trung học cơ sở tại Việt Nam, đó là: nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh một số trường THCS của một số thành phố ở Việt Nam của Lê Thị Kim Dung và cộng
Trang 1GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
HOC PHAN TOT NGHIEP CU NHAN Y TE CONG CONG
Trang 2LỜI CẢM ƠN Với mục tiêu củng có, nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành y tế công cộng
trong chương trình đào tạo 4 năm học, sinh viên cuối khóa thực hiện viết tiêu luận
tốt nghiệp dựa trên các kiến thức và kỹ năng đã đựơc giảng dạy Quá trình thực hiện tiểu luận tốt nghiệp đã giúp tôi có thêm hiểu về vấn đề sức khỏe tâm thân trẻ em, đồng thờigiúp nâng cao kỹ năng trình bày, tìm tài liệu và phân tích một vấn đề sức khỏe Qua đó, tôi hiểu rõ hơn về vai trò và nhiệm của đội ngũ y tế công cộng đối với công tác chăm sóc sức khỏe cộng dong
Để hoàn thành được bài tiểu luận tốt nghiệp này, tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và có hiệu quả từ phía Ban giám hiệu nhà trường Đại học Y tế Công cộng và
các thầy cô giáo khoa Sức khỏe môi trường - nghề nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Y tế Công cộng, Phòng Đào tạo Đại
học đã tạo điều kiện giúp cá nhân tôi có cơ hội thực hiện một bài tiêu luận tốt
nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Sức khỏe môi trường _ nghề nghiệp đã tận tình chỉ bảo kiến thức không chỉ về chuyên ngành mà còn về
lĩnh vực Y tế công cộng nói chung
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths Trần Thị Thu Thủy - giảng viên
môn Sức khỏe an toàn nghề nghiệp, cô đã dành nhiều thời gian hướng dan, tan tinh
chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề hoàn thành bài
tiêu luận một cách tốt nhất
Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và thầy cô giáo trường
Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài tiểu luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Sinh viên Trần Thị Hoàn
Trang 3
DANH MỤC VIẾT TẮT
CSSKTT Chăm sóc sức khỏe tâm thần DALYs Số năm sống khỏe mạnh mắt đi do bệnh tật
và tử vong (Disability-adjusted life years)
Trang 44.1.1 Một số khái niệm liên quan QTSÀ 6
4.1.2 Phân loại các rỗi loạn tâm thân ở trẻ em -©ccccccccse2 7
em trên thể giới và tại Việt Nam ,Ằ< 12 4.2.1 Tình hình rối loạn tâm thân trên thế giới - «+ s+cecxecxsee 12
4.2.2 Tình hình rỗi loạn tâm thân tại ViệtiNam - +555s+e+sese+eses 16 4.3 Mô hình chăm sóc sức khóe tâm thần dựa vào trường học cho học sinh trung
trường6§oc (rorufNTI cho học sinh 20
4.3.2 Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thân dựa vào trường học cho học sinh
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4 1 Các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của trẻ em [64]
Bảng 4 2 Tỷ lệ rối loạn tâm thần của trẻ em và vị thành niên ở một số nước
Bang 4 3 Tỷ lệ trẻ em gặp RLTT tại Việt Nam (%) | 17
Trang 6
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIÊU DO
Hình 4 1 Rối loạn tâm thần phố biến theo lứa tuổi [64] . - 7 Hình 4 2 DALYSs phân theo nguyên nhân, tuối và giới tính năm 2000 [62] 11 Hình 4 3 Mô hình CSSKTT học đường của WHO [69] - 2s 24 Hình 4 4 Mô hình phố sức khỏe tâm thần [48] - -ss-sssses«e 25 Hình 4 5 Mô hình hỗ trợ thay đổi hành vi .s-sssossessessesseosssoe 2 ƒ
Hình 4 6 Mô hình CSSKTT hệ thống liên kết . - s- ssss=sess2 27
Hình 4 7 Mô hình phối hợp tham vấn tâm lý học đường (Đặng Hoàng Minh)
Hình 4 8 Mô hình mạng lưới CSSK tâm lý - tâm thần học đường (Nguyễn
Hình 4 9 Mô hinh CSSKTT hoc sinh tai Thai Nguyén (Dam Thi Bao Hoa) 31
Biểu đồ 4 1 So sánh các RLTT vị thành niên và thanh niên qua hai cuộc điều
Trang 71 ĐẶT VÁN ĐÈ
Ước tính có khoảng 20% trẻ em (0-18 tuổi) trên toàn thế giới gặp phải các
vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT), chủ yếu là trầm cảm và lo âu [18] Được đánh giá là gánh nặng bệnh tật hàng đầu sau năm 2020 [63], các rối loạn tâm thần (RLTT) nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng xấu không chỉ
đối với cá nhân mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội Tuy nhiên, so với việc
chăm sóc sức khỏe thể chất của trẻ em thì chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT)
là một lĩnh vực mới mẻ và chưa thực sự nhận được sự quan tâm cần thiết từ phía xã hội
Trước tình hình trên, trải qua 20 năm kỉ niệm Ngày Sức khỏe tâm thần thế
giới, Liên đoàn Sức khỏe Tâm thần thế giới (WEMH) đã đưa ra chủ dé hành động
cho từng năm, nhằm kêu gọi chính phủ hơn 150 quốc gia thành viên cam kết tham
gia hành động trong RLTT học đường Trong đó, mô hình CSSKTT dựa vào trường học đã được hình thành và áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, được coi là một
trong các bước tiếp cận có hiệu quả đối với van dé CSSKTT Đi đầu trong công tác CSSKTT cho trẻ phải kế đến các quốc gia phát triển, nơi mà mạng lưới CSSKTT đã
có chặng đường vài chục năm phát triển Tuy nhiên, hệ thống CSSKTT trẻ em tại các quốc gia dang phát triển vấp phải nhiều hạn chế [62] Dé ap dụng các mô hình
CSSKTT trong trường học có hiệu quả, đòi hỏi lãnh đạo các quốc gia này cần có hành động thiết thực để thay đổi mãnh mẽ quan điểm “CSSKTT dựa vào điều trị tại
bệnh viện”
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với tỷ lệ trẻ em lứa tuổi học đường
cao, khoảng 30% dân số nằm trong lứa tuổi học trò Việt Nam cũng không phải
ngoại lệ đối với vấn đềRLTT học đường Có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành
niên trên toàn quốc có những biểu hiện vềRLTT một cách rõ rệt [13] Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở(từ 11 — 15 tuổi), có tuổi đời nằm trong lứa tuổi vị thành niên
(10-19 tuổi) Đây là thời gian xảy ra nhiều biến đổi tâm sinh lý ở các mức độ khác
nhau trong cơ thé trẻ; sự hình thành nhân cách được hoàn thiện Đã conhiéu sé liệu
“đáng báo động” tại một sô nghiên cứu đánh giá vê sức khỏe tâm thân cua hoc sinh
Trang 8trung học cơ sở tại Việt Nam, đó là: nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh một số trường THCS của một số thành phố ở Việt Nam
của Lê Thị Kim Dung và cộng sự (2007) [7], nghiên cứu của Bệnh viện tâm thần tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trên 30 trường THCS trên địa bàn tỉnh (2012-2014) của B5
Ngô Thanh Phong [14] Mặc dù kết quả không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệhọc sinh trung học cơ sở tại Việt Nam gặp các vấn đề
sức khỏe tâm thần là đáng kẻ
Việt Nam đã có những nễ lực đáng kê trong công tác CSSKTT học đường Chính phủ đã đề ra “Chương trình Mục tiêu Quốc giá về sức khỏe tâm thần” từ năm
1999 Năm 2006, Bộ Y tế ban hành “Kế hoạch tổng thê quốc gia về bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe của vị thành niên và thanh niên Việt Nam, giai đoạn
2006-2010 và tầm nhìn 2020”, trong đó sức khỏe tâm thần được xếp là một trong 5
vấn đề ưu tiên cần giải quyết Tuy nhiên, các can thiệp nâng cao SKTT cho học sinh
nói riêng và thanh thiếu niên nói chung còn rất hạn chế Thực tế là hệ thống y tẾ của Việt Nam đang thiếu các chuyên gia về SKTT trẻ em, các cán bộ y tế (CBYT) cấp
cơ sở và CBYT trường học chưa được đào tạo chuyên môn về bệnh lý tâm thân trẻ cùng với các Kĩ năng tư vấn tâm lý [5], [11] Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục của
nước ta còn nhiều hạn ché, đã tạo áp lực không hè nhỏ lên bản thân người học trò
Với mong muốn tìm hiểu tình hình SKTT của trẻ em nói chung và lứa tuổi học sinh trung học cơ sở nói riêng, thực trạng công tác CSSKTT trẻ, đặc biệt là các
mô hình CSSKTT dựa vào trường học đã và đang được triển khai trên thé gIới cũng
như Việt Nam, sinh viên thực hiện đề tài “Tông quan các mô hình chăm sóc sức
khỏe tâm thần dựa vào trường học cho học sinh trung học cơ sở trên thế giới
và tại Việt Nam”
Trang 9trên thế giới và tại Việt Nam
._ Đưa ra mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học cho học sinh
trung học cơ sở phù hợp với thực tế tại Việt Nam
Trang 10
3 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Tổng quan tài liệu thu thập và phân tích các tài liệu nghiên cứu về thực trạng
của RLTT trẻ em và nhu cầu được CSSKTT của trẻ Từ đó, nêu bật tầm quan trọng của phương pháp CSSKTT dựa vào trường học Tổng quan tập trung thu thập các
tài liệu về mô hình CSSKTT dựa vào trường học cho học sinh trung học cơ sở - lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm sinh lý; các mô hình đang áp dụng cho các quốc gia phát triển và đang phát triển có gì giống và khác nhau, phân tích ưu và nhược điểm
của từng mô hình Từ đó phân tích khả năng áp dụng của mô hình vào thực tế của
Việt Nam
Bài tổng quan sử dụng 69tài liệu tham khảo Trong đó có 20 tài liệu tiếng Việt
và 49 tài liệu tiếng Anh: Các vải liệu được xuất bản từ năm 1989 đến nay, trong đó
có 47 tài liệu được xuất bản trong 10 năm gần đây (chiếm 68%)
3.1 Phương pháp thu thập tài liệu
từ các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo thống kê, luận
văn, sách có nội dung về RLTT, các mô hình CSSKTT dựa vào trường học cho học sinh trung học cơ sở Ưu tiên lựa chọn cho các bài báo cáo tổng quan dang day đủ.Các tài liệu được công bố từsau năm 1989 với ngôn ngữ là tiếng Việt hoặc tiếng
Anh
e Tiêu chuẩn loại trừ: Tổng quan cũng không sử dụng các tài liệu từ nguồn thông tin không tin cậy hoặc không có thông tin về tác giả
adolescent mental disorders, school-based mental health, model of middle school-
based mental health
“ Từ khóa Tiếng Việt: sức khỏe tâm thần của trẻ em, rối loạn tâm thần ở trẻ em,
rối loạn tâm thần ở vị thành niên, sức khỏe tâm thần dựa vào trường học, mô hình sức khỏe tâm thần ở trường trung học cơ sở.
Trang 113.2 Nguồn tài liệu tham khảo
Tài liệu sử dụng cho bài tổng quan được tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu trực tuyến PubMed, ScienceDirect; hoặc các trang tin điện tử của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em -
Bộ Lao động thương binh và xã hội Các sách, giáo trình, luận văn được bài tổng quan tìm hiểu, thu thập tại thư viện trường Đại học Y tế Công cộng
3.3 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Các tài liệu được chọn lọc và phân tích thông qua các bước như sau:
- Tông sô tài liệu điện tử
từ khoá là 105 tài liệu
thông tin cân thiệt vê chủ đê của tài liệu và ‘ mi
có nguôn thông tin tin cậy
phương pháp nghiên cứu
Lựa chọn những tài liệu phù hợp với tiêu chuân: |- Loại bỏ 15 tài liệu
- Tim các tài liệu toàn văn không tìm được các tài |
- So sánh các tài liệu có trùng lặp vẻ thông tin | trùng lặp về thông tin
- Doc chi tiét những tài liệu đã lựa chọn và ghi | - Tông cộng có 69 tài
4 | chép những nội dung liên quan để viết tổng | liệu được đưa vào tổng quan theo mục tiêu đê ra quan
Trang 124 KETQUA
4.1 Tông quan về sức khỏe tâm thần
4.1.1 Một số khái niémlién quan
s% Trẻ em (Children)
Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989) xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành
niên sớm hơn [16] Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có quy
định trẻ em là người dưới 16 tuổi [15]
Vi thanh nién (ngudi sap dén tudi truéng thanh) la nhimg em dang 6 giai
đoạn chuyển tiếp từ ấu thơ sang trưởng thành, trong độ tuổi từ 10-19 [67] Ở mỗi
nước khác nhau, căn cứ vào điều kiện mỗi nước mà trong luật hôn nhân và gia đình quy định độ tuổi vị thành niên khác nhau Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh
mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi bao gồm: Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự biến
đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nảy
sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuôi khác
s Trường trung học cơ sở (Middle school)
Đây là một bậc học trong hệ thống giáo dục (hay còn gọi là cấp II), kéo dài 4
năm (từ lớp 6 đến lớp 9) với hệ thống giáo dục Việt Nam [2] hoặc 3 năm với hệ
thống giáo dục Mỹ (từ lớp 6 đến lớp 8), với hệ thống giáo dục Anh (từ lớp 7 đến lớp
9) Độ tuổi trung học cơ sở là 11 (hoặc 12 tuổi) đến 15 tuổi [31] Do đó, học sinh trung học cơ sở có độ tuổi nằm trong lứa tuôi vị thành niên
Sức khỏe tâm thần không chỉ là không bị mắc các rối loạn về tâm thân Sức
khỏe tâm thần được định nghĩa là một tình trạng sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận
thức rõ khả năng của mình, có thê đối phó với những căng thắng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công và có thê đóng góp cho cộng dong [17].
Trang 13A Thuật ngữ “tâm thần” được Bộ Y tế cho cả hai trạng thái: bệnh tật (tiêu cực)
\
A
và sức khỏe (tích cực) Trong khi đó, đại đa số người Việt hiểu từ “tâm thần” là
bệnh, mang trạng thái tiêu cực, còn từ “tinh thần” được mang xu hướng tích cực
[20] Do đó, nhiều nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “tinh thần” hoặc “tâm
trí” để giảm nhẹ sự định kiến của xã hội với sức khỏe tâm thần Trong bài tổng quan
tài liệu này, tôi xin sử dụng I1 thuật ngữ là “tâm thần” để thống nhất với các y văn
quốc tế
s* Khái niệm rối loạn tâm thân (Mental Disorders):
Rối loạn tâm thần là sự lệch lạc của sức khỏe tâm thần ra khỏi ngưỡng bình
thường, hay sự bất thường của nhận thức, cảm xúc, hành vỉ và mối quan hệ xã hội
Rối loạn tâm thần gồm nhiều triệu chứng với các mức độ khác nhau như trằm cảm,
lo âu, nghiện chất, chậm phát triển tâm thần Đây là trạng thái bệnh và vẫn có thể
điều chỉnh đề trở về mức bình thường nếu được điều trị thích hợp Các rối loạn tâm
thần được phân loại trong hệ thống phân loại bệnh quốc tế 10 (ICD-10) [68], [59],
[20]
4.1.2 Phân loại các rồi loạn tâm thân ở trẻ em
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới về SKTT năm 2005, RLTT có thể xuất _
hiện ngay từ nhỏ hoặc gặp phải trong quá trình phát triển của trẻ [65] Các RLTT ở
trẻ em và vị thành niên được trình bày theo từng lứa tuôi trong hình 4 l
Trang 14Các trường hợp RLTTT phổ biến nhất gặp phải trong nhóm tuổi trung học cơ
sở là: rối loạn cảm xúc (rối loạn lo âu, trầm cảm) và rối loạn hành vi (Rối loạn tăng
động giảm chú ý, rồi loạn ứng xử) Đây được coi là những yếu tố chính gây nên hành vi tự tử [24] Tử tử là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba ở trẻ từ 10-
14 tuổi tại Mỹ trong năm 2013 (chiếm 13,3% số ca tử vong ở độ tuôi 10-14) [23]
Các rối loạn này có các biểu hiện như sau [9]:
Rối loạn lo âu: ám ảnh, hoảng sợ, rối loan lo âu lan tỏa, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, stress sau sang chấn
- _ Trầm cảm và hành vi liên quan đến tự tử: trẻ buồn râu, khóc lóc, tự ti; có hành
vi như mất quan tâm thích thú trong các hoạt động hoặc giảm sút trong học tập, thay đổi thê chất như ăn kém, sụt cân, mất ngủ, ngủ nhiều, hoặc các phan về các chứng
đau không rõ ràng Đặc biệt một số thay đổi trong suy nghĩ như nghĩ mình là người
xấu xa, có tội, không có giá trỊ Tram cam là một vấn đề lâm sàng quan trọng và có
thể dẫn đến hành vi tự tử
khăn khi phải ngồi yên một chỗ hoặc phải chờ đợi Hoặc trẻ phân tán, không tập trung được đề nghe giảng hoặc làm bài, hay quên đồ vật sách vở, luôn thất bại trong học tập
- - Rối loạn ứng xử: Trẻ ít quan tâm đến người khác, xâm phạm thô bạo với bạn
bè người thân hoặc súc vật Không tuân thủ các qui tắc xã hội, hay có các hành
động quá đáng và quá mức, v1 phạm trật tự
Ngoài ra, trẻ em ở lứa tuổi trung học cơ sở còn gặp rối loạn nghiện chất, tức là lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, thậm chí là nghiện ma túy do ởg1la1 đoạn dậy thì, trẻ có sự biến đồi về cơ thể lẫn tâm sinh lý mạnh mẽ nhất, nhân cách cũng chưa hoàn thiện nên trẻ thường dễ bị tác động, muốn thê hiện mình và rất
đề mât kiêm soát.
Trang 154.1.3 Các yếu tô ảnh hưởng đến rỗi loạn tâm thần của trẻ em
Theo Tổ chức Y tế thế giới, RLTT chịu ảnh hưởng của 3 nhóm yếu tố, bao
gồm: yếu tố sinh học, yếu tố tâm lý và yếu tổ xã hội [61], trong đó phân tích theo 2 nhóm yêu tô chính là yêu tô nguy cơ và yêu tô bảo vệ
Bảng 4 1 Các yếu tố ảnh hướng đến SKTT của trẻ em [64]
- Bà mẹphơi nhiễm với chất độc
hại khi mang thai
- Trẻ bị ngạt hoặc gặp biến chứng khi sinh
- Yếu tố gia đình về rối loạn tâm
thần
- Trẻ mắc HIV, suy đinh dưỡng, chấn thương vào đầu, kém phát
triên hoặc mặc các bệnh khác
- Trẻ phát triển thê chất khỏe
mạnh, phù hợp với lứa tuôi
- Trẻ có trí tuệ tốt
Vếu tố tâm lý - Trế có rôi loan hoc tập
- Trẻ khó thích nghi với điều kiện
xung quanh
- Trẻ bị lạm dụng thân thể, lạm
dục tình dục, bị đánh đập, bị bỏ TƠI
- Trẻ sông khép kín, hướng nội
- Trẻ có khả năng tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm
- Tự tin, có thê tự giải quyết
vấn đề
- Kỹ năng sống tốt
Yếu tô xã hội
- Cha mẹ chia sẻ, lắng nghe
ý kiên của con em
Trang 16
10
Nhà trường - Trẻ học kém cỏi, thi trượt - Học tập tot
- Môi trường học khó khăn - Trường học thân thiện
- Thầy cô ít quan tâm, không | - Trẻ được tham gia các hoạt
Cộng đồng - Mâu thuẫn với hàng xóm - Gắn bó với hàng xóm xung
- Cộng đồng có nhiều tội phạm, | quanh, gắn bó cộng đồng,
- Trẻ phải di cư, chuyền nhà - Cộng đồng sống lành mạnh
- Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng phát triển
Do đặc thù phát triển tâm sinh lý ở thời kỳ vị thành niên, vấn đề SKTT ở lứa
tuổi này chịu tác động lớn từ yếu tố xã hội Gia đình, nhà trường và cộng đồng vừa
có thể là yếu tố bảo vệ trẻ, nhưng cũng có thể là yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu
cực cho tinh thần trẻ vị thành niên Xây dựng và cải thiện môi trường xã hội, trong
đó có môi trường trường học là hướng đi cần thiết trong việc CSSKTT trẻ vị thành niên (trình bày chỉ tiết tại phần 4.3.1- Nguyên tac CSSKTT trẻ em và tam quan trọng/ vai trò của nhà trường trong công tác CSSK TT học sinh )
4.1.4 Tac dong cua rỗi loạn tâm than đến trẻ em
Các RLTT của trẻ em nếu không được quan tâm phòng ngừa và can thiệp phù
hợp sẽ để lại hậu quả cho cả bản thân cá nhân, gia đình và toàn xã hội RLTT sẽ làm ảnh hưởng tới mối quan hệ của cá nhân trẻ với các thành viên trong gia đinh, với bạn bè, ảnh hưởng đến kết quả học tập tại trường, và sự phát triển cá nhân [38],
[39], [40] Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của xã hội đối với các trường hợp có RLTT
đang ngăn cản trẻ tiếp cận dịch vụ CSSKTT và nhiều quyền lợi thiết yếu khác Tổ
chức Y thế thế giới (WHO) đã nhận định tình trạng xâm phạm quyên con người,
xâm phạm quyên trẻ em với các trường hợp gặp RLTT có ở hầu hết các quốc gia trên thế giới [66] Ít quốc gia có khuôn khổ pháp lý bảo vệ đầy đủ quyền lợi của
Trang 171]
người bị RLTT, do đó, trẻ em có RLTT gặp rất nhiéu thiét thoi va thực sự khó khăn
trong quá trình phát triển như bạn bè cùng trang lứa
Theo nhiều nghiên cứu, trẻ em không chỉ gặp phải chỉ một loại RLTT, với ước
tính trong số trẻ em gặp RLTT tại Mỹ thì có 40% trẻ có 2 loại RLTT trở lên [27]
Không những vậy, trẻ có RLTT có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính (hen suyén, dai
tháo đường, động kinh ) cao hơn so với trẻ không có RLTT [28], [52], [53] [56]:
Bên cạnh đó, trẻ em gặp RLTTT có thể dẫn đến hành vi nghiện ngập, phạm tội và
nhiều hành vi nguy cơ cho sức khỏe [26] Một trong những hậu quả nghiêm trọng
của vấn đề là trẻ có ý định tự tử và tìm cách tự tử [24] Nếu không được phát hiện
và điều trị thích hợp, RLTT ở trẻ nhỏ sẽ làm tăng nguy cơ mắc RLTT ở người
trưởng thành [50], gây mất khả năng lao động và trẻ chính là gánh nặng cho gia
đình và xã hội
Nam Vấn đề tâm-thần kinh
Nữ Nam Ung thư
Nữ
Nam Bệnh tim mạch
0-4 tuổi 5-9 tudi (10-14 tudi HB 15-19tuổi Trên 20 tuổi Hình 4 2 DALYs phân theo nguyên nhân, tuổi và giới tính năm 2000 [62]
Nhìn vào hình 4.2 ta thấy, trong 3 nguyên nhân làm mất số năm sống khỏe
mạnh là vấn đề tâm-thần kinh, ung thư, bệnh tim mạch mạnh thì vấn đề tâm-thần
kinh chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều so với 2 nguyên nhân còn lại Mặt khác, tỷ lệ trẻ vị
thành niên (10-19 tuổi) mất nhiều năm sống khỏe mạnh vì vấn đẻ tâm-thần kinh
cũng lớn hơn so với các nhóm tuôi 0-4 tuổi và 5-9 tuổi Do đó, vấn đề SKTT là một
trong những vấn đề sức khỏe đặc biệt nghiêm trọng diễn ra ở lứa tuôi vị thành niên.
Trang 1812
4.2 Thực trạng rối loạn tâm thần và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần của trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam
4.2.I Thực trạng rỗi loạn tâm thân trên thế giới
Nhìn chung các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đều thu được kết quả là tỷ
lệ trẻ gặp phải các RLTT từ 10-20% Theo nghiên cứu của WHO năm 2005 trên nhiều quốc gia cho thấy trung bình khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên đang gặp phải các RLTT [65] Khoảng một nửa các RLTT bắt đầu trước tuổi 14 và đây là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật ở trẻ em trên thế giới [66] Tỷ lệ rối loạn tâm thần
của trẻ em và vị thành niên tại một số nước trên thế giới được lựa chọn và trình bày trong Bảng 4.2.
Trang 21nhân chính dẫn đến tự tử Tại Mỹ, tự tử là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ
3 Ở Canada và châu Âu, tự tử là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong chỉ sau tai nạn đối với cả hai giới [24]
Các nghiên cứu được trình bày trong bảng 4.2 có sự khác biệt số liệu do nhiều nguyên nhân như tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau, đối tượng khác nhau, công cụ, thời gian, địa điểm nghiên cứu khác nhau và các nền văn hóa cũng rất khác biệt Tuy nhiên, các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ trẻ có các RLTT tương đối cao
Tuy nhiên, RLTT vẫn chưa được nhìn nhận và giải quyết đúng mức, bang
chứng là chỉ có khoảng 10 - 22% tré em trong tong số em gặp RLTT được phát hiện
bởi các nhân viên chăm sóc sức khoẻ ban đầu Đây là những trường hợp đủ tiêu chuẩn chẩn đoán theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế ICD-10 [64] Tuy nhiên, một
số lượng lớn hơn cũng gặp vấn đề về SKTT nhưng dấu hiệu không rõ ràng và
không đáp ứng tiêu chuẩn để chân đoán bệnh Ngoài ra, trẻ không được phát hiện bệnh sớm và cũng không có được sự chăm sóc thích hợp về mặt y tế còn do các nguyên nhân sau [25], [32]:
của vẫn đề
y tế xa nơi ở
- — Dịch vụ CSSKTT chưa phát triển
Trang 22l6
4.2.2 Thực trạng rồi loạn tâm thân tại Việt Nam
RLTT ở trẻ em và thanh thiếu niên chỉ mới được quan tâm trong 10 năm trở lại đây, với nhiều nghiên cứu cho thấy có 10-21% trẻ em Việt Nam gặp RLTT và tình trạng này được dự báo còn tăng lên qua các năm Các rối loạn thường gặp như: tram cảm, lo âu, rối loạn tăng động, rồi loạn liên quan đến học tập, rỗi loạn ửng xử,
bạo lực học đường, nghiện chất ma túy và trò chơi điện tử [20]
Báo cáo chuyên đề “SKTT vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2010” của
TS Nguyễn Thị Thanh Hương [10] nhận định rằng: “Việt Nam đang có một bức
tranh lạc quan về SKTT (tỷ lệ sự tự tin, lạc quan của trẻ tương đối cao) và tỷ lệ tự gây thương tích, suy nghĩ đến tự tử và tìm cách tự tử còn khá thấp so với các quốc gia khác” Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu đã chứng minh tình trạng RLTT trẻ
em Việt Nam đang phát triển nghiêm trọng, đặc biệt ở lứa tuôi trẻ vị thành niên
Các báo cáo nghiên cứu cũng cho thấy, RLTT của vị thành niên chủ yếu gặp phải là
rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm, rỗi loạn hành vi và nghiện chất Nghiên cứu một
số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh một số trường THCS của một số thành phố ở Việt Nam của Lê Thị Kim Dung và cộng sự (2007) báo cáo kết quả có 12,3% học sinh có biểu hiện lo âu và trầm cảm là 8,4% [7] Một nghiên cứu
của TS Ngô Thanh Hỏi, thực hiện trên 21960 thanh thiếu niên thành phố Hà Nội
cho thấy có 15,94% trẻ có RLTT, trong đó có 3,7% trẻ rối loạn hành vi, các hành vi
sử dụng chất gây nghiện tăng lên nhanh chóng và có 10% số ca tự tử năm trong lứa
tuổi 10-17 tuổi [1] Dự án “Chăm sóc sức khỏe học sinh trường học tại Hà Nội” tiến hành khảo sát trên 1203 học sinh từ 10-16 tuổi, kết quả thấy được 11,48% trẻ rồi loạn cảm xúc; 9,23% rối loạn ứng xử và 14,1% rồi loạn tăng động giảm chú ý Bên
cạnh đó, quận Hai Bà Trưng có tỷ lệ học sinh gặp khó khăn về ứng xử cao nhất với 44.2%, so với các quận còn lại là Hoàng Mai (28,8%), Từ Liêm (26,9%) Điều này
cho thấy ảnh hưởng của điều kiện sống, môi trường sống tác động đến hành vi ứng
xử của trẻ [9] Nhận định này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ” với 2000 trẻ 6-18 tuổi, có tới 20% trẻ gặp RLTT, tỷ lệ này ở thành thị là 26% và cao hơn so với nông thôn (19%) [S8].
Trang 2519
Qua hai cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất năm 2003 và 2008 (SAVY 1 và SAVY 2) [3], [4] nhận thấy rằng, ngoài sự
lạc quan có xu hướng tăng điểm tích cực, các yếu tô còn lại như tự gây thương tích,
nghĩ đến và thực hiện hành vi tự tử đều có tỷ lệ tăng lên Mặc dù Việt Nam có trên
90% vị thành niên và thanh niên có suy nghĩ lạc quan “có cuộc sóng tốt hơn so với
bế mẹ”, tuy nhiên, vẫn có 1/3 số người vẫn cảm thấy chán nản vào tương lại của
mình [3] Đặc biệt, các yếu tố có sự khác nhau theo nhóm tuổi, trong đó nhóm vị thành niên (14-17 tuổi) có điểm số lạc quan thấp nhất (3,1 điểm theo SAVY1) là nhóm đang phát triển mạnh nên thường có cảm giác bất an và không chắc chắn Hành vi tự gây thương tích ở nhóm đối tượng vị thành niên (14-17 tuổi) có số lượng gấp hai lần ở nhóm đối tượng 22-25 tuôi Đối với hành vi tự tử, ở trước giai đoạn đậy thì, tỷ lệ này là khá thấp; tuy nhiên, đến giai đoạn vị thành niên, tự tử là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới Tại Việt Nam, tỷ lệ vị
thành niên và thanh niên tại Việt Nam từng nghĩ tới tự tử thấp hơn so với nhiều quốc øia trên thế giới như Mỹ, Canada, Châu Âu [24], [30], tuy nhiên, tỷ lệ vẫn
đang tăng lên Cụ thể,có 4,1% trẻ nghĩ đến tử tử (SAVY 2) [4], cao hơn so với SAVY I1 (3,4%), trong đó đối tượng vị thành niên có ý định tự tử vẫn chiếm tỷ lệ
cao nhất Do vậy, đối tượng này đang rất cần sự hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ cũng như
tạo môi trường tâm lý thuận lợi dé phat trién những biều hiện tình cảm tích cực
Biểu đồ 4 1 So sánh các RLTT vị thành niên và thanh niên qua hai cuộc điều tra
SAVY 1 va SAVY 2 [3], [4]
Trang 2620
Như vậy, có thể thấy tỷ lệ trẻ em Việt Nam, đặc biệt là trẻ vị thành niên gặp
các RLTT ngày càng gia tăng rõ rệt Tuy nhiên, hệ thống CSSKTT không đáp ứng được nhu cầu của trẻ Các cán bộ y tế cấp cơ sở và cán bộ y tế học đường không đủ
chuyên môn về SKTT, do đó, trẻ hoàn toàn không được tư vấn tâm lý ngay tại cộng
đồng, dẫn tới việc phát hiện sớm các RLTT của trẻ gặp nhiều khó khăn Trẻ em chỉ
được tư vấn và điều trị khi các biểu hiện của bệnh trở nên rõ ràng Có thể nói, công tác CSSKTT trẻ em chủ yếu được diễn ra tại bệnh viện [5], [11]
4.3 Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học cho học sinh trung học cơ sở
4.3.1 Nguyên tắc chung của CSSKTT trẻ em và tam quan trong/ vai trò của
trường học trong CSSKTT cho hoc sinh
Để giảm thiểu các tác hại của RLTT đem lại cho trẻ em, việc làm ưu tiên hàng
đầu là việc chú trọng công tác dự phòng và can thiệp điều trị sớm các trường hợp gặp RLTT Can thiệp RLTT sớm, chúng ta càng có thể giảm thiểu chỉ phí y tế, chỉ phí giải quyết việc làm, phúc lợi xã hội Công việc này đòi hỏi một hệ thống mạng
lưới tổ chức từ Trung ương tới địa phương, cần có chính sách rõ ràng và có sự tham
gia của cả cộng đồng Tuy nhiên, công tác dự phòng và can thiệp sớm vẫn còn gap rất nhiều khó khăn Chưa tới 50% trẻ nhỏ và lứa tuổi vị thành niên mắc RLTTtrên
thế ĐIỚI CÓ thê nhận được dịch vụ CSSKTT [37] Tình trạng này đặc biệt diễn ra tại các quốc gia đang phát triển — nơi hệ thống y tế tồn tại nhiều bất cập, nguồn lực cán
bộ y tế còn thiếu số lượng và yếu chuyên môn Ngoài ra, các rào cản về mặt kinh té,
văn hóa, su ky thi với người mắc RLTT đã góp phần cản trở sự tiếp cận của trẻ em
với dịch vụ CSSK TT
Do đó, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra nguyên tắc chung cho công tác CSSKTT trẻ em ở cả các nước phát triển và đang phát triển bao gồm [62]:
- Phát triển các chính sách về CCSKTT trẻ em.