Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát “Tuân thủ của người bệnh đái tháo đường túyp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, Bến Tre và một số yếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Trần Văn Hải
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Vii ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh đái tháo đường 4
1.2 Điều trị và tuân thủ điều trị ĐTĐ tuýp 2 6
1.3 Cách đo lương tuân thủ điều trị 12
1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ tuýp 2 20
1.5 Công tác quản lý và điều trị NB ĐTĐ tuýp 2 tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri 24
1.6 Khung lý thuyết 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thiết kế nghiên cứu 27
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu 28
2.4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán 28
2.4.3 Thu thập số liệu 30
2.5 Các biến số nghiên cứu 30
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.7 Sai số và biện pháp khắc phục 31
2.8 Đạo đức nghiên cứu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm chung của người bệnh 33
HUPH
Trang 53.2 Kiến thức của người bệnh 36
3.3 Tuân thủ điều trị của người bệnh 39
3.3.1 Tuân thủ dinh dưỡng 39
3.2.2 Tuân thủ hoạt động thể lực 42
3.3.3.Tuân thủ dùng thuốc 42
3.3.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà và tái khám định kỳ 43
3.4 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh 45
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Đặc điểm chung của người bệnh 52
4.2 Kiến thức của người bệnh 55
4.3.Tuân thủ điều trị của người bệnh 57
4.4.Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh 62
4.5 Hạn chế của nghiên cứu 65
KẾT LUẬN 67
KIẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Mẫu dự trù kinh phí nghiên cứu chi tiết
Phụ lục 2 Biến số nghiên cứu
Phụ lục 3 Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
Phụ lục 4 Phiếu phỏng vấn người bệnh ĐTĐ týp 2 đang điều trị ngoại trú về sự tuân thủ chế độ điều trị bệnh ĐTĐ
Phụ lục 5 Thang điểm đánh giá tực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2
HUPH
Trang 6ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ĐTV Điều tra viên
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh 16
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của người bệnh 27
Bảng 3.2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh 28
Bảng 3.3 Hỗ trợ của người thân về tuân thủ điều trị 29
Bảng 3.4 Thông tin kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh 30
Bảng 3.5 Phân loại kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh 33
Bảng 3.6 Tuân thủ hoạt động thể lực của người bệnh 35
Bảng 3.7 Thực hành tuân thủ dùng thuốc của người bệnh 36
Bảng 3.8 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ 37
Bảng 3.9 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ dinh dưỡng 39
Bảng 3.10 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ hoạt động thể lực 41
Bảng 3.11 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ dùng thuốc 43
Bảng 3.12 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ 44
HUPH
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tuân thủ các loại thực phẩm nên ăn 33
Biểu đồ 3.2 Tuân thủ các lọai thực phẩm cần hạn chế 34
Biểu đồ 3.3 Tuân thủ đối với các thực phẩm cần tránh 34
Biểu đồ 3.4 Mức đội tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh 35
Biểu đồ 3.5 Mức độ tuân thủ dùng thuốc của người bệnh 37
Biểu đồ 3.6 Mức độ tuân thủ thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ của NB 38
Biểu đồ 3.7 Mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh 38
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, với đặc trưng là glucose máu luôn cao do khiếm khuyết tiết Insulincủa tuyến tụy, tác động Insulin hoặc do cả hai NB đái tháo đường tuýp 2 có nguy cơ xuất hiện bệnh tim mạch và tử vong cao hơn người không mắc bệnh, liên quan đến sự gia tăng các bệnh mạn tính đi kèm như: Tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu, …”(1) Tuân thủ điều trị (TTĐT) đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát đường huyết Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát “Tuân thủ của người bệnh đái tháo đường túyp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, Bến Tre và một số yếu tố liên quan năm 2021” với mục tiêu xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trong thời gian từ tháng 01/2021 đến hết tháng 04/2021 trên 181 NB ĐTĐ tuýp 2 trong thời gian 20 -30 phút bằng bộ câu hỏi soạn sẵn cho thấy có 5,5% NB tuân thủ đầy đủ 4 chế độ điều trị Tỷ lệ NB tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 79,6% NB tuân thủ và 20,4% không tuân thủ Tỷ lệ
NB tuân thủ họat động thể lực chiếm 34,8% NB tuân thủ và 65,2% không tuân thủ
Tỷ lệ NB tuân thủ chế độ dùng thuốc là 98,3% NB tuân thủ và 1,7% không tuân thủ Tỷ lệ NB tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ là 36,5% tuân thủ và 63,5% không tuân thủ Bên cạnh đó, nếu NB ĐTĐ không tuân thủ điều trị thì đường huyết sẽ không đươc kiểm soát tốt, nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng (Cấp tính như: Hôn mê do nhiễm Ceton, do tăng áp lực thẩm thấu,…hoặc mạn tính như: Tổn thương thận, tim, mắt, mạch máu, hoại tử chi, …) và kéo theo đó
là tình trạng chi phí khám chữa bệnh tăng cao, chất lượng cuộc sống giảm, nguy cơ tàn tật và tử vong cao (2)
Nghiên cứu của chúng tôi đã xác định được các yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ dinh dưỡng của NB là: giới tính, nghề nghiệp, kiến thức về tuân thủ điều trị, được CBYT tư vấn và giải thích khi đi khám bệnh Các yếu tố liên quan đến tuân
HUPH
Trang 10thủ chế độ hoạt động thể lực là: Nhóm tuổi, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dùng thuốc với: Đặc điểm NB, tiền sử bệnh, thời gian, mức độ tư vấn của CBYT Các yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ là: được CBYT tư vấn,giải thích rõ hoặc giải thích không rõ ràng về chế độ tuân thủ điều trị ĐTĐ và những nguy cơ Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi xin đưa ra các kiến nghị tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để phổ biến kiến thức về bệnh ĐTĐ: Triệu chứng, biến chứng và các nguyên tắc điều trị bệnh Từ đó giúp nâng cao kiến thức cho NB Đồng thời xây dựng các chương trình giám sát NB trong quá trình điều trị với mục đích hỗ trợ kịp thời khi NB cần sự giúp đỡ
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
“Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, với đặc trưng là glucose máu luôn cao do khiếm khuyết tiết Insulincủa tuyến tụy, tác động Insulin hoặc do cả hai NB đái tháo đường tuýp 2 có nguy cơ xuất hiện bệnh tim mạch và tử vong cao hơn người không mắc bệnh, liên quan đến sự gia tăng các bệnh mạn tính đi kèm như: Tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu, …”(1), (3)
Trên thế giới, năm 2019 có khoảng 463 triệu người từ 20 – 79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, khoảng 79,4% NB ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Tại Đông Nam Á có khoảng 8,8% dân số từ 20–79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tương đương với 87,6 triệu người (4) Năm 2016, Việt Nam có khoảng 4,58 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (5) Dự báo mỗi năm nước ta có khoảng 88.000 NB ĐTĐ mới (6)
ĐTĐ tuýp 2 nằm trong nhóm những bệnh lý không lây nhiễm có tỷ lệ NB cao nhất, điều đó làm tăng gánh nặng cho ngành y tế cũng như kinh tế đất nước và trở thành mối lo ngại lớn đối với tất cả các quốc gia Điều trị ĐTĐ tuýp 2 NB phải tuân thủ điều trị bao gồm: Chế độ dùng thuốc (CĐ DT), hoạt động thể lực (HĐ TL), chế
độ dinh dưỡng (CĐ DD), kiểm soát đường huyết (KSĐH) và tái khám định kỳ (TK ĐK) Nếu NB ĐTĐ không tuân thủ thì đường huyết sẽ không đươc kiểm soát tốt, nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng (Cấp tính như: Hôn mê do nhiễm Ceton, do tăng áp lực thẩm thấu,…hoặc mạn tính như: Tổn thương thận, tim, mắt, mạch máu, hoại tử chi, …) và kéo theo đó là tình trạng chi phí khám chữa bệnh tăng cao, chất lượng cuộc sống giảm, nguy cơ tàn tật và tử vong cao (2)
Tỉnh Bến Tre có dân số khoảng 1.262 triệu người, ước tính có khoảng 68.000
NB ĐTĐ Trong đó 50% số người này không biết mình mắc bệnh Năm 2020, tại TTYT huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đang quản lý và điều trị cho 209 NB ĐTĐ mới (7) Điều này, cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 có khuynh hướng tăng cao Mặc khác, bệnh ĐTĐ không thể chữa khỏi được, nhưng triệu chứng và biến chứng có thể kiểm soát được thông qua tuân thủ điều trị (TTĐT) Nếu NB TTĐT thì đường huyết sẽ được kiểm soát tốt do đó sẽ giảm nguy cơ xuất hiện biến chứng và
HUPH
Trang 12tỷ lệ tử vong, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho NB Nhưng việc tuân thủ chịu ảnh hưởng nhiều bởi khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cũng như những thông tin mà người bệnh nhận được từ CBYT Tuy nhiên, địa hình tỉnh Bến tre nằm ở thượng nguồn với hệ thống sông ngòi chằng chịt, giao thông khó khăn nên việc tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế Vì vậy, để tìm hiểu tỷ lệ NB ĐTĐ tuýp 2 tuân thủ điều trị và những yếu tố nào liên quan đến việc điều trị bệnh của NB Chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Mô hình quản lý NB ĐTĐ hiện nay tại các cơ sở y tế công lập
có mang lại sự tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ? Và tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tuân thủ của người bệnh đái tháo đường túyp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, Bến Tre và một số yếu tố liên quan năm 2021” với mục tiêu xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm
2021
2 Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm 2021
HUPH
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Khái niệm
“Đái tháo đường: Đây là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất Bệnh đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do khiếm khuyết trong bài tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc do cả hai Glucose tăng cao mãn tính trong thời gian dài gây rối loạn chuyển hóa của mạch máu, carbohydrate, protein, lipid và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt: Tim, thận, mắt và thần kinh” (1), (2), (8)
Phân loại bệnh ĐTĐ (1), (9), (10): 4 loại
- ĐTĐ tuýp 1: Do tế bào beta của tuyến tụy bị phá hủy dẫn đến thiếu hụt Insulin tuyệt đối
- ĐTĐ týp 2: Do chức năng tế bào beta tuyến tụy giảm dần trên nền kháng insulin
- ĐTĐ thai kỳ: Bệnh được xuất hiện trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ (sản phụ trước đó không bị mắc bệnh)
- Các dạng ĐTĐ đặc biệt: Do hóa chất, ĐTĐ sơ sinh, ĐTĐ liên quan đến thuốc như sử dụng glucocorticoid, sau ghép mô, điều trị HIV/AIDS,
1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
ADA (Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ): Chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn (1), (10):
- Tiêu chuẩn 1: Đường huyết lúc đói FPG ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L) NB phải nhịn ăn tối thiểu 8 giờ (nhịn ăn qua đêm khoảng 8 - 14h) nhưng có thể uống nước đun sôi, nước lọc ngoại trừ nước ngọt, hoặc:
- Tiêu chuẩn 2: Glucose huyết tương sau 2h thực hiện nghiệm pháp dung nạp Glucose đường uống 75g (Oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hoặc 11,1 mmol/L)
HUPH
Trang 15Thực hiện OGTT: Hướng dẫn NB nhịn ăn từ nửa đêm hôm trước, hòa tan 75g glucose với 250-300 ml nước cho uống trong thời gian 5 phút; Trước đó 3 ngày, cho
NB ăn chế độ có khoảng 150-200 gam carbohydrate/ngày
- Tiêu chuẩn 3: HbA1c ≥ 6,5% (hay 48 mmol/mol) Lưu ý: Thử nghiệm này nên thực hiện trong phòng xét nghiệm theo chuẩn hóa các tiêu chuẩn của quốc tế
- Tiêu chuẩn 4: Đối với những NB có các triệu chứng điển hình của tăng đường huyết hoặc đường huyết tại bất kỳ thời điểm nào ≥ 200 hoặc 11,1 mmol /L
Ở những NB có các triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết hoặc đường huyết tại bất kỳ thời điểm nào ≥ 200 mg/dL (hoặc 11,1 mmol / L) Trường hợp NB không có các triệu chứng điển hình của tăng đường huyết (đa niệu, ăn uống vô độ, sụt cân với nguyên nhân không rõ), nên làm lại xét nghiệm để chẩn đoán chính xác Thời gian thực hiện xét nghiệm kiểm tra thứ hai được thực hiện từ 1-7 ngày sau lần kiểm tra đầu tiên (2)
1.1.3 Dịch tễ bệnh ĐTĐ tuýp 2
Tình hình bệnh ĐTĐ tuýp 2 trên thế giới:
Theo báo cáo của WHO: Số người mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới tăng từ 108 triệu người lên 422 triệu người (từ năm 1980 đến năm 2014) Tỷ lệ mắc bệnh tại các nước có nền kinh tế khó khăn đang tăng nhanh Dự kiến năm 2030, số ca bệnh sẽ tăng lên 578 triệu người Cứ hai người trưởng thành sống chung với ĐTĐ tuýp 2 thì
có một người không được chẩn đoán ĐTĐ là nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới Năm 2012 có khoảng 2,2 triệu NB tử vong do lượng đường trong máu cao Ước tính từ năm 2000 đến năm 2016, số lượng NB tử vong do bệnh ĐTĐ tăng lên 5% (11)
Trong số ca bệnh ĐTĐ thì ĐTĐ tuýp 2 chiếm 90% và được coi là một căn bệnh chính liên quan đến lối sống Năm 2017, trên toàn thế giới có khoảng 462 triệu
BN ĐTĐ tuýp 2, chiếm 6,28% dân số toàn cầu Theo WHO, năm 2030 ĐTĐ sẽ nằm trong nhóm 7 nguyên nhân có tỷ lệ tử vong cao nhất (12)
HUPH
Trang 16Năm 2019, ước tính có khoảng 463,0 triệu người từ 20 – 79 tuổi trên toàn thế giới mắc bệnh ĐTĐ, khoảng 79,4% NB ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, dự báo đến năm 2030 sẽ có 578,4 triệu người và đến năm 2045 sẽ có 700,2 triệu người từ 20–79 tuổi sẽ sống chung với bệnh ĐTĐ (4)
Năm 2019, Đông Nam Á có khoảng 8,8% dân số từ 20–79 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tương đương với 87,6 triệu người, trong đó 56,7% chưa được chẩn đoán Số
ca tử vong trong năm khoảng 1,2 triệu, trong đó trên 51,5% số ca tử vong này xảy
ra ở NB dưới 60 tuổi Dự đoán năm 2030 số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ lên tới 115,1 triệu (9,7% dân số trưởng thành từ 20 – 79 tuổi) Đến năm 2045, dự kiến sẽ có 152,8 triệu người trưởng thành mắc bệnh tiểu đường (4)
Tình hình bệnh ĐTĐ tuýp 2 tại Việt Nam:
Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tiến hành khảo sát của trên 11.000 người trong độ tuổi 30-69 tuổi cho thấy: Tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm 5,42% Dự báo mỗi năm nước ta có khoảng 88.000 NB ĐTĐ mới (6)
Năm 2012, báo cáo của WHO cho thấy: Việt Nam có 3,2 triệu người ≥ 18 tuổi mắc bệnh ĐTĐ, tăng gần gấp đôi trong 10 năm (từ 2002 đến 2012), đứng thứ 7/39 nước có số NB ĐTĐ cao nhất khu vực Tây Thái Bình Dương (13) Năm 2014, theo thống kê của WHO về bệnh không lây nhiễm: Tỷ lệ NB ĐTĐ tại Việt Nam chiếm 6,5% (14) Năm 2015, nước ta có khoảng 3,5 triệu NB ĐTĐ (15), (16), ước tính số
ca tử vong do bệnh ĐTĐ khoảng 53.458 (17) Năm 2016, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,9% (khoảng 4,58 triệu người), tỷ lệ nam mắc ĐTĐ là 4,7% và 5,0% ở nữ (5)
1.2 Điều trị ĐTĐ tuýp 2 (9)
1.2.1 Những nét cơ bản trong điều trị ĐTĐ
Nguyên tắc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ tuýp 2 của Bộ Y tế như sau (2):
- Kiểm soát đường huyết về gần giới hạn bình thường
- Phòng ngừa biến chứng
- Góp phần tăng chất lượng cuộc sống
Để đạt được các nguyên tắc này chúng ta nên thực hiện theo 4 loại hình sau:
HUPH
Trang 17- Điều trị qua chế độ dinh dưỡng của cơ thể, mức độ ăn uống hợp lý
- HĐTL và tập thể dục thường xuyên đúng theo nhu cầu thể trạng của cơ thể của mỗi cá nhân
- Sử dụng thuốc điều trị theo đúng phác đồ và hướng dẫn của bác sỹ
- NB tự theo dõi đường huyết và TKĐK theo lịch hẹn của bác sỹ
1.2.2 Mục tiêu điều trị ĐTĐ tuýp 2
1.2.2.1 Chế độ ăn
Để có một CĐDD phù hợp cần sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sỹ và NB, một chế độ ăn hợp lý cho NB ĐTĐ phải đáp ứng các tiêu chí sau (18): Đảm bảo cung cấp đủ năng lượng với tỷ lệ cân đối Glucid, Lipid, Protid; đủ vitamin và chất khoáng; Chia bữa ăn trong ngày cho phù hợp với sự thay đổi sinh lý của cơ thể, kết hợp chế độ ăn với điều trị bằng thuốc
Đảm bảo duy trì mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm đến mức hợp lý: Nếu có cân nặng > 10% cân nặng lý nghĩa là quá béo, cân nặng <15% cân nặng lý tưởng là gầy (18)
Nhu cầu về năng lượng ở NB ĐTĐ (18): Cũng có sự thay đổi trong một số trường hợp như:
- Tuổi: Tuổi đang lớn nhu cầu năng lượng cao hơn người lớn tuổi
- Loại công việc nặng hay nhẹ
- Phương pháp điều trị nội khoa
- Năng lực tài chính theo sở thích và các yêu cầu của NB
Sự cân bằng các chất: Thành phần các chất dinh dưỡng tốt nhất cho NB ĐTĐ không cố định Chú trọng chọn thực phẩm không chỉ giúp hạ đường máu mà còn
HUPH
Trang 18làm giảm tình trạng xơ vữa động mạch cũng như các biến chứng cấp và mạn tính của bệnh (18)
- Hydratcarbon: Chiếm 55-60%, cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể NB ĐTĐ cần hạn chế sử dụng thực phẩm nhóm này, chỉ cần ăn mọt lượng vừa đủ để duy trì cân bằng các chất trong bữa ăn
- Protein: Chiếm 10 đến 20%, ăn đủ để cung cấp đạm bilan và giúp tăng trưởng Trường hợp NB bị biến chứng thận, cần hạn chế đạm
- Lipit: Chiếm 25 đến 30%, cần phải rất hạn chế Hàm lượng cholesterol sử dụng <300mg và thay thế nhiều loại Lipid bão hòa bằng Lipid không no
- Chất xơ: 25g/1000 Kcal có tác dụng làm chậm quá trình hấp thu đường đồng thời giảm tình trạng đường tăng cao sau bữa ăn Chất xơ trong thực phẩm bao gồm: Đậu, rau, thực phẩm chứa keo có thể làm giảm lượng đường và giảm cholesterol toàn phần và Lipoprotein có tỷ trọng thấp
- Chất làm ngọt nhân tạo được sử dụng thay thế cho đường trong đồ uống hoặc thực phẩm
- Cần hạn chế rượu: Do rượu có khả năng ức chế sự tổng hợp Glycogen ở gan
và làm hạ đường huyết ở NB đang dùng thuốc hạ đường huyết hoặc Insulin, gây tăng Glycerid cấp và mãn tính, rối loạn chuyển hóa Sulphamid Ngoài ra rượu có thể gây tăng đường huyết và làm tổn thương hệ thần kinh trầm trọng hơn (18) Xây dựng CĐDD hợp lý với thành phần các chất cân đối: 50-60% Glucid, 15-20% Protid, 20-30% Lipid Nên chọn thức ăn có chỉ số đường huyết thấp, giàu chất
xơ (rau 100-200 g/bữa ăn), không ăn đồ ngọt, ăn uống điều độ, nên chia 5-6 bữa với
3 bữa chính và 2- 3 bữa phụ (18)
1.2.2.2 Chế độ hoạt động thể lực
Lợi ích của HĐTL đối với NB ĐTĐ như: Giúp cải thiện lượng đường trong máu, cân nặng được kiểm soát và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch Nếu kết hợp luyện tập dinh dưỡng sẽ giúp giảm HbA1c hiệu quả hơn (1)
HUPH
Trang 19Hoạt động thể lực rất cần thiết đối với NB ĐTĐ, đặc biệt là NB ĐTĐ tuýp 2, giúp kiểm soát cân nặng, giảm đề kháng Insulip và cải thiện dung nạp glucose cũng như cải thiện lượng lipid trong máu (19)
Khuyên NB vận động nhẹ nhàng như: Đi bộ nhanh hoặc chạy chậm, đạp xe bao gồm đạp xe trong phòng, tập dưỡng sinh, chơi cầu lông, … Trong thời gian khoảng 30 phút/1 ngày và 5 ngày/tuần … Trước khi tập NB cần phải kiểm tra chỉ số đường huyết, huyết áp và tình trạng tim mạch (khi dưới 14 mmol/l đường huyết đói đến dưới 5 mmol/l không luyện tập), chọn loại hình nào tập luyện đảm bảo phù hợp với sức khỏe, biến chứng và bệnh đi kèm của từng NB (18)
Lưu ý NB trước khi tập: Phải đánh giá kiểm soát đường huyết, NB có biến chứng của bệnh ĐTĐ hay không? Khám tim mạch, làm ECG gắng sức (nếu cần); Khám: Mắt, tổn thương bàn chân, bệnh lý thần kinh, tình trạng tuần hoàn ngoại vi (nếu có), mắt trường hợp NB có nếu có viêm võng mạc tăng sinh phải đợi cho đến tình trạng viêm khi ổn định (18)
1.2.2.3 Chế độ dung thuốc đối với ĐTĐ tuýp 2
Việc điều trị bằng thuốc phải được kết hợp cùng chế độ ăn uống cũng như luyện tập Phải kết hợp với điều trị hạ đường huyết và điều chỉnh các rối loạn lipid máu và duy trì huyết áp ổn định,
Khi cần, NB nên sử dụng Isulin hướng chỉ dẫn của bác sỹ (Trong trường hợp: Đợt cấp tính của bệnh, bệnh truyền nhiễm, )
Mục tiêu: Nhanh đưa đường huyết về mức tối ưu Thông thường đường huyết sau bữa ăn ở chỉ số bình thường, HbA1c < 7,0%, trong khoảng 3 tháng biến chứng
sẽ giảm, kể cả tỷ lệ tử vong của ĐTD Điều trị phối hợp thuốc sớm có thể được xem xét trong các trường hợp đường huyết lên cao Như:
Nếu HbA1c > 9,0% và đường huyết tương lúc đói > 13,0 mmol/l, cân nhắc dùng hai viên hạ đường huyết phối hợp
Nếu HbA1C > 9,0% và đường huyết lúc đói > 15,0 mmol/l: cân nhắc tiêm Insulin ngay
HUPH
Trang 201.2.2.4 Theo dõi và các chỉ tiêu đánh giá của NB ĐTĐ
Theo dõi HbA1c: Giúp kiểm soát chỉ số đường huyết tổng thể trong 2 - 3 tháng vừa qua Do đó cần kiểm tra trong 3 tháng/lần
NB nên thường xuyên tự kiểm tra đường huyết bằng máy thử đường nhanh tại nhà của mình Có thể thực hiện 1 tuần/1 lần khi chỉ số đã ổn định, kiểm tra đột đột xuất nếu thấy cần thiết, nhất là khi có sự thay đổi về phát đồ, ăn uống và sinh hoạt Đôi khi NB kiểm tra hiện thêm xét nghiệm glucose máu vào các buổi khác nhau trong ngày, đặc biệt là khi điều trị bằng Insulin tiêm nhiều lần trong ngày (20) Ceton niệu phản ánh chính xác ceton máu, NB ĐTĐ cần làm xét nghiệm ceton niệu khi bị sốt, đường huyết tăng cao khó khống chế hoặc có dấu hiệu gợi ý toan ceton (đau bụng, buồn nôn, nôn )
Chống kết tập tiểu cầu: Theo dõi khi có chỉ định dùng các loại thuốc như: Aspirin, thuốc chống đông máu, khoảng 3 tháng/lần
Theo dõi lipid máu: Từ 3 - 6 tháng/1 lần Các trường hợp đặc biệt được chỉ định tùy theo tình trạng và nhu cầu của NB
- Những thăm khám định kỳ khác:
Khám bàn chân: Khám lần đầu, sau đó từ 3- 6 tháng/lần
Khám đáy mắt: 6 tháng/lần đối với những người phát hiện < 5 năm, 3 tháng/một lần đối với những người được phát hiện > 5 năm Tùy thuộc vào mức độ tổn thương đáy mắt trên lâm sàng mà tiến hành chụp đáy mắt từ 6 -12 tháng/lần Chức năng tim mạch: Cần theo dõi đo huyết áp thường xuyên, ECG thường là
3 tháng/1 lần
Chụp X-quang tim phổi: Được thực hiện 6 tháng/1 lần
Việc kiểm tra, đánh giá tài liệu cũng như theo dõi CĐDD, chế độ luyện tập và chỉ số BMI được thực hiện 6 tháng/lần
1.2.3 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
1.2.3.1 Khái niệm về tuân thủ điều trị
HUPH
Trang 21WHO định nghĩa: “Tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ là sự kết hợp của 4 biện pháp: Chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ” (21)
Trong điều trị ĐTĐ cần thiết nhất là NB phải tuân thủ nghiêm ngặt CĐDT, dinh dưỡng hợp lý kết hợp HĐTL thường xuyên Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khi NB không tuân thủ sẽ đưa đến thất bại điều trị, đường huyết không kiểm soát được
1.2.3.2 Một số nguyên nhân dẫn đến NB không TTĐT:
Do sử dụng thuốc: NB phải dùng nhiều loại thuốc trong ngày, nhất là người
sử dụng thuốc viên và thuốc tiêm phối hợp phải dùng ≥2 loại thuốc, số lượng thuốc nhiều và thời gian dùng kéo dài suốt đời, cùng tâm lý sợ đau mỗi khi tiêm ảnh hưởng đến việc TTĐT Mặt khác, do tác dụng hạ đường huyết khi sử dụng Insulin không theo hướng dẫn, … hoặc tác dụng do thuốc mang lại không như kết quả mong muốn của NB
Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời điểm sử
dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan tới bữa ăn hằng ngày sẽ gây ra khó khăn nhất định cho NB như: Về thời điểm sử dụng thuốc (Uống sau bữa ăn, có loại uống
xa bữa ăn hoặc phải tiêm vào đúng thời gian quy định), một số thuốc điều trị khi sử dụng yêu cầu NB phải ngừng uống rượu bia (20)
Do thiếu hỗ trợ (người thân trong gia đình, bạn bè): Sự hỗ trợ của người
thân, bạn bè là nhân tố quan trọng đảm bảo NB tuân thủ: Giúp NB uống thuốc đúng
số lượng, đúng liều lượng, đúng giờ và thường xuyên kiểm tra đường huyết; Khuyến khích và giúp đỡ NB thực hiện CĐDD và HĐTL hợp lý Trên thực tế, nhiều NB không thể tự kiểm tra đường huyết hoặc đôi khi quên sử dụng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ, nhất là những NB lớn tuổi (22)
Do gánh nặng về tài chính: Do điều trị bệnh mãn tính trong thời gian dài, NB
phải chi trả chi phí khám chữa bệnh trong khi thu nhập lại không cao/không có (ở người già, người neo đơn), đây sẽ là gánh nặng tài chính không chỉ đối với NB mà cho các thành viên trong gia đình và cho toàn xã hội Tất cả khó khăn, thiếu thốn
HUPH
Trang 22này có thể dẫn đến tâm lý chán nản, tuyệt vọng cho NB (22)
* Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến TTĐT là do chất lượng cung cấp các dịch vụ y tế (23)
Do mối quan hệ bác sĩ với NB: Trong quá trình giao tiếp cần cho NB thấy rõ
lợi ích của các phương pháp điều trị, nếu cần có thể lặp lại nhiều lần và rõ ràng Cảnh báo các tác dụng phụ có thể xảy ra, động viên NB trong quá trình điều trị thì
NB tuân thủ sẽ tốt hơn
Do hệ thống chăm sóc y tế: Thực sự tiện lợi cho NB? Thời gian cấp phát
thuốc cũng như các dịch vụ y tế có lấy NB làm trung tâm không? Như: NB ĐTĐ thường dành cả buổi sáng hoặc có thể cả ngày chỉ để chờ đến lượt khám và nhận thuốc, hoặc đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe NB có tin tưởng vào không?
Những lý do kể trên ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến TTĐT của NB Khi NB không được giúp đỡ để vượt các khó khăn kể trên, họ thường không TTĐT, dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề, làm tăng tỷ lệ xuất hiện các biến chứng vì vậy tỷ lệ nhập viện cũng như tử vong tăng lên
1.3 Cách đo lường tuân thủ điều trị
1.3.1 Khái niệm về tiêu chuẩn chẩn đoán
Chẩn đoán ĐTĐ
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của Trung tâm Y tế huyện Ba Tri áp dụng theo tiêu chuẩn của WHO (2011) (24) Tiêu chí chẩn đoán bệnh ĐTĐ - WHO; IDF – 2012: Chẩn đoán ĐTĐ:
- Mức đường huyết lúc đói ≥ 7,0mmol/l ( ≥ l26mg/dl) Hoặc:
- Mức đường huyết ≥11,1 mmol/1 (200mg/dl) 2 giờ sau
- Nghiệm pháp OGTT Hoặc:
- HbA1c ≥6,5% (khoảng 48 mmol / mol: Theo Liên đoàn Hóa sinh Lâm sàng Quốc tế)
Hoặc:
- Có triệu chứng lâm sàng của bệnh ĐTĐ; mức đường huyết tại thời điểm bất
kỳ ≥ 11,1 mmo/l (200 mg/dl)
HUPH
Trang 23Khái niệm tuân thủ điều trị
Theo WHO: TTĐT là mức độ mà NB thực hiện đúng các hướng dẫn của phương phương điều trị được CBYT đưa ra (21), (25), (26) Với định nghĩa trước đây là "Tuân thủ yêu cầu NB đồng ý với các khuyến nghị của nhân viên y tế", thì định nghĩa này đưa ra yêu cầu NB phải là đối tác tích cực với nhân viên y tế trong việc chăm sóc sức khỏe Giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên y tế và NB là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình khám chữa bệnh Việc TTĐT của NB ĐTĐ là
sự kết hợp của 4 biện pháp như: Thứ nhất, CĐDD phù hợp; Thứ hai: Thường xuyên HĐTL; Thứ ba: Đúng CĐDT và cuối cùng là chế độ KSĐH và tái khám định kỳ Nói cách khác: Tuân thủ điều trị ĐTĐ chính là: Tuân thủ CĐDD, HĐTL, dùng thuốc và KSĐH, TKĐK
Theo nghiên cứu của tác giả Joan Kalyango và cộng sự (27) đã tiến hành nghiên cứu “Không tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện Mulago ở Uganda: Tỷ
lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan” trên 402 NB ĐTĐ tuýp 1 và 2 từ 18 tuổi trở lên tại Bệnh viện Mulago, Uganda Tỷ lệ không tuân thủ điều trị chung của NB tương đối thấp là 28,9%
Tác giả Nguyễn Thị Hải (21) đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015” Đây là nghiên cứu
mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng trên 286 NB ĐTĐ tuyp 2 đang điều trị tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỉ
lệ tuân thủ chung là 13,7%
1.3.2 Phương pháp đo lường tuân thủ điều trị
Để tăng cường hiệu quả trong quá trình điều trị, giảm các biến chứng cho NB thì việc đánh giá chính xác TTĐT của NB là vô cùng quan trọng, giúp bác sỹ có thể theo dõi NB trong quá trình điều trị đồng thời đưa ra phương pháp cũng như phác
đồ phù hợp với tình trạng bệnh Hiện nay, để đo lường chính xác hành vi TTĐT của
NB thì vẫn chưa có "Tiêu chuẩn vàng" Phương pháp đánh giá TTĐT được xem là
lý tưởng khi đáp ứng các được tiêu chí: Chi phí thấp, đáng tin cậy, có giá trị, khách
HUPH
Trang 24quan và sử dụng dễ dàng Thông thường có 2 phương pháp đánh giá TTĐT của NB: Trực tiếp và gián tiếp (28)
Phương pháp trực tiếp: Trực tiếp theo dõi điều trị, đo nồng độ thuốc trong
máu và trong nước tiểu, định lượng chất đánh dấu sinh học trong máu (29)
Phương pháp gián tiếp: Đếm viên thuốc, theo dõi bằng các thiết bị điện tử,
dựa vào dữ liệu từ nhà thuốc, đánh giá đáp ứng lâm sàng của NB, dùng bộ câu hỏi (29)
Bảng 1.2 Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị của NB (21)
Gián tiếp
Hệ thống tự ghi nhận
Cung cấp được thông tin
về các cản trở NB gặp phải trong quá trình thực hành TTĐT Đơn giản, dễ thực hiện và chi phí thấp
Tỷ lệ tuân thủ đôi khi sẽ cao hơn so với thực tế do các sai số khi NB nhớ lại
Đánh giá tuân thủ
theo quan điểm của
nhân viên y tế
Phương pháp này có độ đặc hiệu cao, dễ thực hiện
và chi phí thực hiện tương đối thấp
Tỷ lệ tuân thủ của NB khi
sử dụng phương pháp này thường cao hơn cao hơn thực tế và độ nhạy tương đối thấp
Nhật ký NB
Đây là phương pháp giúp đơn giản hóa các mối liên quan với yếu tố bên ngoài và/hoặc tác động của thuốc
Đánh giá tuân thủ theo phương pháp này đôi khi không nhận được sự hợp tác từ NB, thậm chí có thể xuất hiện sự thay đổi hành
vi mang tính phản ứng Đếm số lượng viên
thuốc NB dùng
Có thể ước tính được tỷ lệ tuân thủ của NB ở mức trung bình
Để đánh giá được tuân thủ theo phương pháp này cần phải có sự hợ tác của NB,
HUPH
Trang 25mỗi khi tái khám mang vỏ thuốc đến
Nhưng đôi khi không có sự tương đồng lượng viên thuốc đã uống với số vỏ thuốc
Đáp ứng về mặt lâm
sàng
Phương pháp này dễ thực hiện và ít tốn kém
Trong quá trình đánh giá trên lâm sàng có thể xuất hiện một số yếu tố khác ngoài TTĐT tốt
Đánh giá tuân theo theo phương pháp này chi phí khá cao ngoài ra còn phải lấy mẫu dịch của cơ thể để kiểm tra (máu, huyết thanh) Do vậy, đôi khi sẽ không thực hiện được, hoặc
có thể kết quả bị các yếu tố sinh học khác ảnh hưởng đến và độ đặc hiệu cũng giảm theo thời gian
Trực tiếp quan sát NB
Phương pháp này đánh giá tương đối chính xác TTĐT của NB
Nghiên cứu của chúng tôi đánh giá sự tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ tuýp 2 bằng phương pháp đo lường gián tiếp thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn dựa theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương Giang (30) “Thực trạng và một số yếu tố liên
HUPH
Trang 26quan đến tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của NB đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện 198 năm 2013” trên 210 NB ĐTĐ tuýp 2, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hải (21) “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết bệnh viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015” trên 292 NB ĐTĐ tuýp 2 đã kết luận bộ công cụ chúng tôi sử dụng là đáng tin cậy và hợp lệ để đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 Mặc khác, do địa hình của tỉnh Bến Tre đặc biệt, sông ngòi chằng chịt, giao thông khó khăn nên việc đi lại của đối tượng khó khăn Nên việc lựa chọn phương pháp gián tiếp giúp chúng tôi thu thập được nhiều thông tin từ đối tượng, thuận tiện cho đối tượng tham gia và hạn chế việc mất mẫu nghiên cứu Ngoài ra, phương pháp này cũng được nhiều nghiên cứu chứng minh thông tin thu được có tỉ lệ tin cậy cao
Đánh giá TTĐT bằng phương pháp gián tiếp: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên câu trả lời đối tượng nghiên cứu với việc dùng thuốc và các hành vi liên quan trong khoảng thời gian nhất định, đây là phương pháp dễ thực hiện và tiết kiệm chi phí được gọi là “hệ thống tự ghi nhận” Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp đo lường này là: Đôi khi bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của đối tượng khi tham gia vào nghiên cứu
Bộ công cụ nghiên cứu gồm: 4 phần Phần 1 gồm những câu hỏi về thông tin
chung của NB tham gia vào nghiên cứu Phần 2 gồm những câu hỏi đánh giá kiến thức của NB về tuân thủ điều trị Phần 3: Câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị của NB (chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ) Phần 4 gồm các câu hỏi xác định các yếu tố dịch
vụ từ cơ sở y tế, CBYT liên quan đến tuân thủ điều trị của NB
Phần 1 Thông tin chung
- Năm sinh của NB
- Giới
- Trình độ học vấn cao nhất của ông/bà là gì?
- Công việc chính tạo ra thu nhập cho ông/bà hiện nay?
HUPH
Trang 27- Ông/bà đã mắc bệnh ĐTĐ từ năm nào?
- Ông/bà có được người thân nhắc nhở tuân thủ chế độ dinh dưỡng/chế độ hoạt động thể lực/chế độ dùng thuốc/ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ không?
Phần 2 Kiến thức về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ:
- Theo ông/bà bệnh ĐTĐ có thể chữa khỏi đươc không?
- Để điều trị bệnh ĐTĐ, ông/bà biết những phương pháp điều trị nào?
- Theo ông/bà đối với người bệnh ĐTĐ nên tuân thủ dùng thuốc như thế nào?
- Theo ông/bà người bệnh ĐTĐ nên tập luyện như thế nào?
- Theo ông/bà người bệnh ĐTĐ nên kiểm tra đường huyết bao lâu 1 lân?
- Theo ông/bà người bệnh ĐTĐ nên theo dõi sức khỏe định kỳ bao lâu 1 lân?
- Theo ông/bà mục đích của kiểm tra đường máu và khám sức khỏe định kỳ là gì?
- Theo ông/bà để kiểm soát đường huyết tốt thì người bệnh ĐTĐ nên áp dụng những biện pháp tuân thủ nào?
- Ông/bà cho biết nếu không tuân thủ chế độ điều trị tốt thì ĐTĐ gây ra những biến chứng gì?
Phần 3 Thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường Mức độ tiêu thụ thực phẩm của ông/bà trong vòng 1 tháng qua
- Ăn các nội tạng (lòng, gan, đồ hộp)
- Số ngày trung bình có ăn trái cây
- Số ngày trong tuần có ăn rau
- Số xuất rau ăn trung bình trong 1 ngày
- Số xuất trái cây ăn trung bình trong 1 ngày
Mức độ tập luyện của ông/bà trong một tháng qua
HUPH
Trang 28- Các hoạt động công việc nhà (nội trợ, làm vườn)
- Khác (dưỡng sinh, yoga)
- Không tập
Tuân thủ dùng thuốc
- Ông/bà đã dùng thuốc điều trị ĐTĐ bao lâu rồi?
- Hiện tại ông/bà điều trị bệnh ĐTĐ bằng thuốc gì?
- Hiện tại ông/bà uống thuốc mấy lần trong ngày?
- Hiện tại ông/bà tiêm thuốc Insullin mấy lần trong ngày?
- Trong 1 tháng vừa qua ông/bà đã tuân thủ dùng thuốc ĐTĐ như thế nào?
- Ông/bà quên dùng thuốc gì?
- Số lần ông/bà quên uống thuốc viên trong 1 tháng trở lại đây
- Lý do chính làm cho ông/bà quên uống thuốc?
- Ông/bà đã xử lý quên uống thuốc như thế nào?
- Số lần ông/bà quên tiêm thuốc trong 1 tháng trở lại đây
- Lý do chính làm cho ông/bà quên tiêm thuốc?
- Ông/bà đã xử lý, quên tiêm thuốc như thế nào?
- Nếu bỏ thuốc Ông/bà bỏ thuốc loại gì?
- Lý do chính mà ông/bà bỏ uống thuốc?
- Lý do chính ông/bà bỏ tiêm Insullin?
Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ
- Trong 1 tháng vừa qua ông/bà có thử đường huyết tại nhà không?
- Mức độ tuân thủ của ông bà như thế nào?
- Ông/bà thử đường máu tại nhà bao lâu /1 lần?
- Lý do tại sao ông/bà thử đường huyết không đều?
HUPH
Trang 29- Ông/bà thường thử đường huyêt vào những thời điểm nào?
- Lý do tại sao ông/bà không thử đường huyết tại nhà?
- Bao lâu ông/bà đi khám định kỳ 1 lần?
- Lý do tại sao ông/bà không đi khám định kỳ?
Phần 4 Yếu tố dịch vụ từ cơ sở y tế và từ cán bộ y tế
- Khoảng cách từ nhà ông/bà tới Phòng khám này là bao nhiêu?
- Theo ông/bà thời gian ông/bà được CBYT giải thích và tư vấn trong 1 lần khám là: Quá ngắn? Ngắn? Vừa? Dài?
- Ông/bà có được CBYT giải thích rõ ràng về chế độ tuân thủ điều trị ĐTĐ và những nguy cơ không?
1.4 Sự tuân thủ điều trị ĐTĐ của người bệnh theo 4 tiêu chuẩn của WHO
Chế độ dinh dưỡng (2):
CĐDD cần phải linh hoạt theo thói quen của NB, lựa chọn thực phẩm sẵn có của từng địa phương, theo mùa và phù hợp với điều kiện kinh tế của NG Tốt nhất nên hỏi ý kiến bác sỹ dinh dưỡng Tuy nhiên, CĐDD cụ thể đối với từng NB sẽ được thiết lập tùy theo tình trạng bệnh lý, mức độ hoạt động, bệnh mạn lý đi kèm hoặc biến chứng theo nguyên tắc chung: NB có chỉ số BMI ≥ 23 cần giảm ít nhất 3-7% cân nặng so với trọng lượng nền Nên sử dụng các loại carbohydrate hấp thu chậm chứa nhiều chất xơ, không xây xát kỹ như: Gạo lứt, nui, bánh mì đen; Protein: Đảm bảo cung cấp 1-1,5 gam/kg thể trọng/ngày ở NB chức năng thận không bị suy giảm Khuyến khích NB ăn cá tối thiểu 3 lần/tuần NB ăn chay trong thời gian kéo dài cần bổ sung Protein có nguồn gốc thực vật như: Đậu đen, đậu phụ, đậu đỏ; Ưu tiên sử dụng các chất béo chứa nhiều axit béo không no có một hoặc axit béo có nhiều nối đôi như: Dầu lạc, dầu mè, ô liu và mỡ cá Lưu ý: NB tránh ăn chất béo chuyển hóa (trans fat), đây là chất béo này phát sinh khi ăn các món rán, chiên (31); Đảm bảo chất xơ tối thiểu 15 gam/ngày; Yếu tố vi lượng: Cần chú ý bổ sung trong trường hợp có nguy cơ thiếu hụt Như: NB ăn chay cần bổ sung sắt, bổ sung vitamin B12 trong trường hợp NB sử dụng Metformin trong thời gian dài (có thể dẫn đên thiếu hụt vitamin B12: NB sẽ có dấu hiệu thiếu máu hoặc dấu hiệu của bệnh thần
HUPH
Trang 30kinh ngoại vi) Hạn chế lượng muối trong bữa ăn, lượng natri trong ngày khoảng
2300 mg, rượu bia, thuốc là, chất ngọt như Aspartame, đường ngô, Saccharin, … có nhiều bằng chứng cho điều ngược lại Vì vậy nếu NB sử dụng nên hạn chế ở mức thấp nhất có thể
Theo nghiên cứu của tác giả Fernanda S Marinho (32) tiến hành nghiên cứu
“Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của TTĐT ở NB ĐTĐ tuýp 2” Nghiên cứu khảo sát 476 NB ĐTĐ tuýp 2 tại Rio De Janeiro cho thấy tỷ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng 29,2%
Tác giả Nguyễn Thị Hải (21) đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh năm 2015” Đây là nghiên cứu
mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng trên 286 NB ĐTĐ tuyp 2 đang điều trị tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh Kết quả của nghiên cứu: 97,3%
NB tuân thủ CĐDD Theo tác giả Phạm Thanh Hương (33) “Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 theo dõi tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai năm 2018 và một số yếu tố liên quan” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 Kết quả tuân thủ chế độ dinh dưỡng chiếm 94,3%
Chế độ hoạt động thể lực (2):
Hoạt động thể lực là một trong những vấn đề rất cần thiết để giúp tăng cường sức đề kháng chống lại bệnh tật, nhưng việc vận động cần được kiểm soát và tuân thủ theo chế độ bệnh lý Vì vậy, để đảm bảo chế độ hoạt động thể lực không ảnh hưởng đến tình trạng bệnh lý thì cần theo dõi NB có xuất hiện biến chứng như: Tim mạch, mắt, thần kinh, tổn thương chi trước khi vận động và đo huyết áp, nhịp tim Khi đường huyết trên 250-270 mg/dL và ceton (+) Mặc khác, có nhiều hình thức tập thể dục phổ biến và dễ áp dụng nhất là: Đi bộ với tổng thời gian 150 phút/tuần (30 phút/ngày), không ngừng tập trong 2 ngày liên tiếp NB nên tập sức đề kháng 2-
3 lần/tuần như: Kéo dây hoặc nâng tạ Đối với người cao tuổi bị đau nhức xương khớp có thể hướng dẫn NB chia nhỏ thời gian tập thành nhiều lần trong ngày Như:
Đi bộ 10-15 phút/lần sau 3 bữa ăn NB trẻ nên tập thể dục khoảng 60 phút/ngày và
HUPH
Trang 31tập sức đề kháng ít nhất 3 lần/tuần
Tác giả Fernanda S Marinho (32) tiến hành nghiên cứu “Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của TTĐT ở NB ĐTĐ tuýp 2” Nghiên cứu khảo sát 476 NB ĐTĐ tuýp 2 tại Rio De Janeiro cho thấy tỷ lệ tuân thủ hoạt động thể lực là 22,5% Nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh (34) “Thực trạng tuân thủ điều trị của Nb ĐTĐ điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Thiệu Hóa” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 NB ĐTĐ cho kết quả: 46% NB tuân thủ chế độ hoạt động thể lực Theo tác giả Phạm Thanh Hương (33) “Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 theo dõi tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai năm 2018 và một số yếu tố liên quan” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 Kết quả tuân thủ của NB: 69,5% tuân thủ chế độ luyện tập
Chế độ dùng thuốc:
Tuân thủ dùng thuốc là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong điều trị bệnh, việc tuân thủ phải đảm bảo: Uống thuốc phải đều đặn liên tục suốt đời, đúng loại thuốc, đúng liều và đúng giờ; Nhóm thuốc uống hạ đường huyết và thuốc tiêm không Insulin (Theo Phụ lục 03 Quyết định chẩn đoán và điều trị ĐTĐ của Bộ Y tế) (2) Trong đó, Insulin là một trong những thuốc quan trọng giúp kiểm soát đường huyết cho NB ĐTĐ tuýp 1 và cả ĐTĐ tuýp 2 khi có các dấu hiệu thiếu hụt Insulin hoặc không kiểm soát được đường huyết mặc dù đã ăn uống, tập luyện và kết hợp nhiều viên uống theo hướng dẫn Ngoài ra, khi mới phát hiện bệnh ĐTĐ tuýp 2, nếu đường huyết tăng rất cao thì cũng có thể dùng Insulin để ổn định đường huyết, tiếp theo sẽ dùng kết hợp các loại thuốc điều trị tăng đường huyết khác (2)
Theo WHO khuyến cáo: Người mắc bệnh mạn tính gọi là tuân thủ dùng thuốc khi hoàn thành ≥ 90% phác đồ trong 1 tháng Vì vậy, NB ĐTĐ được xem là không TTĐT nếu NB quên dùng thuốc trên 3 lần trong tháng (đối với thuốc uống và thuốc tiêm) Tác giả Fernanda S Marinho (32) tiến hành nghiên cứu “Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của TTĐT ở NB ĐTĐ tuýp 2” Nghiên cứu khảo sát 476 NB ĐTĐ tuýp 2 tại Rio De Janeiro cho thấy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc là 93,5% Tác giả Leopold Ndemnge Aminde (35) tiến hành nghiên cứu “Tuân thủ thuốc trị đái tháo
HUPH
Trang 32đường và các yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ thuốc ở NB ĐTĐ tuýp 2 tại hai bệnh viện khu vực ở Cameroon” trên 195 NB ĐTĐ tuyp 2 tại Tây Bắc và Tây Nam của Cameroon Kết quả cho thấy 54.4% người bệnh tuân thủ các thuốc điều trị
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Anh (34) “Thực trạng tuân thủ điều trị của Nb ĐTĐ điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Thiệu Hóa” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 NB ĐTĐ cho kết quả: Thực hành dùng thuốc đúng: 95,6% NB tiêm đúng loại thuốc, 86,9% NB lấy đúng thuốc, tỷ lệ vô trùng đúng cách chiếm 30,4%
và 8,7% NB luân chuyển vị trí tiêm
Chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà và khám định kỳ:
Đái tháo đường là bệnh lý mạn tính cần điều trị suốt đời Do đó, việc kiểm soát tố đường huyết tại nhà và tái khám định kỳ rất quan trọng hạn chế những tai biến xảy ra tại nhà khi đường huyết tăng đột ngột Vì vậy, đối với những NB đang
sử dụng thuốc có tác dụng hạ đường huyết, cần xét nghiệm đường huyết ≥ 2 lần/tuần Những NB sử dụng kết hợp cả thuốc viêm và Insulin nên kiểm tra đường huyết ≥ 1 lần/ngày NB chỉ được xem là tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ khi đo đường huyết ≥ 2 lần/tuần và khám sức khỏe định kỳ 1 lần/tháng
Tác giả Fernanda S Marinho (32) tiến hành nghiên cứu “Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan của TTĐT ở NB ĐTĐ tuýp 2” Nghiên cứu khảo sát 476 NB ĐTĐ tuýp 2 tại Rio De Janeiro cho thấy tỷ lệ tuân thủ kiểm soát đường huyết 56,1%
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thanh Hương (33) “Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 theo dõi tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai năm 2018
và một số yếu tố liên quan” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 Kết quả tuân thủ của NB: 73,5% tuân thủ KSĐH và 96,8% thực hiện khám định kỳ
1 5 Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ tuýp 2
HUPH
Trang 33Hoạt động thể lực: Theo tác giả Fernanda S Marinho (32) đã đưa ra các yếu
tố liên quan đến TTĐT cho thấy người bệnh bệnh lý thần kinh ngoại biên và đau
/hạn chế khớp có tuân thủ tập thể dục kém hơn
Tác giả Nguyễn Thị Hải (21) phỏng vấn 292 NB ĐTĐ tuyp 2 tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh cho thấy nhóm NB ≥ 60 tuổi không tuân thủ chế độ hoạt động thể lực cao so với nhóm NB < 60 tuổi (p < 0,05); NB không đươc người thân nhắc nhở có sự tuân thủ kém hơn NB đươc người thân nhắc nhở (p < 0,05); NB được cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động thể lực có tỉ lệ tuân thủ cao hơn so với
NB không đươc giải thích (p < 0,05) Kết quả này cũng tương đồng với các tác giả sau: Nguyễn Thị Xuân Ái (13) trên 303 NB ĐTĐ cho thấy NB ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ đúng thì tuân thủ HĐTL cao hơn so với NB ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ chưa đúng (p<0,05) Phạm Thanh Hương (33) trên 370
NB ĐTĐ tuyp 2 cho thấy nhóm NB 60 - 70 tuổi tuân thủ tốt chế độ luyện tập cao
hơn so với các nhóm khác
Chế độ dinh dưỡng: Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Ái (13) trên 303 NB
ĐTĐ cho kết quả cho thấy nam giới tuân thủ tốt hơn nữ giới và NB >60 tuổi tuân thủ CĐ DD cao hơn NB dưới 60 tuổi Bên cạnh đó, NB mắc bệnh ≥5 năm tuân thủ chế độ DD cao hơn NB có thời gian mắc bệnh < 5 năm Kết quả này không tương đồng với tác giả Phạm Thanh Hương (33) trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 cho thấy, nam giới tuân thủ chế độ ăn không tốt bằng nữ giới (p<0,05), NB có khoảng cách nhà càng xa nơi khám thì tuân thủ chế độ ăn càng tốt, nhóm NB bị bệnh > 10 năm tuân thủ chế độ ăn tốt hơn nhóm 5 - 10 năm, nhóm đã bị bệnh 5 - 10 năm tuân thủ chế độ
ăn tốt hơn nhóm <5 năm
Chế độ dùng thuốc: Leopold Ndemnge Aminde (35) tiến hành nghiên cứu
trên 195 NB ĐTĐ tuyp 2 tại Tây Bắc và Tây Nam của Cameroon Kết quả phân tích
đa biến cho thấy: NB trên 60 tuổi có tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc cao hơn NB dưới 60 tuổi Tác giả Joan Kalyango và cộng sự (27) đã tiến hành nghiên cứu trên 402 NB ĐTĐ tuýp 1 và 2 tại Bệnh viện Mulago, Uganda cho thấy nữ tuân thủ điều trị cao hơn nam (OR = 2,9, 95% CI = 1,4 - 6,3) và NB có kiến thức đúng tuân thủ tốt hơn
HUPH
Trang 34người bệnh chưa có kiến thức đúng (OR = 4,0, 95% CI = 1,0 - 16,3) Kết quả này cũng tương đồng với tác giả Fernanda S Marinho (32) đã đưa ra các yếu tố liên quan đến TTĐT cho thấy NB tuổi càng trẻ và thời gian mắc bệnh ĐTĐ dài hơn thì tuân thủ dùng thuốc tốt hơn
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Ái (13) trên 303 NB ĐTĐ cho thấy, giới nam có tỉ lệ tuân thủ tốt hơn giới nữ và người bệnh ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ đúng thì tuân thủ dùng thuốc cao so với người bệnh ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ chưa đúng (p<0,05) NB ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ đúng thì tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ gấp cao so với người bệnh ĐTĐ có kiến thức tuân thủ điều trị ĐTĐ chưa đúng (p<0,05) Theo tác giả Phạm Thanh Hương (33) trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 cho thấy nhóm NB sống gần nơi khám (<5km) có tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc không tốt bằng những NB sống ở xa nơi khám Tác giả Nguyễn Thị Hải (21) phỏng vấn 292 NB ĐTĐ tuyp 2 tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh cho thấy NB có người thân nhắc nhở có tỉ lệ tuân thủ cao hơn người không được nhắc nhở (p < 0,05)
Tái khám định kỳ: Phạm Thanh Hương (33) trên 370 NB ĐTĐ tuyp 2 cho
thấy nhóm NB có học vấn >PTTH tuân thủ khám định kỳ tốt hơn nhóm NB có học vấn <PTTH, NB sống xa nơi khám (5 - 10km và >10km) tuân thủ tốt hơn nhóm sống gần nơi khám <5km Tác giả Nguyễn Thị Hải (21) phỏng vấn 292 NB ĐTĐ tuyp 2 tại bệnh viện Bãi Cháy tỉnh Quảng Ninh cho thấy NB có thời gian mắc bệnh
< 5 năm không tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ cao hơn so với NB
đã mắc bệnh ≥ 5 năm (p < 0,05); NB có kiến thức về tuân thủ điều trị ĐTĐ không đạt không tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ cao hơn so với NB có kiến thức đạt (p < 0,05)
Tổng hợp kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy có nhiều yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ tuýp 2: Tuổi, giới, kiến thức của đối tượng nghiên cứu, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, biến chứng của bệnh, hoàn cảnh gia đình (sống cùng người thân/sống một mình), khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế,
HUPH
Trang 35được người thân nhắc nhở tuân thủ chế độ điều trị, được CBYT giải thích rõ về tuân thủ chế độ điều trị và những nguy cơ
1.6 Công tác quản lý và điều trị NB ĐTĐ tuýp 2 tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri
Theo kết quả thống kê ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre hiện có khoảng 1350 NB ĐTĐ Trong đó Trung tâm Y tế Ba Tri quản lý và điều trị 1132 người, đa số là NB ĐTĐ tuýp 2, với 100% NB có thẻ BHYT (7, 36) Hàng tháng NB đến khám thông qua sổ khám bệnh, hồ sơ bệnh án ngoại trú kiểm tra và theo dõi kết quả điều trị Trung tâm Y tế (TTYT) hiện đã thực hiện kết nối CNTT tương đối đầy đủ phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh, khám chữa bệnh cũng như khám sức khỏe định
kỳ Ghi nhận một số khó khăn cơ bản của TTYT là: Nhân sự còn thiếu so với nhu cầu, do cán bộ nghỉ hưu theo chế độ, chưa được tuyển dụng bổ sung kịp thời
Số lượng NB đến khám tại Trung tâm khoảng từ 100 – 120 NB/ngày và điều trị chủ yếu vào buổi sáng nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám bệnh Phòng khám bệnh ĐTĐ có 2 nhân sự (1 bác sỹ + 1 điều dưỡng) phụ trách nên quá trình tư vấn cho NB còn chưa đầy đủ Mặt khác tại TTYT còn có 1 Phòng truyền thông và 1 phòng tư vấn dinh dưỡng cho NB Tuy nhiên theo nhận thấy chất lượng hoạt động của 2 phòng này hoạt động chưa hiệu quả Quá trình nhân viên y tế tư vấn và hướng dẫn cho NB đôi khi tốn nhiều thời gian để chờ tới lượt khám bệnh Tất cả những vấn đề trên ảnh hưởng rất lớn đến việc TTĐT của NB ĐTĐ tại phòng khám TTYT
Ba Tri Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này mục đích để tìm hiểu sự TTĐT của NB và xác định một số yếu tố liên quan ở NB ĐTĐ tuýp 2 đang tham gia điều trị tại TTYT huyện Ba Tri (đặc biệt là công tác dịch vụ chăm sóc khách hàng) Từ những thông tin trên sẽ giúp cho nhà quản lý TTYT đưa ra những kế hoạch và giải pháp đúng, kịp thời để đáp ứng và nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh, làm tăng cường mức độ hài lòng và TTĐT của NB
HUPH
Trang 36- Người thân nhắc nhở tuân thủ chế
độ điều trị: Chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng thuốc, kiểm soát đường huyết và tái khám định
kỳ
CÁN BỘ Y TẾ
- Thời gian CBYT tư vấn cho NB
- CBYT giải thích rõ về chế độ tuân thủ điều trị ĐTĐ và những nguy cơ
YẾU TỐ CÁ NHÂN
* Đặc điểm ĐTNC:
- Tuổi - Giới tính - Nghề nghiệp
- Học vấn - Hoàn cảnh sống
- Kiến thức về tuân thủ điều trị bệnh
* Tiền sử mắc bệnh: Thời gian mắc
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- NB đái tháo đường tuýp 2 được quản lý điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ 18/02/2021 đến 30/05/2021
- Địa điểm: Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu
- Áp dụng công thức tính:
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
p: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ tuýp 2 tham khảo được từ nghiên cứu tương tự là 0,2% (tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (37) tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2015 có 20% NB ĐTĐ tuýp 2 tuân thủ điều trị)
d: Là độ chính xác mong muốn (d=0,07)
α: Khoảng tin cậy với α=0,05
Z1-α/2: Giá trị thu được bằng cách tra bảng Z, có α = 0,05 và Z = 1,96
Áp dụng công thức, tính được n =126 NB Nghiên cứu dự kiến có khoảng 10%
NB không đồng ý tham gia, vậy mẫu trong nghiên cứu là n=139
2.5 Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
- Tại TTYT huyện Ba Tri, NB ĐTĐ đến khám theo lịch hẹn mỗi tháng một lần vào các ngày trong tuần (từ thứ hai đến thứ 6) Với 1.132 NB ĐTĐ đang được điều trị ngoại trú tại trung tâm, chúng tối tiến hành lấy mẫu bất đầu từ 18/02/2021 đến 30/05/2021 Chúng tôi phỏng vấn tất cả những NB ĐTĐ tuýp 2 được quản lý trên
HUPH
Trang 38phần mềm khám chữa bệnh đến tái khám theo lịch đã hẹn thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu Đến hết tháng 5/2021 chúng tôi phỏng vấn được 181 NB ĐTĐ tuýp 2
- Cỡ mẫu được ước tính là n=139 nhưng trong quá trình thu thập thông tin một
số đối tượng nghiên cứu muốn biết về sự tuân thủ điều trị của bản thân và họ cảm nhận đây là một việc làm có ý nghĩa giúp cho các nhà quản lý đưa ra mô hình quản
lý người bệnh đái tháo đường tuân thủ điều trị tốt hơn Điều đó hạn chế tai biến và
tử vong do bệnh cũng như nâng cao chất lượng sống của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 Nên đối tượng tự nguyện tham gia đánh giá, vì vậy cỡ mẫu đã thực hiện được của nghiên cứu là 181
2.5.1.Tiêu chuẩn lựa chọn
- NB được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 theo tiêu chẩn chẩn đoán, phân loại của Bộ Y tế có thời gian điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tối thiểu từ 3 tháng trở lên (được tính từ lần khám xác định mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2)
- NB ĐTĐ tuýp 2 từ 18 tuổi trở lên
- NB ĐTĐ tuýp 2 có khả năng giao tiếp, đọc, viết được,
- NB ĐTĐ tuýp 2 đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
2.5.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- NB ĐTĐ tuýp 2 sa sút trí tuệ, tâm thần, … không có khả năng trả lời câu hỏi phỏng vấn
- NB ĐTĐ tuýp 2 bị bệnh nặng, đang cấp cứu: Tổn thương thận, tổn thương thần kinh, hôn mê…
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu dựa theo nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang (30) (2013) tại bệnh viện 198, trường Đại học YTCC Hà Nội và bổ sung thêm một số câu hỏi của nghiên cứu STEP (nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh không truyền nhiễm) phục vụ cho nghiên cứu: Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu gồm các mục sau: (1) Thông tin chung; (2) Thông tin
HUPH
Trang 39về thực hành tuân thủ điều trị ĐTĐ; (3) Thông tin về các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ĐTĐ (Phụ lục 3)
2.6.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ và đánh giá tuân thủ của người bệnh ĐTĐ tuýp 2:
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của Trung tâm Y tế huyện Ba Tri áp dụng
theo tiêu chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới năm 2011 là chẩn đoán xác định người bệnh mắc ĐTĐ nếu có 1 trong 3 tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (2)
+ Mức glucose huyết tương lúc đói 7,0mmol/l ( l26mg/dl) Hoặc:
+ Mức glucose huyết tương 11,1 mmol/1 (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau + Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống Hoặc:
+ HbA1c 6,5% (48 mmol/mol theo Liên đoàn Sinh hóa Lâm sàng Quốc tế) Hoặc:
Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ 11,1 mmol/l (200mg/dl)
- Đánh giá tuân thủ của NB ĐTĐ tuýp 2: Đối tượng nghiên cứu của chúng
tôi là những NB đã được chẩn đoán là ĐTĐ tuýp 2 và khám lần thứ 3 trở lên nên
NB đã được tư vấn, cung cấp kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị Tuân thủ
NB ĐTĐ được đánh giá qua bộ câu hỏi tự điền gồm 2 phần:
(1) Kiến thức tuân thủ ĐTĐ gồm 10 câu hỏi Tổng điểm là 40 điểm Được gọi
là đạt khi có câu trả lời đúng ≥24 điểm, ngược lại là không đạt (Phụ lục 5)
(2) Thực hành tuân thủ điều trị ĐTĐ gồm 05 phần: (1) Tuân thủ dinh dưỡng gồm 15 câu hỏi; (2) Tuân thủ hoạt động thể lực gồm 2 câu hỏi; (3) Tuân thủ dùng thuốc gồm 15 câu hỏi; (4)Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ gồm 8 câu hỏi Tổng câu hỏi thực hành là 40 câu, số điểm thực hành được tính cụ thể như sau (Phụ lục 5)
+ Tuân thủ dinh dưỡng: Tổng 24 điểm
Tuân thủ khi 15 điểm
Không tuân thủ < 15 điểm
HUPH
Trang 40+ Tuân thủ dùng thuốc: là phải dùng đúng giờ, đúng khoảng cách, đều đặn
suốt đời, số lần quên thuốc ≤ 3 lần/tháng
Tổng điểm: 3 điểm
Tuân thủ khi ≥ 2 điếm
Không tuân thủ < 2 điếm
+ Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ:
Tổng điểm: 6 điểm
Tuân thủ khi ≥ 4 điểm
Không tuân thủ < 4 điểm
2.6.3 Thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp người bệnh ĐTĐ tuýp 2: Sau khi NB hoàn thành các thủ tục khám bệnh, lãnh thuốc, NB được mời tham gia phỏng vấn tại một phòng riêng được bố trí ở gần Phòng khám Thời điểm thu thập số liệu nghiên cứu từ 18/02/2021 đến 30/05/2021
- Điều tra viên (ĐTV) là nghiên cứu viên chính và 02 Điều dưỡng trung học (là những người đã được tập huấn về thu thập số liệu) hiện đang công tác tại Trung tâm Y tế huyện Ba Tri thực hiện phỏng vấn Điều tra viên được phân công luân phiên mỗi ngày 01 người đến Phòng khám để tiến hành phỏng vấn Thời gian phỏng vấn bắt đầu 8h sáng hàng ngày theo danh sách lịch hẹn của đối tượng đến khi nào
đủ số lượng 15-20 người thì tiến hành phát bộ câu hỏi nghiên cứu cho đói tượng Trước khi tiến hành thu thập số liệu các ĐTV đã được tập huấn về bộ công cụ, cách thu thập số liệu Để kiểm soát sai lệch các ĐTV phải được đánh giá cách thu thập số liệu trên 3 lần và kết quả 3 lần cho thấy đều tương đồng nhau thì mới được tiến hành lấy mẫu
HUPH