ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Là những người bệnh ĐTĐ type 2 hiện đang điều trị ngoại trú tại Khoa Nội tiết - Trung tâm y tế huyện Hoa Lư Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người bệnh ĐTĐ type 2 từ 18 tuổi trở lên
- Đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Có khả năng giao tiếp, trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có biến chứng nặng không thể tham gia nghiên cứu
- Người bệnh quá già không thể nghe rõ câu hỏi để trả lời.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình từ tháng 12/2018 đến tháng 7/2019.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng: Áp dụng công thứctính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:
Số bệnh nhân tối thiểu cần nghiên cứu là n, trong đó tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị chung ĐTĐ type 2 được chọn là p = 0,245 Theo nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Lan (2018), tỷ lệ này tương ứng với 24,5%.
HUPH d: Độ chính xác tuyệt đối (lấy d = 0,06) α: Chọn mức ý nghĩa thống kê (độ tin cậy 95%, có α = 0,05)
Z(1-α/2): Giá trị có được bằng cách tra bảng Z = 1,96
Theo công thức, số lượng mẫu nghiên cứu được tính là n = 197 Sau khi cộng thêm 10% cho những đối tượng từ chối tham gia hoặc không đủ tiêu chuẩn, tổng số đối tượng nghiên cứu được chọn là 217.
Năm 2019, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với 240 bệnh nhân ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết - Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Các biến số đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 và các yếu tố liên quan(Chi tiết tại Phụ lục 5.)
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 là khái niệm quan trọng trong nghiên cứu này, bao gồm 6 tiêu chí theo hướng dẫn tại Quyết định 3319/2017/QĐ-BYT ngày 19/7/2017 Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên tài liệu chuyên môn về chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 của WHO và ADA.
(1) TTĐT chế độ ăn là đảm bảo đầy đủ thành phần dinh dưỡng theo khuyến cáo
(2) TTĐT liên quan đến hoạt động thể lực là tập thể dục ở mức độ trung bình ít nhất 30 phút mỗi ngày (tối thiểu 150 phút 1 tuần)
(3) TTĐT dùng thuốc là dùng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng hướng dẫn của CBYT
Thay đổi lối sống là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát tình trạng TTĐT, bao gồm việc không hút thuốc và hạn chế uống rượu bia Đối với nam giới, lượng rượu bia nên ít hơn 3 cốc chuẩn mỗi ngày và tổng cộng không vượt quá 14 cốc chuẩn mỗi tuần Đối với nữ giới, lượng rượu bia khuyến nghị là ít hơn 2 cốc chuẩn mỗi ngày và không quá 9 cốc chuẩn mỗi tuần.
(5) TTĐT liên quan đến tự theo dõi và ghi lại Glucose máu
(6) TTĐT đi khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ
Các tiêu chuẩn từ (1) đến (4) được đánh giá trong vòng một tuần, trong khi tiêu chuẩn (5) cũng được xem xét trong khoảng thời gian này nhưng dựa trên tình hình thực tế của người bệnh Tiêu chuẩn (6) được xác định dựa trên hồ sơ bệnh án và thông qua việc hỏi trực tiếp người bệnh.
Người bệnh được xem là tuân thủ điều trị khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trong vòng 1 tuần trước khi phỏng vấn Nếu thiếu bất kỳ tiêu chuẩn nào, người bệnh sẽ không được coi là tuân thủ điều trị.
Tuân thủ chế độ ăn:
Để duy trì sức khỏe, cần tuân thủ chế độ ăn uống đầy đủ 6 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo và hạn chế thực phẩm gây tăng nhanh lượng glucose Nên ưu tiên lựa chọn thực phẩm ít béo, với hàm lượng chất béo bão hòa và cholesterol thấp, đồng thời đảm bảo các bữa ăn cách nhau từ 4 đến 5 giờ.
Từ câu 28-34, người bệnh sẽ được khảo sát về chế độ ăn uống của mình, sử dụng thang đo Likert 4 mức để đánh giá tần suất thực hiện các hành vi tăng cường sức khỏe Cụ thể, 1 điểm tương ứng với "không bao giờ", 2 điểm là "thỉnh thoảng", và 3 điểm
Điểm số đánh giá chế độ ăn uống được tính từ 8 đến 32, với mỗi câu hỏi có điểm từ 1 đến 4 Nếu tổng điểm từ 8 đến 24, người trả lời không tuân thủ chế độ ăn; ngược lại, tổng điểm trên 24 cho thấy sự tuân thủ chế độ ăn.
Tuân thủ chế độ luyện tập:
Luyện tập thể dục thường xuyên, bao gồm đi bộ, đi bộ nhanh và đạp xe từ 30-60 phút mỗi ngày hoặc 3-5 lần mỗi tuần, là rất quan trọng, với tổng thời gian tối thiểu 150 phút mỗi tuần Tuy nhiên, mức độ luyện tập cần được điều chỉnh theo tình trạng sức khỏe của người bệnh Nếu mức glucose máu chưa được kiểm soát và tình trạng bệnh còn nặng, người bệnh nên hoãn việc luyện tập cho đến khi tình trạng sức khỏe ổn định Việc duy trì ít nhất 150 phút luyện tập mỗi tuần là cần thiết để tuân thủ chế độ luyện tập.
Tuân thủ điều trị thuốc:
Tuân thủ điều trị thuốc là việc người bệnh sử dụng đầy đủ và đúng cách tất cả các loại thuốc được kê đơn, ngay cả khi mức Glucose máu đã ổn định Người bệnh không nên tự ý thay đổi thuốc và liều lượng Nghiên cứu này áp dụng phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị thuốc Morisky với 8 mục tiêu để đánh giá mức độ tuân thủ.
HUPH thủ điều trị thuốc ĐTĐ type 2 Người bệnh được coi là tuân thủ khi đạt ≥6 điểm, không tuân thủ khi đạt 3 tháng
Kiến thức về tuân thủ điều trị:
Là hiểu biết của ĐTNC về bệnh ĐTĐ và chế độ điều trị bệnh ĐTD type 2 theo hướng dẫn của bác sỹ
Kiến thức được cho là đạt khi ĐTNC trả lời đúng ≥7/10 câu; không đạt khi ĐTNC trả lời đúng