1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người bệnh điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố hòa bình năm 2019

131 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Tuân Thủ Điều Trị Bệnh Tăng Huyết Áp Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Ở Người Bệnh Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Thành Phố Hòa Bình Năm 2019
Tác giả Đỗ Duy Tân
Người hướng dẫn PGS.TS Hoàng Văn Minh
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Thể loại luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 5,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỖ DUY TÂN THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HÒA... Các nghiên cứu về tuân thủ điều

Trang 1

ĐỖ DUY TÂN

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT

ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HÒA

BÌNH NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội, 2020 HUPH

Trang 2

ĐỖ DUY TÂN

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT

ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HÒA

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng tới PGS.TS Hoàng Văn Minh đã tận tình hướng dẫn khoa học và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trung tâm Y

tế thành phố Hòa Bình, lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình, các cộng tác viên cũng như các đối tượng nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo phòng Kế hoạch – Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình cùng toàn thể công chức, người lao động trong đơn vị đã động viên

và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các phòng chức năng của trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập để có thể hoàn thành tốt luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình cùng toàn thể anh chị em, bạn bè luôn ủng hộ và là nguồn động viên to lớn giúp tôi hoàn thành luận văn này

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề về huyết áp và tăng huyết áp 4

1.2 Yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp 5

1.3 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp 7

1.4 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan 11 1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 14

1.6 Khung lý thuyết 15

Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

2.4 Biến số, chỉ số và chủ đề nghiên cứu 18

2.5 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu 19

2.6 Công cụ, kỹ thuật thu thập số liệu 21

2.7 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích số liệu 22

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp 26

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp 32

HUPH

Trang 5

Chương 4 BÀN LUẬN 47

4.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019 47

4.2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 51

4.3 Một số hạn chế của nghiên cứu 57

KẾT LUẬN 58

KHUYẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

PHỤ LỤC 64

Phụ lục 1 64

Phụ lục 2 70

Phụ lục 3 85

Phụ lục 4 88

Phụ lục 5 90

Phụ lục 6 92

Phụ lục 7 94

HUPH

Trang 6

Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Tai biến mạch máu não Tăng huyết áp

Tuân thủ điều trị Trung tâm Y tế World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp 4

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống 21

Bảng 3.1 Thông tin về cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n=300) 24

Bảng 3.2 Thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300) 25

Bảng 3.3 Thông tin về biến chứng tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300) 26 Bảng 3.4 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc ở người bệnh tăng huyết áp theo thang đo Morisky (n=300) 26

Bảng 3.5 Tuân thủ chế độ ăn (n=300) 28

Bảng 3.6 Tuân thủ sử dụng chất kích thích 29

Bảng 3.7 Tuân thủ chế độ sinh hoạt và tập thể dục – thể thao 30

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, hỗ trợ của gia đình – xã hội và sự tuân thủ điều trị thuốc (n= 300) 32

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu và sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300) 33

Bảng 3.10 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị tăng huyết áp (n=300) 34

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thay đổi lối sống và sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300) 36

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh, chế độ điều trị tăng huyết áp và sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300) 36

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa các yếu tố thông tin cá nhân, hỗ trợ của gia đình – xã hội và sự tuân thủ điều trị thay đổi lối sống (n=300) 36

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu và sự tuân thủ thay đổi lối sống (n=300) 38

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thông tin về dịch vụ điều trị tăng huyết áp ngoại trú và sự tuân thủ thay đổi lối sống (n=300) 38

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và chế độ điều trị tăng huyết áp và sự tuân thủ thay đổi lối sống (n=300) 40

HUPH

Trang 8

Bảng 3.17 Mức độ hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ y tế điều trị tăng huyết

áp ngoại trú tại Trung tâm y tế (n=300) 41 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thông tin về dịch vụ điều trị tăng huyết áp ngoại trú

và sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300) 42 Bảng 3.19 Thông tin về hỗ trợ của gia đình – xã hội (n=300) 45

HUPH

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300) 28 Biểu đồ 3.2 Mức độ thường xuyên đo và ghi chỉ số huyết áp định kỳ hàng ngày của ĐTNC (n=300) 31 Biểu đồ 3.3 Đánh giá sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp (n=300) 32 Biểu đồ 3.4 Đánh giá kiến thức về bệnh và chế độ điều trị tăng huyết áp (n=300) 35

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề bệnh lý mạn tính phổ biến nhất trên thế giới Bệnh THA không chỉ gây ra nhiều biến chứng khác nhau ở tim, mắt, não, thận

và các mạch máu lớn, với biến chứng nặng và xảy ra một cách đột ngột có thể gây

đe dọa đến tính mạng con người mà còn gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Người mắc THA bắt buộc phải điều trị suốt đời Nếu người bệnh THA không tuân thủ điều trị (TTĐT) sẽ có có thể bị tàn phế hoặc tử vong Theo khuyến nghị của Bộ Y tế, TTĐT bao gồm cả việc TTĐT thuốc theo chỉ định của bác sĩ và thay đổi lối sống về chế độ ăn uống, sinh hoạt và cần đo huyết áp định

kỳ hàng ngày [2] Chính vì thế, nắm được thực trạng TTĐT và những yếu tố ảnh hưởng tới TTĐT là hết sức quan trọng, giúp cho công tác chăm sóc và điều trị cho người bệnh THA đạt hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng TTĐT người bệnh THA chưa nhiều, đặc biệt là tại thành phố Hòa Bình chưa có nghiên cứu nào được thực hiện

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính thực hiện trên toàn bộ 300 người bệnh mắc THA đang có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019 Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn, định tính thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Các kiểm định thống kê được thực hiện nhằm đo lường mối liên quan giữa TTĐT và các biến độc lập Thông tin định tính được gỡ băng và trích dẫn theo chủ đề

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị THA chung đạt 56%, trong đó tuân thủ thuốc đạt 72%, có 86,3% người bệnh đã thay đổi chế độ ăn uống, 76,3% đã từ bỏ không uống rượu/bia, 75,3% thường xuyên luyện tập thể dục – thể thao và 67% người bệnh đã tuân thủ đo và ghi chỉ số đo huyết áp định kỳ hàng ngày

Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị THA của đối tượng nghiên cứu bao gồm: tình trạng việc làm, kiến thức về TTĐT bệnh, sự tuân thủ thay đổi lối sống, chế độ điều trị THA và được CBYT giải thích rõ về bệnh THA và những nguy

HUPH

Trang 11

Căn cứ kết quả thu được, nhằm tăng cường tỷ lệ TTĐT của người bệnh THA đnag được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình, nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể cho Trung tâm trong việc phân công hợp lý cán bộ điều trị bệnh THA đáp ứng nhu cầu của người bệnh Bản thân người bệnh cần nghiên túc thực hiện tự đo và ghi số đo huyết áp thường xuyên tại nhà Bên cạnh đó người nhà bệnh nhân cũng cần quan tâm, giúp đỡ để từ đó thúc đẩy sự TTĐT của họ

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo định nghĩa của Bộ Y tế, tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [2] Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới, có thể gây ra nhiều biến chứng khác nhau

ở tim, mắt, não, thận và các mạch máu lớn, với biến chứng nặng và xảy ra một cách đột ngột có thể gây tử vong cho người bệnh Hơn 20% dân số trưởng thành ở Mỹ mắc THA, dẫn đến khoảng 9,4 triệu ca tử vong mỗi năm [27] Theo dự tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), số mắc THA sẽ tăng lên 1,56 tỷ người (29,2% dân số) vào năm 2025 [1] Năm 2014, WHO công bố tỷ lệ chung trên toàn thế giới là 22%,

có xu hướng tăng ở các nước đang phát triển [29] Tại Việt Nam, báo cáo điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (điều tra Steps) năm 2015 trên đối tượng từ 18-69 tuổi trên toàn quốc có tới 18,9% người mắc THA, trong đó nma giới là 23,1% và nữ giới là 14,9% Nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì dự báo đến năm 2025 tại Việt Nam sẽ có khoảng 25 triệu người

bị THA [28]

Người mắc THA bắt buộc phải điều trị suốt đời Nếu người bệnh THA không TTĐT sẽ có có thể bị tàn phế hoặc tử vong Mặt khác nếu người bệnh được phát hiện bị bệnh này phải được theo dõi và điều trị suốt đời để phòng tránh các biến chứng của bệnh gây ra Việc TTĐT giúp huyết áp được kiểm soát tốt sẽ phòng ngừa được những những biến chứng của bệnh, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh Nghiên cứu cho thấy điều trị THA tốt có thể giảm 40% nguy

cơ mắc tai bến mạch máu não và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim [26] Do đó, việc TTĐT của người bệnh THA là yếu tố rất quan trọng trong điều trị Theo khuyến nghị của Bộ Y tế, TTĐT bao gồm cả việc TTĐT thuốc theo chỉ định của bác sĩ và thay đổi lối sống về ăn uống, sinh hoạt và cần đo huyết áp định kỳ hàng ngày [2] Một số nghiên cứu đã cho biết tình trạng TTĐT của người bệnh THA chưa cao [13], [14] Yếu tố có liên quan đến thực hành tuân thủ điều trị THA bao gồm: giới tính, trình độ học vấn, được cán bộ y tế (CBYT) hướng dẫn về điều trị bệnh và kiến thức

về TTĐT bệnh [13], [14]

HUPH

Trang 13

Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hòa Bình được thành lập từ năm 2019 với quy mô 130 giường bệnh Phòng khám THA của đơn vị thuộc Khoa Khám bệnh hiện đang quản lý điều trị ngoại trú cho 300 bệnh án THA Đây là số lượng bệnh án tương đối lớn trong khi đó nhân lực y tế của Khoa khám bệnh còn thiếu, buồng khám THA chỉ có một bác sĩ và một điều dưỡng Điều đó có thể làm ảnh hưởng đến việc truyền thông, bác sĩ không có thời gian tư vấn, hướng dẫn việc TTĐT của người bệnh dẫn đến việc giám sát hỗ trợ tuân thủ điều trị cho người bệnh THA gặp khó khăn Qua khảo sát thực tế tại Trung tâm Y tế thành phố, đã có nhiều người bệnh THA không kiểm soát được huyết áp mục tiêu

do không hiểu hoặc hiểu không đúng về bệnh, việc TTĐT còn hạn chế ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh Một số người bệnh từ điều trị ngoại trú đã phải nhập viện

để điều trị nội trú hoặc chuyển lên tuyến trên do biến chứng nặng hơn mà nguyên nhân chủ yếu là không TTĐT

Câu hỏi thực tế đặt ra cho cán bộ quản lý, điều trị bệnh THA và Ban lãnh đạo Trung tâm là: thực trạng TTĐT của người bệnh THA đang được quản lý tại Trung tâm như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến việc TTĐT trị THA? Để cung cấp bằng chứng khoa học cho Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình trong công tác theo dõi, quản lý và tư vấn cho người bệnh THA trong quá trình điều trị chúng tôi thực

hiện nghiên cứu “Thực trạng TTĐT bệnh THA và một số yếu tố liên quan ở người bệnh điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019”

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm

2019

HUPH

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề về huyết áp và tăng huyết áp

1.1.1 Huyết áp

Khái niệm: Huyết áp là áp lực lên thành mạch Huyết áp mà chúng ta thường nói là huyết áp động mạch, là áp lực của máu lên thành động mạch mà ta đo được Khi tim co bóp, áp lực máu trong động mạch lớn nhất gọi là huyết áp tối đa hay còn gọi là huyết áp tâm thu (HATT) Khi tim nghỉ, cơ tim giãn ra tạo nên áp lực âm tính trong các buồng tim để hút máu về Lúc này áp lực máu lên động mạch là thấp nhất gọi là huyết áp tối thiểu hay huyết áp tâm trương (HATTr) Huyết áp được tính bằng đơn vị mmHg Khi ghi chỉ số huyết áp ta thường ghi HATT/HATTTr (ví dụ 120/80 mmHg)

Huyết áp có đặc điểm thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu

tố khác [6]

1.1.2 Tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp

1.1.2.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Theo định nghĩa của Bộ Y tế, tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [2]

1.1.2.2 Phân loại tăng huyết áp

Theo Bộ Y tế, phân độ tăng huyết áp dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được (Bảng 1.1) [2]

Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp

Trang 16

Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được phân theo các mức biến động của huyết áp tâm thu

1.1.3 Hậu quả, biến chứng của tăng huyết áp

THA ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể, đặc biệt là tim mạch, não, thận, phổi, mắt, mạch ngoại vi Các biến chứng của THA nguy hiểm vì có thể gây tử vong hoặc để lại những di chứng nặng nề (liệt do tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận…) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là gánh nặng của gia đình và xã hội [5]

- Đối với tim mạch: THA gây to tim, suy tim Áp lực cao của dòng máu làm cho lớp trong cùng của thành mạch bị rạn nứt, từ đó mỡ máu và bạch cầu chui qua những lỗ rạn nứt để lọt xuống thành mạch máu, làm thành mạch bị dày lên, hẹp đi

và mất tính đàn hồi, làm giảm lượng oxy đến nuôi tim Hậu quả là xuất hiện loạn nhịp, cơn đau thắt ngực, suy tim và nhồi máu cơ tim có thể gây đột tử

- Đối với não: THA gây ra tai biến mạch máu não (xuất huyết não, nhũn não, thiếu máu não)

- Đối với thận: THA làm hỏng màng lọc của tế bào thận, làm hẹp động mạch thận, gây suy thận

- Đối với mắt: THA làm hỏng mạch máu võng mạc, thành động mạch dày và cứng làm hẹp động mạch lại THA còn gây xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực gây mù lòa [14]

1.2 Yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp

Có một số yếu tố nguy cơ được nhắc đến trong y văn như: tuổi; gia đình có tiền sử có người bị THA, chế độ ăn nhiều mỡ động vật, chế độ ăn rau quả, chế độ ăn mặn; lạm dụng rượu/bia; hút thuốc lá; thừa cân béo phì; hoạt động thể lực; tình trạng tâm lý [6][3][8]

Tuổi: Tuổi càng cao huyết áp càng tăng, mức độ THA song song với mức độ

xơ cứng thành mạch [31] Trước hết các động mạch lớn đàn hồi, làm chúng mất tác dụng, giảm lao động vì thế khi tuổi cao, huyết áp tâm thu có xu hướng tăng Nhiều

HUPH

Trang 17

nghiên cứu dịch tễ trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở người trên

60 tuổi khoảng 50% [19][21]

Tiền sử gia đình có người bị THA: nhiều nghiên cứu cho thấy THA có thể có

yếu tố di truyền Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn

Chế độ ăn nhiều mỡ động vật: Mỡ động vật có nhiều Cholesterol cần thiết cho

cấu trúc của tế bào, tạo nội tiết tố, đặc biệt là tế bào thần kinh Hơn nữa, các axit béo

no trong mỡ nếu được sử dụng ở mức độ vừa phải có tác dụng làm bền vững các mao mạch máu, bảo vệ tuần hoàn của cơ thể, dự phòng tai biến mạch máu não và các bệnh tim mạch Tuy nhiên, chế độ ăn nhiều mỡ động vật là nguy cơ trực tiếp của các bệnh tim mạch Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác động của chất béo bão hòa đến tăng huyết áp cho thấy sự tương quan này là không rõ Chế độ ăn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, thu nhập, thói quen ăn uống

Chế độ ăn rau quả: Chế độ khẩu phần ăn đủ lượng rau quả sẽ tốt cho huyết

áp Những người ăn ít rau quả sẽ có tỷ lệ THA cao hơn Báo cáo WHO/FAO gần

đây về chế độ ăn uống, dinh dưỡng và phòng ngừa các bệnh mạn tính, đặt ra mục tiêu dinh dưỡng khuyến cáo dân số ăn ít nhất 400g trái cây và rau quả mỗi ngay để phòng ngừa các bệnh mạn tính

Chế độ ăn mặn: Chế độ ăn nhiều muối là nguyên nhân chính gây THA, làm

tăng nguy cơ đột quỵ, bệnh tim và bệnh thận Các thử nghiệm cho rằng ăn 14 gram muối/ngày gây THA Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một biện pháp

đề phòng THA và là cách điều trị mà không cần dùng thuốc

Lạm dụng rượu bia: Uống nhiều rượu bia là yếu tố nguy cơ của THA, có thể

gây đề kháng với điều trị tăng huyết áp và là yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, xơ gan, hội chứng dạ dày Nhưng nếu uống rượu ở mức vừa phải có lợi cho phòng chống bệnh tim mạch, nhất là loại rượu vang

đỏ

Hút thuốc lá/thuốc lào: Hút thuốc lá/thuốc lào bao gồm thuốc lá có điếu đầu

lọc, thuốc lào hoặc thuốc giồng Thuốc lá có chất nicotin kích thích thần kinh giao

HUPH

Trang 18

cảm, kích thích co mạch gây tăng huyết áp Hút một điếu thuốc lá, huyết áp tâm thu tăng lên 11 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 9 mmHg kéo dài 20 – 30 phút Thuốc lá làm tăng nhịp tim và chất CO trong khói thuốc lá làm giảm cung cấp oxy

mô tế bào, cùng với áp lực dòng máu tăng làm tổn thương theo tế bào nội mạc động mạch, tạo điều kiện xơ vữa động mạch hình thành

Thừa cân, béo phì: Người có BMI cao hơn sẽ có tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn

Người béo phì có khối lượng tổ chức mỡ tăng, lòng động mạch mở rộng, lưu lượng máu trong hệ thống tuần hoàn tăng do đó nhịp tim tăng gây THA

Hoạt động thể lực: Ít vận động thể lực được coi là một nguy cơ của bệnh

THA Việc vận động hàng ngày đều đặn từ 30 – 45 phút mang lại lợi ích rõ ràng trong việc giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng

Tình trạng tâm lý: Các trạng thái tâm lý lo âu, xúc động, căng thẳng đều ảnh

hưởng đến huyết áp Tất cả những yếu tố tác động đến tâm lý tùy mức độ được xem như là stress Khi bị stress làm tăng tiết Cathecholamine vào máu gây co mạch làm THA

1.3 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp

1.3.1 Điều trị tăng huyết áp

1.3.1.1 Nguyên tắc chung

Theo Bộ Y tế, tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi, điều trị đúng

và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài [2]

Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch” [2]

Huyết áp mục tiêu cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg Khi điều trị đã đạt được huyết áp mục tiêu, cần duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời [2]

Điều trị cần hết sức tích cực ở người bệnh đã có tổn thương cơ quan đích Không nên hạ áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu [2]

HUPH

Trang 19

1.3.1.2 Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống

Được áp dụng cho mọi người bệnh để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết

áp, giảm số thuốc cần dùng… bao gồm:

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: +

Giảm ăn mặn (< 6g muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)

+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi;

+ Hạn chế thức ăn có nhiều Cholesterol và các axit béo no

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối

cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2;

- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và 80cm ở nữ;

- Hạn chế uống bia, rượu: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (ở nam) và ít hơn

2 cốc chuẩn/ngày (ở nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (ở nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (ở nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào

- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý

Giảm cân nặng Duy trì chỉ số khối cơ thể (BMI) lý 5 – 10 mmHg khi

tưởng 20 – 22,9 kg/m2 giảm mỗi 10 kg Chế độ ăn Dietary

Ăn nhiều trái cây, rau, ít mỡ (giảm

chất béo toàn phần và loại bão hòa) Hypertension (DASH)

HUPH

Trang 20

Giảm lượng muối ăn < 10 Hạn chế muối ăn mmol/ngày (<2,4g natri hoặc <6g 2 – 8 mmHg

muối) Tập thể dục nhịp điệu mức độ vừa Vận động thân thể phải như đi bộ lắc lư 30 – 60 4 – 9 mmHg

phút/ngày Uống chất có cồn điều Nam: < 21 đơn vị/tuần 2 – 4 mmHg

1.3.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Tuân thủ điều trị (TTĐT) là việc rất quan trọng để người bệnh duy trì được sự kiểm soát huyết áp, giảm tình trạng bệnh tật, các hậu quả, biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như giảm chi phí chăm sóc sức khỏe

Theo WHO, “Tuân thủ là mức độ mà người bệnh thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị” Ranial và Morisky cũng đưa ra định nghĩa về tuân thủ điều trị như sau: “Tuân thủ là mức độ hành vi của người bệnh đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” [14]

Theo khuyến nghị của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA năm 2010” Tuân thủ điều trị THA bao gồm: tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống (Hạn chế ăn mặn và thức ăn có chứa nhiều Cholesterol, acid béo no; hạn chế uống rượu/bia; không hút thuốc lá/lào; luyện tập thể dục; đo và ghi

số đo huyết áp thường xuyên 5 – 7 lần/tuần) [2][6]

1.3.2.1 Tuân thủ điều trị thuốc

Là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của cán bộ y tế, kể cả khi huyết áp bình thường Không được tự ý thay đổi thuốc và liều lượng thuốc

1.3.2.2 Tuân thủ thay đổi lối sống

- Thay đổi chế độ ăn: Hạn chế ăn mặn (< 6g muối/ngày) và thức ăn có chứa nhiều Cholesterol, acid béo no Nên dùng các thức ăn có chứa nhiều kali, tăng cường ăn rau và hoa quả tươi

HUPH

Trang 21

- Hạn chế uống rượu bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (ở nam) và ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (ở nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (ở nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (ở nữ) (1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh)

- Không hút thuốc lá/lào

- Chế độ tập luyện thể dục: tập thể dục hoặc đi bộ thường xuyên (5 – 7

lần/tuần) khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày (Mức độ tập luyện phải tùy thuộc vào tình trạng bệnh tật của người bệnh Nếu HA chưa được kiểm soát và bạn luôn ở tình trạng THA nặng thì không nên tập thể dục hoặc nên hoãn lại cho đến khi được điều trị hiệu quả)

- Theo dõi huyết áp: đo và ghi lại số đo huyết áp thường xuyên (5 – 7 lần/tuần) vào sổ theo dõi của người bệnh THA [6]

1.3.3 Thang đo tuân thủ điều trị tăng huyết áp được sử dụng

Có nhiều phương pháp đánh giá về tuân thủ điều trị đối với bệnh không lây nhiễm trong đó có bệnh tăng huyết áp Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp tự khai báo, sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – Medication adherence questionare – Morisky 8) là một thang đo được áp dụng rộng rãi hơn cả trong rất nhiều nghiên cứu tuân thủ điều trị các bệnh mãn tính, đặc biệt là tăng huyết áp Thang đo gồm 8 mục để đo lường tuân thủ điều trị thuốc hạ huyết áp Bao gồm 8 câu hỏi về hành vi uống thuốc của người bệnh được đưa ra để người bệnh tự trả lời Nguyên tắc của biện pháp này là người bệnh được coi là tuân thủ thuốc khi không quên uống thuốc, không quên mang thuốc đi xa nhà, không khó khăn khi nhớ uống thuốc, không cảm thấy phiền toái vì ngày nào cũng phải uống thuốc hạ huyết áp, không tự ý ngừng thuốc do tác dụng phụ hoặc khi huyết áp được kiểm soát [20]

Thang đo này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để đánh giá TTĐT ở người bệnh tăng huyết áp Hiện nay, bộ công cụ này cũng đã được chuẩn hóa và một số nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị thuốc huyết áp tại Việt Nam đã áp dụng thang đo của Morisky Trong đó có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Phương năm 2011 về thực trạng TTĐT tăng huyết áp tại bốn phường của thành phố

HUPH

Trang 22

Hà Nội [15] Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Loan về Đánh giá sự TTĐT của các người bệnh THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện C, tỉnh Thái Nguyên năm 2012 [13] Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thu Huyền về Thực trạng TTĐT của người bệnh THA đang được quản lý điều trị tại xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2018 [9] Qua đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi sử dụng thang đo này để đánh giá việc tuân thủ điều trị thuốc

1.4 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan

1.4.1 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới

Các nghiên cứu đánh giá tuân thủ dùng thuốc thường dựa vào các bảng hỏi để hỏi và sử dụng 2 thang điểm đã được chuẩn hóa là Hill – Bone và Morisky Nghiên cứu trên 94 người bệnh cao tuổi (trên 65 tuổi) người Mỹ gốc Hoa tại cộng đồng năm

2010 đánh giá tuân thủ thuốc của người bệnh sử dụng thang điểm Hill – Bone cho thấy 54% người bệnh đạt mức tuân thủ dùng thuốc tốt, 3% người bệnh được ghi nhận là hoàn toàn không TTĐT [22] Một nghiên cứu khác của Krousel – Wood trên 239 người Mỹ tại cộng đồng cho thấy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc là 70% [32] Một số nghiên cứu tại Châu Á cũng đã áp dụng thang điểm Morisky để đánh giá tuân thủ điều trị Nghiên cứu trên 380 người bệnh THA tại Malaysia năm 2009 cho thấy mức độ tuân thủ điều trị là 48,7% Nghiên cứu trên 438 người bệnh THA tai Pakistan năm 2007 cho thấy có 76,7% người bệnh tuân thủ dùng thuốc [23] Nghiên cứu của Uzun S và cộng sự (2009) thực hiện trên người bệnh khám và điều trị THA ngoại trú bằng phương pháp tự ghi nhận dựa trên 44 câu hỏi Nghiên cứu đưa ra tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn là 65% khi thực hiện chế độ ăn ít chất béo và ít muối; tuân thủ liên quan đến tập thể dục là 30 – 60 phút/ngày, ít nhất 3 lần/tuần là 31%; tuân thủ không hút thuốc lá/lào là hiện không hút thuốc đạt 83%; tuân thủ đo huyết áp và ghi lại số đo huyết áp ít nhất 1 lần/ngày là 63% [26]

Nghiên cứu năm 2011 của Osamor Pauline và Owumi Bernanrd về các yếu tố liên quan tới TTĐT THA ở Tây nam Nigeria cho thấy chỉ có 51% đối tượng nghiên cứu đạt TTĐT cao với các yếu tố như: đi khám thường xuyên, có hỗ trợ xã hội của các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè trong việc nhắc nhở uống thuốc [25]

HUPH

Trang 23

Harington JM, Fitzgerald AP, Keaney PM, McCarthy VJ, Madden J, G Browne, Dolan E, Perry IJ, nghiên cứu liên quan giữa chế độ ăn uống DASH (ít muối, chất béo và thực phẩm chế biến; nhiều rau củ quả và trái cây) trên 2047 người đàn ông và phụ nữ THA (HA ≥ 140/90 mmHg) vào năm 2013 Kết quả cho thấy có

sự khác biệt về huyết áp tâm thu là 7,5 mmHg và 5,1 mmHg ở nam và nữ giữa 2 nhóm tuân thủ chế độ ăn kiêng và nhóm không ăn kiêng Các tác giả kết luận cần triển khai một chế độ ăn uống lành mạnh cho cộng đồng sẽ có tác động đáng kể đến sức khỏe cộng đồng trong việc kiểm soát huyết áp [24]

1.4.2 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam

Tác giả Nguyễn Minh Phương đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị THA ở cộng đồng và các yếu tố liên quan của người bệnh từ 25 – 60 tuổi ở

4 xã của Hà Nội năm 2011 với cỡ mẫu là 250 phiếu đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 44,8% Ngoài ra, có 32,8% ĐTNC không uống thuốc; 43,6% uống thuốc đầy đủ; còn 23,6% uống thuốc không đầy đủ Nguyên nhân chủ yếu do công việc bận nên quên uống thuốc là 10,8%, hoặc

do một số quan niệm sai lầm trong điều trị như cho rằng không quan trọng là 6,4%, huyết áp bình thường thì không cần uống tiếp là 6,4% Tuy nhiên có một số nguyên nhân khác như do tác dụng phụ của thuốc nên không uống tiếp là 6% và không ai nhắc nhở là uống thuốc là 4% Và có đến 54,4% ĐTNC không đi khám định kỳ và đều đặn Nguyên nhân do bận công việc không đi khám định kỳ là 21,2%; cho rằng không cần thiết là 12,5%; ngại đi và không thuận tiện là 14%; lịch khám không phù hợp là 12,4% [15]

Theo tác giả Trần Văn Tuấn và cộng sự tiến hành nghiên cứu 189 người bệnh THA và CBYT của phòng khám ngoại trú khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang Kết quả cho thấy người bệnh THA ở tuổi dưới 61 chiếm tỷ lệ cao 46,56%; tỷ lệ nam và nữ tương đương nhau; Có 74,07% người bệnh đến khám đúng lịch, còn lại 25,93% đến khám không đúng lịch bao gồm cả người bệnh bỏ điều trị; có 66,66% người bệnh uống thuốc đều, 27,51% uống thuốc không đều, 5,83% ngừng uống thuốc vì HA bình thường; Có 50,46% người bệnh biết đủ 4 biến chứng nguy hiểm của bệnh THA; Có 32,58% người bệnh không biết tác hại của

HUPH

Trang 24

thuốc lá trên bệnh THA và 51,69% người bệnh không biết ít vận động làm ảnh hưởng đến THA [10]

Tác giả Đỗ Thị Bích Hạnh đã thực hiện nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Bình Phước năm 2013” Kết quả cho thấy tỷ lệ TTĐT tăng huyết áp chung đạt mức thấp (33,4%) Trong đó, TTĐT bằng thuốc đạt 56,3%; tuân thủ chế

độ ăn đạt 27,4%; tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào đạt 84,7%; tuân thủ đo huyết

áp và tái khám định kỳ đạt 31,3%; tuân thủ chế độ sinh hoạt tập luyện đạt 28,9%; tuân thủ hạn chế uống bia, rượu đạt 82,6% Nghiên cứu cũng đã cho thấy việc TTĐT có liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố được CBYT giải thích về chế độ điều trị THA Những người được CBYT giải thích rõ có xu hướng đạt TTĐT bằng thuốc cao gấp hơn 3,5 lần Việc tuân thủ chế độ ăn liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố thời gian điều trị, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA Các yếu tố như nhóm tuổi, nghề nghiệp, thời gian điều trị, tiền sử bản thân có biến chứng, trình

độ của cán bộ y tế và hỗ trợ của cơ quan hay đoàn thể trong xã hội có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê với việc tuân thủ điều trị [7]

Tác giả Phạm Hoài Nam đã thực hiên nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị THA và một số yếu tố liên quan đối với trên 210 ĐTNC bị THA tuổi từ 25 trở lên được chẩn đoán, quản lý tại TTYT huyện Lương Tài và TYT xã Bình Định đã cho thấy kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị THA chung chỉ đạt 33,3% trong đó tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đạt < 50% Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị THA Tỷ lệ tuân thủ điều trị của những người bệnh không ăn mặn cao hơn những người bệnh có thói quen ăn mặn 2,89 lần (p<0,05) Tỷ lệ tuân thủ điều trị của những người hoạt động thể lực, thể thao hàng ngày cao hơn những người không hoạt động 5,12 lần [14]

Tác giả Kiên Sóc Kha đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh ngoại trú tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Trà Vinh năm 2017 và các yếu tố ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu trên 175 ĐTNC cho thấy tỷ lệ TTĐT chung là 48,6% trong đó tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đạt 94,9%; tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn giảm mặn đạt 72,6%; tỷ lệ tuân thủ hạn chế rượu,

HUPH

Trang 25

bia đạt 92,8%; tỷ lệ tuân thủ bỏ thuốc lá đạt 70,4%; tỷ lệ người bệnh có chế độ tập luyện mỗi ngày từ 30 – 60 phút đạt 89,7%; tỷ lệ tuân thủ việc theo dõi huyết áp hằng ngày tại nhà đạt 28% [10]

Tác giả Đặng Thị Thu Huyền đã thực hiện nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý điều trị tại xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2018 trên 218 ĐTNC Kết quả cho thấy tỷ

lệ người bệnh TTĐT chung đạt 39,9% trong đó tuân thủ điều trị thuốc đạt 91,7% và tuân thủ điều trị bằng thay đổi lối sống chỉ đạt đạt 43,6% Nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố liên quan tới việc tuân thủ điều trị thuốc Cụ thể, những người sống một mình, trong gia đình không có người mắc bệnh THA, không hài lòng với CBYT ở cơ sở điều trị THA ngoại trú có xu hướng không tuân thủ điều trị thuốc cao hơn so với những người bệnh sống cùng gia đình, trong gia đình có người mắc THA và hài lòng với thái độ của CBYT (p<0,05) Về yếu tố liên quan tới tuân thủ thay đổi lối sống: nhóm những người bệnh là nam giới có xu hướng không tuân thủ thay đổi lối sống cao hơn so với nữ giới (p<0,05) [9]

1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hòa Bình là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình,

có diện tích tự nhiên là 133,34 km2 và dân số là 189.210 người, nằm trên tuyến đường Quốc lộ 6, cách thủ đô Hà Nội 73 km Đơn vị hành chính của thành phố Hòa Bình được chia thành 8 phường (Chăm Mát, Đồng Tiến, Hữu Nghị, Phương Lâm, Tân Hòa, Tân Thịnh, Thái Bình, Thịnh Lang) và 7 xã (Dân Chủ, Hòa Bình, Sủ Ngòi, Thái Thịnh, Thống Nhất, Trung Minh, Yên Mông)

Địa giới hành chính của thành phố Hòa Bình: phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn

và huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Cao Phong và huyện Đà Bắc, phía Nam giáp huyện Cao Phong và phí Bắc giáp huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Kinh tế thành phố Hòa Bình ngày càng phát triển, tích lũy xã hội ngày càng tăng, tạo điều kiện mở rộng quy mô và xây dựng mới các cơ sở y tế, mua sắm nhiều trang thiết bị kỹ thuật cao Thu nhập của người dân ngày càng tăng, xuất hiện thêm nhiều nhu cầu mới về khám chữa bệnh, trong đó có bệnh tăng huyết áp

HUPH

Trang 26

Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hòa Bình, được thành lập theo quyết định số 3025/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm

2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc sáp nhập Bệnh viện đa khoa thành phố Hòa Bình và Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hòa Bình trực thuộc Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình vào Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình Hàng ngày, đơn vị thực hiện khám, chữa bệnh cho khoảng 250 lượt bệnh nhân Hiện tại, phòng khám tăng huyết áp của Trung tâm thuộc Khoa Khám bệnh đang quản lý điều trị ngoại trú cho 300 người bệnh tăng huyết áp

1.6 Khung lý thuyết

Qua tham khảo một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị THA và các yếu tố liên quan của một số nghiên cứu đã thực hiện [9][12][18], tôi xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu như sau:

HUPH

Trang 27

Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Yếu tố cá nhân

* Nhân khẩu học: Tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

* Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA: huyết áp mục

tiêu, hậu quả của bệnh THA, chế độ điều trị THA, chỉ số huyết

áp,

* Liên quan đến điều trị:

- Mức độ nặng của bệnh: thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh, yếu tố nguy cơ, thời gian điều trị, , biến chứng bệnh,

- Chế độ thuốc: số lượng thuốc uống, số lần uống/ngày, tác dụng phụ của thuốc

Tuân thủ điều trị THA gồm:

- Tuân thủ điều trị thuốc

- Thay đổi lối sống: chế độ ăn, hạn chế rượu/bia, bỏ thuốc lá/thuốc lào, chế độ sinh hoạt, luyện tập, đo và theo dõi huyết áp, khám định kỳ

Dịch vụ y tế

- Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế: chi phí

khám và điều trị, thời gian chờ khám, khoảng

cách từ nhà đến bệnh viện, khả năng chi trả

- Sự sẵn có của thuốc

- Nguồn cung cấp thuốc: tự mua hay thuốc

bảo hiểm y tế

- Thời gian tư vấn của NVYT

- Sự hài lòng của người bệnh với NVYT

Trang 28

Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

Là người bệnh từ 18 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú và có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tăng huyết áp

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

- Bác sĩ, điều dưỡng phụ trách quản lý điều trị THA tại Khoa khám bệnh

- Giám đốc Trung tâm y tế thành phố Hòa Bình

- Người bệnh THA đang điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình

2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối

tượng Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên có chẩn đoán THA

- Đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình

- Có khả năng trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh không có khả năng hoặc không đủ minh mẫn để trả lời phỏng vấn (người khuyết tật câm, điếc, người bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ…)

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ tháng 1/2019 đến tháng 7/2019 tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng (để đáp ứng mục tiêu 1 và mục tiêu 2) và phương pháp nghiên cứu định tính (để đáp ứng mục tiêu 2)

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định lượng:

HUPH

Trang 29

Chọn mẫu toàn bộ 300 người bệnh từ danh sách những người mắc THA từ 18 tuổi trở lên đang có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019

- Giám đốc Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình

Đối với người bệnh: Chọn ra 6 người tuân thủ điều trị tốt và 6 người tuân thủ điều trị không tốt, chia thành 2 nhóm để tiến hành thảo luận nhóm Người được chọn tham gia thảo luận được xác định sau khi phân tích số liệu định lượng để xác định hai nhóm người đáp ứng đủ tiêu chí Căn cứ vào danh sách người bệnh được điều trị ngoại trú tại Trung tâm (có lưu số điện thoại liên lạc) để liên hệ và hẹn những người thuộc hai nhóm trên đến khám cùng một buổi vào lần tái khám tiếp theo để tiến hành thảo luận nhóm

2.4 Biến số, chỉ số và chủ đề nghiên cứu

2.4.1 Biến số

Các biến số đánh giá định lượng tuân thủ điều trị của người bệnh THA và các yếu tố liên quan được chia thành các nhóm như sau:

- Thông tin chung về người bệnh (Phần 1, bảng 3, phụ lục 1): Gồm 10 mục

- Thông tin về bệnh THA của ĐTNC (Phần 2, bảng 3, phụ lục 1): Gồm 9 mục

- Kiến thức về bệnh và chế độ chế độ điều trị THA của ĐTNC (Phần 3, bảng

3, phụ lục 1): Gồm 14 mục

- Tuân thủ điều trị tăng huyết áp bao gồm 19 mục (Theo Phụ lục 1), trong đó:

+ Tuân thủ điều trị thuốc hạ huyết áp (Bảng 1, phụ lục 1): Gồm 8 mục

+ Tuân thủ thay đổi lối sống (Bảng 2, phụ lục 1): Gồm 11 mục

2.4.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

- Đối với mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị

của đối tượng nghiên cứu:

HUPH

Trang 30

+ Yếu tố cá nhân bao gồm: Những lý do người bệnh THA chưa tuân thủ điều trị tốt: lý do không theo dõi chỉ số huyết áp tại nhà, lý do không thực hiện chế độ ăn theo khuyến cáo, lý do không luyện tập thể dục, lý do không tuân thủ bỏ hút thuốc

lá và hạn chế rượu bia

+ Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh: sự sẵn có và đều đặn của thuốc thiết yếu, những biện pháp trung tâm áp dụng để nhắc việc TTĐT cho người bệnh, những tác động của môi trường, gia đình…

2.5 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá dùng cho nghiên cứu

2.5.1 Khái niệm tuân thủ điều trị THA

Theo khuyến nghị của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng

huyết áp năm 2010” trong nghiên cứu này tuân thủ điều trị tăng huyết áp bao gồm:

tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống (hạn chế ăn mặn, chất béo; hạn chế uống rượu/bia; không hút thuốc lá/thuốc lào; tập thể dục thường xuyên; đo và ghi chỉ số huyết áp thường xuyên 5 – 7 lần/tuần [2]

Tuân thủ điều trị thuốc: là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được

kê đơn theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ, kể cả khi huyết áp bình thường, không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng

Tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống:

- Thay đổi chế độ ăn: Hạn chế ăn mặn và thức ăn có chứa nhiều Cholesterol, acid béo no Nên dùng các thức ăn có chứa kali, tăng cường ăn rau và hoa quả tươi

- Hạn chế uống rượu/bia: là số lượng ít hơn 3 cốc tiêu chuẩn/ngày (nam), 2 cốc tiêu chuẩn/ngày (nữ); và tổng cộng ít hơn 14 cốc tiêu chuẩn/tuần (nam) và 9 cốc tiêu chuẩn/tuần (nữ) (1 cốc tiêu chuẩn tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang hoặc 30ml rượu nặng)

- Không hút thuốc lá/thuốc lào

- Chế độ tập luyện thể dục: là luyện tập thể dục hoặc đi bộ thường xuyên ở mức độ vừa phải (5 – 7 lần/tuần), mỗi ngày khoảng 30 – 60 phút (mức độ tập luyện phải tùy thuộc vào tình trạng bệnh tật của bệnh nhân Nếu huyết áp chưa kiểm soát được thì không nên tập thể dục đến khi huyết áp được kiểm soát)

HUPH

Trang 31

- Theo dõi huyết áp: đo và ghi lại chỉ số huyết áp thường xuyên (5 – 7

lần/tuần) vào sổ theo dõi của người bệnh THA [2]

2.5.2 Các tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị THA

Theo khuyến nghị của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng

huyết áp năm 2010” trong nghiên cứu này tuân thủ điều trị tăng huyết áp bao gồm

cả tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống Người bệnh được tính là TTĐT bệnh THA khi đáp ứng đồng thời cả TTĐT thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị thuốc hạ áp

Sử dụng thang đo của Morisky và cộng sự (2008) gồm 8 mục (mỗi mục trả lời đúng được đánh giá 1 điểm) để đo lường TTĐT với thuốc hạ huyết áp, tối đa được 8 điểm Với những người bệnh được coi là TTĐT bằng thuốc hạ HA khi được trên 75% số điểm, tức là > 6 điểm (tương đương trả lời đúng > 6 câu), không TTĐT bằng thuốc hạ huyết áp khi được từ 75% số điểm trở xuống, tức là ≤ 6 điểm (tương

đương với trả lời đúng ≤ 6 câu ) Với mỗi câu trả lời không được 1 điểm [20]

Tiêu chuẩn đánh giá thay đổi lối sống

Sau khi đã tham khảo các nghiên cứu về tuân thủ điều trị có liên quan [15][9][12] Nghiên cứu này chúng tôi đánh giá TTĐT thay đổi lối sống của người bệnh chia thành 2 mức: tuân thủ và không tuân thủ, gồm các câu từ (E1 đến E10) (phụ lục 2)

Trong đó có các câu hỏi nhiều lựa chọn và một lựa chọn, sẽ được tính điểm theo từng lựa chọn đúng, mỗi câu chọn đúng sẽ được 1 điểm, lựa chọn sai sẽ không được điểm, tính điểm ở từng câu Mỗi câu là 1 nội dung về tuân thủ thay đổi lối sống sẽ được tính điểm tuân thủ hay không tuân thủ Cách tính điểm chi tiết được tóm tắt ở bảng 2.1

Tổng số câu trả lời đúng là 7 câu, vì vậy tổng điểm là 7 TTĐT thay đổi lối sống của người bệnh được cho là tuân thủ khi được từ 70% số điểm trở lên, tức là ≥

5 điểm (tương đương trả lời đúng được ≥ 5 câu, dưới 70% số điểm, tức là < 5 điểm

là không tuân thủ (tương đương trả lời đúng < 5 câu)

HUPH

Trang 32

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống

Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA

Sau khi tham khảo từ những nghiên cứu KAP và một số nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị THA trước đó [15][9][12] Nghiên cứu này tính điểm kiến thức về bệnh và chế độ điều trị bệnh THA của người bệnh bao gồm 10 câu từ F1 – F10, mức độ kiến thức được cho là đạt được đánh giá trong từng câu hỏi Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm tối đa là 10 điểm Kiến thức được cho là đạt khi người bệnh được ≥ 7 điểm (tương đương trả lời đúng được ≥ 7/10 câu), người bệnh đực <7 điểm (tương đương trả lời đúng < 7 câu) là không đạt (phụ lục 2)

2.6 Công cụ, kỹ thuật thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu

- Công cụ thu thập số liệu định lượng: Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được thiết kế sẵn (Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn) được nghiên cứu viên xây dựng dựa trên tham khảo các bộ công cụ của một số nghiên cứu khác [21][30][31] và được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, gồm các mục sau (xem phụ lục 2): (1) Thông tin chung; (2) Thông tin về bệnh THA của ĐTNC; (3) Thông tin về tìm kiếm sử dụng dịch vụ y tế và điều trị THA; (4) Thông tin về tuân thủ điều trị thuốc THA; (5) Thông tin về việc tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống; (6) Kiến thức của ĐTNC về chế độ điều trị THA

HUPH

Trang 33

Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên 10 người và được chỉnh sửa hoàn thiện

- Công cụ thu thập số liệu định tính: Hướng dẫn phỏng vấn sâu (dành cho nhân viên y tế) và thảo luận nhóm (dành cho người bệnh) được thiết kế sẵn để tìm hiểu những yếu tố liên quan đến thực hành tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân

2.6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

Số liệu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp người bệnh bị THA bằng bộ câu hỏi

được thiết kế sẵn Các thông tin về lâm sàng, cận lâm sàng được thu thập từ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh

Quy trình thu thập thông tin định lượng của người bệnh: Sau khi người bệnh hoàn thành các thăm khám, kê đơn, tư vấn, nhận thuốc và chuẩn bị ra về Nghiên cứu viên tiến hành mời người bệnh tham gia phỏng vấn tại 1 phòng hành chính của khoa Khám bệnh Điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn người bệnh

Số liệu định tính: Phỏng vấn sâu người cung cấp dịch vụ y tế (bác sĩ, điều

dưỡng và Giám đốc Trung tâm) và thảo luận nhóm với bệnh nhân, người nhà người bệnh (1 cuộc với nhóm người tuân thủ điều trị tốt, 1 cuộc với nhóm người tuân thủ điều trị không tốt) Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm bằng điện thoại/máy ghi âm và đã được ĐTNC cho phép

2.7 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Số liệu định lượng: Các số liệu được kiểm tra, làm sạch các lỗi, mã hóa và nhập thông tin vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Cả phương pháp thống kê mô tả và thống kê suy luận được thực hiện Kiểm định Chi – square được thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa tuân thủ với một số yếu tố liên quan Mức ý nghĩa thống kê với p

<0,05 (khoảng tin cậy 95%) được áp dụng

Số liệu định tính: Sau khi thu thập thông tin được gỡ băng, mã hóa, tổng hợp

và phân tích theo chủ đề, trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng ý của Ban Giám đốc Trung tâm Y tế

HUPH

Trang 34

thành phố Hòa Bình và được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua tại Quyết định số 157/2019/YTCC-HD3 ngày 18/4/2019

Các thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu, số liệu được bảo mật và chỉ được sử dụng cho nghiên cứu

Nghiên cứu hoàn toàn vì lợi ích sức khỏe của cộng đồng không vì một mục đích nào khác.Nghiên cứu không có các vấn đề tế nhị nhạy cảm, không ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe của người tham gia nghiên cứu Trước khi tham gia nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và hoàn toàn

có quyền quyết định tự nguyện tham gia vào nghiên cứu hay không Kết quả nghiên cứu được thông báo cho các đơn vị y tế có trách nhiệm liên quan để nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tư vấn cho người bệnh tăng huyết áp trên địa bàn thành phố Hòa Bình

HUPH

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Thông tin về cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin về cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n=300)

Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng 54 18.0

Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên 300 người bệnh THA hiện được quản lý điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, thuộc Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Kết quả từ Bảng 3.1 cho thấy, trong số đối tượng nghiên cứu,

có tới 67,3% người từ 60 tuổi trở lên Tỷ lệ nam giới và nữ giới là tương đương nhau với 50% Đối tượng là người Kinh chiếm phần lớn với 76,7% (230 người), còn lại là người Mường chiếm 22,3% (67 người) và dân tộc khác là 1% (3 người) Đối tượng nghiên cứu hầu hết đang sống với gia đình chiếm 90,7% Đối tượng có trình

HUPH

Trang 36

độ học vấn THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,7%, tiếp đến là trình độ THPT (19%) Vẫn có 11,7% đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống Đa

số đối tượng đã nghỉ hưu hoặc không đi làm chiếm 74,3% 100% đối tượng nghiên cứu có thẻ BHYT

3.1.2 Thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2 Thông tin về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300)

Thông tin cá nhân Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Hoàn cảnh phát hiện THA

HUPH

Trang 37

xuống với 55%, đa số ĐTNC không có tiền sử gia đình về mắc bệnh THA (55,2%) Trong số ĐTNC, phần lớn người bệnh đang mắc THA độ 2 chiếm 74,1%, tiếp theo

là mắc THA độ 1 là 18% và THA độ 3 là thấp nhất với 7,3% Có tới 88% người bệnh dùng thuốc hạ áp 1 lần/ngày, chỉ có 11,7% dùng trên 1 lần/ngày và vẫn có 1 người không dùng thuốc hạ áp hàng ngày

Bảng 3.3 Thông tin về biến chứng tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=300)

Thông tin cá nhân Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biến chứng của THA

3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp

3.2.1 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc tăng huyết áp (n= 300 )

Bảng 3.4 Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc ở người bệnh tăng huyết

áp theo thang đo Morisky (n=300) Nội dung tuân thủ thuốc Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Từ lúc bắt đầu điều trị THA quên uống thuốc hạ HA

HUPH

Trang 38

Quên uống thuốc hạ huyết áp trong tuần vừa qua

Tự ngừng thuốc hạ huyết áp khi cảm thấy huyết áp

được kiểm soát

Bảng 3.4 trình bày kết quả nghiên cứu về tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh trong những trường hợp cụ thể cho thấy tỷ lệ người bệnh THA không quên

HUPH

Trang 39

uống thuốc hạ HA trong ngày hôm trước là cao nhất với 95,3%, tiếp theo là không quên mang thuốc hạ HA khi đi xa với 89,7% Tỷ lệ người bệnh từ lúc bắt đầu điều trị THA không quên uống thuốc hạ HA chiếm tỷ lệ thấp nhất với 72% Các trường hợp còn lại tỷ lệ người bệnh THA có tuân thủ điều trị thuốc dao động từ 81,7% đến 89,3%

28%

Có tuân thủ Không tuân thủ 72%

Biểu đồ 3.1 Đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc (n=300)

Trong nghiên cứu này, khi tiến hành đánh giá sự tuân thủ của ĐTNC về điều trị thuốc THA, kết quả tỷ lệ người bệnh có tuân thủ điều trị thuốc THA là 72%, trong khi đó tỷ lệ không tuân thủ là 28%

3.2.2 Tuân thủ thay đổi lối sống

Ăn nhạt hơn trước (ăn giảm muối) 228 76.0

HUPH

Trang 40

Vẫn ăn mặn 1 0.3 Khi đánh giá về mức độ tuân thủ chế độ ăn của ĐTNC, chỉ có 13,7% người bệnh cho biết sau khi được chẩn đoán là mắc THA vẫn ăn uống bình thường Ngược lại, sau khi được chẩn đoán là mắc THA, có tới 71,7% người bệnh đã giảm ăn mặn, 70% ăn hạn chế mỡ động vật, chất béo, 66,7% thực hiện ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi và 55,6% ĐTNC đã thực hiện hạn chế ăn uống các chất kích thích Về chế độ

sử dụng muối, có tới 76% người bệnh thực hiện ăn nhạt hơn trước nhưng vẫn có tới 23,7% ăn bình thường như trước và 0,3% vẵn có chế độ ăn mặn

3.2.2.2 Tuân thủ sử dụng chất kích thích

Bảng 3.6 Tuân thủ sử dụng chất kích thích

Nội dung tuân thủ sử dụng chất kích thích Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Không hút thuốc lá/thuốc lào (n=300)

Từ khi điều trị THA có thường xuyên uống

rượu/bia không (n=300)

Trước đây uống nhưng bây giờ đã dừng uống 57 19.0

Lượng rượu/bia thường uống (n=71)

Nam < 3 cốc chuẩn/ngày, nữ < 2 cốc chuẩn/ngày 65 91.5 Nam > 3 cốc chuẩn/ngày, nữ > 2 cốc chuẩn/ngày 6 8.5 Khi đánh giá về mức độ tuân thủ sử dụng chất kích thích của ĐTNC, sau khi được chẩn đoán là mắc THA có 11,3% người bệnh vẫn còn hút thuốc lá/thuốc lào trong tuần 19% ĐTNC trước đây thường xuyên uống rượu/bia nhưng bây giờ đã dùng uống Tỷ lệ người bệnh THA vẫn thường xuyên uống rượu/bia là 23,7% (71 người), trong đó có tới 8,5% nam giới uống trên 3 cốc chuẩn/ngày, nữ giới uống trên 2 cốc chuẩn/ngày (6 người)

HUPH

Ngày đăng: 02/12/2023, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm