1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Sự quản lý của Nhà nước các Công ty phát hành chứng khoán”. pot

34 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự quản lý của Nhà nước các Công ty phát hành chứng khoán
Tác giả Nguyễn Văn Minh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Trường học Khoa Khoa Học Quản Lý, Trường Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Tài chính
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 348,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam gặp không ít khó khăn về kinh tế cũng như sự hiểu biết loại hình kinh doanh này còn hạn chế, đặc biệt khi thị trường chứng kh

Trang 1

Đề tài: Sự quản lý của Nhà nước các Công ty phát hành

chứng khoán”.

Trang 2

rỡ Để đạt được điều đó Đảng, nhà nước đã đưa ra nhiệm vụ và mục tiêu phải tiến hành "Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước"

Để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công, tăng trưởng kinh tế bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực cần phải có nguồn vốn lớn Mà để có nguồn vốn lớn cần phát triển thị trường chứng khoán Tuy nhiên, việc phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam gặp không ít khó khăn về kinh tế cũng như sự hiểu biết loại hình kinh doanh này còn hạn chế, đặc biệt khi thị

trường chứng khoán đi vào hoạt động thì cần phải có “Sự quản lý của Nhà nước

nay

Trang 3

Các chứng khoán do chính phủ, chính quyền địa phương và các công ty phát hành với mức giá nhất định Sau khi phát hành, các chứng khoán có thể được mua

đi bán lại nhiều lần trên thị trường chứng khoán theo các mức giá khác nhau tuỳ thuộc vào cung và cầu trên thị trường

1.2 Các loại chứng khoán :

1.2.1 Cổ phiếu :

Cổ phiếu là chứng khoán vốn, xác nhận quyền sở hữu một phần tài sản công ty của cổ đông Cổ phiếu gồm hai loại chính:

- Cổ phiếu thường: là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công

ty Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty Cổ đông

sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội

đồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi

Trang 4

- Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu có cổ tức xác định được thể hiện bằng số tiền xác định được in trên cổ phiếu hoặc theo tỉ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá cổ phiếu.Cổ phiếu ưu đãi thường được trả cổ tức trước các cổ phiếu thường Cổ đông

sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu thường

1.2.2 Trái phiếu :

Trái phiếu là chứng khoán nợ, người phát hành trái phiếu phải trả lãi và hoàn trả gốc cho những người sở hữu trái phiếu vào lúc đáo hạn

Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:

- Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là: trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương (do chính phủ và chính quyền địa phương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành)

- Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu được chia thành loại có khả năng chuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả năng chuyển

- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:

+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố định theo

định kỳ

+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thay

đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ

+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theo nguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập ( nó là phần chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa- mệnh giá trái phiếu và giá mua)

- Trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm

Trang 5

1.2.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán:

- Chứng quyền: là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát hành tại mức giải tường bán ra của công ty Các chứng quyền thường được phát hành cho cổ

đông cũ, sau đó chúng có thể được đem ra giao dịch

- Chứng khế: là các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu, trong đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất định

- Chứng chỉ thụ hưởng: là giấy xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định Chứng chỉ này có thể được mua bán, giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá trị khác Chứng chỉ này do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ phát hành (là tổ chức chuyên nghiệp thực hiện đầu tư theo sự uỷ nhiệm của khách hàng)

Thị trường sơ cấp: Là thị trường phát hành Đây là thị trường mua bán các

chứng khoán phát hành lần đầu giữa nhà phát hành (người bán) và nhà đầu tư (người mua) Trên thị trường sơ cấp, chính phủ và các công ty thực hiện huy động vốn thông qua việc phát hành- bán chứng khoán của mình cho nhà đầu tư

Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo ra hàng hoá cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế

Nhà phát hành là người huy động vốn trên thị trường sơ cấp, gồm chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty và các tổ chức tài chính

Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp bao gồm cá nhân, tổ chức đầu tư Tuy nhiên, không phải nhà phát hành nào cũng nắm được các kiến thức và kinh nghiệm phát

Trang 6

hành Vì vậy, trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành chứng khán Nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho nhà phát hành thực hiện việc phân phối chứng khoán mới phát hành và nhận từ nhà phát hành một khoản hoa hồng bảo lãnh phát hành cho dịch vụ này

Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch Đây là thị trường mua bán các

loại chứng khoán đã được phát hành Thị trường thứ cấp thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn Qua thị trường thứ cấp, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể đầu tư vào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác Nghĩa là thị trường thứ cấp là nơi làm cho các chứng khoán trở nên ‘lỏng’ hơn Thị trường thứ cấp là nơi xác định giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hành chứng khoán bán ở thị trường thứ cấp Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ mua cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận cho chứng khoán này

Xét về phương diện tổ chức và giao dịch ,TTCK có ba loại:

Thị trường chứng khoán tập trung:là thị trường ở đó việc giao dịch mua

bán chứng khoán được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán

Thị trường chứng khoán bán tập trung: là thị trường CK “bậc cao” Thị

trường chứng khoán bán tập trung (OTC) không có trung tâm giao dịch mà giao dịch mua bán chứng khoán thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại Một điều rất quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán chứng khoán như trong phòng giao dịch của SGDCK, thay vào đó

họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông

Thị trưòng chứng khoán phi tập trung: còn gọi là thị trường thứ ba Hoạt

động mua bán chứng khoán được thực hiện tự do

Trang 7

2.2 Chức năng của TTCK

2.2.1 Chức năng thứ nhất :Huy động vốn cho nền kinh tế

Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừa vốn với người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu và qua đó để huy động vón cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân cư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Thông qua thị trường CK,chính phủ và chính quyền địa phương cũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Thị trường chứng khoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn Vì vậy, nó góp phần giao lưu và phát triển kinh tế Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng thị trường chứng khoán Chẳng hạn, những TTCK lớn như Luân Đôn, Niu óc , Paris, Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia vì đây là những TTCK từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế Cho nên biến động của thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nước sở tại, mà còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước khác

2.2.2 Chức năng thứ hai: thông tin

Thị trường chứng khoán bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời ( cho các nhà

đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán ) về tình hình cung - cầu, thị giá của từng loại chứng khoán trên thị trường mình và trên thị trường chứng khoán hữu quan

2.2.3 Chức năng thứ ba: cung cấp khả năng thanh khoản

Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi thành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quảvà năng động

2.2.4 Chức năng thứ tư:đánh giá giá trị doanh nghiệp

Trang 8

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá chính xác doanh nghiệp thông qua chỉ

số chứng khoán trên thị trường Việc này kích các doanh nhgiệp nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn,kích thích áp dụng công ngệ mới

2.2.5 Chức năng thứ năm: tạo môi trường để chính phủ thực hiện chính vĩ mô

Chính phủ có thẻ mua bán trái phiếu chính phủ đẻ toạ ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.ngoài ra chính có thể sử dụng các chính sách tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư

II Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

Các đối tượng tham gia thị trường CK chia thành các nhóm:nhà phát hành,nhà

đầu và các tổ chức có liên quan

1 Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương, Công

ty

- - Chính phủ phát hành các loại trái phiếu chính phủ nhằm huy động tiền bù

đắp thâm hụt ngân sách hoặc thực hiện nhưng công trình quốc gia lớn

- - Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu địa phương để huy động tiền

đầu tư cho các công trình hay chương trình kinh tế, xã hội của địa phương

- - Các công ty muốn huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất thương phát hành

trái phiếu công ty hoặc cổ phiếu

Trang 9

ro Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn Do vậy, các nhà đầu tư phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với mình

2.2 Các nhà đầu tư có tổ chức

Các tổ chức này thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn và có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Đầu tư thông qua các tổ chức này có ưu

điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm

Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng có thể trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho mình

3 Các tổ chức kinh doanh chứng khoán

4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán

4.1 Cơ quan quản lý nhà nước

Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán cơ quan này có những tên gọi khác nhau tuỳ từng nước Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities Investment Board), tại Mỹ

có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission) được thành lập vào năm 1992 và

Trang 10

đến năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency Và ở Việt Nam

có Uỷ ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo Nghị địng số 75/CP ngày 28/11/1996

4.2 Sở giao dịch chứng khoán

Hiện nay trên thế giới có ba hình thức tổ chức SGDCK:

Thứ nhất: SGDCK được tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộ mini” hay được tổ chức theo chế độ hội viên Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính chất tự phát Trong hình thức này, các hội viên của sgdck tự tổ chức và tự quản lý SGDCK theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước Các thành viên của SGDCK bầu ra hội đồng quản trị để quản lý và hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành

Thứ hai: SGDCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ đông là công ty chứng khoán thành viên SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty cổ phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứng khoán và thị trường chứng chứng khoán do chính phủ lập ra

Thứ ba: SGDCK được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của Nhà nước Cơ cấu tổ chức, điều hành và quản lý cũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thành phần hội đồng quản trị có một số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám đốc điều hành SGDCK do ủy ban chứng khoán bổ nhiệm

4.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:

- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán

- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định pháp luật về chứng khoán

- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên

Trang 11

- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán

4.4 Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán

Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ

- Hiện nay trong bất kỳ thị trường nào, dù là đã phát triển hay đang phát triển, yêu cầu đầu tiên đối với hoạt động phát hành là phải có sự quản lý, giám sát của nhà nước để đảm bảo hiệu quả, công bằng và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư ở Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thực hiện chức năng giám sát và

điều chỉnh việc phát hành chứng khoán ra công chúng để được niêm yết trên thị trường

- Mỗi nước có những quy định riêng cho việc phát hành chứng khoán lần đầu

ra công chúng Tuy nhiên, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường

tổ chức phát hành phải đảm bảo năm điều kiện cơ bản sau:

Trang 12

* Về quy mô vốn: tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ

tối thiểu ban đầu và sau khi phát hành phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất

địnhvề vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và do số lượng công chúng tham gia

* Về tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh: Công ty được thành

lập và hoạt động trong vòng một thời gian nhất định( thường khoản từ 3-5 năm)

* Về đội ngũ quản lý công ty: Công ty phải có đội ngũ quản lý tốt, có đủ năng

lực và trình độ quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty

* Về hiệu quả sản xuất kinh doanh: công ty phải làm ăn có lãi với mức lợi

nhuận không thấp hơn mức quy định và trong một số năm liên tục nhất định ( thường từ 2- 3 năm)

* Về tính khả thi của dự án: công ty phải có dự án khả thi trong việc sử dụng

nguồn vốn huy động được

Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường cho phép một số trường hợp ngoại

lệ, tức là có những doanh nghiệp sẽ được miễn giảm một số điều kiện nêu trên, Ví dụ: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ sở có thể được miễn giảm về hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, theo quy định của Nghị

định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành cổ phiếu, Trái phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng được các điều kiện sau:

+ Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam

+ Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất

+ Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lý kinh doanh

+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu, trái phiếu

+ Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên

100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ

Trang 13

+ Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ

đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành

2 Hình thức phát hành

Doanh nghiệp có thể kêu gọi tiền tiết kiệm của dân cư bằng cách phát hành

cổ phiếu hoặc trái phiếu để hình thành nguồn vốn dài hạn rất cần cho sự tài trợ phát triển của mình Doanh nghiệp cũng có thể tiến hành gia tăng vốn bằng việc phát hành cổ phiếu để kêu gọi thêm sự tham gia của các cổ đông sáng lập, nhưng việc

đó giả thiết một mặt các cổ đông này phải có sẵn những vốn cần thiết, và mặt khác,

họ cũng chấp nhận tham gia bổ sung vào hoạt động của doanh nghiệp

- Trái phiếu là một chứng chỉ nợ, đại diện cho một sự vay vốn dài hạn đối

với tổ chức phát hành Do đó sẽ phải được hoàn trả cả gói hoặc từng phần theo theo mệnh giá phát hành hoặc đắt hơn, điều này phải được ghi rõ khi khoản thu nhập cố

định bất kể trong tình huống nào và bất kể hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

ra sao Mức lãi suất đã được quy định khi phát hành trái phiếu

- Cổ phiếu là một chứng chỉ có tham gia vào cấu tạo vốn ban đầu của một

doanh nghiệp, người chủ cổ phiếu có tư cách hội viên và có quyền được chia lợi tức theo tỷ lệ vốn tham gia hoặc tài sản có theo điều lệ của Công ty Khoản thu nhập đó (gọi là lợi tức (hay cổ tức) cổ phiếu) thay đổi tuỳ theo tổng lợi nhuận của tài khoá

và theo chính sách của công ty Khi thấy cần thiết phải ưu đãi việc tự tài trợ hoặc mỗi khi phân phối lợi nhuận, Công ty có trách nhiệm thông tin cho các chủ cổ phần

về hoạt động và kết quả kinh doanh của mình Vì thế công ty phải công khai hoá

Trang 14

bảng cân đối tài sản, bảng kết quả lỗ lãi cùng với các phụ lục, kể cả những tài liệu khác

Mặc dù cổ phiếu và trái phiếu có những điểm khác biệt nhưng xét cho cùng chúng đều là các hình thức huy động vốn của nhà phát hành, được quyền mua bán

tự do trên thị trường riêng của nó Chúng là nguồn tiếp vốn, là máu nuôi dưỡng các

tế bào kinh tế, là cái phao nâng đỡ con tàu kinh tế qua các cơn phong ba bão tố của thị trường

Phần 2: Quản lý Nhà nước đối với các Công ty phát hành

2 Đặc điểm

- Quản lý nhà nước là quản lý có tính toàn cục mà đối tượng là những quan

hệ kinh tế vĩ mô, nhưng quan hệ kinh tế xét trong tổng thể nền kinh tế của một nước Tính toàn cục của quản lý nhà nước đòi hỏi nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý cần xem xét các vấn đề kinh tế trung mô và xuất phát từ các yêu cầu của phát triển kinh tế quốc dân, từ sự phối hợp, điều hoà các mối quan hệ trong phạm vi nền kinh tế quốc dân

- Quản lý có tính tổng thể là một loại quản lý dựa trên cơ sở quản lý doanh nghiệp, quản lý khu vực và quản lý ngành bằng việc vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý, Nhà nước điều tiết các mối quan hệ làm cho nền kinh tế quốc dân trên tổng thể phát triển cân đối nhịp nhàng tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý doanh nghiệp, quản lý khu vực và quản lý ngành phát huy được hiệu quả của mình

Trang 15

- Quản lý mang tính quyền lực: Nhà nước quản lý các hoạt xã hội bằng quyền lực chính trị ( lập pháp, hành pháp và tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác Mặt khác quản lý nhà nước còn mang tính pháp quyền và thực hiên theo nguyên tắc pháp chế Quản lý bằng pháp luật là đặc điểm riêng có của quản lý Nhà nước đối với quản lý xã hội

- Quản lý mang tính phức hợp đa dạng được thể hiện ở tính phức hợp và tính

đa dạng của các đối tượng quản lý, tính đa mục tiêu, tính phong phú của các hình thức tác động, tính phụ thuộc vào môi trường trong nước và quốc tế, tính hệ thống của các vấn đề trong phạm vi quốc gia và quốc tế, tính gián tiếp của phương pháp tác động do đó phải có một bộ máy quản lý tinh xảo, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả

- Quản lý nhà nước nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm chính, bởi vậy mục tiêu đặt ra trong quản lý kính tế quốc dân là mục tiêu kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội được xem như là tiêu chuẩn của mục tiêu trên Hiệu

quả được hiểu theo hai nội dung sau: Thứ nhất, lỗ hoặc lãi của một doanh nghiệp,

một nganh hay một khu vực kinh tế chưa phải là lỗ hoặc lãi của toàn bộ nên kinh tế quốc dân mà hiệu quả kinh tế phải xét trong phạm vi toàn bộ nên kinh tế quốc dân

Thứ hai, hiệu quả tổng hợp không chỉ là hiệu quả kinh tế mà còn là hiệu quả chính

trị, xã hội, văn hoá và môi trường

- Quản lý nhà nước là quản lý đa mục tiêu Về cơ bản, mục đích trong quản

lý doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, còn mục đích trong quản lý nhà nước là tối

đa hoá phúc lợi quốc gia Bởi vậy, mục tiêu quản lý của nhà nước không chỉ dừng lại ở mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn phải tính đến hàng loạt các mục tiêu khác như công bằng xã hội, phát triển văn hoá, ổn định và nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo và vấn đề về môi trường

Thực chất quản lý nhà nước là quản lý con người và các quan hệ xã hội nhằm giúp định hướng cho các hoạt động được diễn ra theo đúng quy luật cơ chế thị

Trang 16

ổn định thuận lợi cho hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường là Nhà nước

đã thực hiện vai trò kinh tế của mình đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước

1.2 Định hướng

Xã hội càng phát triển, con người càng được tự do hơn trong hành động thì chức năng định hướng càng giữ vai trò quan trọng Trong việc quản lý nhà nước việc định hướng đúng giúp đất nước đối phó được với mọi sự không ổn định trong nước cũng như khu vực và thế giới

Định hướng theo nghĩa rộng bao gồm cả định ra đường lối phát triển và thiết lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho sự phát triển Do vậy chức năng

định hướng còn được gọi là chức năng hoạch định Chất lượng của định hướng tạo

điều kiện cho việc thực hiện các chức năng còn lại của quản lý và quyết định toàn

bộ quá trình quản lý của Nhà nước Cho nên sự quản lý của nhà nước đối với các

Trang 17

Công ty phát hành chứng khoán có đúng đắn hay không còn tuỳ thuộc vào chức năng định hướng đúng hay sai

1.3 Tạo khuôn khổ pháp luật

Pháp luật theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý trí của giai cấp công nhân và nhân dân lao

động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý

và trong hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể với nhau và các cơ quan quản lý nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường để phát triển mạng lưới các hoạt động và các mối quan hệ phức tạp sẽ trở nên cực kỳ khó khăn nếu không có các luật chơi rõ ràng, sòng phẳng và có thể dự đoán được Nhưng luật chơi trong các hoạt động kinh

tế này phải là mối quan tâm chủ yếu của Nhà nước vì chỉ có Nhà nước mới có thể

đưa ra và buộc các tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm chỉnh các luật chơi đó

Bằng luật pháp nhà nước điều chình hành vi kinh doanh phát hành chứng khoán, xác định hành vi nào là hành vi kinh doanh hợp pháp, hành vi nào là hành vi kinh doanh phi pháp Luật pháp tạo ra luật chơi cho các chủ thể kinh doanh trên thị trường Trên sân bóng thiếu luật chơi hoặc luật chơi chưa hoàn thiện các cầu thủ không thể chơi bóng được, trong các hoạt động kinh doanh phát hành cũng vậy

Khi đã có luật chơi rõ ràng rồi thì buộc các chủ thể tham gia phải tuân theo

nó để tạo ra một sân chơi bình đẳng, công bằng Do đó Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn cũng như các điều luật buộc các chủ thể phát hành chứng khoán phải tuân theo những quy định của pháp luật đã đề ra

1.4 Điều chỉnh

Quá trình điều chỉnh thường gặp phải các tác động đột biến, làm cho đối tượng đi chệnh quỹ đạo dự kiến và chủ thể phải tác động thêm để san bằng các sai lệch đó Việc thực hiện những tác động thêm này gọi là điều chỉnh Trong mọi trường hợp có thể xảy ra các sai lệch là điều khó có thể tránh khỏi nhất là trong giai

Ngày đăng: 21/06/2014, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chứng khoán và thị trường chứng khoán - Uỷ ban chứng khoán nhà nước Khác
2. Những kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán - Uỷ ban chứng khoán nhà nước Khác
7. Giáo trình Khoa học quản lý – Tập I + II , NXB Khoa học và kỹ thuật, Tác giả: TS. Đoàn Thị Thu Hà - TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền Khác
8. Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân – Tập I + II, NXB Khoa học và kỹ thuật Tác giả: GS. TS. Đỗ Hoàng Toàn - TS. Mai Văn Bưu Khác
9. Hiểu và sử dụng thị trường chứng khoán, NXB Thống kê, Tác giả: PGS. PTS Lê Văn Tư , Trang 323- 515 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w