Các khái niệm
Đỡ đẻ thường ngôi chỏm là một thủ thuật nhằm tác động vào thì sổ thai, giúp cuộc đẻ diễn ra an toàn qua đường âm đạo mà không cần can thiệp, ngoại trừ trường hợp cắt tầng sinh môn.
Người đỡ đẻ có kỹ năng là những nhân viên y tế được thẩm định chất lượng, bao gồm nữ hộ sinh, bác sĩ và điều dưỡng Họ được đào tạo để có kiến thức và kỹ năng cần thiết trong việc chăm sóc thai nghén, thực hiện đỡ đẻ thường, chăm sóc sau khi sinh, cũng như phát hiện và xử trí ban đầu các tai biến sản khoa, đồng thời chuyển tuyến khi cần thiết.
Chuyển dạ là quá trình xuất hiện các cơn co tử cung, dẫn đến hiện tượng xoá mở cổ tử cung để tống xuất thai nhi qua ngã âm đạo.
Quá trình chuyển dạ đƣợc chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xoá mở cổ tử cung
Giai đoạn 3: Sổ nhau và cầm máu
Giai đoạn xóa mở cổ tử cung, hay còn gọi là giai đoạn một của chuyển dạ, bắt đầu từ khi chuyển dạ khởi phát cho đến khi cổ tử cung được xóa và mở hoàn toàn.
Giai đoạn sổ thai, hay còn gọi là giai đoạn hai của chuyển dạ, bắt đầu khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai nhi được tống xuất ra ngoài.
- Giai đoạn sổ nhau, thường được gọi là giai đoạn ba của chuyển dạ, được tính kể từ khi thai đƣợc tống xuất hoàn toàn
Thời gian trung bình cho toàn bộ quá trình sổ nhau và cầm máu dao động từ 6 đến 30 phút nếu không có can thiệp bên ngoài Trong giai đoạn 3 của chuyển dạ, tổng lượng máu mất trung bình khoảng 300 gam.
Về mặt sinh lý, giai đoạn sổ nhau đƣợc chia ra 3 thì:
Thì bong nhau là khoảng thời gian từ sau khi sổ thai đến khi nhau bong hoàn toàn khỏi vị trí bám trên tử cung
Thì sổ nhau là khoảng thời gian mà nhau, lúc này đã bong hoàn toàn, di chuyển từ buồng tử cung ra ngoài
Thì cầm máu là giai đoạn bắt đầu từ khi nhau được tống xuất ra khỏi buồng tử cung cho đến khi hiện tượng chảy máu hoàn toàn chấm dứt.
Băng huyết sau sinh là do bất thường ở các thì của giai đoạn sổ nhau.
Theo dõi chuyển dạ đẻ thường và đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Quá trình theo dõi chuyển dạ và đỡ đẻ thường ngôi chỏm được hướng dẫn chi tiết trong tài liệu quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Dưới đây là một số nội dung tóm tắt về việc theo dõi chuyển dạ và thực hành đỡ đẻ.
1.2.1 Theo dõi chuyển dạ đẻ thường (1)
1.Các nguyên tắc chăm sóc trong khi chuyển dạ:
Sản phụ nên được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế để đảm bảo an toàn Nếu sinh tại nhà, cần có sự hỗ trợ từ người có kỹ năng đỡ đẻ được đào tạo.
Cuộc chuyển dạ cần được theo dõi chặt chẽ qua biểu đồ chuyển dạ, nhằm ghi nhận và phân tích các dữ liệu quan trọng Việc phát hiện sớm các yếu tố bất thường là rất cần thiết để có thể xử trí kịp thời, bao gồm việc sử dụng thuốc, thực hiện thủ thuật, phẫu thuật hoặc chuyển tuyến, nhằm đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con.
Khi thực hiện các thao tác như đỡ đẻ, đỡ rau, kiểm tra rau và chăm sóc rốn sơ sinh, cần tuân thủ đúng quy trình để đảm bảo an toàn Đặc biệt, trong một số trường hợp cần thực hiện bóc rau nhân tạo, kiểm soát tử cung và khâu tầng sinh môn, việc tuân thủ quy trình và đảm bảo vô khuẩn là rất quan trọng.
Trong khi theo dõi quá trình chuyển dạ, cán bộ y tế cần động viên, hỗ trợ về tinh thần cho sản phụ
2.Theo dõi trong quá trình chuyển dạ:
Trong quá trình chuyển dạ, cần theo dõi mạch 4 giờ một lần Ngay sau khi sinh, phải đếm mạch và ghi lại vào hồ sơ Trong giờ đầu sau sinh, theo dõi mạch mỗi 15 phút, trong giờ thứ hai mỗi 30 phút, và sau đó mỗi giờ trong 4 giờ tiếp theo Mạch bình thường dao động từ 70-80 lần/phút, nếu nhanh hơn thì cần chú ý.
> 100 lần/phút hoặc chậm < 60 lần/phút, tuyến xã phải hồi sức rồi chuyển tuyến gần nhất Các tuyến trên phải khám, tìm nguyên nhân để xử trí
Trong quá trình chuyển dạ, cần đo huyết áp 4 giờ một lần và ngay sau khi sinh để ghi lại vào hồ sơ Trong 2 giờ đầu sau sinh, huyết áp cần được đo 1 giờ một lần Cần theo dõi huyết áp thường xuyên khi có dấu hiệu chảy máu hoặc mạch nhanh, và các tuyến trên phải có biện pháp xử trí kịp thời khi huyết áp cao hoặc có triệu chứng choáng.
Đo thân nhiệt cho sản phụ 4 giờ/lần, với mức bình thường dưới 37°C Nếu nhiệt độ vượt quá 38°C, cần giảm nhiệt độ phòng bằng các phương tiện đơn giản và đảm bảo sản phụ uống đủ nước Theo dõi tình trạng sức khỏe của bà mẹ; nếu thấy mệt mỏi, kiệt sức, vật vã hoặc khó thở, cần có biện pháp xử trí phù hợp tùy theo nguyên nhân.
Theo dõi cơn co tử cung:
Theo dõi độ dài một cơn co và khoảng cách giữa 2 con co Trong pha tiềm tàng đo 1 giờ/lần trong 10 phút, pha tích cực 30 phút/lần trong 10 phút
Theo dõi nhịp tim thai:
Nghe tim thai ít nhất 1 giờ/lần ở pha tiềm tàng, 30 phút/lần ở pha tích cực Nghe tim thai trước và sau vỡ ối hay khi bấm ối
Thời điểm nghe tim thai là sau khi hết cơn co tử cung, và trong giai đoạn rặn đẻ, cần nghe tim thai sau mỗi cơn rặn Nhịp tim thai trung bình dao động từ 120-160 lần/phút; nếu nhịp tim thai vượt quá 160 lần/phút hoặc dưới 120 lần/phút, hoặc không đều, cần tìm nguyên nhân để xử trí kịp thời Đồng thời, việc theo dõi tình trạng ối cũng rất quan trọng.
Trong quá trình thăm khám âm đạo mỗi 4 giờ, cần nhận xét tình trạng nước ối và đặc điểm của đầu ối Nước ối bình thường có thể trong hoặc trắng đục, trong khi nước ối có màu xanh, đỏ, nâu đen, hoặc có mùi hôi cần được điều tra nguyên nhân và xử trí kịp thời Nếu xảy ra tình trạng ối vỡ non hoặc ối vỡ sớm trên 6 giờ trước khi sinh, cần cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh và tìm kiếm nguyên nhân để có biện pháp xử lý phù hợp.
Theo dõi mức độ xoá mở cổ tử cung:
Thăm âm đạo nên được thực hiện 4 giờ một lần, khi ối vỡ và khi quyết định cho sản phụ rặn Trong trường hợp chuyển dạ tiến triển nhanh, việc thăm âm đạo có thể giúp đánh giá cổ tử cung và độ lọt của ngôi Tuy nhiên, cần hạn chế thăm âm đạo để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn.
Chuyển dạ được chia thành hai giai đoạn: pha tiềm tàng kéo dài 8 giờ (từ khi cổ tử cung xoá đến mở 3cm) và pha tích cực kéo dài tối đa 7 giờ (từ khi cổ tử cung mở 3cm đến 10cm) Để theo dõi quá trình này, cán bộ y tế sử dụng biểu đồ chuyển dạ, trong đó cổ tử cung thường mềm, mỏng và không phù nề Đường biểu diễn cổ tử cung trên biểu đồ luôn nằm bên trái đường báo động Nếu cổ tử cung không tiến triển, bị phù nề, hoặc nếu cổ tử cung mở hết mà đầu không lọt, thì cần thực hiện mổ lấy thai.
Theo dõi mức độ tiến triển của ngôi thai:
Cán bộ y tế cần đánh giá sự tiến triển của đầu thai nhi thông qua việc nắn bụng và thăm âm đạo, với 4 mức độ: đầu cao lỏng, đầu chúc, đầu chặt và đầu lọt Khi đầu thai nhi đã lọt, có 3 mức độ để xác định: lọt cao, lọt trung bình và lọt thấp Sau khi thực hiện đánh giá, cán bộ y tế phải ghi lại độ lọt vào biểu đồ chuyển dạ để kịp thời phát hiện trường hợp chuyển dạ đình trệ; nếu ngôi thai không tiến triển, cần thực hiện mổ lấy thai.
Theo dõi khi thai sổ:
Sau mỗi cơn rặn, người đỡ phụ cần nghe nhịp tim thai và thông báo cho người đỡ chính để phát hiện suy thai và có biện pháp xử lý kịp thời Đồng thời, cần quan sát bụng sản phụ để nhận diện dấu hiệu doạ vỡ Khi thai nhi đã ra ngoài, người đỡ chính hạ thấp bàn đẻ và theo dõi để phát hiện chảy máu, vết rách, cũng như đánh giá mức co hồi tử cung nhằm chuẩn bị cho giai đoạn 3 chuyển dạ Cuối cùng, sau khi quá trình đỡ đẻ hoàn tất, cần ghi lại diễn biến cuộc đẻ vào hồ sơ bệnh án.
Theo dõi khi sổ rau:
Ngay sau khi sổ thai, cần kiểm tra rau bong để phát hiện băng huyết và thực hiện bóc rau nhân tạo cùng với kiểm soát tử cung Sau khi kiểm tra đủ bánh nhau, cần xem xét âm hộ, âm đạo và tầng sinh môn để khâu cầm máu nếu có rách hoặc cắt chủ động Trong trường hợp băng huyết do đờ tử cung, cần tập trung cấp cứu để ngừng chảy máu và bồi hoàn lượng máu đã mất Nếu thai bị ngạt sau sinh, cần tiến hành hồi sức ngay lập tức.
1.2.2 Đỡ đẻ thường ngôi chỏm dựa theo hướng dẫn quốc gia về các dich vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản (1)
-Bộ dụng cụ đỡ đẻ và bộ khăn vô khuẩn
-Bộ dụng cụ cắt, khâu tầng sinh môn
-Khăn, bông, băng, gạc hấp, chỉ khâu, kim khâu, kẹp rốn vô khuẩn -Thuốc oxytocin 10 đơn vị lấy sẵn trong bơm tiêm
-Dụng cụ để hút nhớt và hồi sức sơ sinh
Trong quá trình chuyển dạ, sản phụ sẽ được động viên và hướng dẫn cách thở, cách rặn cũng như cách thư giãn giữa các cơn rặn Ngoài ra, họ cũng sẽ nhận được sự hướng dẫn về việc đi đại tiện hoặc thụt tháo phân khi mới bắt đầu chuyển dạ, và tiểu tiện khi sắp sinh Nếu sản phụ không thể tự tiểu tiện do đầy bàng quang, sẽ tiến hành thông tiểu để đảm bảo sức khỏe.
- Rửa vùng sinh dục ngoài bằng nước chín
- Sát khuẩn rộng vùng sinh dục và bẹn, đùi
- Trải một khăn vô khuẩn lên bụng sản phụ để đón bé
Thực trạng tuân thủ và các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình đỡ đẻ thường
Theo WHO (2012), việc tuân thủ quy trình của hộ sinh có trình độ và tay nghề cao là rất quan trọng để đảm bảo an toàn trong quá trình đỡ đẻ Hộ sinh cần hướng dẫn sản phụ cách phối hợp để khuyến khích mẹ rặn khi cổ tử cung mở hoàn toàn, khi đầu trẻ đã bắt đầu xuất hiện ở âm hộ và sản phụ cảm thấy muốn rặn đẻ, cũng như cách nín hơi và thổi khi không có cơn co.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính hàng năm có khoảng 136 triệu ca sinh trên toàn cầu, trong đó tại các nước kém phát triển, chỉ có dưới hai phần ba ca sinh được thực hiện bởi cán bộ y tế có chuyên môn Đặc biệt, ở các nước ít phát triển nhất, tỷ lệ này chỉ đạt một phần ba Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc vào ngày 19/9/2008, tại một số khu vực ở Châu Á, tỷ lệ phụ nữ được hộ sinh hỗ trợ trong giai đoạn sinh nở chỉ đạt từ 31% đến 40% trong giai đoạn 1995-2005 Những số liệu này cho thấy vai trò quan trọng của nhân viên y tế trong công tác chăm sóc chuyển dạ và đẻ.
Theo WHO, có nhiều loại nhân viên y tế đủ tiêu chuẩn để thực hiện chăm sóc chuyên môn cho phụ nữ trong thời gian mang thai, trong và sau khi sinh Họ có khả năng phát hiện sớm các biểu hiện bất thường khi tình hình vẫn trong tầm kiểm soát, từ đó can thiệp và xử trí biến chứng kịp thời.
Theo WHO (2012), giai đoạn 2 của chuyển dạ thường gặp nhiều khó khăn Để đảm bảo việc đỡ đẻ an toàn, việc tuân thủ quy trình của hộ sinh là vô cùng quan trọng.
Hộ sinh cần hướng dẫn sản phụ về cách nín hơi và thổi khi không có cơn co, đặc biệt khi đầu trẻ thập thò âm đạo và sản phụ cảm thấy muốn rặn Việc có người chăm sóc thứ hai là rất quan trọng để duy trì việc nghe tim thai và hỗ trợ sản phụ, nhất là trong trường hợp có biến chứng xảy ra Người thứ hai sẽ giúp đỡ và chăm sóc khẩn cấp, đảm bảo không làm mất thời gian trong quá trình cấp cứu.
Công tác đảm bảo vô khuẩn trong quy trình y tế tại nhiều bệnh viện đang được chú trọng Một nghiên cứu năm 2010 trên 75 hộ sinh tại thủ đô I rắc cho thấy tỷ lệ đảm bảo vô khuẩn còn thấp, với chỉ 81,3% thực hiện sát khuẩn vùng âm hộ và 61,3% làm sạch vùng tầng sinh môn bằng nước sạch Đặc biệt, chỉ có 30,7% hộ sinh rửa tay bằng xà bông và nước sạch, cũng như lau khô hoàn toàn trước khi tiến hành đỡ đẻ.
Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ sinh sản, đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những vấn đề cần khắc phục, như cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thuốc thiết yếu phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ chưa đầy đủ Tại tuyến tỉnh, mặc dù có nhiều dụng cụ và trang thiết bị, nhưng số lượng vẫn còn hạn chế.
Báo cáo về kỹ năng của người đỡ đẻ tại Việt Nam cho thấy rằng không có hộ sinh nào trong số 69 đối tượng (bao gồm bác sĩ và y sĩ sản nhi) thực hiện chính xác tất cả các bước cần thiết Chỉ có 4 trong 34 hộ sinh tham gia nghiên cứu (12,0%) thực hiện đủ 6 bước quan trọng theo yêu cầu Đây là một thực trạng đáng báo động, vì hộ sinh là nhóm cán bộ y tế chủ yếu cung cấp dịch vụ chăm sóc thai sản, do đó, trình độ chuyên môn của họ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho cuộc đẻ Kết quả cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể về năng lực chuyên môn giữa những người làm việc trong lĩnh vực này.
HUPH cho thấy sự khác biệt không đáng kể trong mức độ thực hiện giữa những người không thực hiện ca đỡ đẻ nào và những người thực hiện trên 100 ca trong vòng 1 năm Điều này chỉ ra rằng cán bộ y tế thường bỏ qua một số bước quan trọng, bất kể số lượng ca đẻ và cơ hội thực hành có nhiều hay ít.
1.4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tuân thủ quy trình kỹ thuật đỡ đẻ thường của hộ sinh
Theo WHO (2012), việc tuân thủ quy trình của hộ sinh có trình độ cao là rất quan trọng để đảm bảo an toàn trong quá trình đỡ đẻ Hộ sinh cần hướng dẫn sản phụ cách phối hợp để khuyến khích mẹ rặn khi cổ tử mở hết và đầu trẻ đã trình diện Để đảm bảo an toàn, cần có ít nhất hai người, thường là hộ sinh hoặc bác sĩ sản, để hỗ trợ sản phụ Người thứ hai có nhiệm vụ duy trì nghe tim thai và hỗ trợ trong khi hộ sinh hoặc bác sĩ chuẩn bị đỡ đẻ Điều này giúp đảm bảo sự hỗ trợ kịp thời khi có biến chứng xảy ra, đồng thời không làm gián đoạn sự chăm sóc liên tục của người đỡ đẻ chính Do đó, việc có ít nhất hai hộ sinh chăm sóc trong cuộc đẻ là cần thiết để bảo vệ an toàn cho mẹ và con.
Một số quốc gia mặc dù có đủ cán bộ y tế chuyên môn nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sản nhi Để đảm bảo chăm sóc khi sinh đạt yêu cầu, cần chú trọng đến chất lượng chuyên môn, giám sát chặt chẽ, chuyển tuyến hiệu quả, và cung cấp dịch vụ ngoại viện cho những đối tượng nghèo khó Ngoài ra, việc trang bị đầy đủ thiết bị y tế, vật tư thiết yếu, thuốc men, trang thiết bị phẫu thuật, cũng như đảm bảo an toàn trong truyền máu và xét nghiệm là rất quan trọng.
Ngành y tế hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm áp lực về tự chủ kinh tế và những vấn đề liên quan đến thủ tục xuất toán bảo hiểm y tế.
Chính sách và cơ chế vận hành hiện nay đang gặp phải sự chồng chéo, gây phiền hà trong việc đào tạo liên tục Nhiều bệnh viện chưa có kế hoạch đào tạo thường xuyên, và việc kiểm tra, giám sát tại các cơ sở này chưa đạt hiệu quả, thiếu tính khách quan và còn mang tính hình thức Sự thiếu sót trong đào tạo, giám sát và đánh giá sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tuân thủ quy trình.
Kiến thức về bảng kiểm đánh giá không được thực hiện đầy đủ dẫn đến việc đánh giá sự tuân thủ không chính xác, vì nó phụ thuộc vào việc thực hiện đầy đủ từng thao tác trong mỗi bước của bảng kiểm.
Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng nhất trong quy trình làm việc tại bệnh viện Việc thực hiện không đúng quy trình do thói quen có thể dẫn đến sai sót Do đó, bệnh viện cần xây dựng các chế tài và chính sách khen thưởng, động viên kịp thời cho nhân viên y tế khi xảy ra sai sót, đồng thời xử trí kịp thời các sự cố.
Giới thiệu về Bệnh viện Sản-Nhi Trà Vinh
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý thuận lợi với 65km bờ biển và giáp ranh với các tỉnh như Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bến Tre Tỉnh cách thành phố Hồ Chí Minh 200km qua quốc lộ 53 và 130km qua quốc lộ 60, đồng thời cách Cần Thơ 95km Với dân số khoảng 1,2 triệu người và diện tích tự nhiên 2.215km², Trà Vinh bao gồm 7 huyện thị và 1 thành phố.
Người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp, tuy nhiên, đời sống vẫn còn nhiều khó khăn Tỉnh có 01 Bệnh viện Sản-Nhi, 01 Bệnh viện Đa Khoa, 01 Bệnh viện Y Dược Cổ Truyền, 03 Bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 04 trung tâm y tế huyện và 02 Bệnh viện tư nhân Bệnh viện Sản-Nhi Trà Vinh là đơn vị trực thuộc.
Sở Y tế không chỉ thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho người dân trong tỉnh mà còn tiếp nhận khám chữa bệnh cho cư dân từ các tỉnh lân cận như huyện Mỏ Cày, Thanh Phú (tỉnh Bến Tre), huyện Vũng Liêm (tỉnh Vĩnh Long), huyện Long Phú và Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng).
Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh là bệnh viện tuyến tỉnh hạng II, chuyên về sản phụ khoa và nhi khoa, phục vụ hơn 102.234 lượt bệnh nhân mỗi năm, với khoảng 390 đến 400 bệnh nhân nội trú, chủ yếu có bảo hiểm y tế Bệnh viện không chỉ phục vụ bệnh nhân trong tỉnh mà còn tiếp nhận bệnh nhân từ các vùng lân cận như huyện Mỏ Cày, Thạnh Phú (Bến Tre), huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long), và huyện Long Phú, Cù Lao Dung (Sóc Trăng), dẫn đến tình trạng quá tải và áp lực cho nhân viên Ngoài ra, bệnh viện còn là bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng, đã triển khai thành công nhiều ứng dụng trong công tác khám chữa bệnh.
HUPH kề da sau sinh, thành lập khoa đơn nguyên sơ sinh, triển khai phẩu thuật bắt con, đặt biệt phẩu thuật cắt tử cung qua nội soi
Bệnh viện Sản - Nhi có mặt bằng xây dựng với tổng diện tích 42.289m 2 ; trong đó tổng số diện tích xây dựng cho khu Sản là 2.700m 2 , khu Nhi 2.000m 2 với
Khoa Sản có 390 giường bệnh với diện tích 23.5m² mỗi giường, phục vụ khoảng 800 ca sinh hàng tháng Đội ngũ nhân viên gồm 27 người, trong đó có 9 bác sĩ chuyên khoa I về sản phụ khoa và 18 hộ sinh Trong số ca sinh, khoảng 334 ca là sinh thường ngôi chỏm Hộ sinh thực hiện công tác chăm sóc chuyển dạ được chia thành 4 kíp, mỗi kíp có 4 hộ sinh, bao gồm 1 hộ sinh trưởng Quy trình đỡ đẻ thường đã được áp dụng từ năm
Vào năm 2016, việc giám sát quy trình thực hiện còn hạn chế và không liên tục Ban lãnh đạo chưa chú trọng đến công tác đào tạo và tập huấn lại các quy trình Quy trình đỡ đẻ được triển khai và tập huấn vào năm 2016, nhưng gần bốn năm qua chưa có đợt tập huấn nào lại, và cũng chưa có chế tài để đảm bảo tuân thủ quy trình này.
Khung lý thuyết
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa kiến thức và quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm, được mô tả qua khung lý thuyết.
Biến phụ thuộc là tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Biến độc lập bao gồm các yếu tố:
Yếu tố cá nhân của hộ sinh, bao gồm tuổi tác, trình độ chuyên môn, đào tạo và huấn luyện liên quan đến đỡ đẻ, cũng như thâm niên công tác và ý thức cá nhân, có ảnh hưởng đáng kể đến sự tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm.
Sự hợp tác của sản phụ trong quá trình chuyển dạ, cùng với độ tuổi và tình trạng sức khỏe của họ trong thời gian mang thai, đều ảnh hưởng đến quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm.
Yếu tố dịch vụ y tế, bao gồm trang thiết bị hỗ trợ, dụng cụ cho quá trình đẻ thường và sự kiểm tra, giám sát trong quá trình đỡ đẻ, có ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm.
Yếu tố quản lý chuyên môn, bao gồm nhân lực chính thực hiện ca đỡ đẻ và sự hỗ trợ từ các đồng nghiệp, có ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm.
Tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Yếu tố cá nhân hộ sinh:
- Trình độ chuyên môn, đào tạo, tập huấn liên quan đỡ đẻ
Yếu tố dịch vụ y tế:
- Thuốc, trang thiết bị, dụng cụ đỡ đẻ thường ngôi chỏm
- Quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm chuẩn; hướng dẫn thực hiện
- Quy định, qui chế chuyên môn
Yếu tố quản lý chuyên môn:
- Nhân lực chính cho ca đỡ đẻ
- Trợ giúp của đồng nghiệp
- Sự kiểm tra, giám sát khi thực hiện ca đỡ đẻ
- Sự hợp tác của sản phụ
- Tình trạng sức khỏe của sản phụ trong lúc mang thai
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Trường hợp (ca) đỡ đẻ thường ngôi chỏm cho sản phụ được hộ sinh thực hiện tại khoa Sản bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh
Ca đỡ đẻ thường ngôi chỏm (theo 40 bước chuẩn) thực hiện bởi hộ sinh thâm niên từ 6 tháng trở lên, tại khoa Sản Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh
Ca đỡ đẻ thường có sự tham gia của Bác sĩ sản khoa
Cán bộ quản lý và nhân viên phụ trách lĩnh vực sản phụ khoa tại Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh cùng một số bệnh viện khác ở khu vực Đông Nam bộ là những người cung cấp thông tin chính.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính nhằm phân tích thực trạng tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường của hộ sinh, đồng thời xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ này.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu: từ 04/2020 đến 7/2020 Địa điểm: Khoa Sản Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Ca đỡ đẻ cần quan sát:
Trong đó: α=0,05 (mức ý nghĩa thống kê) vậy hệ số tin cậy tương ứng mức ý nghĩa α là Z(1-α/2) = 1,96
P = 0,3 là ước lượng thông qua quan sát nhanh số ca đỡ đẻ đúng quy trình tại bệnh viện Sai số ước lượng d = 0,07 (trong khoảng 0,05-0,1) theo khuyến cáo tính mẫu nghiên cứu cắt ngang Cỡ mẫu cần quan sát được xác định dựa trên các thông số này.
Số ca đỡ đẻ cần quan sát là 196, với ước tính trung bình khoảng 20 ca sinh thường do hộ sinh thực hiện mỗi ngày tại phòng sinh Để thu thập dữ liệu, camera sẽ được đặt để quan sát hai bàn sanh và ghi nhận liên tục số liệu trong suốt tuần cho đến khi đạt đủ mẫu.
Toàn bộ 16 hộ sinh tại khoa Sản của Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh, cùng với 7 cán bộ quản lý khoa Sản và lãnh đạo phòng điều dưỡng, đã được chọn tham gia nghiên cứu Ngoài ra, một số bệnh viện chuyên khoa Sản – Nhi khác như Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Sóc Trăng, Bệnh viện An Giang và Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ cũng được đưa vào khảo sát.
Biến số và chủ đề nghiên cứu
2.5.1 Biến số nghiên cứu (định lượng):
TT Nội dung Định nghĩa biến
1 Tuổi của hộ sinh Năm thời điểm nghiên cứu trừ đi năm sinh
2 Thâm niên công tác Thời gian tham gia công tác của hộ sinh
3 Trình độ chuyên môn Học vấn cao nhất của hộ sinh
Lãnh đạo khoa và các phòng chức năng của bệnh viện có trách nhiệm kiểm tra và giám sát việc tuân thủ quy trình đỡ đẻ của hộ sinh, thực hiện kiểm tra thường xuyên hoặc định kỳ để đảm bảo chất lượng dịch vụ.
5 Đào tạo liên tục Là sự cập nhật kiến thức về quy trình đỡ đẻ bằng hình thức tham gia các khóa học ngắn hạn
6 Sự hợp tác của sản phụ Sản phụ phối hợp với hộ sinh khi hộ sinh hướng dẫn cho sản phụ lúc thực hiện đỡ đẻ
7 Tuổi của sản phụ Lấy năm tại thời điểm nghiên cứu trừ đi năm sinh
8 Tình trạng sức khỏe của sản phụ lúc mang thai
Trong lúc mang thai, sản phụ có mắc phải bệnh lý thai kỳ nào hay không Bao gồm bệnh lý thai kỳ và bệnh lý mãn tính
9 Nhân lực chính cho ca đỡ đẻ thường
Số lƣợng nữ hộ sinh trực tiếp tham gia ca đỡ đẻ trong tua trực
10 Thuốc, trang thiết bị, cơ sở vật chất
Dụng cụ, trang thiết bị, cơ sở vật chất trong khoa có đáp ứng theo đúng quy trình đỡ đẻ thường
Môi trường làm việc Môi trường làm việc thân thiện, không áp lực căng thẳng
Tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Bài viết này trình bày các bước trong bảng kiểm đỡ đẻ thường ngôi chỏm, bao gồm quy trình chuẩn bị trước khi đỡ đẻ, tiến hành đỡ đẻ và các công việc cần thực hiện sau khi sinh.
2.5.2 Chủ đề nghiên cứu (định tính):
- Sự giám sát hỗ trợ của lãnh đạo khoa Sản đối với thực hiện quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm
+ Thực hiện giám sát hỗ trợ (tần suất, công cụ, hoạt động sau giám sát), nguồn lực đối với quy trình đỡ đẻ thường
-Nguồn lực đối với quy trình đỡ đẻ thường
+ Quy định, quy chế liên quan đến việc thực hiện quy trình đỡ đẻ thường và việc thực thi quy định quy chế
+ Các phương tiện hỗ trợ khi thực hiện quy trình
+ Nhân lực, năng lực hộ sinh
- Những khó khăn, rào cản khi thực hiện quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm
- Khuyến nghị nhằm tăng cường tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường.
Công cụ nghiên cứu
- Phần I: Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu gồm 16 câu hỏi
Phần II: Phiếu đánh giá quy trình bao gồm các bước thực hiện theo hướng dẫn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, được ban hành kèm theo quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày 29/07/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Phần III: Hướng dẫn phỏng vấn sâu các đối tượng cung cấp thông tin chính gồm 7 đến 9 tương ứng các chủ đề nghiên cứu định tính.
Thu thập số liệu
2.7.1 Phần định lượng Điền thông tin hộ sinh thực hiện quy trình đỡ đẻ (trích từ hồ sơ viên chức) Quan sát thực hiện quy trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm qua camera dựa vào bảng kiểm thực hiện quy trình theo hướng dẫn chuẩn Quan sát theo trình tự cho đến khi đủ mẫu Camera được lắp đặt tại phòng sinh dưới sự cho phép của Ban giám đốc bệnh viện và lãnh đạo khoa, chỉ có điều tra viên đƣợc phép quan sát từ khâu chuẩn bị dụng cụ cho đến thực hiện các bước quy trình đỡ đẻ thường Dựa vào bảng kiểm kỹ thuật đỡ đẻ thường ngôi chỏm, điều tra viên sẽ đánh dấu check (√) vào cột đạt hoặc không đạt Việc đánh giá này quan sát một cách ngẫu nhiên, không đƣợc thông báo trước, tuy nhiên sẽ có thông báo nghiên cứu qua quan sát camera tại phòng sinh trong khoảng thời gian từ tháng 01/04/2020 đến 30/7/2020
Thực hiện phỏng vấn sâu với 16 hộ sinh: liên hệ và hẹn ngày với hộ sinh, thời gian cho cuộc phỏng vấn 15 – 20 phút( bộ câu hỏi ở phụ lục 4)
Sau khi hoàn thành phân tích sơ bộ dựa trên các chủ đề nghiên cứu định tính, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng cung cấp thông tin đã được lựa chọn Các cuộc phỏng vấn được thực hiện kín đáo tại phòng họp giao ban của bệnh viện và qua điện thoại thông qua ứng dụng Zalo Điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn để phỏng vấn, trong khi hai cán bộ hỗ trợ ghi chép lại thông tin từ các câu trả lời.
Phân tích số liệu
Phân tích định lượng được thực hiện bằng cách nhập và xử lý số liệu quan sát thông qua phần mềm SPSS 20 Các phương pháp thống kê mô tả như tính tần suất, tỷ lệ, và trung bình được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa các biến.
Phân loại mức độ tuân thủ
Nội dung đánh giá tuân thủ quy trình đỡ đẻ thường của nữ hộ sinh được căn cứ theo quy định số 4128/QĐ –BYT ngày 29/07/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế và nghiên cứu của Lê Minh Hoàng năm 2016.
Nội dung Điểm tối đa Điểm đạt
Chuẩn bị trước khi đẻ 12 ≥9,5