dụng của đề tài, hoạt động của hệ thống sẽ được thực hiện như lưu đồ ở hình 3.2
Lưu đồ giải thuật cho quá trình họat động ở hình 3.2 cho phép hệ thống hoạt
động liên tục trong một chu trình khép kín, đồng thời đảm bảo được các tính năng cần thiết cho hệ thống điểu khiển từ xa, bao gỗm các tính năng như: cho phép hoạt
Trang 38Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
hỗ trợ của máy tính trong quá trình phân tích và kiểm soát hoạt động của mạng thiết
bị; khả năng thực thi các yêu cầu điều khiển; có khả năng đưa ra những cảnh báo
cần thiết cho hệ thống trong trường hợp hệ thống bị hư hỏng, hoặc dự báo sắp bị hư
hỏng, hoặc dự báo có khả năng xấu xảy ra
Các yêu cầu cảnh báo hoặc yêu cầu điều khiển có thể xuất hiện trong trường
hợp có sự can thiệp của con người, hoặc thông qua quá trình phân tích, dự đoán của
máy tính, hoặc bản thân hệ thống tự đưa ra dựa trên trạng thái họat động của mạng
thiết bị
Vai trò của các khối chức năng được đề ra trong hình 3.1 vẫn được đẩm bảo
trong qui trình hoạt động này
Như vậy có thể kết luận đây là một qui trình hoạt động hợp lí cho mô hình đã
được xây dựng, và tương thích với qui trình hoạt động của toàn hệ thống
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trung Chính Trang 35
Trang 39Đầ tài: Điêu khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hô Ngọc Bá
Hình 3.2: lưu đồ giải thuật cho hoạt động của toàn hệ thống
Trang 40Đề tài: Điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM GVHD: TS Hồ Ngọc Bá
CHƯƠNG 4
NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT PHỤC VỤ CHO
QUA TRINH XAY DUNG HE THONG DIEU
KHIEN TU XA BANG SMS QUA MANG GSM
Trong các phần trước ta đã phân tích các yếu tố cần thiết nhằm xây dung một hệ
thống điều khiển từ xa qua mạng GSM Phần này sẽ đi sâu vào chỉ tiết về cơ sở lí
thuyết cho các yếu tố đã được phân tích, nhằm củng cố lại các kiến thức cần thiết,
và trang bị thêm các kiến thức mở rộng khác để hiện thực hóa hệ thống, và đưa hệ
thống vào ứng dụng trong thực tế cuộc sống
4.1 Cơ sở lí thuyết về vi điều khiển PIC
Đây là họ vi điều khiển được lựa chọn làm giải pháp cho bộ xử lí trung tâm của
hệ thống điều khiển từ xa bằng SMS qua mạng GSM
4.1.1 Giới thiệu về vi điều khiển PIC
PIC là viết tắt của “Programable Intelligent Computer”, có thể tạm dịch là
“máy tính thông minh khả trình” do hãng Genenral Instrument đặt tên cho vi điều
khiển đầu tiên của họ: PIC1650 được thiết kế để dùng làm các thiết bị ngoại vi cho
vi điều khiển CP1600 Vi điều khiển này sau đó được nghiên cứu phát triển thêm và
từ đó hình thành nên dòng vi điều khiển PIC ngày nay
4.1.2 Một số tính năng của họ vi điều khiển PIC
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều họ vi điểu khiển như 8051, Motorola
68HC, AVR, ARM, Ngoài họ 8051 được hướng dẫn một cách căn bản ở môi
trường đại học, vi điều khiển PIC được lựa chọn cho quá trình học tập và phát triển
các ứng dụng so các nguyên nhân sau:
" Họ vi điều khiển này có thể tìm mua dễ dàng tại thị trường Việt Nam
= CO day dt cdc tinh nang của một vi điều khiển khi hoạt động độc lập