1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014

133 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ Trong 6 Tháng Đầu Của Bà Mẹ Có Con Dưới 24 Tháng Tuổi Tại Xã Ngọc Hồi, Huyện Thanh Trì, Hà Nội Năm 2014
Tác giả Nguyễn Việt Dũng
Người hướng dẫn GS.TS. Lê Thị Hợp, TS. Huỳnh Nam Phương
Trường học Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT A&T Alive and Thrive CBYT Cán bộ Y tế CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản CTV Cộng tác viên ĐTNC Đối tượng nghiên cứu ĐTV Điều tra viên GSV Giám sát vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VIỆT DŨNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 24 THÁNG TUỔI TẠI XÃ NGỌC HỒI, HUYỆN THANH TRÌ, HÀ NỘI

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2014 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VIỆT DŨNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 24 THÁNG TUỔI TẠI XÃ NGỌC HỒI, HUYỆN THANH TRÌ, HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Y tế công cộng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ các thầy cô trong và ngoài trường Đại học Y tế công cộng, địa phương triển khai nghiên cứu, cơ quan công tác, gia đình và bạn bè

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Lê Thị Hợp, TS Huỳnh Nam Phương, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học và các thầy cô giáo các bộ môn của trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành mục tiêu học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Y tế huyện Thanh Trì, UBND xã, Trạm

Y tế xã, Hội Phụ nữ xã Ngọc Hồi đã cộng tác và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Viện Dinh dưỡng, Khoa Giám sát

và Chính sách Dinh dưỡng, các khoa phòng liên quan của Viện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi rất xúc động và vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

đã quan tâm động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 18 tháng 03 năm 2015

NGUYỄN VIỆT DŨNG

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương về nuôi con bằng sữa me ̣ 4

1.1.1 Một số khái niê ̣m về nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ 4

1.1.3 Tầm quan trọng của sữa me ̣ và lợi ích của viê ̣c NCBSMHT trong 6 tháng đầu 7

1.2 Thực tra ̣ng NCBSMHT trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan 11

1.2.1 Tình hình NCBSM trên thế giới 11

1.2.2 Tình hình NCBSM tại Việt Nam 12

1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM trong 6 tháng đầu 15

1.3 Giớ i thiê ̣u về đi ̣a bàn nghiên cứu 22

1.4 Khung lý thuyết 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thờ i gian và đi ̣a điểm nghiên cứu 25

2.3 Thiết kế nghiên cứ u 25

2.4 Cỡ mẫu 25

2.5 Phương pháp cho ̣n mẫu 26

2.6 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u 27

2.7 Biến số nghiên cứ u 28

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 30

2.9 Phân tích số liê ̣u 31

2.10 Đạo đức nghiên cứu 31

HUPH

Trang 5

2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biê ̣n pháp khắc phu ̣c 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Mô tả kiến thức, thực hành của bà me ̣ về NCBSM 36

3.3 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM 54

3.3.1 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và một số yếu tố khác đến thực hành NCBSM 54

3.3.2 Ảnh hưởng của việc tiếp cận thông tin đến thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 60

3.3.3 Xác định mối liên quan hiệu chỉnh của một số yếu tố với thực hành NCBSM của ĐTNC qua phân tích mô hình Hồi quy Logistics đa biến 62

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 64

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 64

4.2 Kiến thứ c và thực hành về NCBSM của ĐTNC 66

4.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM 77

4.4 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 79

KẾT LUẬN 82

KHUYẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 93

Phụ lục 1 Bô ̣ câu hỏi phỏng vấn 93

Phụ lục 2 Hướng dẫn phỏng vấn sâu/ thảo luâ ̣n nhóm có tro ̣ng tâm 105

Phụ lục 3 Thang điểm đánh giá kiến thức NCBSM 112

Phụ lục 4 Bảng các biến số nghiên cứu 115

Phụ lục 5 Biên bản giải trình chỉnh sửa sau bảo vệ luận văn 122

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A&T Alive and Thrive

CBYT Cán bộ Y tế

CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

CTV Cộng tác viên

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ĐTV Điều tra viên

GSV Giám sát viên

NC Nghiên cứu

NCV Nghiên cứu viên

NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMHT Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

TLNCTT Thảo luận nhóm có trọng tâm

TTYT Trung tâm Y tế

TYT Trạm Y tế

USAID United States Agency for International Development - Cơ quan phát

triển Quốc tế Hoa Kỳ UNICEF The United Nations Children’s Fund - Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh nhu cầu năng lượng của trẻ và mức đáp ứng của sữa mẹ 7

Bảng 3.1: Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (1) 34 Bảng 3.2: Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (2) 34 Bảng 3.3: Thông tin về thứ tự trẻ, tuổi và giới tính của trẻ nghiên cứu 35 Bảng 3.4: Kiến thức của bà mẹ về cho trẻ bú sớm sau sinh 36 Bảng 3.5: Phân bố kiến thức của bà mẹ về thời điểm cho trẻ bú sớm sau sinh

Bảng 3.6: Kiến thức của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 38 Bảng 3.7: Phân bố kiến thức của bà mẹ về định nghĩa NCBSMHT trong 6

tháng đầu theo một số yếu tố của các ĐTNC 42 Bảng 3.8: Phân bố kiến thức chung về NCBSM theo một số yếu tố của các

Bảng 3.13: Thời gian bà mẹ bắt đầu cho con ăn thức ăn ngoài sữa mẹ 50 Bảng 3.14: Lý do các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn ngoài sữa mẹ trước 6 tháng 51 Bảng 3.15: Thực hành nuôi dưỡng trẻ khi mẹ đi làm trở lại 53 Bảng 3.16: Phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố với thực hành cho trẻ

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa một số đặc tính của bà mẹ và trẻ với thực

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành NCBSMHT

HUPH

Trang 8

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa thái độ người xung quanh và thực hành

NCBSMHT trong 6 tháng đầu

57

Bảng 3.20: Mối liên quan giữa một số yếu tố của chính sách nghỉ thai sản và

điều kiện làm việc với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 58 Bảng 3.21: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin về NCBSM và thực

Bảng 3.22: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin quảng cáo sữa, thông

tin NCBSMHT với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 61 Bảng 3.23: Một số mối liên quan hiệu chỉnh với thực hành cho trẻ bú sớm sau

sinh qua phân tích mô hình hồi quy Logistics đa biến 62 Bảng 3.24: Một số mối liên quan hiệu chỉnh với thực hành NCBSMHT trong

6 tháng đầu qua phân tích mô hình hồi quy Logistics đa biến 63

HUPH

Trang 9

Biểu đồ 3.5: Mô tả kiến thức chung của bà mẹ về NCBSM 44 Biểu đồ 3.6: Mô tả tỷ lệ nhận một số lời khuyên khác nhau về NCBSM

Biểu đồ 3.7: Mô tả các nguồn nhận lời khuyên về NCBSM khi mang thai

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) giúp cho trẻ có hệ miễn dịch tốt, sức đề kháng cao và giảm nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ nhỏ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và NCBSM trong những năm tháng tiếp theo là một phương pháp tự nhiên, kinh tế và hiệu quả nhất để bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Kết quả điều tra của Viê ̣n Dinh dưỡng năm 2010 cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ ở Việt Nam khá cao (90%), tỷ lệ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh là 76,2%, nhưng chỉ có 19,6% trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu [25]

Với mục đích điều tra thực trạng cho trẻ bú sớm sau sinh và NCBSMHT

trong 6 tháng đầu, nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi

con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại

xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014” đã được triển khai từ tháng

12/2013 đến tháng 5/2014 Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp định tính và định lượng với số mẫu 359 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi của toàn xã được hỏi bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn; phỏng vấn sâu đươ ̣c tiến hành trên các đối tươ ̣ng CBYT, CTV dinh dưỡng , cán bộ Hội Phụ nữ, mẹ chồ ng, người chồng; thảo luận nhóm có trọng tâm trên 2 nhóm bà mẹ có con 0 - 5 tháng tuổi và từ 6 - 23 tháng tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ ĐTNC có “kiến thức đạt về NCBSM” rất

thấp (15,9%) Khoảng 2/3 (68%) số bà mẹ biết nên cho trẻ bú sớm sau sinh và tỷ lệ các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh cũng tương đương (66,6%) Lý

do chính các bà mẹ cho con bú muộn là thiếu kiến thức về NCBSM và phương pháp sinh (mổ đẻ) Tỷ lệ bà mẹ hiểu đúng về định nghĩa NCBSMHT trong 6 tháng đầu tương đối thấp (46,5%); Tuy có 67,1% các bà mẹ trong nghiên cứu biết trẻ dưới 6 tháng chỉ nên cho bú sữa mẹ hoàn toàn nhưng tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu ở ĐTNC rất thấp, 28% Nguyên nhân cho trẻ ăn thêm ngoài sữa mẹ trước 6 tháng tuổi là không có kiến thức (thông tin NCBSMHT trong 6 tháng đầu): những bà mẹ nhận được thông tin về NCBSMHT trong 6 tháng đầu có thực hành tốt hơn

HUPH

Trang 11

Để cải thiện thực hành cho bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thông về NCBSM cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và cộng đồng Cần tổ chức tuyên truyền và tập huấn cho CBYT xã, CTV dinh dưỡng và cán bộ Hội phụ nữ nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tư vấn về NCBSM, nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ Cần tăng cường thực hiện các quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản trong việc hỗ trợ cho trẻ bú sớm ngay sau sinh tại các bệnh viện

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm giúp cho trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ Lợi ích của việc NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, gia đình và xã hội đã được thừa nhận Sữa mẹ cung cấp cho trẻ những chất dinh dưỡng cần thiết, những kháng thể chống bệnh tật giúp trẻ khoẻ mạnh [18] Cho trẻ bú mẹ có thể làm giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của các bệnh nhiễm trùng và do đó làm giảm nguy cơ tử vong sơ sinh Theo ước tính của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), bú mẹ trong 6 tháng đầu sẽ làm giảm 1,3 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm trên toàn thế giới Tại Việt Nam, NCBSM sẽ góp phần làm giảm 13% ca tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi Cho trẻ bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ làm giảm 22% các

ca tử vong sơ sinh tại Việt Nam [66] Ngoài ra những trẻ được bú mẹ hoàn toàn và được nuôi bằng sữa mẹ khi trưởng thành có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type II, béo phì, tăng huyết áp, mắc các bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu thấp hơn nhóm trẻ được nuôi bằng sữa ngoài [59] Đối với người mẹ, NCBSMHT trong 6 tháng đầu còn có thể hạn chế có thai trở lại sớm [3] Bên cạnh đó, cho bú sớm còn giúp bà mẹ

co hồi tử cung, giảm mất máu sau sinh và NCBSM còn có tác dụng giảm nguy cơ mắc ung thư vú, ung thư buồng trứng sau này [2]

Trên thế giới, tỷ lệ cho con bú sớm ở nhiều khu vực là rất thấp: Đông Âu - Trung Á (17%), châu Á Thái Bình Dương (33%), Mỹ La Tinh - Caribe - Bắc và Đông Phi (50%) [36] Tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 39% tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa các nước và các khu vực [77] Tại các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cũng không cao, Đông Timor là 30,7%, ở Philippines 33,5%, ở Indonesia 39,5%, riêng Campuchia thì tỷ lệ này lại rất cao chiếm 68% [56, 76] Ở Việt Nam, theo kết quả của Viện Dinh dưỡng năm 2010 tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu không cao (19,6%) [25]

Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng thực hành NCBSM bị ảnh hưởng bởi chủng tộc, khu vực sống [35, 68], các nghi lễ văn hóa, tôn giáo, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và áp lực của gia đình đối với việc nuôi dưỡng và phát triển của trẻ

HUPH

Trang 13

nhỏ [31, 39, 57] Bên cạnh đó các yếu tố như chính sách nghỉ đẻ và sự quảng cáo của các hãng sữa dành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi cũng ảnh hưởng đến thực hành NCBSMHT [70]

Tại Việt Nam nhiều chính sách và can thiệp hỗ trợ cho bà mẹ đã được xây dựng và thực hiện nhằm tăng tỷ lệ NCBSM như Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 [7], Chiến lược Quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 - 2010 [6], các quy định về quảng cáo các sản phẩm sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi theo nghị định số 21/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Luật quảng cáo số 16/2012/QH13 của Quốc hội [8, 21] Luật lao động sửa đổi số 10/2012/QH13 cho phép lao động nữ được nghỉ 6 tháng sau khi sinh nhằm khuyến khích và tăng tỷ lệ NCBSMHT [20]

Một thực tế hiện nay ở hầu hết các địa phương trên cả nước là phần lớn các bà mẹ chưa có thực hành đúng về NCBSMHT trong 6 tháng đầu mặc dù các hoạt động truyền thông về dinh dưỡng đặc biệt là NCBSM đã được quan tâm triển khai trong khuôn khổ chương trình phòng chống SDD trẻ em Ngọc Hồi là xã thuộc vùng ven huyê ̣n Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, là nơi tập trung cụm công nghiệp của toàn huyện Cuô ̣c sống người dân chi ̣u sự ảnh hưởng của đô thi ̣ hóa và công nghiê ̣p hóa Các bà mẹ đi làm công nhân nên có sự g iao thoa giữa các yếu tố nông thôn và thành thị, giữa truyền thống , tâ ̣p quán của địa phương và các chính sách xã hội mới đươ ̣c tăng cường Hiện tại chưa có số liệu chính thức về NCBSM và NCBSMHT trong 6 tháng đầu ở Ngọc Hồi Theo đánh giá chủ quan của cán bộ y tế (CBYT) xã thì đa số các bà mẹ thường cho trẻ ăn bổ sung sớm từ tháng thứ 3-4, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu theo đúng định nghĩa thấp Để tìm hiểu rõ hơn và có

được bức tranh tổng thể về thực tra ̣ng NCBSM tại đây, nghiên cứu “Thực trạng và

một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ

có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014”

đươ ̣c triển khai , nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp và tăng cường hiê ̣u quả NCBSM, đặc biê ̣t là bú me ̣ hoàn toàn trong 6 tháng đầu góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng cho trẻ bú sớm sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014

2 Xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014

HUPH

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ

Sữa mẹ là thức ăn lý tưởng nhất dành cho trẻ nhỏ Sữa mẹ không chỉ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo mà còn giúp trẻ dễ tiêu hóa, hấp thu Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại lợi ích thiết thực cho cả mẹ và bé Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng nên cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi sinh và cho trẻ bú

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung từ 6 tháng tuổi kết hợp với bú

mẹ đến 24 tháng tuổi [41, 70, 72] Một số khái niệm về bú sớm sau sinh và NCBSM được WHO, UNICEF và một số tổ chức quốc tế về sức khỏe bà mẹ trẻ em định nghĩa như sau:

Bú sớm: là cho trẻ bú ngay trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi sinh [72] Nuôi con bằng sữa mẹ: là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ

hoặc uống sữa từ vú mẹ vắt ra [76]

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu : là đứa trẻ chỉ được bú

sữa mẹ từ mẹ hoặc từ vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra, ngoài ra không ăn bất kỳ loại thức ăn dạng lỏng hay rắn nào khác kể cả nước trong 6 tháng đầu trừ các dạng vitamin, khoáng chất bổ sung hoặc thuốc [76]

Bú mẹ chủ yếu: là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa

mẹ, tuy nhiên trẻ có thể được nhận thêm nước uống đơn thuần hoặc một số thức ăn,

đồ uống dạng lỏng như nước hoa quả, nước đường, ORS hoặc các loại thức ăn lỏng

cổ truyền với số lượng ít [76]

Bú bình: là cho trẻ bú bằng bình sữa, bất kể sữa gì kể cả sữa mẹ vắt ra cho

vào bình [76]

Cai sữa: là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng từ sữa mẹ sang các

thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ bú mẹ [74]

1.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ

Sữa mẹ được coi là một loại vắc-xin có thể phòng tránh tử vong cho trẻ, chi phí thấp, an toàn, có thể uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh [65] Sữa mẹ

HUPH

Trang 16

được bài tiết theo cơ chế phản xạ, khi trẻ bú xung động cảm giác từ vú lên não kích thích cơ thể bà mẹ sản sinh ra hóc môn prolactin và oxytocin Trong đó prolactin sẽ kích thích tuyến sữa tạo sữa, oxytocin có tác dụng giúp sữa được phun ra [72, 76] Dựa vào thời điểm tiết và tính chất mà sữa mẹ được chia làm những loại như sau:

tử nhỏ giúp trẻ dễ hấp thụ [74]

Sữa non đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và bảo vệ trẻ Sữa non chứa nhiều tế bào bạch cầu, kháng thể hơn sữa trưởng thành nên giúp trẻ sơ sinh phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm và cung cấp khả năng miễn dịch đầu tiên cho trẻ để chống nhiều bệnh mà trẻ có thể bị mắc sau đẻ [4, 72] Vitamin A trong sữa non có tác dụng làm giảm độ nặng của các bệnh nhiễm khuẩn Bên cạnh đó, sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ, tăng bài tiết phân xu, phòng các bệnh

dị ứng và cũng có tác dụng thải bilirubin ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da sinh

lý [4, 72]

Sữa non tuy ít nhưng thỏa mãn được nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh do lượng protein cao gấp 2-3 lần sữa trưởng thành [4, 76] Hàm lượng kháng thể và vitamin cao nhất trong sữa non trong vòng 60 phút sau khi sinh sau đó giảm dần Như vậy, trẻ được bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là vô cùng quan trọng Chúng ta không nên cho trẻ bất cứ thức ăn, nước uống nào trước khi trẻ bắt đầu bú sữa non

1.1.2.2 Sữa trưởng thành

Sữa trưởng thành là sữa mẹ sản xuất ra sau đẻ vài ngày Số lượng sữa nhiều hơn làm hai bầu vú bà mẹ căng đầy và cứng, người ta gọi đây là hiện tượng sữa về

HUPH

Trang 17

Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, Glucid, Lipid, Vitamin và khoáng chất đủ cho trẻ phát triển trong 6 tháng đầu Thành phần các chất dinh dưỡng ở một tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp ứng với sự phát triển nhanh của trẻ [72, 76] Sữa mẹ luôn luôn tự nhiên, tinh khiết, sạch sẽ và thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của trẻ Sữa mẹ giúp cho trẻ tránh được bệnh tật, dị ứng, béo phì và các bệnh tật khác [72, 76] Vì vậy, sữa mẹ là thức ăn duy nhất mà trẻ nhỏ cần trong 6 tháng đầu

Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ ít hơn sữa động vật nhưng có đủ

các loại acid amin cần thiết với tỷ lệ cân đối và dễ hấp thu Protein của sữa mẹ gồm nhiều casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác Đặc biệt casein là một chất đạm quan trọng có kết cầu mềm, dễ hấp thu hơn so với động vật và có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng Hàm lượng Protein trong sữa mẹ khoảng 1,2g/100ml [68, 72]

Lipid: cấu trúc của lipid trong sữa mẹ có nhiều acid béo chuỗi dài không no

dễ hấp thu và nhiều acid béo cần thiết như acid linoleic đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển hệ thần kinh, mắt và sự bền vững của mạch máu ở trẻ nhỏ Hàm lượng lipid trong sữa mẹ vào khoảng 5,5g/100ml, lipid cung cấp khoảng một nửa lượng Calo cho trẻ bú mẹ [72]

Glucid: trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose với hàm lượng khoảng

7g/100ml Một số lactose trong sữa mẹ vào ruột chuyển thành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng [72]

Vitamin: Sữa mẹ có nhiều vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa mẹ

sẽ đề phòng được bệnh khô mắt Các vitamin khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ, ngoại trừ vitamin D là loại vitamin cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời [72]

Muối khoáng: Nguồn Ca, Fe và Zn trong sữa mẹ tuy ít hơn trong sữa công

thức nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thu do vậy vẫn đáp ứng được nhu cầu của trẻ nên trẻ được nuôi bằng sữa mẹ đặc biệt là hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt hơn những trẻ được nuôi bằng sữa bò [68, 72]

HUPH

Trang 18

Các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ

Trong sữa mẹ có nhiều yếu tố quan trọng có vai trò bảo vệ cơ thể mà trong sữa bò và các loại sữa thay thế khác không có Trong đó có hai yếu tố quan trọng là Globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA giúp bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh đường ruột Bạch cầu có khả năng tiết interferon, lizozym, lactoferin… giúp cho trẻ chống lại các bệnh do virut, vi khuẩn gây ra [72]

1.1.3 Tầm quan trọng của sữa mẹ và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

hoàn toàn trong 6 tháng đầu

1.1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi

Nhu cầu năng lượng của trẻ đủ tháng, cân nặng lúc sinh bình thường nhìn chung được đáp ứng hoàn toàn bởi sữa mẹ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ có được tình trạng dinh dưỡng tốt [72, 76]

Bảng 1.1: So sánh nhu cầu năng lượng của trẻ và mức đáp ứng của sữa mẹ Tháng tuổi Nhu cầu năng lượng

1.1.3.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em trên toàn thế giới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc đã coi việc NCBSM là một trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu đời [2, 4,

HUPH

Trang 19

27, 76] Tổ chức Y tế Thế giới cũng khẳng định: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tăng trưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng thu nhập của trẻ trong tương lai [70] Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tử vong cho trẻ em, ước tính có thể giảm hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giới mỗi năm [73] Vì vậy, WHO khuyến cáo rằng các bà mẹ hãy cho con bú nhiều lần, bất kể khi nào trẻ đói, kể cả ban đêm, trẻ càng bú nhiều mẹ càng tiết nhiều sữa Đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú sữa mẹ hoàn toàn mà không cần ăn thêm bất cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước [2, 72]

1.1.3.3 Lợi ích của bú sớm sau sinh

Sau khi sinh, bà mẹ cần cho trẻ bú càng sớm càng tốt, đặc biệt trong một giờ đầu vì trong giờ đầu tiên của cuộc đời, trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo, nhanh nhẹn nhất dễ thực hiện hành vi bú mẹ nhất Khi thời điểm này qua đi, trẻ trở nên buồn ngủ hơn vì bắt đầu phục hồi sau quá trình thở [72]

Sữa mẹ tiết theo phản xạ và được tiết ra sớm hơn ở những bà mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh so với các bà mẹ chờ xuống sữa tự nhiên Khi bà mẹ được ngắm nhìn con, nghe thấy tiếng khóc của con và tin tưởng rằng mình có sữa cho con bú thì sẽ hỗ trợ tốt cho phản xạ này Vì vậy ngay sau sinh bà

mẹ phải được nằm cạnh trẻ và cho trẻ bú sớm [72]

Khi trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất oxytocin giúp bà mẹ co hồi tử cung nhanh hơn góp phần làm giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ [72]

Trẻ bú mẹ sớm sẽ bú được sữa non rất tốt cho sức khỏe, giúp trẻ phòng tránh đươ ̣c các bê ̣nh nhiễm khuẩn, dị ứng, vàng da, không dung na ̣p thức ăn khác [72]

1.1.3.4 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ tới sức khỏe của trẻ

Sữa mẹ mang lại cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn đối với trẻ Khi đứa trẻ vừa được sinh ra, sữa mẹ bao gồm các kháng thể và các hoạt chất sinh học khác chính là yếu tố miễn dịch đầu tiên có trong sữa non giúp trẻ chống lại bệnh tật [72] Trong khi đó sữa bột không có đủ các yếu tố cần thiết trên NCBSM là một trong những thực hành có lợi nhất mà một bà mẹ có thể thực hiện để bảo vệ con mình khỏi nhiễm khuẩn và vi rút [72] Sữa mẹ là duy nhất và được sản sinh để đáp ứng nhu

HUPH

Trang 20

cầu của trẻ Sữa mẹ thay đổi thành phần để đáp ứng nhu cầu thay đổi của trẻ trong các cữ bú Khi đứa trẻ lớn lên, các thành phần của sữa mẹ cũng thay đổi để đáp ứng những nhu cầu của trẻ đang lớn, điều mà các sản phẩm thay thế sữa mẹ không có được Những trẻ được bú mẹ ít phải đến bệnh viện hơn hoặc ít phải uống thuốc, giảm nguy cơ lây nhiễm và mắc các bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, hen suyễn, nhiễm trùng tai, nhiễm khuẩn đường hô hấp [72] Kết quả phân tích từ 7 nghiên cứu thuần tập của Bachrach và cộng sự cho thấy rằng trẻ được nuôi bằng sữa công thức phải đối mặt với mối nguy nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp dưới trong năm đầu tiên của cuộc sống cao gấp 3,6 lần so với trẻ được bú mẹ hoàn toàn hơn 4 tháng Phần lớn các ca nhập viện hô hấp cho trẻ sơ sinh là kết quả của nhiễm Vi rút Hợp bào Hô hấp - Respiratory Syncytial Virus (RSV) Chất béo trong sữa mẹ có tác dụng kháng virus: chống lại RSV [33, 64]

Ngoài ra, việc trẻ không được bú mẹ sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường type I và II cũng như bệnh tăng huyết áp và tim mạch Nghiên cứu của Christopher G Owen và cộng sự chỉ ra rằng những đứa trẻ được nuôi bằng sữa mẹ

có nguy cơ bị béo phì khi trưởng thành chỉ bằng 0,87 lần so với những đứa trẻ được nuôi bằng sữa công thức [58] Những đứa trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ mắc tiểu đường type II chỉ bằng 0,61 lần so với những đứa trẻ được nuôi bằng sữa công thức [59] NCBSM làm tăng chỉ số thông minh và cải thiện kết quả học tập sau này của trẻ Trẻ bú mẹ càng lâu thì càng có khả năng trí tuệ cao hơn, điều này được thể hiện qua những kỹ năng vận động, kỹ năng ngôn ngữ và khả năng nhận thức hoàn thiện hơn, những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có điểm IQ cao hơn 7,5 điểm so với những đứa trẻ không được bú mẹ [52]

1.1.3.5 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với bà mẹ

Các bà mẹ cho con bú thường giảm cân nhanh hơn, đồng thời ít nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường type II, ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương và chứng trầm cảm sau khi sinh Các bà mẹ cho con bú sẽ ít có nguy cơ bị thiếu máu và có hàm lượng oxytocin trong máu cao hơn nên có thể giảm căng thẳng [57, 51] NCBSM cũng giúp các bà mẹ tránh thai tốt hơn, các bà mẹ cho con bú hoàn toàn thường không rụng trứng trong ít nhất sáu tháng sau khi sinh, trong khi đó đối với

HUPH

Trang 21

các bà mẹ không cho con bú thì quá trình này có thể xảy ra ngay sau sáu tuần kể từ khi sinh con [57] Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong sáu tháng đầu và không có dấu hiệu có kinh nguyệt trở lại thì khả năng mang thai là dưới 2% [35] Ngoài ra, NCBSM giúp gắn bó, tăng cường tình cảm mẹ con

1.1.3.6 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với gia đình, xã hội và doanh nghiê ̣p

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém của việc cho trẻ

ăn sữa công thức Ước tính trung bình mỗi gia đình tiêu tốn khoảng 1.200.000 đồng mỗi tháng nếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa mẹ Chi phí này chiếm 53-79% thu nhập bình quân 1 năm của người Việt Nam (18.227.000 đồng) và một phần khá lớn trong tổng thu nhập của một gia đình [19] Ngoài ra nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe của nuôi con bằng sữa mẹ, các gia đình tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh [51]

800.000-Nuôi con bằng sữa me ̣ không chỉ mang lại lợi ích về sức khỏe cho trẻ và mẹ mà còn mang lại những lợi ích kinh tế to lớn Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiết kiệm được 3,6 tỷ đô la mỗi năm trong việc chi trả gián tiếp cho chăm sóc sức khỏe nếu như có ít nhất 75% bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và 50% bà mẹ cho con bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi [69]

Tại Việt Nam, nếu các bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu họ có thể tiết

kiệm một khoản tiền tương đương 11.435.670.000.000 đồng từ việc không chi tiêu

cho các sản phẩm thay thế sữa mẹ Tuy nhiên, một nửa của khoản tiền này đang bị lãng phí do tỷ lệ NCBSMHT thấp ở Việt Nam, điều này làm tăng chi phí y tế chung

của quốc gia Mỗi năm, Việt Nam phải chi khoảng 208.300.000.000 đồng cho khám

chữa các bệnh do nuôi dưỡng trẻ nhỏ kém [19] Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho gia đình NCBSMHT còn có lợi cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ ít phải nghỉ làm để chăm con ốm, điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lượng lao động ổn định [35] Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế Trong những trường hợp nguy cấp, NCBSM giúp bảo vệ trẻ khỏi các bệnh gây ra do nguồn nước nhiễm bẩn và có thể ngăn ngừa tình trạng thân nhiệt thấp [51]

HUPH

Trang 22

1.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và một

số yếu tố liên quan

1.2.1 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới

Lợi ích và sự cần thiết của NCBSM đối vớ i sức khỏe trẻ em , bà mẹ, gia đình và xã hội đã được thừa nhâ ̣n Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới tỷ lệ cho con bú sớm rất thấp : 17% ở các nước Đông Âu - Trung Á, 33% ở các nước châu Á Thái Bình Dương và cao nhất là khu vực Mỹ La Tinh - Caribe - Bắc và Đông Phi là 50% [36] Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu trên thế giới là 39% và không đồng đều giữa các quốc gia [77], như vâ ̣y phần lớn số trẻ còn lại được nuôi bằng các thức ăn hoặc nước uống khác ngoài sữa mẹ ngay từ những tháng đầu

Theo số liệu từ 64 nước đang phát triển chiếm 69% số trẻ em được sinh ra trên toàn thế giới từ năm 1996 - 2006, tỷ lệ trẻ em được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tăng từ 33% lên 37% Tăng nhanh nhất ở vùng cận sa mạc Sahara - châu Phi với tỷ lệ tăng từ 22% - 30%, và châu Âu với tỷ lệ tăng từ 10% - 19% Ở châu

Mỹ Latinh và Caribean ngoại trừ Brazil và Mexico, tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn tăng từ 30% đến 45% [75, 76]

Theo số liệu tổng hợp của Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khác biệt giữa các nước và khu vực khác nhau,

tỷ lệ này khá cao ở một số nước như Rwanda 83,3%, Uganda 63% nhưng lại thấp ở Nigeria 0,8% [56] Tỷ lệ NCBSM tại Mỹ cũng có nhiều thay đổi tích cực trong những năm gần đây tỷ lệ bú sớm sau sinh tăng từ 74,6% năm 2008 lên 76,9% năm

2009, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu tăng từ 44,3% năm 2008 lên 47,2% năm

2009 [38] Tại Châu Á tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu cũng khá chênh lệch giữa các nước: Nepal là 68%, Ấn Độ là 46%, Campuchia là 68%, Philippin 33,5%, Bangladesh 43% [56, 76] Tại Trung Quốc, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sữa non trong 3 ngày đầu rất cao đạt 94%, tuy nhiên sau đó trẻ la ̣i được cho uống nước , sữa bô ̣t, đường hoă ̣c thức ăn thay thế khác , vì vậy mà chỉ có 35% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu và tại thời điểm 6 tháng thì tỷ lệ này chỉ còn 28% [78]

HUPH

Trang 23

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại một số quốc gia trên thế giới (nguồn: http://www.childinfo.org/breastfeeding_iycf.php)

1.2.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam

Trong những năm gần đây , Viê ̣t Nam được đánh giá là mô ̣t trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh Cùng với những thành tựu đó , tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em đã được cải thiê ̣n đáng kể Vấn đề dinh d ưỡng đươ ̣c quan tâm hàng đầu chính là chương trình nuôi con bằng sữa me ̣ Nhưng trên thực tế, việc thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ vẫn chưa được nhiều người dân thực hiện tối ưu theo đúng như khuyến cáo của WHO Theo số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010 của Viện Dinh Dưỡng, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm sau sinh đạt 76,2%, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sữa non đạt 70,8% Tuy nhiên, tỷ lệ NCBSMHT trong

6 tháng đầu chỉ đạt 19,6% và chỉ có khoảng 20% trẻ em còn bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi do yêu cầu thời gian và hoàn cảnh làm việc của bà mẹ [25]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Hoan, Vũ Quang Huy và Erika Lutz về thực hành nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc 6 tỉnh dự án IFEN II Hội Chữ thập đỏ Việt Nam năm 2005 và xã Dân Hòa tỉnh Hà Tây năm 2006 cho thấy: tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh tại các tỉnh dự án cũng khá chênh lệch nhau: Nghệ An (21,8%), Hà Tĩnh (62,3%), Quảng

Trang 24

Bình (72,7%), Quảng Ngãi (38,2%), Điện Biên (48,1%), Lai Châu (32,1%) và tỷ lệ chung của 6 tỉnh là 45,8%, riêng kết quả điều tra ở Hà Tây năm 2006 là 69,4% Tỷ lệ trẻ được bú hoàn toàn sữa mẹ tại 6 tỉnh dự án 45,5%, trong khi ở Hà Tây nơi không có dự án là 38,5% Tuy nhiên đây vẫn chưa phải là tỷ lệ mong muốn theo khuyến nghị của WHO và UNICEF Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hầu như 100% bà mẹ tiếp tục cho con bú kéo dài 6-11 tháng và 12-17 tháng [11]

Năm 2006, tác giả Đinh Thị Phương Hòa tiến hành nghiên cứu ta ̣i 4 bệnh viện ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết và thực hành cho con bú trong vòng 1 giờ sau sinh chỉ là 44,1%, có 78,3% bà mẹ biết về sữa non và 64% bà mẹ thực hành cho con bú sữa non trong vài ngày sau sinh [10] Bên cạnh đó việc ăn dặm của trẻ là phổ biến trong 6 tháng đầu tăng từ 16,4% vào tuần 1 lên 56,5% lúc 16 tuần và gần 100%

ở tuần 24 Nghiên cứu của Lê Thị Hương và Đỗ Hữu Hanh tại Yên Bái năm 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh khá cao (gần 90%) Tuy nhiên trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 4 tháng chỉ dao động từ 17,8% đến 23% và 6 tháng là 18,3% đến 19,8% [14] Cũng vào năm 2008, một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Hương tiến hành cắt ngang trên 400 cặp bà mẹ, trẻ em dưới

2 tuổi tại 5 xã thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con

bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau sinh là 88% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 4 tháng là 27,5% và đến 6 tháng là 18,3% Bên cạnh đó, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn

bổ sung trước 4 tháng tuổi là 31,9% [13]

Năm 2008, tác giả Từ Mai tiến hành nghiên cứu tìm hiểu“Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng” Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 300 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi đến khám lần thứ nhất Kết quả cho thấy: tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 16,2%, trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 28,4%

Tỷ lệ trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh là 49,3%, trong đó có 34,3% trẻ được bú mẹ trong vòng nửa giờ đầu sau khi sinh Nghiên cứu cũng cho biết một số yếu tố ảnh hưởng đến NCBSMHT như: thời gian nghỉ đẻ quá ngắn (61,3% bà mẹ phải đi làm trước 4 tháng sau khi sinh con); Bà mẹ thiếu kiến thức về sữa mẹ: vai

HUPH

Trang 25

trò của sữa mẹ, các biểu hiện của trẻ khi bú đủ sữa mẹ, chỉ có 10,6% bà mẹ biết vắt sữa để ở nhà cho con bú khi mẹ phải đi làm [15]

Năm 2009, nghiên cứu về kiến thức và thực hành NCBSM của Bùi Thu Hương tại 2 phường Quỳnh Mai và Bạch Đằng, Hà Nội cũng cho thấy, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 23%, ngoài ra có 28% các bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú lần đầu [12] Cũng trong năm này, nghiên cứ u của Huỳnh Văn Tú và Nguyễn Vũ Linh ta ̣i Bê ̣nh viê ̣n Phu ̣ sản Nhi đ ồng bán công Bình Dương cho t ỷ lệ trẻ bú mẹ trong giờ đầu chỉ là 29,7%, tỷ lệ đối tượng NCBSMHT trong thời gian nằm viện sau sinh là 19,8% và có tới hơn 75% số đối tượng nuôi con bằng cả 2 loại sữa: sữa mẹ và sữa thay thế trong thời gian nằm viện sau sinh [24]

Năm 2011, tác giả Hà Thị Thu Trang và Trần Thị Phúc Nguyệt tiến hành nghiên cứu tìm hiểu một số tập tính nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ dân tộc Dao có con dưới 24 tháng tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Kết quả nghiên cứu cho biết có 47,5% bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ dùng thức ăn hoặc đồ uống khác trước khi cho bú lần đầu là 22,5% [22]

Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Thị Phúc Nguyệt và cộng sự thực hiện tại xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2012 trên 220 bà mẹ có con dưới

24 tháng tuổi Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn bà mẹ bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn Kết quả cho thấy có 42,3% các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Thức ăn/ đồ uống trước khi cho bú lần đầu bao gồm sữa bột (86,6%), sữa

bò (10%) và nước đường (3,4%) Tỷ lệ bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho con bú lần đầu tiên là 10% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 15,5% Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn vì mẹ không đủ sữa (61,3%) và mẹ phải đi làm (57,5%) [16]

Cũng trong năm 2012, tác giả Huỳnh Văn Dũng, Huỳnh Nam Phương và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 370 trẻ dưới 24 tháng tuổi và các bà mẹ của trẻ ở huyện Tam Nông, Phú Thọ nhằm mục tiêu mô tả thực trạng dinh dưỡng và đánh giá thực hành nuôi trẻ của bà mẹ theo các chỉ số IYCF-2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 94,3% trẻ đã và đang được bú mẹ; 46,7% trẻ được

HUPH

Trang 26

bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, 27,8% trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn; tại thời điểm 1 tuổi có 60,6% trẻ tiếp tục còn được bú sữa mẹ, tại thời điểm 2 tuổi có 11,1% trẻ tiếp tục còn được bú sữa mẹ; và tỷ lệ trẻ được cho ăn bổ sung đúng thời điểm là 65,2% [9]

1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM trong 6 tháng đầu

Yếu tố cá nhân

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực NCBSM trong 6 tháng đầu và chủng tộc được cho là có liên quan đến bú sớm sau sinh và NCBSM, nghiên cứu trên những người phụ nữ di cư ở Tây Ban Nha cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ trong những giờ đầu tiên là khá cao Những phụ nữ mới nhập cư thường có xu hướng cho trẻ bú ngay trong những giờ đầu và thời gian cho bú kéo dài hơn những phụ nữ nhập cư đã lâu, một số bằng chứng cho thấy phụ nữ Mỹ da đen, phụ nữ gốc Tây Ban Nha cho con bú sớm sau sinh cao gấp 3,2 lần so với phụ

nữ Mỹ da trắng [39] Nghiên cứu của McLachlan, H L trên 300 bà mẹ đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, Úc và Việt Nam sinh con tại Úc cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt về thực hành NCBSM của các bà mẹ giữa các quốc gia khác nhau, có tới 98% bà mẹ Thổ Nhĩ Kỳ cho con bú sớm sau sinh, của Úc là 84% và Việt Nam 75%, nghiên cứu cũng cho thấy có đến 40% các bà mẹ Việt Nam cho con sử dụng sữa công thức ở trong bệnh viện sau khi sinh, trong khi tỷ lệ này ở các bà mẹ người Úc chỉ là 19% [54]

Khu vực sống, trình độ học vấn của mẹ cũng là một trong những yếu tố liên quan đến việc thực hành bú sớm sau sinh và NCBSM Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương và cộng sự tiến hành tại Hà Nội trên 2.690 trẻ em cho thấy những phụ nữ ở nông thôn có xu hướng cho con bú nhiều hơn ở vùng thành thị, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra 40% trẻ trai được bú sớm sau sinh tại thành thị so với 35% ở nông thôn, tỷ lệ trẻ gái ở thành thị và nông thôn được bú sớm sau sinh lần lượt là 49% và 40% [50] Tuy nhiên việc NCBSMHT trong tháng đầu tiên và 3 tháng tiếp theo ở nông thôn phổ biến hơn thành thị đối với cả trẻ trai và gái [50] Phụ nữ đã hoàn thành ít nhất trung học cơ sở có xu hướng cho con bú ít hơn so với những bà mẹ có trình độ văn hóa thấp hơn, cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương ở khu vực

HUPH

Trang 27

thành thị số ngày cho con bú hoàn toàn của các bà mẹ có trình độ học vấn cao thấp hơn so với các bà mẹ có trình độ học vấn thấp, thời gian trung bình cho bú hoàn toàn của các bà mẹ học hết cấp 2 là 108 ngày, bà mẹ học hết cấp 3 là 88 ngày và học đại học hoặc cao hơn là 82 ngày [50]

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng việc cho con bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của mẹ và của trẻ mới sinh, tuổi của mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của nhân viên y tế [37, 32] Bà mẹ ít tiết sữa hoặc có cảm giác đau và khó chịu cũng là nguyên nhân của việc không cho trẻ bú sớm [47] Ở nhiều nơi vẫn tồn tại những phong tục lạc hậu sau khi sinh người phụ nữ vắt bỏ sữa non vì cho rằng nó không tốt [37]

Các yếu tố về nhân khẩu học, văn hóa cũng được xác định là có liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu của các bà mẹ và đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu tại Việt Nam Theo kết quả điều tra của nghiên cứu dọc tại Quảng Xương, Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ các bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong tuần đầu tiên khá cao với 98,3% và 83,6%, tuy nhiên

việc các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm vẫn còn rất phổ biến [43, 45]

Tiếp cận thông tin

Bên cạnh các yếu tố liên quan đến người mẹ và sự hỗ trợ từ phía gia đình ảnh hưởng đến thực hành NCBSM việc bà mẹ tiếp xúc với những thông tin quảng cáo của các hãng sữa tại bệnh viện cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng ảnh hưởng đến thực hành NCBSM Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc bà

mẹ nhận được những quảng cáo hay những gói dịch vụ khuyến mại của các hãng sữa trong và sau khi sinh tại bệnh viện có liên quan đến thời gian cho con bú hoàn toàn bị ngắn lại [62]

Nghiên cứu của Howard C R và cộng sự so sánh sự ảnh hưởng của các tài liệu về sữa công thức với việc bú sớm và thời gian NCBSM chỉ ra rằng không có sự ảnh hưởng đến việc bú sớm nhưng có sự thay đổi đến việc cho con bú trong 2 tuần đầu khi tiếp xúc nhiều với các tài liệu về sữa công thức, đặc biệt với những bà mẹ

có ý định NCBSM trong 12 tuần hoặc ít hơn thì thời gian bú hoàn toàn sẽ ít đi [49] Tại Hoa Kỳ một chương trình cung cấp dinh dưỡng đặc biệt cho phụ nữ, trẻ sơ sinh

HUPH

Trang 28

và trẻ em (WIC) thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai có thu nhập thấp, phụ nữ NCBSM, không NCBSM và trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 5 tuổi Tuy nhiên nghiên cứu của Kent G và Holmes A V đánh giá về chương trình này chỉ ra rằng chương trình WIC làm thúc đẩy việc sử dụng sữa công thức ở trẻ em qua đó đặt trẻ em vào tình trạng nguy cơ cao đối với sức khỏe [49] Tại Philipin tỷ lệ NCBSMHT trong 4 tháng đầu giảm từ 47,3% năm 1998 xuống 40,1% năm 2008, nguyên nhân ở đây được cho là có 59,1% các bà mẹ được hỏi có thể nhắc lại được các thông điệp quảng cáo sữa công thức, 1/6 các bà mẹ cho biết rằng được bác sĩ khuyên nên dùng sữa công thức, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những bà mẹ có thể nhắc lại các thông điệp quảng cáo cho con của mình sử dụng sữa công thức gấp 2 lần những bà mẹ còn lại và những bà mẹ được quảng cáo bởi bác sĩ cho con mình sử dụng sữa công thức cao gấp 4 lần những bà mẹ không được bác sĩ giới thiệu về sữa công thức [40] Nghiên cứu theo dõi về thực hành NCBSM tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ bú sớm sau sinh ở thành thị, ngoại ô và nông thôn lần lượt là 96,5%, 96,8%, 97,4% tuy nhiên tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu giảm xuống chỉ còn 0,2%, 0,5% và 7,2% và việc quảng cáo các sản phẩm sữa công thức được xác định là có liên quan đến tình trạng này [61]

Tại Việt Nam kết quả nghiên cứu của Dương Văn Đạt và cộng sự cho thấy

có tới 98% bà mẹ tiếp cận với các hãng sữa trong thời kỳ mang thai và sau sinh, trong đó có tới 53% bà mẹ quyết định mua sữa công thức sau khi nhận được những nội dung quảng cáo này [45] Theo nghiên cứu mới đây của tổ chức A&T tiếp tục khẳng định sữa bột cho trẻ sơ sinh rất sẵn có đối với các bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế Cho trẻ ăn các thức ăn lỏng ngoài sữa mẹ cũng phổ biến hơn tại các bệnh viện so với các trạm y tế xã và nhà hộ sinh Chỉ 42,4% các bà mẹ sinh con tại bệnh viện không cho trẻ sơ sinh dùng sữa bột trong 3 ngày đầu, trong khi đó tỷ lệ các bà mẹ sinh tại trạm y tế xã hoặc nhà hộ sinh làm như vậy là 69,1% Một phần năm các bà

mẹ mang theo sữa bột khi đến sinh tại các cơ sở y tế, và gần một nửa số bà mẹ mua sữa tại hoặc gần các cơ sở y tế sau khi sinh [1]

HUPH

Trang 29

Để khắc phục tình trạng quảng cáo và tiếp thị tràn lan các loại sữa giành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi Chính phủ đã thông qua Nghị định số 21/2006-NĐ-CP cấm quảng cáo và bán các loại sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi và thực phẩm bổ sung cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, việc tiếp xúc với gia đình của trẻ em dưới 12 tháng tuổi để tiếp thị, quảng cáo các sản phẩm sữa công thức cũng không được cho phép, tuy nhiên các hãng sữa lại lách luật bằng cách tiếp cận với các bác sĩ trong bệnh viện làm cầu nối đối với gia đình trẻ nhỏ [8] Theo đánh giá của Bộ Y tế kết hợp với UNICEF và A&T về việc thực hiện nghị định số 21 cho thấy các hãng sữa đã vi phạm nghị định này khi tiếp xúc với bà mẹ thông qua cán bộ bệnh viện như bác sĩ, y tá để quảng cáo cho các sản phẩm sữa của mình, có 8,6% bà mẹ nhận được các sản phẩm sữa khuyến mãi tại cơ sở y tế, trên 80% bà mẹ nhận được tờ rơi quảng cáo sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi từ nhân viên tiếp thị Ngoài ra có 32,4% các cửa hàng bán sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi và chỉ có 48% nhãn sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi tuân thủ tất cả các quy định của Nghị định số 21 [55] Các hãng sữa thường đưa ra những tuyên bố không chính xác về tác dụng của sữa công thức so với sữa mẹ, không đáp ứng được các yêu cầu về nhãn mác và thường xuyên

có các chương trình khuyến mãi như tặng quà, giảm giá sản phẩm nhằm khuyến khích bà mẹ sử dụng sữa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi [60]

Các thông tin về NCBSM trên các phương tiện truyền thông đại chúng mà bà

mẹ nhận được vẫn còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu A&T cho thấy ti vi là phương tiện truyền thông quan trọng về NCBSM tại Việt Nam với đa số các bà mẹ thường xuyên xem ti vi tuy nhiên các thông điệp về NCBSM mà bà mẹ nhận được là chưa toàn diện và cần tăng cường tiếp cận những thông điệp này [1] Hơn nữa, các công ty sữa đã tiếp cận được số lượng lớn các bà mẹ và họ đang có các chương trình quảng cáo cạnh tranh với các chương trình truyền thông về NCBSM Bà mẹ tiếp cận quảng cáo sữa bột nhiều hơn so với tiếp cận thông tin khuyến khích NCBSM trên ti vi So với 83,7% bà mẹ nhìn thấy quảng cáo sữa bột cho trẻ nhỏ trên

ti vi, chỉ có 40,4% bà mẹ nhìn thấy quảng cáo khuyến khích NCBSM trong 30 ngày qua và việc tiếp xúc nhiều với các thông tin quảng cáo về sữa công thức này sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc thực hành NCBSM [1] Nghiên cứu năm 1990 tại Jordan cho

HUPH

Trang 30

thấy rằng chương trình truyền thông đại chúng về NCBSM có tác động tích cực đến việc thực hành NCBSM [53] Những kết quả trên cho thấy việc cung cấp các thông tin về NCBSM trên các kênh khác nhau là điều hết sức cần thiết và quan trọng nhằm tăng tỷ lệ thực hành NCBSM

Yếu tố liên quan khác

Yếu tố gia đình, cộng đồng, xã hội:

Mô ̣t số nghiên cứu trên th ế giới về NCBSM có mô tả các yếu tố ảnh hưởng, các rào cản trong thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu Các nghiên cứu cho thấy thực hành NCBSM thường bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các nghi

lễ văn hóa, tôn giáo, áp lực của gia đình đối với việc nuôi dưỡng và phát triển của trẻ nhỏ [27, 46] Các kết quả của những nghiên cứu khác cũng cho thấy việc thiếu sự quan tâm từ phía gia đình như (người cha, mẹ chồng…) trong giai đoạn cho con

bú, hay các quan niệm cho rằng sữa mẹ không cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong 6 tháng đầu, sữa mẹ không tốt, cho trẻ bú nhiều làm cho người mẹ xấu đi đã góp phần làm giảm tỷ lệ thực hành NCBSMHT trên thế giới cũng như ở Việt Nam [47]

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương và cộng sự cho thấy điều kiện kinh tế gia đình có liên quan tới thực hành NCBSM Trẻ sinh ra trong gia đình có điều kiện kinh tế khá giả thường được ít bú mẹ hơn những trẻ được sinh ra trong các gia đình nghèo hơn Ở đô thị những trẻ được sinh ra tại bệnh viện có thời gian bú mẹ ít hơn những trẻ được sinh ra ở ngoài bệnh viện [50] Tâm lý e ngại cho con bú nơi công cộng hoặc thiếu sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình sau khi sinh cũng có ảnh hưởng tới thực hành cho trẻ bú sớm của các bà mẹ [47]

Phương pháp đẻ (sinh thường, đẻ mổ), nơi đẻ và các yếu tố sức khỏe cũng có ảnh hưởng nhất định đến thực hành NCBSM của các bà mẹ [44, 45] Nghiên cứu của Huỳnh Văn Tú và Nguyễn Vũ Linh năm 2009 tại Bình Dương cũng cho kết quả rằng phương pháp đẻ, niềm tin có đủ sữa mẹ, quyết định chọn loại sữa nuôi con trước khi sinh, tác động của mẹ chồng, có kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSM sau này [24] Số liệu nghiên cứu của A&T cho thấy rằng cắt tầng sinh môn và sinh mổ đều ảnh

HUPH

Trang 31

hưởng tới việc cho trẻ bú sớm sau sinh , có 67,6% sản phụ sinh thường cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau khi sinh, tỷ lệ này ở sản phụ bị cắt tầng sinh môn và sinh

mổ tương ứng là 54% và 11,3% Các bà mẹ sinh mổ có ít khả năng tránh cho trẻ ăn thức ăn lỏng như sữa hơn và có nhiều khả năng nhất cho trẻ ăn sữa bột cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu tiên [1] Cũng theo nghiên cứu của A&T, các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng cho con bú mẹ sớm ngay sau khi sinh Chỉ 45,3% những người sinh con ở bệnh viện bắt đầu cho con bú trong 1 giờ đầu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà mẹ sinh con tại trạm y tế xã và nhà hộ sinh [1] Bên cạnh đó, thực hành NCBSM còn b ị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xã hội như sự quan tâm, tham gia của người cha, bà nội, bà ngoại của trẻ, thói quen cho trẻ ăn bổ sung sớm

ảnh hưởng đến hành vi NCBSMHT trong 6 tháng đầu

Sự ảnh hưởng của chính sách thai sản:

Một yếu tố liên quan khác có tác động khá nhiều đến thực hành NCBSM đó là điều kiện làm việc cũng như chế độ nghỉ thai sản của bà mẹ Việc bà mẹ phải đi làm sớm được cho là một rào cản lớn đối với NCBSMHT, hầu hết các bà mẹ đều phải tham gia công việc bên ngoài nhà trước tháng thứ 4 Theo kết quả của một nghiên cứu định tính được tiến hành trên toàn quốc về đánh giá tác động của các chính sách đến việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách cho rằng NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khó [28]

Nghiên cứu của Skafida V tiến hành tại Scotland từ năm 2004 - 2005 cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiệp và thời gian nghỉ đẻ của bà mẹ tới việc NCBSM trong 6 tháng đầu, những bà mẹ làm việc toàn thời gian có nguy cơ cho con dừng bú cao gấp 1,6 lần so với những bà mẹ không phải làm việc; người mẹ có thời gian nghỉ đẻ dài sẽ NCBSM trong thời gian dài hơn [63]

Học viện nhi khoa Hoa Kỳ đã công bố thêm bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản với sự gia tăng tỷ lệ NCBSM, kết quả nghiên cứu đã phân tích một cách chi tiết ảnh hưởng của 3 yếu tố: thời gian nghỉ thai sản, độ dài nghỉ thai sản có lương và thời điểm đi làm trở lại đến việc cho con

bú sớm và thời gian cho con bú [48] Nghiên cứu cũng cho thấy số phụ nữ đi làm lại trong thời gian từ 3 đến 6 tháng sau sinh có khả năng ngừng cho con bú trước khi

HUPH

Trang 32

trẻ được 6 tháng cao gấp 3 lần so với những bà mẹ không phải đi làm sớm trở lại [48] Chế độ nghỉ thai sản có tác động rất nhiều đến thực hành nuôi con bằng sữa

mẹ, nhiều bằng chứng từ các quốc gia khác cho thấy chính sách nghỉ thai sản dài, có hưởng lương sẽ thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Một nghiên cứu gần đây ở Đài Loan cho thấy người mẹ đi làm lại sớm, đặc biệt trước khi trẻ được 6 tháng, là rào cản đối với việc cho con bú sớm và tiếp tục cho bú [41] Tại Australia phụ nữ phải

đi làm toàn thời gian trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng sau sinh có xu hướng ngừng cho con bú trước khi trẻ được sáu tháng tuổi cao gấp ba lần so với những phụ

nữ không đi làm [42] Ở Canada, sau khi thời gian nghỉ thai sản được tăng từ sáu tháng lên một năm, tỉ lệ trẻ được cho bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu tăng 40% [34] Tại Na Uy, khi thời gian nghỉ thai sản tăng từ 10 tuần đến 40 tuần, tỉ lệ cho con bú hoàn toàn trong sáu tháng đầu tăng từ 10% lên đến 80% [30]

Trước năm 1993 phụ nữ Việt Nam được nghỉ thai sản 6 tháng tuy nhiên Quyết định số 43/CP ngày 22/06/1993 của chính phủ chỉ cho phép người phụ nữ được nghỉ chế độ thai sản có hưởng lương bảo hiểm 4 tháng điều này có tác động không nhỏ đến thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu theo khuyến nghị của WHO [5] Ngày 18/06/2012 Quốc Hội đã thông qua luật lao động sửa đổi số 10/2012/QH13 cho phép lao động nữ được nghỉ 6 tháng sau khi sinh với mục đích khuyến khích và tăng tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu [20], tuy nhiên hiện tại chưa có nghiên cứu nào công bố về việc áp dụng chính sách này cũng như ảnh hưởng của nó đến thực hành NCBSM như thế nào

Theo công bố mới đây nhất của Nguyễn Hồng Phương và cộng sự năm 2011

về tổng quan tình hình nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa thực hành NCBSM với kiến thức của người mẹ, trình độ học vấn, điều kiện làm việc của bà mẹ, tình trạng sức khỏe và nơi sinh [60] Bên cạnh đó báo cáo cũng chỉ ra rằng việc quảng cáo và tiếp thị sữa có ảnh hưởng đến việc NCBSMHT Tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn nhiều điểm hạn chế do công cụ thu thập số liệu của các nghiên cứu trước khác nhau, nhiều nghiên cứu chỉ là những đánh giá quy mô nhỏ tại vùng nông thôn chưa có nghiên cứu ở thành thị, nghiên cứu mới chỉ bước đầu cho thấy thực trạng NCBSM và một số chương trình hành động, chính

HUPH

Trang 33

sách, can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ NCBSM tại một số địa phương ở Việt Nam [60] Các nghiên cứu được tiến hành còn thiếu nhiều thông tin do vậy khuyến nghị cho những nghiên cứu tiếp theo cần tiếp tục tìm hiểu xu hướng NCBSM theo khuyến nghị của WHO, các yếu tố liên quan đến thực hành NCBSM như kiến thức của bà mẹ, điều kiện kinh tế, sự tham gia hỗ trợ từ phía gia đình, sự tiếp nhận các thông tin về NCBSM thông qua CBYT, các phương tiện thông tin đại chúng và mạng lưới tại cộng đồng Bên cạnh đó cần phải tìm hiểu thêm những thông tin về ảnh hưởng của chế độ nghỉ thai sản mới ban hành tới thực hành NCBSM của bà mẹ, việc tiếp cận các thông tin quảng cáo của các hãng sữa khi Luật quảng cáo ra đời [60]

1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Thanh Trì là một huyện nằm ở ngoại thành Hà Nội, gồm 15 xã và 1 thị trấn, với tổng dân số tính đến hết năm 2012 là 212.582 người, trong đó trẻ em từ 0-2 tuổi là 7.300 trẻ, trẻ dưới 5 tuổi là 18.288 trẻ [23] Trong những năm gần đây, ngành Y tế huyê ̣n luôn cố gắng thực hiê ̣n tốt các hoa ̣t đô ̣ng chăm sóc sức khỏe nhân dân , đặc biê ̣t là sức khỏe bà me ̣ trẻ em Mă ̣c dù tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi của huyê ̣n có giảm dần qua mỗi năm nhưng so với mă ̣t bằng chung của thành phố và các quâ ̣n huyê ̣n của Hà Nô ̣i cũ thì tỷ lê ̣ SDD ở Thanh Trì vẫn ở mức cao Tỷ lệ SDD nhẹ cân năm 2012 là 10,6% và thấp còi là 13,1%, tuy nhiên vẫn có xã có tỷ lệ SDD nhẹ cân cao (Đại Áng: 15,1%, Vĩnh Quỳnh: 14,2%, Ngọc Hồi: 13,4%) và thấp còi cao (Hữu Hòa: 22,1%, Yên Mỹ : 16,7%, Ngọc Hồi : 15,5%) [23] Tỷ lệ NCBMSHT trong 6 tháng đầu của huyện Thanh Trì theo báo cáo từ các TYT xã vẫn ở mức rất thấp là 15,9%, tuy nhiên việc thống kê tỷ lệ này chủ yếu là từ CTV nên có nhiều sai số

Ngọc Hồi là xã tâ ̣p trung hầu hết các nhà máy và khu công nghiê ̣p của huyê ̣n Thanh Trì, vì vậy có rất nhiều phụ nữ tuổi sinh đẻ đi làm công nhân cho các khu công nghiê ̣p này Đây cũng là nguyên nhân khiến một bộ phận các bà mẹ phải đi làm sớm sau khi sinh Điều đó ảnh hưởng đến việc cho trẻ bú mẹ, đặc biệt là bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Có những bà mẹ vì bận đi làm phải cai sữa từ khi trẻ còn chưa đầy 6 tháng tuổi Theo đánh giá chủ quan củ a CBYT xã thì chỉ có khoảng 70% các bà mẹ cho con bú ngay sau khi sinh , NCBSMHT trong 6 tháng đầu theo

HUPH

Trang 34

đúng đi ̣nh nghĩa là hầu như rất ít và đa số các bà mẹ bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung sớm từ tháng thứ 3 và 4 Hiện tại trên địa bàn xã Ngo ̣c Hồi chưa có nghiên cứu nào tiến hành tìm hiểu về thực trạng cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến

NCBSMHT trong 6 tháng đầu Do vậy nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 2014” ngoài việc cung

cấp những thông tin chính như kiến thức, trình độ học vấn, điều kiện sống ảnh hưởng đến thực hành NCBSMHT còn cung cấp thêm các thông tin liên quan khác như sự tác động của chính sách thai sản, sự tiếp nhận thông tin quảng cáo của các hãng sữa, tiếp cận các thông tin về NCBSM trên các kênh thông tin khác nhau lên thực hành NCBSMHT để qua đó có những bằng chứng cần thiết giúp cho việc lập kế hoạch can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu và những tháng tiếp theo qua đó góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dưới 2

tuổi và dưới 5 tuổi ở xã Ngo ̣c Hồi nói riêng, trên đi ̣a bàn huyê ̣n Thanh Trì nói chung

HUPH

Trang 35

1.4 Khung lý thuyết

Yếu tố liên quan khác

(gia đình, cộng đồng, xã hội và

chính sách)

- Tình trạng kinh tế hộ gia đình

- Hỗ trợ chăm sóc trẻ sau sinh từ gia đình

- Nơi đẻ: bệnh viện, TYT, tại nhà; Phương pháp đẻ: đẻ

thường, đẻ mổ

- Điều kiện làm việc: khoảng cách nơi làm, thời gian làm việc sau sinh, chăm sóc trẻ khi phải

đi làm…

- Chính sách thai sản

Yếu tố cá nhân

 Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, giới,

nghề nghiệp, số lượng con

 Trình độ học vấn

 Tình trạng sức khỏe bà me ̣ sau sinh

 Kiến thức về NCBSM

- Thời gian nên cho trẻ bú

- Sữa non và lợi ích của sữa non đối vớ i trẻ

- Thành phần chính của sữa mẹ

- NCBSMHT và lợi ích củ a NCBSM đối

với trẻ/bà mẹ

- Bất lợi cho trẻ nếu không được bú

- Cách cho trẻ bú, thời điểm cho bú

- Nên làm gì nếu trẻ không bú đủ sữa

- Cho trẻ dưới 6 tháng uống thêm nước

- Thời gian bảo quản sữa vắt

- Ngừng bú khi mẹ ốm

Tiếp cận thông tin

- Thông tin về NCBSM nhận được khi mang thai và sau khi sinh

- Thông tin về NCBSM nhận được từ cán bộ y tế

- Thông tin về NCBSM nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng: TV, loa/đài, internet

- Tiếp cận với các thông tin quảng cáo sữa công thức

Nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu

- Trẻ bú sớm sau sinh

- Trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

HUPH

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

Các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi và sống ta ̣i xã Ngọc Hồi, huyê ̣n Thanh Trì ít nhất 6 tháng trước ngày điều tra

Tiêu chuẩn loại trừ: những bà me ̣ gă ̣p khó khăn về nói và trả lời , bị bê ̣nh tâm thần và những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

- Cán bộ TYT xã , cô ̣ng tác viên dinh dưỡng , cán bộ Hội Phụ nữ xã/Chi hội

Phụ nữ thôn, mẹ chồng và người chồng

- Các bà mẹ đang nuôi con nhỏ dưới 24 tháng tuổi đáp ứng các tiêu chí như

trong nghiên cứu đi ̣nh lượng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ 12/2013 đến 5/2014

- Nghiên cứu được tiến hành tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích , kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

Toàn bộ bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi của xã (đáp ứng các tiêu chí cho ̣n đối tươ ̣ng nghiên cứu) được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn

2.4.2 Nghiên cứu định tính

- Thảo luận nhóm có trọng tâm (Focused Group Discussion): 2 nhóm trong đó

mô ̣t nhóm là các bà mẹ có con 0 - 5 tháng tuổi và một nhóm là các bà me ̣ có con từ

6 - 23 tháng Mỗi nhóm có 8 - 10 bà mẹ Đây là cỡ mẫu được khuyến nghị cho các nghiên cứu định tính [17]

- Phỏng vấn sâu:

+ 02 cán bộ y tế xã

HUPH

Trang 37

+ 03 cộng tác viên dinh dưỡng

+ 02 cán bộ Hội phụ nữ xã/ thôn

+ 04 mẹ chồng

+ 04 người chồng

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng

Chọn mẫu được tiến hành qua 3 bước:

- Bướ c 1: Lâ ̣p danh sách tất cả các bà me ̣ có con dưới 24 tháng tuổi trong xã

(dựa trên danh sách theo dõi cân nặng và tiêm chủng mơ ̉ rộng của trẻ) với sự giúp

đỡ của cán bộ Trạm Y tế Danh sách này bao gồm: tên, ngày tháng năm sinh của trẻ, tên và địa chỉ của bà mẹ

- Bướ c 2: Chọn đối tượng điều tra đáp ứng tiêu chí

- Bướ c 3: Phỏng vấn trực tiếp đối tươ ̣ng, trong trường hơ ̣p đối tươ ̣ng không thể hoàn thành trả lời phỏng vấn (vì lí do sức khỏe ) hoă ̣c vắng nhà điều tra viên he ̣n quay trở la ̣i để phỏng vấn

2.5.2 Nghiên cư ́ u đi ̣nh tính

- Thảo luận nhóm có trọng tâm : chọn 2 nhóm, mỗi nhóm 8 - 10 bà mẹ có con theo hai nhóm tuổi là 0 - 5 tháng và 6 - 23 tháng Các bà mẹ đáp ứng các tiêu chuẩn đươ ̣c cho ̣n

+ Chọn 02 cán bộ Hội phụ nữ xã/ thôn

+ Chọn ngẫu nhiên 04 mẹ chồng, bao gồm 02 mẹ chồng của các bà mẹ trong nhóm có con từ 0 - 5 tháng tuổi và 02 mẹ chồng của các bà mẹ có con từ 6 -

23 tháng tuổi Các mẹ chồng thường là những người có ảnh hưởng đến viê ̣c chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ nhỏ của bà me ̣ dựa trên những kinh nghiê ̣m , quan niê ̣m và thói quen của họ

HUPH

Trang 38

+ Chọn ngẫu nhiên 04 người chồng tương tự theo các nhóm tuổi của trẻ như trên để phỏng vấn sâu vì họ là người có vai trò hỗ trợ cho các bà mẹ trong viê ̣c NCBSM

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Nghiên cứu định lượng

- Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ t ại hộ gia đình , dựa trên bô ̣ câu hỏi đi ̣nh lượng đươ ̣c thiết kế sẵn Thời gian phỏng vấn trong khoảng 30 phút

- Công cụ thu thâ ̣p số liê ̣u : Bô ̣ câu hỏi được thiết kế dựa trên mu ̣c tiêu nghiên cứu có tham khảo các tài liê ̣u về NCBSM của Bô ̣ Y tế, WHO và mô ̣t số nghiên cứu về NCBSM trước đây Bộ câu hỏi bao gồm các thông tin nhân khẩu học, kiến thức và thực hành NCBSM, các yếu tố có liên quan đến thực hành NCBSM: chính sách nghỉ thai sản, tiếp cận thông tin (phương tiện truyền thông và CBYT), thông tin quảng cáo của các hãng sữa và một số yếu tố về điều kiện làm việc của các bà mẹ

trong thời gian nuôi con nhỏ (chi tiết bộ câu hỏi xem phụ lục 1)

Bộ câu hỏi đã được nhóm nghiên cứu điều tra thử nghiệm trên 10 phụ nữ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và hoàn thiện

Điều tra viên bao gồm học viên cao học và cán bộ TYT xã Ngọc Hồi Điều tra viên đươ ̣c tâ ̣p huấn về kỹ năng phỏng vấn và bô ̣ câu hỏi trước khi chính thức thu thâ ̣p số liê ̣u ta ̣i thực đi ̣a Những cuô ̣c phỏng vấn đầu tiên đã được các thành viên trong nhóm nghiên cứu gi ám sát hỗ trợ Sau mỗi buổi phỏng vấn , tất cả các phiếu đươ ̣c tâ ̣p hợp la ̣i để kiểm tra và nếu có thiếu sót đã được yêu cầu bổ sung thông tin kịp thời

HUPH

Trang 39

tất cả các ý kiến của mọi cá nhân đều được ghi nhận, người này có thể bổ sung hoặc phản bác ý kiến của người kia

+ Thờ i gian thảo luâ ̣n: 60 - 90 phút

+ 1 thư ký ghi chép, ghi âm và sau đó đánh máy nguyên văn để phân tích + 1 ngườ i hướng dẫn thảo luận: giới thiệu về nghiên cứu và dẫn dắt các thành viên tham gia thảo luận

+ Buổi thảo luận được dẫn dắt theo một dàn ý câu hỏi tập trung quanh chủ đề chính: quan niê ̣m v ề NCBSM , kiến thức về NCBSM, tiếp nhận thông tin về NCBSM, tiếp nhận thông tin quảng cáo của các hãng sữa, điều kiện làm việc, chế

độ nghỉ thai sản ảnh hưởng như thế nào tới thực hành NCBSM (chi tiết xem tại phụ lục 2)

- Phỏng vấn sâu các CBYT xã, cộng tác viên dinh dưỡng , cán bộ Hội Phụ nữ xã/thôn, mẹ chồng và người chồng Cuộc phỏng vấn được thực hiện tại nhà đối tượng và trạm y tế xã trong thời gian thu thập số liệu Nội dung phỏng vấn sâu tập trung tìm hiểu về quan niê ̣m, kiến thức và thực hành NCBSM và những yếu tố liên quan đến việc bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu nhằm trả lời các câu hỏi tại sao, như thế nào , giải thích thêm cho các kết quả điều tra bằng phương pháp đi ̣nh

lươ ̣ng (chi tiết xem tại phụ lục 2)

2.7 Biến số nghiên cứu

Bảng 2.1: Các nhóm biến số nghiên cứu

2 B Kiến thức về

NCBSM

25 TM: thời điểm bú mẹ, vắt sữa non, lợi ích sữa non, thành phần sữa mẹ, định nghĩa NCBSMHT, thời gian NCBSMHT, lợi ích sữa

mẹ, cho trẻ bú đúng cách…

HUPH

Trang 40

3 C Thực hành NCBSM 13 TM: bú sớm, bú sữa non, ăn thêm thức ăn

khác ngoài sữa mẹ, ăn thức ăn gì ngày hôm qua, cho trẻ ăn khi đi làm, thời gian cai sữa…

4 D Chăm sóc khi mang

thai và sau khi sinh

11 TM: nhận lời khuyên khi mang thai, nguồn nhận, nơi sinh, phương pháp sinh, hướng dẫn cách NCBSM, người hướng dẫn, phản đối NCBSMHT…

5 E Tiếp cận với CBYT 4 TM: lời khuyên của bác sỹ/ y tá trong 3 tháng

qua, lời khuyên của CBYT, CTV dinh dưỡng, tham dự hội thảo/ hội nghị, số lần tham dự

6 F Tiếp cận thông tin 15TM: Nhận thông tin NCBSMHT trong 6

tháng đầu, nhận thông tin quảng cáo sữa trong và sau khi sinh, nguồn nhận, xem quảng cáo về sữa cho trẻ nhỏ trên TV/ radio/ nguồn khác trong 30 ngày qua…

7 G Chính sách thai sản

và điều kiện làm việc

16TM: nghe về chính sách thai sản, nội dung chính sách thai sản, thời gian đi làm việc sau sinh, thời gian nghỉ ngơi, khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc…

II Nhóm biến số định tính

1 Thực trạng cho trẻ bú

sớm sau sinh và

2 Một số yếu tố liên quan

tới thực hành cho trẻ bú

sớm sau sinh và

NCBSMHT trong 6

tháng đầu

- Yếu tố cá nhân

- Yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán

- Yếu tố dịch vụ y tế

- Yếu tố về phương tiện truyền thông

- Điều kiện làm việc

- Chế độ nghỉ thai sản Các biến số nghiên cứu định lượng và định tính đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Các biến số nghiên cứu định lượng được thu thập thông qua phỏng

HUPH

Ngày đăng: 02/12/2023, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alive and Thrive và Viện Nghiên cứu Y xã hội học (2012), Báo cáo toàn văn thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo toàn văn thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Tác giả: Alive and Thrive và Viện Nghiên cứu Y xã hội học
Năm: 2012
2. Bộ Y tế (2009), Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
3. Bộ Y tế - Chương trình Nuôi con bằng sữa mẹ (2005), Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
Tác giả: Bộ Y tế - Chương trình Nuôi con bằng sữa mẹ
Năm: 2005
5. Chính phủ (1993), Nghị định số 43 - CP ngày 22 tháng 6 năm 1993 Quy định tạm thời chế độ Bảo hiểm xã hội, Hà Nội, truy cập ngày 01/01/2014, tại trang web http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-43-CP-quy-dinh-tam-thoi-che-do-bao-hiem-xa-hoi-vb38597t11.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43 - CP ngày 22 tháng 6 năm 1993 Quy định tạm thời chế độ Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
6. Chính phủ (2000), Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
7. Chính phủ (2012), Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Huỳnh Văn Dũng, Huỳnh Nam Phương và Cs (2014), Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012, Tạp chí Dinh dƣỡng & Thực phẩm, 10(4), tr. 116-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012
Tác giả: Huỳnh Văn Dũng, Huỳnh Nam Phương và Cs
Năm: 2014
10. Đinh Thị Phương Hòa (2006), Kiến thức, thực hành của bà mẹ về giữ ấm và cho trẻ bú sơ ́ m ngay sau khi đẻ, Bô ̣ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành của bà mẹ về giữ ấm và cho trẻ bú sớ m ngay sau khi đẻ
Tác giả: Đinh Thị Phương Hòa
Năm: 2006
11. Phạm Văn Hoan, Vũ Quang Huy, Erika Lutz (2006), Thực hành nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Lai Châu, Điện Biên năm 2005 và Hà Tây năm 2006, Tạp chí Dinh dƣỡng & Thực phẩm, 2(3+4), tr. 43-48.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số xã thuộc Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Lai Châu, Điện Biên năm 2005 và Hà Tây năm 2006
Tác giả: Phạm Văn Hoan, Vũ Quang Huy, Erika Lutz
Năm: 2006
4. Bộ Y tế và Trường Đại học QueensLand Australia (2006), Hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ Khác
8. Chính phủ (2006), Nghị định Về việc kinh doanh và các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các nhóm biến số nghiên cứu - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 2.1 Các nhóm biến số nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3.1: Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (1) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (1) (Trang 45)
Bảng 3.3: Thông tin về thứ tự trẻ, tuổi và giới tính của trẻ nghiên cứu - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.3 Thông tin về thứ tự trẻ, tuổi và giới tính của trẻ nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.4: Kiến thức của bà mẹ về cho trẻ bú sớm sau sinh - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về cho trẻ bú sớm sau sinh (Trang 47)
Bảng 3.6: Kiến thức của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.6 Kiến thức của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu (Trang 49)
Bảng 3.7: Phân bố kiến thức của bà mẹ về định nghĩa NCBSMHT trong 6  tháng đầu theo một số yếu tố của các ĐTNC - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.7 Phân bố kiến thức của bà mẹ về định nghĩa NCBSMHT trong 6 tháng đầu theo một số yếu tố của các ĐTNC (Trang 53)
Bảng 3.8: Phân bố kiến thức chung về NCBSM theo một số yếu tố của các ĐTNC - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.8 Phân bố kiến thức chung về NCBSM theo một số yếu tố của các ĐTNC (Trang 55)
Bảng 3.9: Sự hỗ trợ, phản đối của người xung quanh về NCBSM sau khi sinh - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.9 Sự hỗ trợ, phản đối của người xung quanh về NCBSM sau khi sinh (Trang 58)
Bảng 3.13: Thời gian bà mẹ bắt đầu cho con ăn thức ăn ngoài sữa mẹ - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.13 Thời gian bà mẹ bắt đầu cho con ăn thức ăn ngoài sữa mẹ (Trang 61)
Bảng 3.12: Lý do bà mẹ cho con bú muộn - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.12 Lý do bà mẹ cho con bú muộn (Trang 61)
Bảng 3.14: Lý do các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn ngoài sữa mẹ trước 6 tháng - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.14 Lý do các bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn ngoài sữa mẹ trước 6 tháng (Trang 62)
Bảng  3.19:  Mối  liên  quan  giữa  thái  độ  người  xung  quanh  và  thực  hành  NCBSMHT trong 6 tháng đầu (n=268) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
ng 3.19: Mối liên quan giữa thái độ người xung quanh và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu (n=268) (Trang 68)
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành NCBSMHT trong - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành NCBSMHT trong (Trang 68)
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin về NCBSM và thực hành  NCBSMHT trong 6 tháng đầu (n=268) - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin về NCBSM và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu (n=268) (Trang 71)
Bảng 3.22: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin quảng cáo sữa, thông tin  NCBSMHT với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu - Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã ngọc hồi, huyện thanh trì, hà nội năm 2014
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin quảng cáo sữa, thông tin NCBSMHT với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w