1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017

114 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuân Thủ Quy Định Hành Nghề Y Tư Nhân Và Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Tại Thành Phố Cao Lãnh, Đồng Tháp, Năm 2017
Tác giả Nguyễn Thanh Phụng
Người hướng dẫn TS. Võ Anh Hổ
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Cao Lãnh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 4,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Khái niệm, vai trò và điều kiện hoạt động của y tế tư nhân (13)
      • 1.1.1. Khái niệm về y tế tư nhân (13)
      • 1.1.2. Vai trò của y tế tư nhân (13)
      • 1.1.3. Qui định điều kiện hoạt động của các cơ sở hành nghề y tư nhân (15)
    • 1.2. Thực trạng hoạt động y tế tư nhân trên thế giới và Việt Nam (19)
      • 1.2.1. Hoạt động y tế tư nhân ở thế giới (19)
      • 1.2.2. Hoạt động y tế tư nhân ở Việt Nam (20)
      • 1.2.3. Một số kết quả nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân 20 1.2.4. Một số yếu tố liên quan/ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân từ các nghiên cứu trong và ngoài nước (29)
      • 1.2.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (33)
    • 1.3. Khung lý thuyết (35)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (37)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (37)
    • 2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (37)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (38)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (38)
      • 2.5.1. Công cụ thu thập số liệu (38)
      • 2.5.2. Cách tổ chức thu thập số liệu (39)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu, khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá (41)
      • 2.6.1. Các biến số nghiên cứu định lượng (41)
      • 2.6.2. Các chủ đề nghiên cứu định tính (41)
    • 2.7. Xử lý và phân tích số liệu (42)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu (42)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (43)
    • 3.2. Kết quả thực hiện quy định hành nghề của các cơ sở HNYTN (47)
      • 3.2.1. Thực hiện quy định về nhân sự (47)
      • 3.2.2. Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của cơ sở HNYTN (48)
      • 3.2.3. Tình hình thực hiện quy chế chuyên môn của cơ sở HNYTN (50)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định HNYTN (58)
      • 3.3.1. Ảnh hưởng từ công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra đến việc tuân thủ quy định HNYTN (58)
      • 3.3.2. Ảnh hưởng thuộc về phía người hành nghề đến việc tuân thủ quy định HNYTN (59)
      • 3.3.3. Ảnh hưởng từ chính sách, pháp luật đến việc tuân thủ quy định hành nghề: . 51 Chương 4: BÀN LUẬN (60)
    • 4.1. Đặc điểm chung của các cơ sở HNYTN (64)
    • 4.2. Kết quả thực hiện quy định hành nghề của các cơ sở HNYTN (66)
      • 4.2.1. Thực hiện quy định về nhân sự (66)
      • 4.2.2. Tình hình thực hiện quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế (67)
      • 4.2.3. Tình hình thực hiện quy chế chuyên môn của cơ sở HNYTN (68)
    • 4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định HNYTN (72)
      • 4.3.2. Ảnh hưởng thuộc về phía người hành nghề đến việc tuân thủ quy định HNYTN (73)
      • 4.3.3. Ảnh hưởng từ chính sách, pháp luật đến việc tuân thủ quy định hành nghề: . 65 4.4. Ưu điểm, hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục (74)
  • KẾT LUẬN (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các cơ sở HNYTN tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, được quản lý bởi Phòng Y tế thành phố, bao gồm phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa và các dịch vụ y tế tư nhân khác.

- Chủ hoặc người phụ trách chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở HNYTN trên địa bàn thành phố Cao Lãnh

- Cán bộ quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra hành nghề y tế tư nhân trên địa bàn thành phố Cao Lãnh

- Số liệu hồi cứu: đơn thuốc, sổ khám bệnh, danh mục trang thiết bị, danh sách nhân sự.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017

Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính Phương pháp định tính được thực hiện sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng, nhằm giải thích các kết quả thu được và khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ hoặc không tuân thủ các quy định trong hành nghề y tư nhân.

Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn mẫu toàn bộ 150 cơ sở HNYTN tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc sự quản lý của Phòng Y tế thành phố Kết quả cho thấy có 136 cơ sở HNYTN tham gia nghiên cứu, trong khi 14 cơ sở không đồng ý tham gia hoặc đã ngừng hoạt động Mỗi cơ sở cung cấp 1 đơn thuốc, tổng cộng thu được 136 đơn thuốc từ 136 cơ sở.

- Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, chia thành 2 nhóm: nhóm các nhà quản lý và nhóm thực hiện quy chế

Nhóm các nhà quản lý đã chọn 04 cán bộ trực tiếp để quản lý, giám sát, thanh tra và kiểm tra HNYTN trên địa bàn nghiên cứu Cụ thể, nhóm bao gồm 01 lãnh đạo và 01 cán bộ kiểm tra HNYTN từ Phòng Y tế thành phố Cao Lãnh, 01 lãnh đạo Phòng Nghiệp Vụ Y thuộc Sở Y tế, và 01 lãnh đạo trực tiếp thanh tra HNYTN từ Thanh tra Sở.

- Nhóm thực hiện quy chế: chọn chủ đích 06 chủ cơ sở y tư nhân đại diện cho

Có ba loại hình phòng khám: phòng khám chuyên khoa nội, phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt và phòng khám chuyên khoa nhi Mỗi loại hình sẽ chọn hai người: một chủ cơ sở vi phạm và một chủ cơ sở không vi phạm quy định hành nghề y tư nhân, dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng đã được thực hiện ở giai đoạn trước.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

* Thu thập số liệu định lượng:

Bảng kiểm quan sát cơ sở HNYTN được thiết kế dựa trên các văn bản pháp quy hiện hành, bao gồm Thông tư 41/2011/TT-BYT, Quyết định số 40/2007/QĐ-BYT, Nghị định số 87/2011/NĐ-CP và Nghị định số 109/2016/NĐ-CP Bảng kiểm này không chỉ tuân thủ các quy định của Bộ Y tế mà còn tham khảo từ các nghiên cứu khác về HNYTN Nội dung của bảng kiểm bao gồm các yếu tố quan trọng như nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và quy chế chuyên môn Đặc biệt, phần đánh giá cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được thực hiện theo quy trình đã được quy định.

HUPH theo quyết định số 617/QĐ-UBND ngày 28/6/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Danh mục cơ sở vật chất và Danh mục trang thiết bị y tế.

* Thu thập số liệu định tính:

Để thu thập thông tin chi tiết về việc quản lý và giám sát HNYTN, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ trực tiếp phụ trách Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc, chúng tôi đã khảo sát thực trạng tuân thủ và vi phạm quy định HNYTN, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thanh tra, kiểm tra các cơ sở HNYTN Ngoài ra, chúng tôi cũng xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy định này.

Phỏng vấn sâu với chủ cơ sở HNYTN sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc, tập trung vào thông tin chung, thực trạng thực hiện quy định HNYTN, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong việc tuân thủ hoặc vi phạm các quy định liên quan đến nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và quy chế chuyên môn.

2.5.2 Cách tổ chức thu thập số liệu

 Đối với nghiên cứu định lượng:

Bước 1: Xây dựng thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu

Học viên cần xây dựng bộ câu hỏi dựa trên các quy định hành chính và chuyên môn của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời tham khảo thêm từ một số nghiên cứu liên quan để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.

Hoàn thiện công cụ nghiên cứu bằng cách xây dựng bộ câu hỏi và tiến hành thử nghiệm tại 10 cơ sở HNYTN Sau khi thu thập phản hồi, nội dung bộ câu hỏi sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi in ấn phục vụ cho tập huấn và điều tra.

Bước 2: Tập huấn điều tra viên bao gồm 05 người, gồm cán bộ Trạm y tế phường, cán bộ quản lý y tế của Phòng y tế thành phố Cao Lãnh và cán bộ thanh tra Sở Y tế Những điều tra viên tham gia nghiên cứu là các cán bộ phụ trách và quản lý hành nghề y, dược tư nhân, có nhiều kinh nghiệm trong khu vực quản lý.

Mục đích của cuộc tập huấn là trang bị cho điều tra viên các kỹ năng quan sát và kiểm tra theo tiêu chí quy định hành nghề, cũng như kỹ năng phỏng vấn định lượng Bên cạnh đó, các điều tra viên sẽ được hướng dẫn thực hiện điều tra thử tại 10 cơ sở HNYTN.

Thời gian, địa điểm tập huấn: 01 ngày tại địa bàn Phòng Y tế thành phố Cao

Bước 3: Điều tra và giám sát Đầu tiên, điều tra viên sẽ liên hệ qua điện thoại với từng cơ sở để thông báo về mục đích nghiên cứu và xin sự đồng ý từ chủ cơ sở Sau khi nhận được sự đồng ý, các điều tra viên sẽ hẹn đến cơ sở để thực hiện phỏng vấn trực tiếp mà không thông báo cụ thể thời gian đến.

Sau khi đến cơ sở, các điều tra viên đã nhắc lại và giải thích ngắn gọn mục đích của nghiên cứu cho chủ cơ sở Họ tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin chung về chủ cơ sở và cơ sở, sau đó thực hiện quan sát theo bảng kiểm và điền đầy đủ thông tin theo quy định.

Mỗi cơ sở có ghi kèm theo một danh sách nhân sự, sao chụp danh mục trang thiết bị y tế của mỗi cơ sở

Mỗi cơ sở chọn ngẫu nhiên 01 đơn thuốc trong ngày mà điều tra viên tiến hành điều tra, sao chụp ngay tại cơ sở để phân tích

 Đối với nghiên cứu định tính: Học viên trực tiếp tiến hành phỏng vấn

- Đối với nhóm các nhà quản lý: Học viên liên hệ với Phòng nghiệp vụ Y Sở

Y tế, Thanh tra Sở Y tế và Phòng Y tế thành phố Cao Lãnh, trình bày lý do, mục đích nghiên cứu và xin phép được tiến hành phỏng vấn sâu

Sau khi hoàn thành phỏng vấn định lượng và đánh giá các tiêu chí tại cơ sở HNYTN, học viên sẽ chọn mẫu từ Nhóm thực hiện quy chế Tiếp theo, họ sẽ mời chủ hoặc người phụ trách chuyên môn tham gia phỏng vấn sâu, được giải thích rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu Nếu được đồng ý, phỏng vấn sẽ diễn ra tại địa điểm nghiên cứu, đảm bảo tính riêng tư và không bị quấy rầy, đồng thời không có sự can thiệp từ cơ quan chức năng.

- Mỗi cuộc phỏng vấn sâu thực hiện từ 30-45 phút, do nghiên cứu viên tiến hành theo nội dung phiếu phỏng vấn sâu; tiến hành ghi chép và ghi âm

Các biến số nghiên cứu, khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá

2.6.1 Các biến số nghiên cứu định lượng

Các biến số định lượng được xây dựng theo quy định của Thông tư 41/2011/TT-BYT, Quyết định 40/2007/QĐ-BYT và Nghị định 109/2016/NĐ-CP, nhằm hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính

2.6.2.1 Đối với chủ cơ sở HNYTN

- Tình hình công tác nhân sự và trình độ chuyên môn tại cơ sở

- Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của cơ sở

- Hiểu biết về các quy định về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và quy chế chuyên môn

Chủ cơ sở không vi phạm sẽ hưởng nhiều thuận lợi khi thực hiện quy định hành nghề y tư nhân, bao gồm việc đảm bảo nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và quy chế chuyên môn Để vượt qua những khó khăn và thử thách liên quan đến quy định này, cần lưu ý đến việc tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định hiện hành, đồng thời đầu tư vào đào tạo nhân viên và nâng cấp cơ sở vật chất.

Chủ cơ sở vi phạm thường gặp nhiều khó khăn và vướng mắc trong việc thực hiện các quy định liên quan đến nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và quy chế chuyên môn.

- Công tác thanh tra, kiểm tra tại cơ sở

- Những kiến nghị, đề xuất nhằm thực hiện tốt việc tuân thủ các quy định trong công tác HNYTN

2.6.2.2 Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và thanh tra, kiểm tra HNYTN

- Những quy định chưa phù hợp về nhân sự

- Những quy định chưa phù hợp về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế

- Những quy định chưa phù hợp về quy chế chuyên môn

- Triển khai công tác thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở

- Những lỗi hay vi phạm của các cơ sở, lý do vi phạm, khó khăn trong thanh tra, kiểm tra

- Chế tài xử phạt, lực lượng quản lý

- Chính sách, quy định của Bộ Y tế, chính sách của địa phương

- Những giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm thực hiện tốt công tác quản lý HNYTN.

Xử lý và phân tích số liệu

Tất cả số liệu thu thập trong nghiên cứu được xử lý thô và làm sạch, sau đó mã hóa và nhập vào máy tính Phần mềm EPI-DATA 3.1 được sử dụng để xử lý số liệu, trong khi SPSS 16.0 được dùng để phân tích với các test thống kê tần suất và tỷ lệ Cuối cùng, Excel được sử dụng để tính giá trị trung bình.

- Thông tin định tính được gỡ băng, mã hoá, tổng hợp và phân tích theo từng mục tiêu và chủ đề nghiên cứu.

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt với số 155/2017/YTCC-HĐ3 vào ngày 01 tháng 3 năm 2017, đảm bảo các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu Các đối tượng tham gia sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và có quyền từ chối tham gia nếu không hài lòng Dữ liệu thu thập sẽ được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Kết quả khảo sát tại 136 cơ sở y tế tư nhân ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cho thấy tỷ lệ các loại hình hành nghề y tư nhân tại thời điểm nghiên cứu được trình bày trong Bảng 3.1.

Bảng 3 1: Tỷ lệ các loại hình HNYTN tại thời điểm nghiên cứu

Loại hình hành nghề Số lượng

Phòng khám chuyên khoa nội 65 47,8

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích) 19 14,0

Phòng khám chuyên khoa RHM 15 11,0

Phòng khám sản phụ khoa-KHHGĐ 11 8,1

Phòng khám chuyên khoa TMH 6 4,4

Phòng khám chuyên khoa mắt 4 2,9

Phòng khám phục hồi chức năng 1 0,7

Trong số 136 cơ sở HNYTN tham gia nghiên cứu, phòng khám chuyên khoa nội chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,8%, tiếp theo là các cơ sở dịch vụ y tế (14%), phòng khám chuyên khoa RHM (11%), phòng khám ngoại (8,8%) và phòng khám sản phụ khoa.

KHHGĐ (8,1%) Các loại hình HNYTN khác chiếm tỷ lệ thấp hơn như phòng khám phục hồi chức năng và phòng xét nghiệm (0,7%), phòng khám da liễu (1,5%)

Bảng 3.2 trình bày kết quả về số lượt người đến KBCB trung bình trong năm

Bảng 3 2: Số lượt người bệnh đến KBCB trung bình trong năm

Số lượt khám bệnh, chữa bệnh trung bình trong năm/cơ sở

Tổng số lượt khám chữa bệnh trong năm

Phòng khám phục hồi chức năng 1 3.285 3.285

Phòng khám chuyên khoa nội 65 2.156 140.140

Phòng khám chuyên khoa mắt 4 1.841 7.364

Phòng khám sản phụ khoa-KHHGĐ 11 1.461 16.071

Phòng khám chuyên khoa TMH 6 1.408 8.448

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích) 19 1.257 23.883

Phòng khám chuyên khoa RHM 15 649 9.735

Theo Bảng 3.2, trung bình mỗi cơ sở HNYTN có 1.841 lượt khám bệnh, chữa bệnh mỗi năm Trong đó, các phòng khám da liễu ghi nhận số lượt khám cao nhất với 4.563 lượt/năm/cơ sở, trong khi phòng khám chuyên khoa RHM có số lượt thấp nhất, chỉ 649 lượt/năm/cơ sở.

Bảng 3.3 trình bày kết quả về thời gian làm việc của các cơ sở HNYTN

Bảng 3 3: Thời gian làm việc của các cơ sở HNYTN (n6)

Chỉ số Thời gian làm việc

Số ngày làm việc trung bình/tuần 6,9 ngày

Số giờ cơ sở làm việc trung bình/ngày 5,0 giờ

Số giờ cơ sở làm việc cao nhất/ 1 ngày 14 giờ

Số giờ cơ sở làm việc thấp nhất/ 1 ngày 2 giờ

Kết quả từ Bảng 3.3 cho thấy hầu hết các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh hoạt động tất cả các ngày trong tuần, từ thứ Hai đến Chủ nhật Thời gian làm việc trung bình trong một ngày là 5,0 giờ, với cơ sở có thời gian làm việc nhiều nhất lên đến 14 giờ/ngày và cơ sở có thời gian làm việc ít nhất chỉ 02 giờ/ngày.

Bảng 3.4 trình bày đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là chủ các cơ sở

Bảng 3 4: Đặc điểm của chủ các cơ sở HNYTN (n6)

Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)

Nơi công tác Đang làm việc ở hệ thống y tế công

Hưu trí, không làm việc ở hệ thống y tế công

Bảng 3.4 cho thấy, trong số chủ cơ sở HNYTN, có 67 nam (49,3%) và 69 nữ (50,7%) Nhóm tuổi từ 41-60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 69,1%, tiếp theo là nhóm tuổi từ 25-40 với 22,8%, và nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 8,1%.

Chủ cơ sở y tế có trình độ chuyên môn cao, trong đó bác sĩ chuyên khoa I/II chiếm 66,2%, tiếp theo là bác sĩ với 11,8%, và tiến sĩ/thạc sĩ với 8,8% Trình độ chuyên môn của điều dưỡng, nữ hộ sinh và kỹ thuật viên chiếm 7,4%, trong khi y sĩ chiếm 5,9%.

Tại nơi công tác, có 93 chủ cơ sở HNYTN là cán bộ y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế công, chiếm 68,4% tổng số Số còn lại, 43 chủ cơ sở, không làm việc trong hệ thống y tế công hoặc đã nghỉ hưu.

Trong lĩnh vực KBCB, có 55 chủ cơ sở (chiếm 40,4%) có thâm niên từ 20 đến 30 năm Tiếp theo, 35 chủ cơ sở (chiếm 25,7%) có thâm niên trên 30 năm, trong khi 33 chủ cơ sở (chiếm 24,3%) có thâm niên từ 10 đến 20 năm Cuối cùng, 9,6% chủ cơ sở còn lại có thâm niên dưới 10 năm.

Kết quả thực hiện quy định hành nghề của các cơ sở HNYTN

3.2.1 Thực hiện quy định về nhân sự

Bảng 3.5 trình bày kết quả về số lượng nhân sự và tình trạng có chứng chỉ hành nghề của người làm việc tại các cơ sở HNYTN

Bảng 3 5: Số lượng nhân sự làm việc và tình trạng có chứng chỉ hành nghề tại các cơ sở HNYTN

Chỉ số Số lượng cơ sở (n)

Bảng 3.5 cho thấy, trong số các cơ sở HNYTN, có 115 cơ sở chỉ có 01 nhân sự, 18 cơ sở có 02 nhân sự, 02 cơ sở có 03 nhân sự, và chỉ 01 cơ sở có 04 nhân sự Đáng chú ý, 100% nhân sự tham gia khám bệnh, chữa bệnh đều sở hữu chứng chỉ hành nghề hợp lệ.

Bảng 3.6 trình bày kết quả về sự có mặt của chủ cơ sở khi cơ sở mở cửa hoạt động

Bảng 3 6: Việc thực hiện quy định về sự có mặt của chủ cơ sở HNYTN khi cơ sở hoạt động

Số lượng cơ sở (n) Đạt Không đạt

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích) 19 14 73,7 5 26,3

Kết quả từ Bảng 3.6 cho thấy quy định về sự có mặt của chủ cơ sở HNYTN khi cơ sở hoạt động được thực hiện nghiêm túc Trong số 136 cơ sở nghiên cứu, chỉ có 5 cơ sở dịch vụ y tế (3,7%) vi phạm quy định về sự vắng mặt của chủ cơ sở trong thời gian mở cửa khám bệnh, chữa bệnh Hầu hết các chủ cơ sở (131 cơ sở, chiếm 96,3%) đều có mặt khi cơ sở hoạt động.

3.2.2 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của cơ sở HNYTN

Bảng 3.7 trình bày kết quả thực hiện quy định về diện tích của các cơ sở HNYTN

Bảng 3 7: Việc thực hiện quy định về diện tích của cơ sở HNYTN

Số lượng cơ sở (n) Đạt Không đạt

Phòng khám chuyên khoa nội 65 63 96,9 2 3,1

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích)

Kết quả từ Bảng 3.7 cho thấy rằng 97,8% các cơ sở HNYTN đạt tiêu chuẩn về diện tích, tuy nhiên, vẫn còn 3 cơ sở, chiếm 2,2%, không đạt yêu cầu Nguyên nhân của việc này là do các cơ sở chưa được cấp giấy phép hoạt động, dẫn đến việc chưa có hướng dẫn cụ thể về diện tích tối thiểu cần thiết cho từng phòng.

Bảng 3.8 trình bày kết quả thực hiện quy định về trang thiết bị y tế của các cơ sở HNYTN

Bảng 3 8: Việc thực hiện quy định về trang thiết bị y tế của các cơ sở HNYTN

Số lượng cơ sở (n) Đạt Không đạt

Phòng khám sản phụ khoa-KHHGĐ 11 10 90,9 1 9,1

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích) 19 15 78,9 4 21,1

Kết quả từ Bảng 3.8 cho thấy, các cơ sở HNYTN tại thành phố Cao Lãnh đã trang bị đầy đủ thiết bị khám chữa bệnh theo quy định, với 96,3% cơ sở có đủ trang thiết bị tối thiểu Tuy nhiên, vẫn còn 5 cơ sở thiếu một số thiết bị cần thiết, bao gồm 1 phòng khám sản phụ khoa - KHHGĐ và 4 cơ sở dịch vụ y tế Các chủ cơ sở cho biết lý do vi phạm là do máy đo khúc xạ và máy mài kính đang sửa chữa, máy làm răng hỏng, và ống nghe chưa kịp mua.

3.2.3 Tình hình thực hiện quy chế chuyên môn của cơ sở HNYTN

Bảng 3.9 trình bày kết quả việc các cơ sở HNYTN có được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khám bệnh chữa bệnh

Bảng 3 9: Việc thực hiện quy định về giấy phép hoạt động KBCB

Phòng khám chuyên khoa nội 65 57 87,7 8 12,3

Phòng khám sản phụ khoa-

Cơ sở dịch vụ y tế (làm răng giả, kính thuốc, tiêm chích) 19 14 73,7 5 26,3

Kết quả từ Bảng 3.9 cho thấy, mặc dù giấy phép hành nghề là yêu cầu tối thiểu để các cơ sở HNYTN hoạt động, vẫn có 15 cơ sở (11%) chưa có Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm 8 phòng khám chuyên khoa nội, 1 phòng khám sản phụ khoa – KHHGĐ, 1 phòng xét nghiệm và 5 cơ sở dịch vụ y tế Qua các cuộc phỏng vấn sâu, chủ cơ sở cho biết lý do chính là họ đã đứng giấy phép tại Trạm Y tế xã hoặc Bệnh viện, nên không được cấp thêm giấy phép cho cơ sở khác Thêm vào đó, quy định về cấp giấy phép cũng là một yếu tố cản trở.

HUPH yêu cầu cơ sở làm răng giả phải có nha công đã hành nghề từ năm 1980 trở về trước và đủ 18 tuổi tại thời điểm đó Do đó, việc giới hạn độ tuổi như vậy khiến họ không đủ điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động.

Theo ý kiến của một chủ cơ sở y tế 53 tuổi, hiện nay có một số bất cập trong quy định đối với thủ trưởng của các cơ sở y tế công lập như Trạm Y tế xã và Bệnh viện Cụ thể, họ không được phép hành nghề y tư nhân ngoài giờ, mặc dù việc này có thể được coi là chính đáng Do đó, ông đề nghị cần xem xét lại quy định này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ sở y tế.

Một lý do khác vi phạm về hành nghề theo giấy phép được nêu ra là quy định hiện tại không phù hợp với thực tế Cụ thể, người hành nghề là nha công trước năm 1980 phải đủ 18 tuổi, điều này khiến nhiều người như tôi gặp khó khăn trong việc xin cấp giấy phép hành nghề Trước đây, tôi đã xác định ngành này để mưu sinh và nuôi gia đình, nhưng giờ đây, việc chuyển đổi sang ngành nghề khác trở nên rất khó khăn do tuổi tác.

Bảng 3.10 trình bày về tình hình thực hiện quy chế kê đơn điều trị ngoại trú tại các cơ sở HNYTN

Bảng 3 10: Tình hình thực hiện quy chế kê đơn điều trị ngoại trú tại các cơ sở

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Kết quả trong Bảng 3.10 cho thấy, trong tổng số 136 cơ sở nghiên cứu, có

Trong số 116 cơ sở thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, có 116 đơn được phân tích Trong đó, chỉ có 50 đơn đạt quy chế này, chiếm tỷ lệ 43,1%.

Theo quy chế, HUPH có 66 đơn không đạt yêu cầu, chiếm 56,9% Trong số đó, 20 cơ sở không thực hiện kê đơn thuốc, bao gồm 19 cơ sở dịch vụ y tế và 1 phòng xét nghiệm Nguyên nhân là do quy định về phạm vi hoạt động chuyên môn không cho phép các cơ sở này thực hiện kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Kết quả thực hiện quy chế kê đơn của 116 cơ sở được trình bày chi tiết trong Bảng 3.11, Bảng 3.12 và Bảng 3.13.

Bảng 3 11: Thực hiện quy định về thủ tục hành chính trong kê đơn điều trị ngoại trú tại các cơ sở HNYTN (n6)

Chỉ số Đạt Không đạt

Thực hiện đơn thuốc theo mẫu quy định, ghi đủ, rõ ràng, chính xác các mục in trong đơn

Ghi chính xác địa chỉ nơi người bệnh đang thường trú hoặc tạm trú 53 45,7 63 54,3

Nếu kê đơn cho trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ của trẻ

Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn 66 56,9 50 43,1

Kết quả từ Bảng 3.11 cho thấy, trong tổng số 116 đơn thuốc nghiên cứu, có 60 đơn (51,7%) thực hiện đúng theo tiêu chí ghi rõ ràng và chính xác, trong khi 56 đơn (48,3%) không đạt yêu cầu Phân tích cho thấy, lý do không đạt chủ yếu là do một số cơ sở kê đơn theo mẫu in sẵn của đơn vị y tế công lập mà họ đang công tác.

HUPH ty dược phẩm tài trợ không đúng mẫu theo quy định, hoặc đúng mẫu quy định nhưng không ghi đủ các mục in trong đơn

Vi phạm đối với tiêu chí kê đơn thuốc không bắt buộc ghi đầy đủ thông tin theo quy định đã được ghi nhận trong nghiên cứu định tính Cụ thể, trong tổng số 116 đơn thuốc, chỉ có 53 đơn (45,7%) đạt tiêu chí ghi chính xác địa chỉ nơi cư trú của bệnh nhân, trong khi 63 đơn (54,3%) không đạt do thiếu thông tin về số nhà, đường phố hoặc xã, phường Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi, chỉ có 67 đơn thực hiện đúng tiêu chí ghi số tháng tuổi và tên bố hoặc mẹ, với 82,1% đơn không đạt do thiếu thông tin này Cuối cùng, việc ký và ghi họ tên người kê đơn cũng là một tiêu chí quan trọng cần được tuân thủ.

Trong 116 đơn nghiên cứu, có 56,9% đơn đạt tiêu chí yêu cầu, trong khi 43,1% đơn không đạt Phân tích cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến việc không đạt tiêu chí là do người kê đơn không ký tên hoặc không ghi họ tên.

Bảng 3 12: Tình hình thực hiện quy định về nội dung kê đơn thuốc trong quy chế kê đơn điều trị ngoại trú tại các cơ sở HNYTN (n6)

Chỉ số Đạt Không đạt

Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế, và nếu cần ghi thêm tên thương mại, hãy đặt tên thương mại trong ngoặc đơn ngay sau tên chung quốc tế.

Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc

Viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) 63 54,3 53 45,7

Kết quả từ Bảng 3.12 cho thấy rằng trong tiêu chí viết tên thuốc theo tên chung quốc tế, có 54,3% trong số 116 đơn nghiên cứu thực hiện đạt yêu cầu, trong khi 45,7% không đạt Nguyên nhân chính của việc không đạt là do người kê đơn viết tắt tên thuốc hoặc không ghi đủ nét, và một số đơn thuốc ghi tên thương mại mà không để trong ngoặc đơn Đối với tiêu chí ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng và thời điểm dùng, chỉ có 51,7% (60 đơn) đạt yêu cầu, còn 48,3% (56 đơn) không đạt Lý do không đạt chủ yếu là do thiếu thông tin về thời điểm dùng và nồng độ/hàm lượng của thuốc.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định HNYTN

3.3.1 Ảnh hưởng từ công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra đến việc tuân thủ quy định HNYTN:

Công tác quản lý, thanh tra và kiểm tra hành nghề y tế đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ quy định HNYTN Nghiên cứu định tính cho thấy, việc người quản lý HNYTN có trình độ chuyên môn phù hợp, đặc biệt là bác sĩ, sẽ nâng cao hiệu quả trong quản lý và thẩm định cấp phép hoạt động.

HUPH thanh tra, kiểm tra được hiệu quả hơn Điều này được nhận định bởi các đối tượng tham gia nghiên cứu:

Người quản lý HNYTN cần phải là bác sĩ có kiến thức sâu rộng về chuyên khoa để thực hiện công việc quản lý hiệu quả hơn.

Để quản lý hành nghề hiệu quả, người quản lý cần có trình độ chuyên môn từ bác sĩ trở lên và hiểu biết sâu rộng về nhiều chuyên khoa.

Số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra có ảnh hưởng quan trọng đến việc tuân thủ quy định HNYTN Nghiên cứu cho thấy, để hạn chế vi phạm, các cơ sở HNYTN nên được thanh tra, kiểm tra ít nhất một lần mỗi năm Nếu số lượng thanh tra, kiểm tra duy trì trên hai lần mỗi năm, sẽ không đủ lực lượng chức năng để thực hiện Tuy nhiên, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra khi phát hiện vi phạm.

Theo ý kiến của một cán bộ thanh tra 56 tuổi, việc kiểm tra cơ sở ít nhất một lần mỗi năm là hợp lý Ngoài ra, cần thực hiện kiểm tra đột xuất khi có phản ánh từ người dân về các vụ việc liên quan, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các lỗi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Theo PVS Chủ cơ sở HNYTN, việc kiểm tra định kỳ một lần mỗi năm là hợp lý Tuy nhiên, đối với những cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc bị khiếu nại, cần tăng cường kiểm tra để cải thiện chất lượng Những người có ý thức thường chỉ cần nhắc nhở một lần là đã hiểu và nhận thức được Ngược lại, với những cơ sở cố tình không tuân thủ, cần có biện pháp kiểm tra và xử lý nghiêm khắc hơn.

3.3.2 Ảnh hưởng thuộc về phía người hành nghề đến việc tuân thủ quy định HNYTN:

Sức khỏe của người hành nghề đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ các quy định chuyên môn Khi người hành nghề có sức khỏe tốt và tinh thần minh mẫn, khả năng tuân thủ quy định sẽ được nâng cao, từ đó đảm bảo chất lượng hoạt động hành nghề Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc và sự tuân thủ quy định.

Nhiều ý kiến cho rằng sức khỏe của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quan trọng hơn tuổi tác Nếu người hành nghề vẫn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn, họ hoàn toàn có thể tiếp tục công việc của mình.

Theo quan điểm của tôi, độ tuổi có tác động đến nghề nghiệp, nhưng nếu người lớn tuổi vẫn có sức khỏe tốt và minh mẫn, họ nên được phép tiếp tục làm việc cho đến khi tự nhận thấy không còn đủ sức khỏe để tiếp tục.

Nghiên cứu định tính cho thấy sức khỏe kém, đặc biệt là thị giác và thính giác, có thể dẫn đến chẩn đoán bệnh không chính xác Một chủ cơ sở đã chia sẻ rằng: “Người hành nghề trên 65 tuổi thường gặp vấn đề về thính giác, khiến việc sử dụng ống nghe không hiệu quả, dẫn đến chẩn đoán sai Ngoài ra, bác sĩ chuyên khoa ngoại với thị lực kém có thể gặp khó khăn trong việc khâu vết thương hoặc phẫu thuật, dễ dẫn đến sai sót chuyên môn.”

Nghiên cứu định tính từ nhóm nhà quản lý HNYTN đề xuất bổ sung quy định yêu cầu giấy chứng nhận sức khỏe cho người hành nghề, nhằm giảm thiểu vi phạm sau khi cấp phép.

Tôi đề nghị xem xét lại hồ sơ cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở, cần bổ sung quy định về giấy chứng nhận sức khỏe Thời hạn của giấy phép hoạt động là 5 năm, do đó cần kiểm tra lại sau thời gian này Ngoài ra, sau 5 năm, giấy phép cũng cần có giấy xác nhận kiểm tra kiến thức hoặc giấy xác nhận đủ sức khỏe để đảm bảo việc hành nghề không bị sai sót trong chuyên môn của các cá nhân thực hiện.

3.3.3 Ảnh hưởng từ chính sách, pháp luật đến việc tuân thủ quy định hành nghề:

Theo quy định của Thông tư hướng dẫn, việc cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là rất quan trọng Các quy định này nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế và bảo vệ quyền lợi của người bệnh.

Một người hành nghề chỉ được đăng ký chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cho một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, và không được đồng thời làm người chịu trách nhiệm cho nhiều cơ sở khác.

Quy định HUPH về nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật từ hai cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trở lên đang ảnh hưởng lớn đến một số đối tượng hành nghề trong khu vực nghiên cứu Nếu có chế độ hỗ trợ phù hợp cho những người đứng tên là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, họ sẽ tuân thủ nghiêm ngặt việc hành nghề y tư nhân.

Đặc điểm chung của các cơ sở HNYTN

Hệ thống HNYTN tại thành phố Cao Lãnh bao gồm 136 cơ sở, trong đó phòng khám chuyên khoa nội chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,8% Các cơ sở dịch vụ y tế chiếm 14%, trong khi phòng khám chuyên khoa RHM chiếm 11% Các loại hình hành nghề khác dao động từ 0,7% đến 8,8% Nhìn chung, hệ thống này tương đối đầy đủ các chuyên khoa và đa dạng loại hình hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân và giảm gánh nặng cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập.

Tổng số lượt khám bệnh trung bình hàng năm tại các cơ sở HNYTN ở Thành phố Cao Lãnh là 1.841 lượt/năm/cơ sở Trong đó, phòng khám da liễu có số lượt khám cao nhất với 4.563 lượt/năm/cơ sở, trong khi phòng khám chuyên khoa RHM có số lượt thấp nhất là 649 lượt/năm/cơ sở Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Ngân năm 2006 tại quận Đống Đa, Hà Nội, với 1.594 lượt/năm/cơ sở.

Thúy Ngân chỉ ra rằng có mối liên quan giữa tỷ lệ vi phạm quy chế chuyên môn và số lượt khám bệnh dưới 2.000 lượt người/năm Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên hệ này qua các kiểm định thống kê, mà chỉ xem xét các yếu tố ảnh hưởng từ kết quả định tính Mặc dù số lượt khám bệnh khác nhau giữa các địa phương, hệ thống HNYTN đã đóng góp lớn vào chăm sóc sức khỏe nhân dân, giúp giảm tải cho hệ thống khám chữa bệnh công lập Tuy nhiên, y tế tư nhân chủ yếu chỉ giảm tải cho bệnh nhân điều trị ngoại trú, cho thấy rằng phát triển y tế tư nhân vẫn chưa đủ mạnh, trong khi y tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong điều trị nội trú và phòng bệnh.

Trong số các chủ cơ sở HNYTN, bác sĩ chuyên khoa I/II chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,2% Tiếp theo là bác sĩ với 11,8%, trong khi đó, tỷ lệ Tiến sĩ và thạc sĩ là 8,8% Các trình độ chuyên môn khác như điều dưỡng, nữ hộ sinh, và kỹ thuật viên chiếm 7,4%, và y sĩ có tỷ lệ thấp nhất là 5,9%.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Ngân về trình độ của cán bộ y tế trong lĩnh vực HNYTN tại quận Đống Đa cho thấy sự tương đồng với kết quả hiện tại.

Hà Nội có hơn 90% cán bộ y tế có trình độ từ bác sĩ trở lên, tương tự như nghiên cứu của Cao Thị Hoa tại quận Hai Bà Trưng năm 2008, trong đó 78,2% chủ cơ sở có trình độ bác sĩ và bác sĩ chuyên khoa I/II, cùng với 9,2% là tiến sĩ-thạc sĩ Kết quả này cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng, đòi hỏi cán bộ y tế phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng tốt hơn.

Chủ cơ sở HNYTN chủ yếu là cán bộ y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế công, chiếm 68,4%, trong khi 31,6% là những người không còn làm việc trong hệ thống y tế công hoặc đã nghỉ hưu Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Cao Minh Đông năm 2014 tại Nha Trang, cho thấy 54% nhân lực tham gia khám chữa bệnh tại các cơ sở tư nhân vẫn đang công tác trong lĩnh vực y tế.

Tỷ lệ bệnh nhân chuyển từ các cơ sở y tế công lập sang các cơ sở HNYTN đang gia tăng, điều này đòi hỏi sự quan tâm và chú trọng từ cơ quan quản lý y tế Cần có biện pháp để ngăn chặn tình trạng lợi dụng thời gian phục vụ không chính thức, nhằm giữ chân bệnh nhân tại các cơ sở y tế công lập.

Về độ tuổi của các chủ cơ sở HNYTN chủ yếu trong độ tuổi từ 41 tuổi đến

Độ tuổi từ 41 đến 60 chiếm tỷ lệ tham gia cao nhất trong hoạt động hành nghề, với 69,1%, trong khi nhóm trên 60 tuổi chỉ chiếm 8,1% Điều này cho thấy rằng những người trong độ tuổi này có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và khả năng tiếp thu kiến thức mới, từ đó tạo dựng được uy tín với khách hàng.

Chủ các cơ sở HNYTN tại thành phố Cao Lãnh có thâm niên công tác từ 20 đến 30 năm chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 40,4%, trong khi thâm niên dưới 10 năm chỉ chiếm 9,6% Nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Cao Thị Hoa tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, nơi mà 36,7% cán bộ có tuổi nghề từ 20-29 năm Điều này cho thấy các chủ cơ sở tại Cao Lãnh sở hữu nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực khám và chữa bệnh.

Kết quả thực hiện quy định hành nghề của các cơ sở HNYTN

4.2.1 Thực hiện quy định về nhân sự

Theo kết quả điều tra, trong số 136 cơ sở HNYTN, chỉ có 5 cơ sở (chiếm 3,7%) vi phạm quy định về việc chủ cơ sở không có mặt khi hoạt động khám chữa bệnh Các cơ sở này chủ yếu là dịch vụ y tế liên quan đến kính thuốc Tình trạng này khá phổ biến do các cơ sở này không chỉ kinh doanh kính thuốc mà còn bán kính mát, dẫn đến việc chủ cơ sở không có mặt để tư vấn chuyên môn cho khách hàng Thay vào đó, nhân viên khác thực hiện công việc bằng máy đo khúc xạ Khi có đoàn kiểm tra, các cơ sở thường thông báo cho chủ cơ sở đến, gây khó khăn trong việc xử phạt vi phạm.

Tỷ lệ vi phạm trong hoạt động y tế tư nhân hiện nay thấp hơn so với báo cáo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc về thực trạng y tế tư nhân xung quanh một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2003, trong đó cho thấy có 6,3% các phòng khám vi phạm.

HUPH hiện đang hoạt động với sự tham gia của y tá, nhưng không có bác sĩ Nghiên cứu cho thấy có sự liên kết giữa các phòng khám tư, cho phép bác sĩ tại một phòng khám có thể kiêm nhiệm tại phòng khám khác.

Sự vắng mặt của chủ cơ sở trong thời gian hoạt động là vi phạm quy định và thể hiện sự thiếu trách nhiệm đối với bệnh nhân, đồng thời có thể dẫn đến tình trạng thuê mướn bằng cấp Do đó, cần tăng cường kiểm tra và giám sát để đảm bảo việc thực hiện quy định này.

4.2.2 Tình hình thực hiện quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế

Nghiên cứu 136 cơ sở HNYTN cho thấy 97,8% trong số đó đạt diện tích tối thiểu theo quy định, tuy nhiên vẫn còn 2,2% cơ sở không đạt yêu cầu do chưa được cấp giấy phép hoạt động Tỷ lệ vi phạm này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Cao Thị Thu tại quận Hoàn Kiếm (7,3%) và Nguyễn Thị Thúy Ngân (19,8%), cho thấy các cơ sở HNYTN ở thành phố Cao Lãnh thực hiện tốt quy định về diện tích tối thiểu của các phòng.

Các cơ sở HNYTN tại thành phố Cao Lãnh đã trang bị đầy đủ thiết bị y tế cần thiết, với 96,3% cơ sở đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định Tuy nhiên, vẫn có 5 cơ sở (3,7%) thiếu một số trang thiết bị cần thiết cho công tác khám chữa bệnh, bao gồm 1 phòng khám sản phụ khoa và 4 cơ sở dịch vụ y tế Tỷ lệ vi phạm này thấp hơn so với quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (7,3%), nhưng cao hơn so với nghiên cứu tại Nha Trang và quận Hai Bà Trưng, nơi 100% cơ sở đạt yêu cầu về trang thiết bị y tế.

HUPH đã chỉ ra rằng cơ sở vi phạm về trang thiết bị y tế do máy móc hỏng chưa được sửa chữa kịp thời hoặc đang trong quá trình đăng ký mua Các thiết bị y tế hỏng bao gồm máy đo khúc xạ, máy mài kính, máy làm răng và ống nghe Do đó, cần tăng cường thanh tra và kiểm tra việc thực hiện đầy đủ các quy định về trang thiết bị y tế như đã đăng ký ban đầu.

4.2.3 Tình hình thực hiện quy chế chuyên môn của cơ sở HNYTN

4.2.3.1 Tình hình thực hiện quy định về Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh Đa số các cơ sở HNYTN trên địa bàn thành phố Cao Lãnh đều có Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh (chiếm 89%), còn 15 cơ sở HNYTN chưa có Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh (chiếm 11%) bao gồm 08 phòng khám chuyên khoa nội, 1 phòng khám sản phụ khoa –KHHGĐ, 01 phòng xét nghiệm, 5 cơ sở dịch vụ y tế Các lý do mà chủ cơ sở này đưa ra là đang nộp hồ sơ chờ ngày thẩm định, mới sửa chữa lại phòng khám sẽ nộp hồ sơ bổ sung sớm, đứng giấy phép ở Trạm Y tế rồi nên không cho đứng giấy phép thêm hành nghề ở nhà nữa Tỷ lệ vi phạm của nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh và cộng sự năm 2013 ở hai tỉnh Hải Dương và Bình Định, ở nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh cho thấy có 9,7% cơ sở y tư nhân hoạt động không đăng ký và 18% người hành nghề không có chứng chỉ hành nghề [26]

Mặc dù các cơ sở y tế thường đưa ra nhiều lý do để biện minh cho sai phạm của mình, việc hành nghề khám chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động là vi phạm pháp luật Do đó, các cơ quan quản lý HNYTN cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiên quyết xử lý nghiêm các cơ sở không xin phép trước khi hoạt động.

4.2.3.2 Tình hình thực hiện quy định về quy chế kê đơn điều trị tại các cơ sở HNYTN

Trong số 136 cơ sở nghiên cứu, có 116 cơ sở thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, chiếm 85,3%, trong khi 20 cơ sở còn lại không thực hiện quy định này.

HUPH kê đơn thuốc (chiếm tỷ lệ 14,7%) do đây là các cơ sở dịch vụ y tế, phòng xét nghiệm nên không thực hiện quy định này

Thực hiện quy định về thủ tục hành chính trong quy chế kê đơn điều trị:

Trong nghiên cứu 116 đơn thuốc, có 48,3% đơn không đạt tiêu chí thực hiện theo mẫu quy định, với việc ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục Đối với địa chỉ nơi cư trú của bệnh nhân, tỷ lệ không đạt lên tới 54,3% Đặc biệt, trong trường hợp trẻ dưới 72 tháng tuổi, có đến 82,1% đơn không ghi rõ số tháng tuổi và tên bố hoặc mẹ Cuối cùng, tiêu chí ký, ghi hoặc đóng dấu họ tên người kê đơn cũng có 43,1% đơn không đạt yêu cầu.

Tỷ lệ vi phạm đơn thuốc không theo mẫu quy định trong nghiên cứu này đạt 48,3%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Ngân tại quận Đống Đa.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Ngân, tỷ lệ vi phạm đơn thuốc theo mẫu tại Hà Nội là 32,3% Đặc biệt, tỷ lệ vi phạm liên quan đến việc chưa ghi đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ, chẩn đoán, ngày kê đơn và họ tên bác sĩ kê đơn cao hơn, đạt 55,2%.

Kê đơn đúng mẫu và ghi đầy đủ, rõ ràng thông tin bệnh nhân là quy định bắt buộc của bác sĩ Việc kê đúng thuốc và sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu cũng rất quan trọng Ngoài ra, lưu trữ đơn để đối chiếu là nhiệm vụ cần thiết Do có nhiều vi phạm, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú tại các cơ sở HNYTN.

Theo quy định về nội dung kê đơn thuốc trong quy chế kê đơn điều trị, có 45,7% đơn thuốc không đạt tiêu chí viết tên thuốc theo tên chung quốc tế Đối với các tiêu chí ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng và thời điểm dùng, có 48,3% đơn thuốc không đạt yêu cầu với 56 đơn không hợp lệ Ngoài ra, 45,7% đơn thuốc cũng không thực hiện đúng tiêu chí viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định HNYTN

4.3.1 Ảnh hưởng từ công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra đến việc tuân thủ quy định HNYTN:

Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra hành nghề y tế đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ quy định HNYTN Nghiên cứu cho thấy, người quản lý cần có trình độ chuyên môn phù hợp, cụ thể là bác sĩ, để nâng cao hiệu quả trong việc cấp phép và thanh tra Tuy nhiên, yêu cầu này chưa hoàn toàn hợp lý do thiếu hụt bác sĩ tại địa phương và xu hướng của bác sĩ mới ra trường muốn làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh Để nâng cao hiệu quả quản lý HNYTN, cần bồi dưỡng và cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ này, đồng thời phối hợp với các cơ quan chuyên môn để đảm bảo họ có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức trong công việc.

Nghiên cứu của Cao Thị Thu năm 2013 tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội cho thấy những khó khăn trong công tác quản lý chủ yếu xuất phát từ lực lượng cán bộ mỏng, không ổn định và trình độ chuyên môn, năng lực hạn chế do thiếu cập nhật.

Việc phát hiện và xử lý các cơ sở hành nghề không phép gặp nhiều khó khăn do HUPH thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn và văn bản pháp quy, vì vậy cần có sự phối hợp liên ngành để giải quyết vấn đề này.

Số lượng cuộc thanh tra, kiểm tra có ảnh hưởng quan trọng đến việc tuân thủ quy định HNYTN Nghiên cứu định tính cho thấy việc thanh tra, kiểm tra các cơ sở HNYTN ít nhất một lần trong năm là cần thiết, đồng thời có thể thực hiện thanh tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm Việc thanh tra thường xuyên giúp chủ cơ sở nắm rõ các quy định mới và nâng cao ý thức trách nhiệm hành nghề, từ đó giảm thiểu vi phạm.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Ngân (2006) chỉ ra rằng tỷ lệ vi phạm quy chế chuyên môn tăng cao có liên quan đến số lần thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý dưới 3 lần/năm Tương tự, nghiên cứu của Lê Thị Anh Đào (2007) cũng cho thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ vi phạm quy chế chuyên môn chung và số lần thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý.

4.3.2 Ảnh hưởng thuộc về phía người hành nghề đến việc tuân thủ quy định HNYTN:

Sức khỏe của người hành nghề đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ quy định hành nghề, vì chỉ khi có sức khỏe tốt và minh mẫn, họ mới có thể thực hiện đúng các quy định chuyên môn Nghiên cứu định tính cho thấy rằng tuổi tác không ảnh hưởng lớn bằng sức khỏe của người hành nghề Nếu người hành nghề duy trì sức khỏe và sự minh mẫn, họ có thể tiếp tục hoạt động khám chữa bệnh cho đến khi không còn đủ sức khỏe Tuy nhiên, sức khỏe kém, như thị giác và thính giác suy giảm, có thể dẫn đến chẩn đoán sai và gây ra sai sót trong chuyên môn.

Theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề cần có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để được cấp chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên, hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động lại không yêu cầu giấy chứng nhận này Do đó, cán bộ quản lý HNYTN đã đề xuất bổ sung giấy chứng nhận đủ sức khỏe của người hành nghề nhằm hạn chế vi phạm trong quá trình hoạt động của cơ sở HNYTN.

Chúng tôi đề xuất bổ sung quy định bắt buộc cho người hành nghề y tế thực hiện khám sức khỏe định kỳ hàng năm, đảm bảo rằng chỉ những người có đủ sức khỏe mới được phép hành nghề khám bệnh và chữa bệnh.

4.3.3 Ảnh hưởng từ chính sách, pháp luật đến việc tuân thủ quy định hành nghề:

Theo quy định của Thông tư hướng dẫn, việc cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là rất quan trọng Các quy định này nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế và bảo vệ quyền lợi của người bệnh.

Theo quy định hiện hành, một người hành nghề chỉ được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cho một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, không được đồng thời làm cho hai cơ sở trở lên Điều này đã gây khó khăn cho nhiều bác sĩ, đặc biệt là Trưởng Trạm Y tế xã ở những vùng kinh tế khó khăn Họ không được phép hành nghề y tư nhân ngoài giờ, mặc dù thu nhập từ hành nghề tư nhân cao hơn nhiều so với lương tại các cơ sở công lập Quy định này đã ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu nhập của họ và gia đình.

Chúng tôi cho rằng, nếu có chế độ hỗ trợ phù hợp cho những người đứng tên là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, họ sẽ tuân thủ nghiêm ngặt quy định về hành nghề y tư nhân.

Theo quy định của Thông tư hướng dẫn, việc cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là rất quan trọng Các quy định này nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế và bảo vệ quyền lợi của người bệnh.

[9] thì quy định về danh mục trang thiết bị y tế, danh mục thuốc cấp cứu còn quy

HUPH hiện đang thiếu sự cụ thể, gây khó khăn trong việc thẩm định cấp phép và giám sát thực hiện quy định sau cấp phép Đồng thời, quy định về cơ sở vật chất cho phòng khám chuyên khoa ngoại lại chi tiết hóa nhiều yêu cầu không cần thiết Điều này ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định hành nghề, vì cơ quan kiểm tra và giám sát không có căn cứ chính xác để xử lý các vi phạm.

Mặc dù Thông tư số 41/2011/TT-BYT không quy định cụ thể về danh mục trang thiết bị y tế và thuốc cấp cứu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã ban hành quyết định số 617/QĐ-UBND-HC ngày 28/6/2013 để quản lý hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trong đó quy định cụ thể danh mục trang thiết bị y tế và thuốc cấp cứu cho từng loại hình hành nghề Để đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn quốc, cần có quy định cụ thể từ Bộ Y tế về danh mục này Hiện tại, quy định về trình độ chuyên môn của người hành nghề còn thiếu một số chuyên ngành như Cử nhân Vật lý trị liệu và Kỹ thuật viên Phục hình răng, dẫn đến khó khăn trong việc cấp phép hành nghề cho các đối tượng này Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự phù hợp với báo cáo thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý cấp phép hành nghề y, dược tư nhân năm 2016 của Sở Y tế Đồng Tháp.

Phòng khám chuyên khoa Răng hàm mặt HUPH hiện không được cấp giấy phép hoạt động do không đáp ứng các điều kiện nhân sự theo Thông tư số 41/2011/TT-BYT Cụ thể, bác sĩ cần có chứng chỉ hành nghề phù hợp và ít nhất 54 tháng kinh nghiệm trong chuyên khoa Việc thiếu quy định cho các đối tượng có trình độ chuyên môn này dẫn đến việc không được cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định HNYTN.

Ngày đăng: 02/12/2023, 10:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Văn Bào (2002), Nghiên cứu hoạt động hành nghề y tư nhân ở Hà Nội, đề xuất mô hình quản lý hành nghề y tư nhân ở tuyến xã, Luận án Tiến sỹ y học, Học viện Quân y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động hành nghề y tư nhân ở Hà Nội, đề xuất mô hình quản lý hành nghề y tư nhân ở tuyến xã
Tác giả: Lê Văn Bào
Năm: 2002
15. Chương trình hợp tác Y tế Việt Nam-Thụy Điển (2007), Báo cáo nghiên cứu thực trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân, Hà Nội.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu thực trạng, vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân
Tác giả: Chương trình hợp tác Y tế Việt Nam-Thụy Điển
Năm: 2007
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Khác
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Khác
4. Bộ Y tế (2007), Quyết định số 40/2007/QĐ-BYT ngày 16/11/2007 về việc ban hành Quy trình và danh mục thanh tra hành nghề y tế tư nhân Khác
5. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14 tháng 11 năm 2011 hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Khác
6. Bộ Y tế (2012), Quyết định số 3671/QĐ-BYT về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn Khác
7. Bộ Y tế (2015), "Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020&#34 Khác
8. Bộ Y tế (2015), Thông tư số 41/2015/TT-BYT ngày 16 tháng 11 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Khác
9. Bộ Y tế (2016), Thông tư số 01/VBHN-BYT ngày 26 tháng 02 năm 2016 của Bộ Y tế Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Khác
10. Bộ Y tế (2016), Thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày 29/02/2016 quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Khác
11. Bộ Y tế (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017 Khác
12. Bộ Y tế (2017), Chỉ thị số 04/CT-BYT của Bộ Y tế ngày 04 tháng 7 năm 2017 về việc tăng cường quản lý hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân Khác
13. Chính phủ (2011), Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh Khác
14. Chính phủ (2016), Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. 1: Tình hình vi phạm hành nghề y tư nhân toàn quốc năm 2016 - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 1. 1: Tình hình vi phạm hành nghề y tư nhân toàn quốc năm 2016 (Trang 26)
Bảng 3. 1: Tỷ lệ các loại hình HNYTN tại thời điểm nghiên cứu - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 1: Tỷ lệ các loại hình HNYTN tại thời điểm nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3. 4: Đặc điểm của chủ các cơ sở HNYTN (n=136) - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 4: Đặc điểm của chủ các cơ sở HNYTN (n=136) (Trang 46)
Bảng 3.5 trình bày kết quả về số lượng nhân sự và tình trạng có chứng chỉ  hành nghề của người làm việc tại các cơ sở HNYTN - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3.5 trình bày kết quả về số lượng nhân sự và tình trạng có chứng chỉ hành nghề của người làm việc tại các cơ sở HNYTN (Trang 47)
Bảng 3. 6: Việc thực hiện quy định về sự có mặt của chủ cơ sở HNYTN - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 6: Việc thực hiện quy định về sự có mặt của chủ cơ sở HNYTN (Trang 48)
Bảng 3.8 trình bày kết quả thực hiện quy định về trang thiết bị y tế của các - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3.8 trình bày kết quả thực hiện quy định về trang thiết bị y tế của các (Trang 49)
Bảng 3.10 trình bày về tình hình thực hiện quy chế kê đơn điều trị ngoại trú tại các - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3.10 trình bày về tình hình thực hiện quy chế kê đơn điều trị ngoại trú tại các (Trang 51)
Bảng 3. 11: Thực hiện quy định về thủ tục hành chính trong kê đơn điều trị - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 11: Thực hiện quy định về thủ tục hành chính trong kê đơn điều trị (Trang 52)
Bảng 3. 12: Tình hình thực hiện quy định về nội dung kê đơn thuốc trong quy - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 12: Tình hình thực hiện quy định về nội dung kê đơn thuốc trong quy (Trang 54)
Bảng 3. 13: Tình hình thực hiện quy định về các nội dung khác trong quy chế - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3. 13: Tình hình thực hiện quy định về các nội dung khác trong quy chế (Trang 55)
Bảng 3.15 trình bày kết quả thực hiện quy định về quy chế sử dụng thuốc - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng 3.15 trình bày kết quả thực hiện quy định về quy chế sử dụng thuốc (Trang 57)
Phụ lục 1: BẢNG KIỂM THU THẬP SỐ LIỆU TẠI CƠ SỞ HÀNH NGHỀ Y - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
h ụ lục 1: BẢNG KIỂM THU THẬP SỐ LIỆU TẠI CƠ SỞ HÀNH NGHỀ Y (Trang 84)
Phụ lục 6: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
h ụ lục 6: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (Trang 98)
Bảng kiểm  Ghi theo  Giấy phép  được cấp - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng ki ểm Ghi theo Giấy phép được cấp (Trang 98)
Bảng kiểm - Luận văn tuân thủ quy định hành nghề y tư nhân và một số yếu tố ảnh hưởng tại thành phố cao lãnh, đồng tháp năm 2017
Bảng ki ểm (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm