Với mục tiêu tìm hiểu việc thực hiện các tiêu chí ATTP TĂĐP và các yếu tố liên quan tại huyện Quốc Oai, nghiên cứu được tiến hành trên 119 cơ sở kinh doanh TĂĐP tại địa phương, sử dụng p
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Thức ăn đường phố
Thực phẩm là những sản phẩm mà con người tiêu thụ dưới dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản Tuy nhiên, thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất được sử dụng như dược phẩm.
An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [28]
Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc [28]
Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là nơi tổ chức chế biến và cung cấp thực phẩm, đồ uống để tiêu thụ ngay tại chỗ Các loại hình bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng tin, bếp ăn tập thể, nhà hàng trong khách sạn và khu nghỉ dưỡng, cùng với các cửa hàng và quầy hàng kinh doanh thực phẩm chín.
Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến sẵn để tiêu thụ ngay, thường được bán rong hoặc bày bán tại các khu vực công cộng.
Kinh doanh thức ăn đường phố là hình thức cung cấp thực phẩm và đồ uống có thể tiêu thụ ngay, thường được bán rong trên các tuyến phố hoặc tại những địa điểm công cộng như bến xe, bến tàu, nhà ga, khu du lịch và lễ hội.
Thức ăn đường phố, hay còn gọi là thức ăn vỉa hè, là các món ăn và đồ uống đã được chế biến sẵn hoặc có thể chế biến theo yêu cầu của khách hàng Những món ăn này thường được bày bán trên vỉa hè, lề đường ở các khu phố đông người hoặc tại những địa điểm công cộng như công viên.
HUPH là điểm đến lý tưởng với lịch trình phong phú, các khu giải trí và khu phố ẩm thực ngoài trời Thức ăn đường phố thường được bày bán tại các tiệm ăn di động, quán ăn tạm thời và từ những gian hàng di động cho đến các loại xe đẩy.
* Danh mục các bệnh hoặc chứng bệnh truyền nhiễm mà người lao động khi mắc không được phép tiếp xúc trực tiếp trong quá trình chế biến thực phẩm:
- Lao tiến triển chưa được điều trị;
- Các bệnh tiêu chảy: tả, lỵ, thương hàn;
- Các chứng són đái, són phân (rối loạn cơ vòng bàng quang, hậu môn), ỉa chảy;
- Viêm đường hô hấp cấp tính;
- Các tổn thương ngoài da nhiễm trùng;
1.1.2 Lợi ích và bất cập của thức ăn đường phố
Thức ăn đường phố chủ yếu là thực phẩm phục vụ tại chỗ, nhanh chóng và tiện lợi, với chi phí thấp hơn so với bữa ăn tại nhà hàng Sự cạnh tranh cao và giá cả phải chăng đã khiến thức ăn đường phố trở thành lựa chọn phổ biến, với khoảng 2,5 tỷ người tiêu thụ mỗi ngày theo Tổ chức Thực phẩm và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO).
Thức ăn đường phố, bao gồm đồ ăn vặt, đồ ăn nhẹ và thức ăn nhanh, nổi bật với hương vị địa phương và được bán trực tiếp trên đường phố mà không cần cơ sở cố định Đây không chỉ là một phần của văn hóa Việt Nam mà còn phản ánh lối sống và sự phát triển xã hội Việc tiêu thụ thức ăn đường phố đã trở thành thói quen của nhiều người dân đô thị, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng.
Tuy nhiên, bên cạnh sự thuận tiện này là những mối nguy hại tới sức khỏe, tính mạng khách hàng, thậm chí là cả cộng đồng [36]
Thức ăn đường phố ngày càng trở nên phổ biến cùng với nếp sống đô thị hóa vì lợi ích của nó đối với xã hội:
Đồ ăn đường phố là nguồn thực phẩm giá cả phải chăng với hương vị độc đáo, nhờ vào kinh nghiệm của người chế biến Nó không chỉ đa dạng và tiện lợi cho những người có thu nhập thấp và ít thời gian, mà còn thu hút cả khách du lịch và những người có thu nhập cao.
- Thuận tiện cho người tiêu dùng, nguồn thức ăn đa dạng, hấp dẫn, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho xã hội
Dịch vụ ăn uống đường phố đã tạo ra nguồn thu nhập cho nhiều người, đặc biệt là phụ nữ và những người di cư từ nông thôn ra đô thị, đóng vai trò là nguồn lao động chính Loại hình này không chỉ mang đến cơ hội làm ăn mà còn là bước khởi đầu cho những ai có vốn kinh doanh ít, vì đầu tư vào ngành này yêu cầu ít vốn và không cần nhiều trang thiết bị.
Thức ăn đường phố không chỉ đơn thuần là món ăn, mà còn là biểu tượng văn hóa ẩm thực đặc trưng của từng vùng miền tại Việt Nam Nó phản ánh lối sống và sự phát triển xã hội, đồng thời trở thành thói quen quen thuộc của nhiều người dân nơi đây.
Bên cạnh mặt tích cực, thức ăn đường phố cũng có nhiều bất cập, đó là:
Người làm dịch vụ thực phẩm thường thiếu kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm, dẫn đến việc sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc và phụ gia thực phẩm không được phép Điều kiện vệ sinh trong quá trình chế biến kém, cùng với hạ tầng cơ sở và vệ sinh môi trường hạn chế, như cung cấp nước sạch và xử lý rác thải, đặc biệt ở các quán hàng nhỏ lẻ tự phát, làm gia tăng nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Hoạt động này cũng khó kiểm soát do sự đa dạng, cơ động tạm thời, mùa vụ
- Ảnh hưởng tới cảnh quan, văn minh đô thị và an toàn giao thông
- Mối nguy cơ cho sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, thậm chí là tới cả cộng đồng (ngộ độc thực phẩm, các bệnh lây truyền qua thực phẩm) [42]
Thức ăn đường phố có thể tiềm ẩn nguy cơ lớn cho người tiêu dùng do vi sinh vật ô nhiễm, phụ thuộc vào loại thực phẩm, phương pháp chế biến và cách bảo quản Ngoài ra, thực phẩm đường phố còn có thể bị ô nhiễm bởi hóa chất độc hại như dư lượng thuốc trừ sâu, kim loại nặng, độc tố và các chất phụ gia thực phẩm không được phép sử dụng Bụi bẩn và xe cộ lưu thông cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ ô nhiễm thực phẩm.
Bộ Y tế cảnh báo rằng thực phẩm đường phố không an toàn có thể gây ra hai nguy cơ nghiêm trọng Trước mắt, thực phẩm bị nhiễm bẩn hoặc hóa chất có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm cấp tính, với triệu chứng như đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, và có thể kèm theo sốt Về lâu dài, các hóa chất tích tụ trong cơ thể từ thực phẩm có thể gây ra những bệnh nguy hiểm, bao gồm cả ung thư.
1.2 Thực trạng an toàn thực phẩm thức ăn đường phố trên thế giới và Việt Nam 1.2.1 Thực trạng an toàn thực phẩm thức ăn đường phố trên thế giới
Thức ăn đường phố đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của hàng triệu người tiêu dùng có thu nhập thấp và trung bình tại khu vực thành thị, cung cấp một bữa ăn cân bằng dinh dưỡng với chi phí thấp và dễ tiếp cận Ngoài ra, thực phẩm đường phố còn tạo ra cơ hội việc làm cho nhiều nam giới và phụ nữ có trình độ học vấn hoặc kỹ năng hạn chế, đặc biệt là với mức đầu tư ban đầu thấp.
Tổng quan về huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố, chủ các cơ sở này, và cán bộ quản lý an toàn thực phẩm cấp xã, như Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã và Trưởng trạm.
Y tế xã và Cán bộ công an viên tham gia công tác đảm bảo ATTP xã)
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ ĐTNC
2.1.1.1 Đối với cơ sở và chủ cơ sở kinh doanh TĂĐP
Chọn toàn bộ các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn huyện Quốc Oai tại thời điểm nghiên cứu Tổng cộng là 119 cơ sở
Mỗi cơ sở TĂĐP chọn chủ của cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố để phỏng vấn
Các cơ sở kinh doanh thực phẩm như xôi, bánh mì, bún, trứng vịt lộn và các loại bánh khác, thuộc quản lý của tuyến xã, đang hoạt động trên địa bàn huyện trong thời gian nghiên cứu.
Chủ cơ sở đồng ý phối hợp tham gia nghiên cứu
Cơ sở không hoạt động vào khoảng thời gian triển khai nghiên cứu
Chủ cơ sở từ chối tham gia nghiên cứu Đối tượng dưới 18 tuổi
2.1.1.2 Đối với cán bộ quản lý về TĂĐP
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các cán bộ quản lý đồng ý tham gia nghiên cứu Tiêu chuẩn loại trừ: Các cán bộ quản lý từ chối tham gia nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố, chủ các cơ sở này, và cán bộ quản lý an toàn thực phẩm cấp xã, như Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã và Trưởng trạm.
Y tế xã và Cán bộ công an viên tham gia công tác đảm bảo ATTP xã)
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ ĐTNC
2.1.1.1 Đối với cơ sở và chủ cơ sở kinh doanh TĂĐP
Chọn toàn bộ các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn huyện Quốc Oai tại thời điểm nghiên cứu Tổng cộng là 119 cơ sở
Mỗi cơ sở TĂĐP chọn chủ của cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố để phỏng vấn
Các cơ sở kinh doanh thực phẩm như xôi, bánh mì, bún, trứng vịt lộn và các loại bánh khác đang hoạt động trên địa bàn huyện và thuộc quản lý của tuyến xã trong thời gian nghiên cứu.
Chủ cơ sở đồng ý phối hợp tham gia nghiên cứu
Cơ sở không hoạt động vào khoảng thời gian triển khai nghiên cứu
Chủ cơ sở từ chối tham gia nghiên cứu Đối tượng dưới 18 tuổi
2.1.1.2 Đối với cán bộ quản lý về TĂĐP
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các cán bộ quản lý đồng ý tham gia nghiên cứu Tiêu chuẩn loại trừ: Các cán bộ quản lý từ chối tham gia nghiên cứu
Thời gian và địa điểm
Thời gian: từ tháng 02 đến tháng 5 năm 2017 Địa điểm: Huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp điều tra tại cơ sở TĂĐP và phỏng vấn chủ cơ sở dựa trên bảng điều tra đã được thiết kế sẵn, nhằm xác định tỷ lệ các cơ sở đạt tiêu chí về an toàn thực phẩm TĂĐP và các yếu tố liên quan Nội dung này phục vụ cho cả mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý an toàn thực phẩm tại các xã, nhằm bổ sung và giải thích cho kết quả nghiên cứu định lượng, và được trình bày ngay sau phần kết quả định lượng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cơ sở và chủ cơ sở kinh doanh TĂĐP
Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ để đánh giá thực trạng thực hiện các tiêu chí về an toàn thực phẩm tại 119 cơ sở kinh doanh thực phẩm ăn uống trên địa bàn huyện Quốc Oai, Hà Nội Danh sách các cơ sở này được lấy từ quản lý của Trung tâm Y tế huyện Quốc Oai.
Tất cả 119 cơ sở TĂĐP đã tham gia vào nghiên cứu, trong đó các nghiên cứu viên đã tiến hành phỏng vấn 119 chủ cơ sở kinh doanh TĂĐP để đánh giá thực trạng thực hiện các tiêu chí tại từng cơ sở.
2.4.2 Cán bộ quản lý về ATTP TĂĐP
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích
Trong số các xã được điều tra, chúng tôi đã chọn 02 xã có tỷ lệ cơ sở đạt cao nhất và 02 xã có tỷ lệ cơ sở đạt thấp nhất, dựa trên tỷ lệ phần trăm đạt được nhiều nhất và ít nhất các tiêu chí.
Sau khi phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) tại các xã, bao gồm Chủ tịch UBND xã, Trưởng trạm Y tế xã và một cán bộ công an viên tham gia công tác đảm bảo ATTP, chúng tôi đã thu thập được những thông tin quan trọng về tình hình quản lý và thực thi các quy định liên quan đến ATTP tại địa phương.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí về ATTP của các cơ sở TĂĐP sử dụng Bảng điều tra thông tin chung, một số yếu tố liên quan và việc thực hiện các tiêu chí về ATTP tại các cơ sở TĂĐP (chi tiết tại Phụ lục 2)
Bảng kiểm điều tra xây dựng theo Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 của Bộ Y tế quy định các điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP) cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố.
Bộ công cụ được thử nghiệm và hoàn thiện trước khi thu thập số liệu Điều tra viên, là nghiên cứu viên chính, thực hiện điều tra và phỏng vấn trong quá trình nghiên cứu Họ sử dụng Bảng kiểm để quan sát và đánh giá việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm (ATTP) của cơ sở, đồng thời tìm hiểu các yếu tố liên quan Trong quá trình điều tra, điều tra viên có thể vừa quan sát vừa phỏng vấn chủ cơ sở Sau mỗi cuộc điều tra, họ rà soát lại phiếu điều tra để chỉnh sửa kịp thời Đối với các giấy tờ liên quan như Giấy Khám sức khỏe, Giấy xác nhận kiến thức ATTP định kỳ, Bản cam kết đảm bảo ATTP, và hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc thực phẩm, điều tra viên đề nghị cơ sở xuất trình để xem xét và đánh giá vào Bảng kiểm.
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính
Sau khi nhận được kết quả sơ bộ về việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm (ATTP) tại các cơ sở TĂĐP, nghiên cứu viên sẽ lựa chọn cán bộ quản lý từ hai xã có tỷ lệ cơ sở đạt cao nhất và hai xã có tỷ lệ cơ sở đạt thấp nhất Việc lựa chọn này dựa trên tỷ lệ phần trăm đạt theo các tiêu chí để tiến hành phỏng vấn sâu.
Sử dụng Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu và máy ghi âm để thực hiện phỏng vấn với cán bộ quản lý an toàn thực phẩm tại các xã được chọn (xem chi tiết tại Phụ lục 3 và Phụ lục 4).
Người thực hiện phỏng vấn sâu chính là nghiên cứu viên trực tiếp phỏng vấn
Thông tin từ phỏng vấn sâu được ghi âm, ghi chép lại sau đó gỡ băng và chọn lọc các thông tin cần thiết cho mục tiêu nghiên cứu.
Biến số nghiên cứu
2.6.1 Nhóm biến số nghiên cứu định lượng
Biến số nghiên cứu được xây dựng tương ứng với các nội dung trong khung lý thuyết, nội dung các biến số bao gồm:
+ Nhóm biến thông tin chung của chủ cơ sở: Tuổi, giới, trình độ học vấn, trình độ nấu ăn, kinh nghiệm trong nghề
Nhóm biến về các yếu tố liên quan bao gồm thông tin chung của cơ sở như thời gian, quy trình, địa bàn và địa điểm kinh doanh Ngoài ra, còn có thông tin về quản lý an toàn thực phẩm, bao gồm kiểm tra của cơ quan chức năng, xử phạt vi phạm hành chính và cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm Cuối cùng, thông tin về tuyên truyền cũng rất quan trọng, bao gồm việc tiếp cận với các nguồn thông tin an toàn thực phẩm và các nguồn thông tin hữu ích nhất.
+ Nhóm biến số về thực hiện các tiêu chí ATTP của các cơ sở TĂĐP:
- Biến về nơi bày bán: 05 chỉ tiêu
- Biến về nguồn nước: 03 chỉ tiêu
- Biến về trang thiết bị, dụng cụ: 04 chỉ tiêu
- Biến về thiết bị phòng chống bụi bẩn, côn trùng: 04 chỉ tiêu
- Biến về trang phục và sử dụng găng tay 01 lần: 02 chỉ tiêu
- Biến về nguyên liệu, phụ gia thực phẩm: 03 chỉ tiêu
- Biến về dụng cụ chứa đựng rác thải, nước thải: 03 chỉ tiêu
- Biến về Giấy xác nhận kiến thức ATTP: 01 chỉ tiêu
- Biến về Giấy chứng nhận sức khỏe: 01 chỉ tiêu
- Biến về tình hình mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của Bộ Y tế: 01 chỉ tiêu
Những thông tin chi tiết hơn về các biến số nghiên cứu, định nghĩa biến, phân loại và cách thu thập được trình bày chi tiết tại Phụ lục 5
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý ATTP để tìm hiểu thực trạng công tác ATTP TĂĐP tại địa phương với các nội dung sau:
Công tác ban hành các văn bản chỉ đạo tại địa phương bao gồm việc thành lập và kiện toàn Ban Chỉ đạo Vệ sinh An toàn Thực phẩm (VSATTP), tổ chức Đoàn kiểm tra, xây dựng kế hoạch và phân cấp quản lý hiệu quả.
- Công tác kiểm tra ATTP TĂĐP (xây dựng kế hoạch, tần suất, nội dung, đơn vị thực hiện, phương tiện, trang thiết bị, vi phạm và xử lý)
- Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí ATTP TĂĐP, tiêu chí còn nhiều cơ sở chưa thực hiện được
- Nguồn gốc nguyên liệu thực phẩm, nguồn nước sử dụng tại cơ sở
- Đánh giá nhân lực thực hiện công tác kiểm tra (thành phần, năng lực quản lý và kinh nghiệm kiểm tra)
- Công tác tuyên truyền (nội dung và hình thức tuyên truyền)
- Việc ký cam kết ATTP (đơn vị thực hiện, thời hạn, hình thức ký cam kết)
2.7 Khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá
Nơi bày bán cách biệt với nguồn ô nhiễm là đảm bảo thực phẩm được ngăn cách không bị ảnh hưởng bởi các nguồn ô nhiễm
Thời gian kinh doanh cả ngày là kinh doanh cả buổi sáng và buổi tối hoặc cả buổi trưa
- Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí về ATTP tại các cơ sở TĂĐP:
Tiêu chí đánh giá việc thực hiện các tiêu chí về ATTP tại các cơ sở TĂĐP được căn cứ theo Thông tư 30/2012/TT-BYT [5]
+ Nội dung theo các tiêu chí tại Bảng điều tra (Phụ lục 2)
Các chỉ tiêu đánh giá có giá trị điểm như nhau, với mỗi chỉ tiêu đạt 01 điểm (theo đánh giá cụ thể trong Phụ lục 6) Nếu một chỉ tiêu trong các tiêu chí không đạt yêu cầu, thì tiêu chí đó sẽ không đạt, và nếu có một tiêu chí không đạt, cơ sở đó cũng sẽ không đạt.
+ Cơ sở đạt khi có tổng số điểm tối đa là 24 điểm (100% tiêu chí đạt) Cơ sở không đạt khi có tổng số điểm < 24 điểm
Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) cần thực hiện công tác quản lý về an toàn thực phẩm TĂĐP bằng cách sử dụng Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu theo Phụ lục 3 và Phụ lục 4.
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
2.8.1 Đối với các số liệu định lượng
Tất cả số liệu nghiên cứu được mã hóa và nhập vào phần mềm Epidata 3.1, sau đó được làm sạch và xử lý thống kê bằng SPSS 18 Các thuật toán thống kê mô tả được áp dụng để phân tích tần số và tỷ lệ, nhằm đánh giá việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm tại các cơ sở TĂĐP Phương pháp thống kê phân tích, bao gồm kiểm định χ², được sử dụng để so sánh tỷ lệ và đo lường độ mạnh của sự kết hợp thông qua giá trị OR và khoảng tin cậy, nhằm phân tích các yếu tố liên quan đến việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm tại TĂĐP.
Các kết quả được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ phù hợp
2.8.2 Đối với số liệu định tính
Gỡ băng hệ thống thông tin theo các chủ đề, phân tích theo đề mục và trích dẫn nguyên văn một số câu trả lời phỏng vấn sâu nhằm phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu.
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng đồng ý thông qua
Nghiên cứu đã nhận được sự đồng ý từ các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, bao gồm Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện, Trạm Y tế và các cơ sở Tăng cường An toàn Dinh dưỡng trên địa bàn huyện Quốc Oai.
Việc tham gia của ĐTNC là hoàn toàn tự nguyện, dựa trên sự giải thích rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu trước khi ĐTNC đồng ý tham gia.
- Đảm bảo tính bí mật của các thông tin thu thập được
- Không làm ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của cơ sở, chỉ sử dụng để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung
- Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phục vụ mục đích học tập không vì bất kỳ mục đích nào khác
Kết quả nghiên cứu được thông báo trực tiếp cho chủ cơ sở nhằm tìm ra biện pháp khắc phục các vấn đề tồn tại, đồng thời làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.
2.10 Các sai số và cách khống chế sai số trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu có thể gặp phải nhiều loại sai số, bao gồm sai số trong thu thập thông tin, sai số khi nhập số liệu, và sai số do trí nhớ hoặc không trung thực trong phỏng vấn Để giảm thiểu những sai số này, nghiên cứu viên đã áp dụng một số biện pháp hiệu quả.
- Sai số trong quá trình thu thập thông tin:
+ Xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu chi tiết và tiến hành thử nghiệm bộ công cụ trước khi tiến hành nghiên cứu
+ Kết hợp phương pháp quan sát và phỏng vấn trong quá trình thu thập số liệu tại cơ sở
+ Nghiên cứu viên trực tiếp điều tra 100% số phiếu phỏng vấn về điều kiện bảo đảm ATTP, phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu
- Sai số trong quá trình nhập số liệu:
Kiểm tra lại thông tin của mỗi phiếu điều tra sau khi nhập số liệu vào phần mềm Epidata 3.1
Sai số trong việc nhớ lại và sự không trung thực trong phỏng vấn sâu có thể được giảm thiểu bằng cách giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của cuộc điều tra cho đối tượng nghiên cứu Điều này giúp họ hiểu và chấp nhận hợp tác tốt hơn Nếu có nghi ngờ về tính nhất quán trong câu trả lời của đối tượng, cần áp dụng các biện pháp hỏi lại và làm rõ thông tin.
Xử lý và phân tích số liệu
2.8.1 Đối với các số liệu định lượng
Tất cả số liệu nghiên cứu được mã hóa và nhập vào phần mềm Epidata 3.1, sau đó được làm sạch và xử lý thống kê bằng SPSS 18 Các thuật toán thống kê mô tả được áp dụng để phân tích tần số và tỷ lệ, nhằm đánh giá việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm tại các cơ sở TĂĐP Phương pháp thống kê phân tích, bao gồm kiểm định χ², được sử dụng để so sánh tỷ lệ và đo lường độ mạnh của sự kết hợp thông qua giá trị OR và khoảng tin cậy, nhằm phân tích các yếu tố liên quan đến việc thực hiện các tiêu chí an toàn thực phẩm tại TĂĐP.
Các kết quả được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ phù hợp
2.8.2 Đối với số liệu định tính
Gỡ băng hệ thống thông tin theo các chủ đề, phân tích theo đề mục và trích dẫn nguyên văn một số câu trả lời phỏng vấn sâu nhằm phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng đồng ý thông qua
Nghiên cứu đã nhận được sự đồng ý từ các cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, bao gồm Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện, Trạm Y tế và các cơ sở Tăng cường An toàn Dinh dưỡng trên địa bàn huyện Quốc Oai.
Việc tham gia của ĐTNC hoàn toàn mang tính tự nguyện, dựa trên sự giải thích rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu trước khi họ đồng ý tham gia.
- Đảm bảo tính bí mật của các thông tin thu thập được
- Không làm ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của cơ sở, chỉ sử dụng để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung
- Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phục vụ mục đích học tập không vì bất kỳ mục đích nào khác
Kết quả nghiên cứu được thông báo trực tiếp cho chủ cơ sở nhằm tìm ra biện pháp khắc phục các vấn đề tồn tại, đồng thời làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Các sai số và cách khống chế sai số trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu có thể gặp phải nhiều loại sai số, bao gồm sai số trong thu thập thông tin, sai số khi nhập số liệu, và sai số do trí nhớ hoặc không trung thực trong phỏng vấn Để giảm thiểu những sai số này, nghiên cứu viên đã áp dụng một số biện pháp hiệu quả.
- Sai số trong quá trình thu thập thông tin:
+ Xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu chi tiết và tiến hành thử nghiệm bộ công cụ trước khi tiến hành nghiên cứu
+ Kết hợp phương pháp quan sát và phỏng vấn trong quá trình thu thập số liệu tại cơ sở
+ Nghiên cứu viên trực tiếp điều tra 100% số phiếu phỏng vấn về điều kiện bảo đảm ATTP, phỏng vấn sâu các đối tượng nghiên cứu
- Sai số trong quá trình nhập số liệu:
Kiểm tra lại thông tin của mỗi phiếu điều tra sau khi nhập số liệu vào phần mềm Epidata 3.1
Sai số trong việc nhớ lại và sự không trung thực trong phỏng vấn sâu có thể được giảm thiểu bằng cách giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của cuộc điều tra cho đối tượng nghiên cứu Điều này giúp họ hiểu và chấp nhận hợp tác tốt hơn Nếu có nghi ngờ về tính nhất quán trong câu trả lời của đối tượng, cần áp dụng biện pháp hỏi lại và làm rõ để đảm bảo độ chính xác của thông tin thu thập được.