BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VŨ THỊ LAN ANH THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRÁNH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ THỊ LAN ANH
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI SỬ DỤNG MỘT SỐ
BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ THỊ LAN ANH
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI SỬ DỤNG MỘT SỐ
BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS VIÊN CHINH CHIẾN THS NGUYỄN THỊ THANH NGA
Hà Nội - 2014
HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Y tế Công cộng được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện
đề tài nghiên cứu
Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới hai thầy cô
hướng dẫn: TS Viên Chinh Chiến và ThS Nguyễn Thị Thanh Nga – người đã
giúp đỡ tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Quý thầy cô giáo, đồng nghiệp Trường Đại Học Tây Nguyên - nơi tôi tiến hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bố mẹ, người chồng yêu quý
đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Y tế Công cộng khóa
16 tại Tây Nguyên đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả các bạn đồng nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vũ Thị Lan Anh
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên trên thế giới và Việt Nam 7
1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng BPTT trên thế giới và Việt Nam 9
1.4 Sơ lược về trường Đại học Tây Nguyên 14
1.5 Khung lý thuyết 14
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4 Cỡ mẫu 16
2.5 Phương pháp chọn mẫu 16
2.6 Các biến số nghiên cứu (phụ lục 2) 19
2.7 Đo lường biến số (phụ lục 3) 19
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 19
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 20
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 21
3.2 Tỉ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân 23
3.3 Kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng các biện pháp tránh thai 24
HUPH
Trang 53.4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân, 38
kiến thức, thái độ đúng, hành vi của ĐTNC về BPTT
Chương 4 BÀN LUẬN 42
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 42
4.2 Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân 43
4.3 Kiến thức của sinh viên về các biện pháp tránh thai 45
4.4 Thái độ của sinh viên về các biện pháp tránh thai 53
4.5 Hành vi của sinh viên về các biện pháp tránh thai 56
4.6 Kiến thức, thái độ đúng và hành vi về 3 biện pháp tránh thai 61
4.7 Một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân, kiến thức, thái độ, hành vi của ĐTNC về BPTT 64
KẾT LUẬN 69
KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
HUPH
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố số lượng sinh viên theo khoa và năm học 21
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 3.3: Tình trạng sinh viên quan hệ tình dục trước hôn nhân theo giới tính 23
Bảng 3.4: Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân theo đối tượng SV QHTD 23 Bảng 3.5: Kiến thức về bao cao su 26
Bảng 3.6: Kiến thức về vỉ thuốc tránh thai phối hợp 26
Bảng 3.7: Kiến thức về thuốc tránh thai khẩn cấp 27
Bảng 3.8: Thái độ của sinh viên về bao cao su 29
Bảng 3.9: Thái độ về vỉ thuốc tránh thai phối hợp 30
Bảng 3.10: Thái độ về thuốc tránh thai khẩn cấp 31
Bảng 3.11: Tỉ lệ hành vi đã sử dụng các biện pháp tránh thai 32
Bảng 3.12: Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên 33 Bảng 3.13: Hành vi sử dụng bao cao su của sinh viên 34
Bảng 3.14: Hành vi sử dụng vỉ thuốc tránh thai phối hợp của sinh viên 35
Bảng 3.15: Hành vi sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp của sinh viên 36
Bảng 3.16: Phân tích các yếu tố liên quan tới hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của đối tượng nghiên cứu với đặc điểm cá nhân và xã hội 38
Bảng 3.17: Phân tích các yếu tố liên quan tới kiến thức về một trong 3 biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu với đặc điểm cá nhân và xã hội 39
Bảng 3.18: Phân tích các yếu tố liên quan tới thái độ về một trong 3 biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu với đặc điểm cá nhân và xã hội 40
Bảng 3.19: Phân tích các yếu tố liên quan tới hành vi chọn sử dụng một trong ba biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên của đối tượng nghiên cứu với đặc điểm cá nhân và xã hội 41
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐÒ
Biểu đồ 3.1: Sinh viên tự đánh giá kiến thức về các biện pháp tránh thai 24
Biểu đồ 3.2: Loại biện pháp sinh viên có biết, nhìn thấy hay nghe qua 25
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ sinh viên biết về các biện pháp tránh thai 25
Biểu đồ 3.4: Kiến thức đúng cả ba BPTT và đúng một trong ba BPTT 28
Biểu đồ 3.5: Thái độ đúng cả ba biện pháp tránh thai và một trong ba BPTT 32
HUPH
Trang 8ĐĐCNVXH : Đặc điểm cá nhân và xã hội
KT-TĐ-HV : Kiến thức – Thái độ - Hành vi
N : Tổng số các trường hợp
QHTD : Quan hệ tình dục
QHTDTHN : Quan hệ tình dục trước hôn nhân
STI/STD : Viêm nhiễm và lây truyền qua đường tình dục
SV : Sinh viên
TNYM : Thai ngoài ý muốn
TTCSSKSS : Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản
TTKC : Tránh thai khẩn cấp
TTPH : Tránh thai phối hợp
XTNÂĐ : Xuất tinh ngoài âm đạo
HUPH
Trang 9TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) là một vấn đề chưa phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam dẫn đến những nguy cơ có thai ngoài ý muốn, kéo theo các tình trạng nạo, phá thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục gia tăng thậm chí dẫn đến vô sinh Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là nhận thức của sinh viên về các biện pháp tránh thai BPTT chưa đúng, song đến nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về vấn đề này đặc biệt là tại đại học Tây Nguyên – Trường đại học có sinh viên của 41/54 dân tộc ở Việt Nam, đa dạng về bản sắc văn hóa Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiến thức, thái độ, hành vi sử
dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2014” với
mục tiêu: 1) Xác định tỉ lệ QHTDTHN của sinh viên ĐH Tây Nguyên 2) Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng một BPTT của sinh viên Đại học Tây Nguyên 3) Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTDTHN, kiến thức thái độ đúng và hành vi sử dụng một số BPTT của sinh viên ĐH Tây Nguyên năm 2014 Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích bằng bảng phát vấn trên
483 sinh viên 3 năm đầu tại trường đại học Tây Nguyên, phân tích bằng Stata 12.0 kết quả cho thấy: Tỉ lệ QHTDTHN là 20,3% SV nam, nhóm > 20 tuổi, nhóm có người yêu, nhóm có thái độ đúng về 1 trong 3 BPTT có QHTDTHN cao hơn nhóm tương ứng (p<0,05) Tỉ lệ sinh viên có biết, nhìn thấy hay nghe qua về sử dụng bao cao su, vỉ tránh thai phối hợp, thuốc tránh thai khẩn cấp lần lượt là 99,2%,74,1%,76%; có kiến thức đúng lần lượt là 25,3%; 9,5%; 2,9%; có thái độ đúng lần lượt là 43,5%; 12,6%; 32,1% Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ
và hành vi về BPTT là giới, tuổi, niên khóa, khoa, đã QHTD, thái độ đúng về 1 trong 3 BBTT
Theo kết quả NC thì tỉ lệ QHTD THN của SV khá cao song kiến thức, thái
độ và hành vi về BPTT của SV còn nhiều hạn chế, do vậy cần tăng cường kiến thức, thái độ, hành vi đúng về các BPTT cho SV thông qua sự quan tâm của hội SV
và bằng hình thức đa dạng hóa các biện pháp truyền thông
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, một bộ phận thanh niên ngày càng có xu hướng cởi mở về quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTDTHN) Sinh viên (SV) là lực lượng tiên tiến trong thanh niên, nhưng đã xuất hiện những cách nghĩ, lối sống và quan niệm về QHTDTHN thoáng hơn so với các thế hệ trước đây Sinh viên là tương lai của đất nước, nắm giữ vận mệnh của dân tộc, do đó song song với chuyên ngành được đào tạo thì vấn đề CSSKSS, giáo dục giới tính trong SV đang được ngành y tế và toàn
xã hội quan tâm đặc biệt Nếu SV không được giáo dục giới tính và sức khỏe tình dục một cách toàn diện và không được tiếp cận đầy đủ với các biện pháp tránh thai (BPTT) có thể dẫn đến những nguy cơ có thai khi còn quá trẻ, có thai ngoài ý muốn, kéo theo các tình trạng nạo, phá thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Sinh viên mang thai không chỉ đơn thuần là một vấn đề sức khỏe, mất đi cơ hội học hành, cống hiến, hạn chế sự lựa chọn cho tương lai mà còn ảnh hưởng đến chất lượng dân số và chất lượng giống nòi
Tại Việt Nam theo nghiên cứu của tác giả Dương Đăng Hanh trên 1508 sinh viên đại học tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: 19,76% nam và 5,95% nữ đã từng
có quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTDTHN) Tuy nhiên, gần 50% sinh viên đồng ý khi yêu nhau có thể QHTDTHN [16] Nghiên cứu của Phan Ngọc Ngoan[24], tỉ lệ sinh viên biết 1 biện pháp tránh thai ( BPTT) là 97,4% nhưng có kiến thức tránh thai đúng chỉ đạt 20,7% Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình: Việt Nam hiện là nước có tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 trên thế giới, mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 – 19 Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) cảnh báo Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới Mỗi năm có khoảng 1 triệu trường hợp nạo phá thai, phần lớn tập trung ở các đối tượng là học sinh, sinh viên (HSSV) [36]
Tại Đắk Lắk, theo thống kê của trung tâm CSSKSS của tỉnh, tình trạng nạo phá thai trong 5 năm gần đây có xu hướng tăng khoảng 4000 lượt người/năm, tập trung chủ yếu nhóm tuổi từ 17 đến 30 [37] Những thực trạng này ảnh hưởng rất
HUPH
Trang 11lớn đến sức khỏe, lối sống và hạnh phúc tương lai của giới trẻ Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là nhận thức của sinh viên về SKSS chưa đúng, chưa đầy đủ, điều đó làm cho họ giảm niềm tin vào các biện pháp tránh thai, dẫn đến tránh thai thất bại hoặc không sử dụng Hơn nữa, còn do có khá nhiều các bạn trẻ có nhu cầu tránh thai nhưng không được cung cấp Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông cho giới trẻ còn hạn chế, nội dung và phương pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình (SKSS/KHHGĐ) chưa phù hợp và dường như vẫn còn một khoảng cách giữa nhận thức và giải pháp thực hiện
Các nghiên cứu nhận thức về SKSS ở Việt Nam có quan tâm nhiều đến học sinh phổ thông (vị thành niên) Song đến nay vẫn còn thiếu các NC đầy đủ và hệ thống về kiến thức, thái độ và thực hành của thanh niên ở đối tượng sinh viên đại học, cao đẳng về các vấn đề sức khỏe sinh sản nói chung và các biện pháp tránh thai nói riêng đặc biệt là tại đại học Tây Nguyên – Trường đại học có sinh viên của
41/54 dân tộc ở Việt Nam, đa dạng về bản sắc văn hóa Câu hỏi cần đặt ra là: Thực
trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên như thế nào? Yếu tố nào liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân, kiến thức thái độ đúng và hành vi sử dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên?
Chính vì mong muốn tìm hiểu và đưa ra những kiến nghị cần thiết, là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa cộng đồng và tính thực tiễn cao Vì vậy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và kiến
thức, thái độ, hành vi sử dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2014” HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỉ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2014
2 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2014
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân, kiến thức thái độ đúng và hành vi sử dụng một số biện pháp tránh thai của sinh viên Đại học Tây Nguyên năm 2014
HUPH
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Chúng ta có thể thu được kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có thái độ cũng như suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ
đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc[5]
Thái độ: Thái độ được hiểu một cách đơn giản là cái nhìn, quan điểm tích cực, tiêu cực hay trung lập về một cá thể (có thể là một người, một hành vi, một sự kiện, hay một thuộc tính nào đó) Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin,
và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của người xung quanh, môi trường và hoàn cảnh Những người sống gần chúng ta, đặc biệt là những người mà ta kính trọng có thể làm chúng tat hay đổi suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề, mức độ quan tâm đến vấn đề, từ đó dẫn đến thay đổi thái độ Thái độ phản ánh những điều người ta thích hay không thích, tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản [5]
Hành vi: Hành vi là “cách ứng xử trong một hoàn cảnh, sự việc nhất định qua hành động” Hành vi sử dụng BPTT là những hành động và cách làm để ngăn không có thai[5]
Biện pháp tránh thai: Là các biện pháp can thiệp tác động lên tác nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nỗ lực của cá nhân nhằm tránh thụ thai Cho đến nay, chưa có phương pháp tránh thai nào đạt hiệu quả 100% và phần lớn thất bại thường là do sử dụng sai cách, sử dụng không kiên định hay không sử dụng các BPTT Hiện tại BPTT được chia ra làm 2 loại: BPTT tự nhiên (truyền thông) và BPTT hiện đại [22]
HUPH
Trang 14Bao cao su: là một BPTT có hiệu quả, an toàn và rẻ tiền Đồng thời là một biện pháp duy nhất có thể phòng tránh HIV/AIDS và các STI/STD
Bao cao su có hiệu quả tránh thai cao 98% nếu sử dụng đúng An toàn, không có tác dụng phụ của nội tiết Dễ sử dụng, rẻ tiền, có thể mang theo bên người và sử dụng trong bất cứ thời gian nào, giúp cho nam giới có trách nhiệm trong việc kế hoạch hóa gia đình Vấn đề dùng thất bại BCS ngoài việc sử dụng sai phương pháp có thể
là BCS bị thủng, rách, bị tuột khỏi dương vật Do đó cần phải kiểm tra thời hạn và chất lượng của BCS trước và sau khi sử dụng Ngoài BCS nam, các phương pháp rào chắn khác bao gồm: BCS cho nữ, màng ngăn âm đạo, mũ cổ tử cung, miếng xốp
âm đạo, thuốc diệt tinh trùng các biện pháp này ít lưu hành và hiếm được sử dụng
ở giới trẻ ở Việt Nam[2]
Vỉ thuốc tránh thai phối hợp: Có 2 dạng đóng vỉ là 21 viên và 28 viên Cách dùng là mỗi ngày uống một viên vào một giờ nhất định Nếu quên uống 1 viên thuốc phải uống viên thuốc bị quên ngay thời điểm nhớ hay phát hiện ra Quên uống
2 viên thuốc của 2 ngày liên tiếp trong khoảng ¾ đầu (15 viên đầu) của vỉ thuốc Trong tình huống này, uống (1 viên x 2 lần) vào ngày phát hiện quên thuốc Uống (1viên x 2 lần) vào ngày kế tiếp Kể từ ngày thứ ba, uống mỗi viên mỗi ngày như thường lệ Thuốc không còn hiệu quả tránh thai kể từ thời điểm uống thuốc bù Bắt buộc phải sử dụng một BPTT hỗ trợ kèm theo để tránh TNYM trong chu kỳ có quên hai viên thuốc liên tiếp Quên uống 2 viên thuốc của hai ngày liên tiếp trong khoảng 5 viên cuối của vỉ thuốc 21 viên thì ngưng uống thuốc và chờ ra kinh trở
lại[6] Thuốc có nhiều tác dụng có lợi: Điều hòa chu kỳ kinh nguyệt, giảm đau bụng
kinh, giảm lượng máu kinh 30 - 50%, TTTPH dưới tác dụng của estrogen (tăng hấp thu canxi, giảm mất canxi, ức chế hủy cốt bào),…
Một số rối loạn nhẹ khi dùng thuốc TTPH: Tăng cân do ứ nước, tăng chuyển hóa đường đạm, đau vú do tác dụng của EE, nhức đầu, buồn nôn, có thể có rụng tóc,
xạm da Biến chứng : Thay đổi về đông máu: Tắc nghẽn mạch do huyết khối có thể
gặp, do đó không nên dùng ở những người có tiền sử mắc bệnh tim (nhất là các bệnh van tim) và rối loạn đông máu, ở những người có phẫu thuật vùng chậu, trước
và sau mổ sáu tháng; Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản: Sau khi ngưng sử dụng
HUPH
Trang 15TTTPH sự rụng trứng có thể trì hoãn, nhưng sự chậm trễ này chỉ xuất hiện tạm thời
và thường giới hạn ở những tháng đầu sau khi ngừng sử dụng TTTPH Tỉ lệ thụ thai sau 12 tháng sử dụng TTTPH được báo cáo nằm trong khoảng từ (72% - 94%) và cũng tương tự như tỉ lệ thụ thai ở phụ nữ ngưng sử dụng dụng cụ tử cung (71% - 92%), ngưng sử dụng thuốc tránh thai chỉ chứa progestin (70% - 95%), và kế hoạch
hóa gia đình bằng phương pháp truyền thống (92%); Ảnh hưởng của thuốc đến sữa
mẹ: Nói chung thuốc tránh thai không ảnh hưởng đến sự tiết sữa, tuy nhiên có tài
liệu cho rằng lượng sữa ít hơn; Thay đổi chuyển hóa: Tăng triglyceride, giảm
đường, tăng phospholipide trong máu, tăng khả năng gắn đồng, sắt và kẽm trong huyết thanh…Đặc biệt là khả năng dung nạp glucose giảm, cần tránh dùng thuốc
tránh thai cho những người có tiền căn đái tháo đường; Tăng huyết áp: EE có tác
dụng giữ muối nước, progestogen làm tăng sự đồng hóa Tuy nhiên, những người dùng thuốc tránh thai, tăng huyết áp ít quan sát thấy trong vài tháng đầu so với người không dùng thuốc, song sau đó giữ ở mức bình thường Vì vậy, những người
cao huyết áp nên tránh dùng thuốc tránh thai; Rối loạn chức năng gan – vàng da:
Steroid có làm thay đổi nhiều chức năng gan Có tác giả nhận thấy chức năng bài tiết bromosulfophtalein giảm đi 40% và gặp 1/45.000 người dùng thuốc tránh thai Thường xảy ra ở những người có tiền sử vàng da trong những lần mang thai trước
và khỏi khi ngưng thuốc [6], [53]
Thuốc tránh thai khẩn cấp (tránh thai sau giao hợp): là loại thuốc tránh thai chứa progestin liều cao Thuốc TTKC dùng cho phụ nữ sau giao hợp không được bảo vệ, rách BCS khi sử dụng hoặc quên uống thuốc tránh thai hằng ngày hay bị hiếp dâm Thuốc TTKC có thể gây ra một số tác dụng phụ như rong huyết (do thuốc làm teo, bong niêm mạc tử cung), nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi và buồn nôn Thị trường hiện tại có 3 biệt dược thông dụng là Postinor, Escapelle và Mifestad Postinor có 2 viên uống 1 viên trong vòng 72 giờ sau giao hợp và uống viên thứ 2 cách viên thứ nhất 12 giờ Escapell chỉ có 1 viên uống càng sớm càng tốt trong vòng 72 giờ sau QHTD, có thể kéo dài 120 giờ sau giao hợp Mifestad loại một viên nén, uống một liều duy nhất, dùng trong vòng 120 giờ sau giao hợp không được bảo vệ Không dùng thuốc quá 2 lần thuốc TTKC trong 1 tháng [6] Về tác
HUPH
Trang 16dụng phụ: Các nghiên cứu ghi nhận một số dấu hiệu gặp như mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, nôn Nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ tác dụng phụ của thuốc TTKC dạng kết hợp buồn nôn 50%, nôn 19% cao hơn so với thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ chứa Progestin lần lượt là 23% và 5,6%, thuốc TTKC Mifestad được ghi nhận có ít tác dụng phụ hơn cả Xu hướng hiện nay là sử dụng chỉ có progestin đơn thuần hay là Mifepristone, khó có thể biết trước được người nào
sử dụng thì sẽ bị tác dụng phụ Ngoài ra thuốc TTKC còn có thể gây căng tức vú, các triệu chứng như cương đau vú, nhức đầu, chóng mặt và mệt mỏi không kéo dài quá 24 giờ Ra máu tử cung bất thường có thể gặp trong một số trường hợp, thuốc TTKC không gây ra kinh nguyệt ngay lập tức, nhưng nếu không có kinh trong vòng 21 ngày sau khi dùng thuốc thì nên dùng kiểm tra có thai [6],[18]
1.2 Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên trên thế giới
và Việt Nam
Theo Điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam năm 2003 và lần
2 năm 2008 cho thấy sau 5 năm tỉ lệ phần trăm những người chưa kết hôn nhưng
đã có quan hệ tình dục (QHTD) ở thành thị và nông thôn đã tăng lên rõ rệt, tỉ lệ phần trăm QHTD theo nhóm tuổi cũng tăng lên Ở đối tượng dân tộc thiểu số (DTTS) tỉ lệ QHTDTHN ở nam tăng hơn gấp đôi (từ 5,8% lên 13%) [9],[10] Xu hướng bùng nổ thông tin và toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, sự giao lưu dễ dàng với các nền văn hóa, suy nghĩ thoáng về QHTD đã ảnh hưởng mạnh tới quan niệm, lối sống của giới trẻ Việt Nam Với đặc điểm e ngại cho nên giới trẻ Việt Nam thường thiếu thông tin và khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS[23]
Tại Bắc Kinh, Trung Quốc, một nghiên cứu trên 12450 sinh viên cho biết 81,9% ở nam và 74,8% ở nữ cho rằng QHTDTHN là có thể chấp nhận được, 18,4% ở nam và 10,5% ở nữ đã từng có QHTDTHN[59]
Tại Việt Nam, theo “Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam” (Survey Asessment of Vietnamese Youth) gọi tắt là SAVY1 (2003) và SAVY2 (2010) là điều tra đầu tiên được tiến hành trên phạm vi toàn quốc về VTN
và thanh niên nhằm tìm hiểu và đánh giá các vấn đề có liên quan đến sự phát triển
HUPH
Trang 17của thanh thiếu niên Trong đó có các vấn đề về tình dục và sức khỏe sinh sản Số liệu của SAVY 2 cho thấy, có 9,5 % thanh niên Việt Nam đã từng có QHTD trước hôn nhân (tỉ lệ này ở SAVY 1 là 7,5%) Tuổi QHTD trung bình lần đầu của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2 Cụ thể là đối với nữ tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình là 18 tuổi và đối với nam
là 18,2, tuổi quan hệ tình dục đầu tiên đã giảm 1,5 năm Cho thấy thanh thiếu niên đang có xu hướng quan hệ tình dục sớm [9],[10]
Theo NC của Nguyễn Văn Nghị trong số thanh niên đã lập gia đình, tỉ lệ thừa nhận từng có QHTD trước hôn nhân với người mà sau đó họ cưới là 21,6% ở nam và 12,3% ở nữ Có 23,4% nam giới và 13,5% nữ giới đã kết hôn thừa nhận từng có QHTD trước hôn nhân (quan hệ với bất kỳ ai, không chỉ người sau này đã kết hôn với họ).Với thanh thiếu niên chưa kết hôn, tỉ lệ từng có QHTD là 5,1% ở nam và 1,0% ở nữ cho thấy điều này chưa phổ biến ở Chililab, đặc biệt ở các nhóm tuổi trẻ [23]
Theo phân tích của Nguyễn Quý Thanh thì trong xã hội trước đây, ít có quan
hệ tình dục trước hôn nhân và vấn đề QHTDTHN chưa được đặt ra một cách cấp bách vì tuổi kết hôn thường thấp (dưới 20) nên khoảng cách giữa giai đoạn dậy thì
và kết hôn rất ngắn Nhưng trong xã hội ngày nay, tuổi kết hôn ngày càng cao thì sự chênh lệch khoảng cách giữa mốc dậy thì và kết hôn dài ra, kèm theo đó là sự phát triển rộng rãi của các mối quan hệ giao tiếp xã hội như học tập, làm việc, du lịch, Internet,… Làm phát sinh QHTDTHN, tăng tần suất thai tiền hôn nhân, dẫn đến nạo phá thai… Điều đó ảnh hưởng nhiều mặt đến xã hội nói chung và sức khỏe của nữ thanh niên nói riêng, đồng thời là nguy cơ dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau của vị thành niên - thanh niên[30]
Một nghiên cứu trên 384 vị thành niên đến phá thai tại bệnh viện Từ Dũ của tác giả Mai Thị Công Danh (2009) có 40% đối tượng cho rằng QHTDTHN
là bình thường, trong đó 50% nghĩ rằng QHTDTHN thì sau đó tình yêu sẽ tốt hơn[8]
HUPH
Trang 18Một nghiên cứu Vũ Quý Nhân trên sinh viên tại một số trường đại học ở
Hà Nội cho thấy có 40% sinh viên chấp nhận QHTDTHN, 50% sẵn sàng QHTDTHN với bạn đời tương lai, 48,2% với người yêu, 10,3% là ngẫu hứng với người chưa từng quen biết [58]
Nghiên cứu của tác giả Dương Đăng Hanh trên 1508 sinh viên đại học tại Thành phố (TP) Hồ Chí Minh cho thấy 42,5% nam và 10,09% nữ đồng ý quan hệ tình dục khi đã hứa hôn, 24,32% nam và 5,18% nữ chấp nhận quan hệ tình dục khi yêu nhau Có 19,76% nam và 5,95% nữ đã từng có QHTDTHN, tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên trung bình là 20 tuổi Một điều báo động là có đến 53,57% sinh viên không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Việc có nhiều bạn tình cũng được tìm thấy trong nghiên cứu với 14,06% sinh viên có quan hệ trên 3 bạn tình, 45,31% có QHTD trên 2 bạn tình, đến 18,6% sinh viên nam có quan hệ tình dục với gái mại dâm Đây là những tín hiệu báo động về nguy cơ của việc dễ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tác động xấu đến sức khỏe sinh sản của giới trẻ [16]
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2004) trên 3.196 học sinh cấp 3 tại TP Hồ Chí Minh cho thấy 16,63% nam và 4,55% nữ cho rằng có thể QHTD khi mà có cơ hội, trong nhóm này chỉ có 0,62% nam và 1,07% nữ hiểu về hậu quả tình dục không an toàn gây mang thai ngoài ý muốn và cũng chỉ có 3,1% nam - 3,2% nữ trong nhóm này có quan tâm đến các BPNT [34].
Nghiên cứu thực hiện năm 2008 của Hội sinh viên Việt Nam phối hợp với
Bộ Y Tế tiến hành trên 8000 sinh viên Cần Thơ và 4000 sinh viên các trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh và Tây Nguyên cho thấy hơn 73% nam sinh viên và 61% nữ sinh viên đồng ý muốn sống thử trước hôn nhân [3]
1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng BPTT trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Theo các nghiên cứu cho thấy ở các quốc gia có nền xã hội văn minh và kinh
tế phát triển thì BCS và thuốc tránh thai là những thứ luôn luôn có sẵn mọi nơi và
HUPH
Trang 19người ta có thể nói về nó ở mọi lúc, nó trở thành những vật thân thiết hằng ngày Ở
Mỹ, ¾ số nữ sinh vị thành niên đi học luôn mang theo BCS trong cặp [59]
Theo Sonia Puri (2007), khảo sát 1017 sinh viên Cao đẳng tại Chandigrarh, nhận thấy rằng 49,9% biết hơn 1 BPTT, cao nhất là vỉ tránh thai phối hợp chiếm 47,1%; chỉ 7,3% biết thuốc TTKC Đáng chú ý là đến 91,9% sinh viên biết thuốc TTKC được dùng sau QHTD không được bảo vệ Trong đó, 14,7% sinh viên biết rằng thuốc TTCK phải uống trong 72 giờ đầu sau QHTD không được bảo vệ; 47% uống ngay sau QHTD không bảo vệ; 38,2% uống trong 12 giờ đầu sau QHTD không bảo vệ và 8,1% không biết sử dụng trong trường hợp nào Đến 88,9% sinh viên biết về tác dụng phụ của thuốc TTKC: 97,9% biết thuốc là nguyên nhân làm thay đổi hormone trong cơ thể; 83,3% trả lời nôn và buồn nôn; 77,7% nhức đầu và 60,4% hoa mắt, chóng mặt[55]
Nghiên cứu của Anjel Vahratian trên 1585 sinh viên, ghi nhận 94% ĐTNC
đã từng nghe về thuốc TTKC, 45% biết rằng nên dùng thuốc trong vòng 72 giờ sau QHTD không được bảo vệ, 5% dùng trong khoảng 120 giờ sau QHTD, 12% không biết thời gian tối đa thuốc TTKC còn hiệu quả, 93% sinh viên đồng ý thuốc TTKC được dùng khi người phụ nữ bị cưỡng dâm 86% đồng ý dùng thuốc TTKC sau khi BCS bị thủng/ rách hoặc tuột khi giao hợp Nhưng chỉ có 68% đồng ý dùng thuốc TTKC sau QHTD không được bảo vệ [42]
Một nghiên cứu khác của Eugene Kongnyny tại 1 trường Đại học ở Cameroon trên 700 sinh viên về thuốc TTKC cho thấy 63% sinh viên có quan tâm, nhưng có đến 65% sinh viên có thái độ tích cực về thuốc TTKC, trong đó 69,8% sinh viên đồng ý dùng thuốc TTKC sau QHTD không được bảo vệ 67,9% sinh viên đồng ý nên giới thiệu lợi ích của thuốc TTKC đến bạn bè, 29,9% sinh viên đồng ý thuốc TTKC an toàn cho người sử dụng[47]
Một nghiên cứu (1999) tại Bắc Kinh Trung Quốc, trong nhóm sinh viên QHTD
ở 69% sinh viên sử dụng BCS để tránh thai [59]
Nghiên cứu của Anjel Vahratian (2008) trên 1585 sinh viên, ghi nhận 94%
đã từng nghe về thuốc TTKC, 45% biết rằng nên dùng thuốc trong vòng 72 giờ sau QHTD không được bảo vệ, 5% dùng trong khoảng 120 giờ sau quan hệ tình dục,
HUPH
Trang 2012% không biết thời gian tối đa thuốc TTKC còn hiệu quả, 93% sinh viên đồng ý thuốc TTKC được dùng khi người phụ nữ bị cưỡng dâm, 86% đồng ý dùng thuốc TTKC sau khi BCS bị thủng/ rách hoặc tuột khi giao hợp Nhưng chỉ có 68% đồng
ý dùng thuốc TTKC sau quan hệ tình dục không được bảo vệ [42]
Barbour B và cộng sự nghiên cứu về kiến thức và thực hành của sinh viên đại học Beirut tại Li Băng (2009) về các biện pháp tránh thai, cho thấy: mức độ kiến thức của sinh viên thấp Có 73,3% nam sinh và 21,8% nữ sinh đã từng quan hệ tình dục Trong đó, đa số nam sinh có sử dụng bao cao su (86,1%) nhưng nữ sinh nói chung không được bảo vệ tốt, chỉ có 23,5% số nữ sinh đã sử dụng các BPTT khi quan hệ tình dục[43]
1.3.2 Một số nghiên cứu trong nước
Theo Phạm Gia Đức (1997) trong cuộc khảo sát ở 1.464 học sinh cấp 3 và sinh viên tại TP.HCM ghi nhận có 65,5% học sinh cấp 3 và sinh viên biết BPTT (sinh viên 78,0%, học sinh 40,5%) Các BPTT được biết nhiều nhất là DCTC (81,6%), thuốc tránh thai (76,3%), XTNAĐ (36,8%), BCS (27,4%), tránh ngày phóng noãn (21,6%) Trong nhóm có QHTD chỉ có 36,8% hiểu và dùng đúng BPTT khi QHTD lần đầu, trong đó dùng BCS là 68,7% Điều này cho thấy từ biết đến áp dụng đúng BPTT tỉ lệ giảm đi gần 50%[13]
Một khảo sát trên 1.017 đối tượng học sinh trung học tại Tp.HCM (1999) của Nguyễn Đức Trí Dũng cho thấy tỉ lệ hiểu biết về BCS (94,1%); DCTC (83,7%); thuốc uống (72,9%), thuốc diệt tinh trùng (35,1%); tránh ngày phóng noãn (40,7%); XTNÂĐ (43%)[15]
Theo Dương Đăng Hanh nghiên cứu ở sinh viên nhóm tuổi 18- 24 tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 tỉ lệ sinh viên biết ít nhất tên 1 BPTT là 97%, trong đó các loại BPTT được biết nhiều nhất là BCS 91,2% nhưng lựa chọn sử dụng chỉ có 28,6%; biết thuốc uống tránh thai là 84,6% lựa chọn sử dụng là 16%; dụng cụ tử cung 84,2%, tránh ngày phóng noãn 51,2%; chỉ có 53,6% có sử dụng tránh thai trong lần quan hệ đầu tiên.Nguồn thông tin tiếp nhận BPTT chủ yếu là hiệu thuốc tây(69,9%), chỉ có 53,6% có sử dụng tránh thai trong lần đầu QHTD đầu tiên
HUPH
Trang 21Trong đó lựa chọn nhiều nhất là BCS (53,96%), thuốc uống (16%), XTNÂĐ (9,4%) Nguồn thông tin tiếp nhận BPTT chủ yếu là hiệu thuốc tây (69,9%) [16] Theo Phan Ngọc Ngoan tỉ lệ sinh viên Tại các trường trung học và cao đẳng
Tp Rạch Giá năm 2011 biết 1 BPTT là 97,4% nhưng hiểu tốt về nó chỉ có 20,7%, các biện pháp tránh thai được biết nhiều nhất tập trung 3 loại: thuốc tránh thai 86,5%; BCS 84,8% và vòng tránh thai 38%, tỉ lệ biết về thuốc tránh thai khẩn cấp ( TTTKC) rất thấp theo tác giả Phan Ngọc Ngoan [24] 18,3%, sử dụng 11,5% Trong nghiên cứu này không đánh giá kiến thức đúng và chưa đúng cũng như thái độ của sinh viên đối với TTTKC
Theo tác giả Vũ Quý Nhân ghi nhận giới học sinh – sinh viên hiểu biết tương đối khá về BPTT (DCTC, BCS, vỉ thuốc tránh thai phối hợp, triệt sản) nhưng các phương pháp khác như tránh ngày phóng noãn, XTNÂĐ, thuốc tiêm…khá giới hạn Kết quả khảo sát cho thấy trong lần QHTD đầu tiên chỉ có 28% nam và 31,6% nữ
có dùng BPTT BPTT thường dùng nhất là BCS, nguyên nhân chủ yếu không sử dụng các BPTT trong lần QHTD đầu tiên là do không dự tính trước chuyện sẽ có QHTD (68,2%) và 23,1% nghĩ bạn tình đã lưu ý và chuẩn bị BPTT trước [58] Theo tác giả Võ Thị Định (2003), tỉ lệ phụ nữ dùng vỉ thuốc tránh thai phối hợp có kiến thức đúng là 53,4% Nghiên cứu cho thấy 95,6% phụ nữ trả lời đúng vỉ thuốc tránh thai phối hợp là một BPTT hiệu quả 90,4% phụ nữ cho rằng sau khi ngưng sử dụng thuốc, người phụ nữ sẽ có thai trở lại 100% phụ nữ trả lời đúng cách sử dụng của vỉ thuốc tránh thai phối hợp là uống mỗi ngày một viên và uống theo chiều mũi tên Tuy nhiên, có 96,4% biết nên uống vào giờ nhất định trong ngày, 90,9% biết thời điểm bắt đầu uống vỉ thuốc đầu tiên, nhưng chỉ 78% trả lời đúng khi nào uống sang vỉ kế tiếp 89,1% phụ nữ trả lời đúng cách xử trí khi quên uống 1 viên Chỉ 41,5% trả lời đúng khi quên uống 2 viên trở lên Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận: 89,6% phụ nữ có thái độ tích cực đối với vỉ tránh thai phối hợp, trong đó 91,5% phụ nữ cảm thấy không ngại khi sử dụng vỉ tránh thai phối hợp hằng ngày[11]
HUPH
Trang 22Theo nghiên cứu của Lê Nhất Nguyên (2003) khảo sát 800 nữ sinh trung học, ghi nhận 22% đồng ý phải sử dụng BPTT nếu có QHTD; 19,5% đồng ý BCS
và BPTT thích hợp nhất khi QHTD [25]
Theo tác giả Vương Tiến Hòa nghiên cứu trên 1603 sinh viên ở Hà Nội và Tp.HCM cho thấy chỉ có 28% ở nam và 31,6% ở nữ có sử dụng BPTT ở lần QHTD đầu tiên là BPTT phổ biến nhất là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo [17] Nghiên cứu của Hồ Kỳ Thu Nguyệt cho thấy rằng QHTD mà không áp dụng BPTT có nguy cơ mang thai cao gấp 13,6 lần so với nữ vị thành niên có áp dụng [26] Kết quả “Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam” (Survey Asessment of Vietnamese Youth) gọi tắt là SAVY1 (2003) và SAVY2 cho
tỉ lệ biết về các BPTT là rất cao (trên 97%) Tuy nhiên, sự hiểu biết về các BPTT trong thực tế như thế nào và các BPTT có đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng hay không mới là quan trọng Về BPTT được sử dụng lần đầu tiên thì bao cao su vẫn là hỗ trợ hàng đầu cho nam giới (72,7%) nhưng viên tránh thai khẩn cấp sử dụng cho nữ lại có tỉ lệ không cao (4,5%) Đặc biệt, dù QHTD cởi mở hơn và đang
“trẻ hóa” nhưng QHTD với người mua bán dâm trong thanh niên nói chung ở hai cuộc điều tra là khá hiếm [9],[10]
Nghiên cứu của Trần Thị Như Quỳnh năm 2011 tại các trường cao đẳng ở thành phố Rạch Giá trên nam sinh viên cho thấy 58% sinh viên biết đúng những trường hợp cần phải sử dụng thuốc TTKC, 16% biết thời gian tối đa thuốc TTKC còn hiệu quả, 41,5% biết sử dụng đúng thuốc TTKC, 18,7% trả lời đúng về số lần tối đa sử dụng thuốc Chỉ 8% sinh viên biết thuốc gây rối loạn kinh nguyệt, 40,9% sinh viên không cảm thấy mắc cỡ khi mua thuốc cho bạn tình Thái độ của sinh viên rất tích cực đối với BPNT này 96,9% cho rằng nên giới thiệu rộng rãi lợi ích của thuốc cho mọi người biết Trong nghiên cứu này chưa nói lên được tỉ lệ sinh viên chưa biết về biện pháp tránh thai này, vì là nghiên cứu trên đối tượng sinh viên nam nên chưa nói lên được nhu cầu về sử dụng BPNT này là như thế nào[28]
Theo Nguyễn Thanh Phong (2013) nghiên cứu trên SV trường Y Tế Hà Nội
có 10% sinh viên trong nhóm nghiên cứu đã quan hệ tình dục Trong đó, có 9,3% nam sinh đã quan hệ và 10,2% nữ sinh đã quan hệ tình dục Chỉ có 39,3% sinh viên
HUPH
Trang 23đã quan hệ tình dục có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Trong đó, có 60% nam sinh và 34,8% nữ sinh có dùng biện pháp tránh thai Có 9/28 (32,1%) sinh viên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục lần đầu tiên[27]
1.4 Sơ lược về trường Đại học Tây Nguyên
Trường Đại học Tây Nguyên được thành lập theo Quyết định số 298CP ngày
11 tháng 11 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ Trường đặt địa điểm tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Là trường đại học đa cấp, đa lĩnh vực có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội toàn vùng Tây Nguyên và một số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Năm học 2013 - 2014, Nhà trường đã tổ chức đào tạo 37 ngành đại học hệ chính quy 05 ngành cao đẳng và 18 ngành đại học hệ vừa làm vừa học Tổng số học sinh sinh viên toàn trường là 16.121; trong đó sinh viên hệ chính quy là 9.934; hệ vừa làm vừa học là 6.187 Tổng số sinh viên dân tộc thiểu số hệ chính quy là 2.964, trong đó nữ là 1.779 Trường có mặt sinh viên thuộc 41/54 dân tộc ở Việt Nam Qua 35 năm xây dựng và trưởng thành, Trường Đại học Tây Nguyên đã có bước phát triển vượt bậc, ngày càng lớn mạnh, và đang kiên trì phấn đấu để hoàn thành
sứ mạng lâu dài, thực sự trở thành một Đại học vùng không những đủ sức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao mà còn là một trung tâm văn hoá, khoa học công nghệ của vùng Tây Nguyên [1],[7]
HUPH
Trang 24Yếu tố bản thân và xã hội
Tuổi, giới tính, học vấn, dân tộc, nơi cư ngụ,
nơi ở hiện tại, tôn giáo, đi làm thêm, điều
- Sử dụng bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp, thuốc tranh thai khẩn cấp trong lần QHTD đầu tiên, lần QHTD gần nhất
- Tần suất dùng, lý do không dùng
- Ý định sử dụng BPTT khi QHTD
Quan hệ tình dục
- Đã có quan hệ tình dục, đối tượng SV mà QHTD, lý do
sinh viên quan hệ tình dục
Thái độ về BPTT
- Quan điểm tích cực, tiêu cực
- Sự chủ động của bản thân
- Bạn tình yêu cầu
- Nhận thấy lợi ích của bao cao
su, thuốc tránh thai khẩn cấp, tránh thai phối hợp
HUPH
Trang 25Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên trường Đại Học Tây Nguyên từ năm thứ nhất đến năm thứ ba
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014
- Địa điểm : trường Đại Học Tây Nguyên
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả có phân tích
Z: là trị số giới hạn với độ tin cậy, chấp nhận ở ngưỡng độ tin cậy 95% ta có
Z(1- α/2) =1,96
d = 0,05 (tương ứng với phân bố chuẩn 95%): Sai số cho phép
p: Là tỉ lệ dự kiến sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân Chọn p = 0,5 Nhân hệ số thiết kế: 1,2 Cỡ mẫu = 483
2.5 Phương pháp chọn mẫu
+ Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Sinh viên nam, nữ trong lớp được chọn học hệ chính qui năm thứ 1 đến năm thứ 3 đang học tại trường đại học Tây Nguyên có trong lớp học trong ngày tiến hành nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu Đại học Tây Nguyên là một Đại học lớn nhất của khu vực Tây Nguyên và SV cũng là bộ phận tri thức và có những
HUPH
Trang 26đặc điểm chung của sinh viên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, cho nên nhu cầu tìm hiểu về sức khỏe sinh sản và các BPNT là rất cần thiết
- Vì dân số nghiên cứu chính là đối tượng sinh viên cho nên chúng tôi chọn tất cả các lớp hệ chính quy toàn trường Chúng tôi không chọn sinh viên các năm thứ 4 các khoa khác và năm thứ 5 và thứ 6 của khoa Y – Dược vì đa số các bạn không học tập trung trong trường và các bạn cũng tiếp xúc nhiều với kiến thức về SKSS – KHHGĐ Do đó, chúng tôi chỉ chọn vào nghiên cứu sinh viên từ năm nhất đến năm thứ ba
Mặt khác nghiên cứu muốn tìm ra kiến thức còn hạn chế của SV để có chiến lược cung cấp nhu cầu thông tin, dịch vụ về BPTT chương trình giáo dục trang bị những hiểu biết kỹ năng cần thiết để thực hành tình dục an toàn cho SV năm đầu
- Sinh viên chưa từng kết hôn
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các đối tượng được lựa chọn không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt trong buổi điều tra
- Đã kết hôn
+ Cách lấy mẫu: Lập danh sách tất cả các lớp có sinh viên hệ chính quy 8 khoa trong trường Đại học Tây nguyên Danh sách xếp thứ tự theo niên khóa học do phòng quản lý sinh viên cung cấp Người nghiên cứu có danh sách tất cả các lớp xếp theo thứ tự có sẵn từ năm 1 đến năm 3 Để đảm bảo nghiên cứu có đủ số lượng mẫu cần thiết và hiện diện đủ các năm học, cách chọn mẫu được thực hiện theo trình tự sau: lớp có số lượng SV thấp nhất khoảng 40 sinh viên Giả sử các lớp học đều có số lượng SV như trên Như vậy chọn khoảng 10 lớp học theo danh sách là đủ
cỡ mẫu cần thiết Tổng số mẫu theo danh sách là 105 lớp Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với k= 10 Bốc thăm ngẫu nhiên từ 1 - 105, chọn được số n+10 Như vậy lớp được chọn đầu tiên là lớp được chọn ở vị trí thứ 10 và các lớp tiếp theo là n+k, n+2k, n+3k Mỗi lớp được chọn đã khảo sát toàn bộ SV trong lớp đó
Lớp được chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu thử sẽ không nằm trong danh sách các lớp được chọn trong nghiên cứu chính thức
+ Thu thập số liệu định lượng
HUPH
Trang 27- Được học viên trực tiếp thu thập
- Bộ câu hỏi phát vấn đã được tiến hành điều tra thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức
- Số liệu được thu thập theo phương pháp phát vấn: SV được mời tham gia trả lời phiếu câu hỏi tự điền tại lớp học, sau giờ tan học để SV thoải mái và có nhiều thời gian danh cho nghiên cứu SV được thông báo trước đợt khảo sát bởi cán bộ đang nghiên cứu được phòng Quản lý SV hoặc giáo vụ khoa giới thiệu để giúp SV
có lòng tin vào nghiên cứu trả lời bảng hỏi với tinh thần tự giác, đầy đủ hơn NCV
tổ chức ngồi vị trí cho các SV SV ngồi cùng bàn sẽ phân bố ngồi xa nhau ở 2 đầu, giữ thẳng hàng dọc và ngang Luôn dự phòng một phòng trống cạnh bên nhằm phân
bố giữa các SV đạt yêu cầu trong suốt thời gian nghiên cứu để đảm bảo SV hoàn thành bảng câu hỏi với khả năng thực lực của mình, tạo khoảng cách an toàn giúp
SV trả lời câu hỏi nhạy cảm đúng sự thật nhất
- NCV thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát theo quy định, phát phiếu để SV tự điền và nhắc nhở người tham gia nghiên cứu không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu
- Sai số chọn được khống chế bằng các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng đã được định nghĩa ở trên
- Thông tin thu thập từ bộ câu hỏi là những thông tin phản hồi rất chủ quan của đối tượng nghiên cứu, có những thông tin rất nhạy cảm, do đó có thể những thông tin này chưa phải là giá trị thực của nó Sai số tự điền được khống chế bằng các cách: Bộ câu hỏi được thiết kế và thử nghiệm trước khi nghiên cứu Thu thập thông tin bằng cách tự điền vào bộ câu hỏi có sẵn sau khi đối tượng đã được nghe giải thích rõ ràng mục tiêu nghiên cứu và được hướng dẫn cụ thể Bộ câu hỏi chỉ có
mã số không ghi tên cụ thể, đồng thời các đối tượng được ngồi tách biệt từng bàn Điều này giúp ĐTNC cảm thấy thoải mái vì tính bảo mật, do đó các thông tin thu thập được tương đối khách quan Các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu được trả lời nhiệt tình, trong quá trình trả lời bộ câu hỏi thu thập số liệu, ĐTNC được giám sát trực tiếp bởi nghiên cứu viên Bộ câu hỏi có đủ nội dung để đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi của ĐTNC, 30 phút đủ để đọc và trả lời bộ câu hỏi trên
HUPH
Trang 282.6 Các biến số nghiên cứu (phụ lục 2)
- Nhóm chỉ số/ biến số về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, niên khóa học, khoa, nơi ở hiện tại, tôn giáo, dân tộc, làm thêm, tình trạng kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân
- Nhóm chỉ số/ biến số về hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân: Tỉ lệ % sinh viên đã quan hệ tình dục, bạn tình từng QHTD, bạn tình đầu tiên
- Nhóm chỉ số/ biến số về kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng 3 biện pháp tránh thai (BCS, TTTPH, TTTKC): tự đánh giá kiến thức về các BPTT, loại biện pháp SV có biết, tỉ lệ % kiến thức về những kiến thức liên quan đến một số BPTT, tỉ lệ % thái
độ về những thông tin liên quan đến một số BPTT, tỉ lệ % SV sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên; lần gần nhất; chọn sử dụng BPTT trong tương lai…
2.7 Đo lường biến số (phụ lục 3)
- Kiến thức về bao cao su: Kiến thức đúng khi trả lời đúng 3/3 câu : B3, B4, B5 / Chưa đúng: trả lời sai 1/3 câu
- Kiến thức về vỉ thuốc tránh thai phối hợp: Kiến thức đúng khi trả lời đúng 4/4 câu: B6, B7, B9, B10 / Chưa đúng: trả lời sai 1/4 câu
- Kiến thức về thuốc tránh thai khẩn cấp: Kiến thức đúng khi trả lời đúng 3/3 câu: B12, B14, B15/ Chưa đúng: trả lời sai 1/3 câu
- Thái độ về bao bao cao su: Thái độ đúng khi trả lời đúng 4/4 câu : C1, C2, C3, C4 / Chưa đúng: trả lời sai 1/4 câu
- Thái độ về vỉ thuốc tránh thai hàng ngày: Thái độ đúng nếu trả lời đúng cả 3/3 câu: C5, C6, C7 / Chưa đúng: trả lời sai 1/3 câu
- Thái độ về thuốc tránh thai khẩn cấp: Thái độ đúng khi trả lời đúng 4/4 câu: C9, C10, C11, C12 / Chưa đúng: trả lời sai 1/4 câu
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu thu thập từ bộ câu hỏi được thu hồi và kiểm tra tính phù hợp bởi người nghiên cứu Những bộ câu hỏi mà sinh viên không trả lời đủ các câu hỏi sẽ bị loại Mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
Tiến hành làm sạch số liệu và phân tích bằng phần mềm thống kê Stata 12.0
HUPH
Trang 292.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được giải thích một cách rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu
Đây là nghiên cứu nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của thông tin thu thập được, do đó các thông tin về đối tượng nghiên cứu được sử dụng khuyết danh
Nghiên cứu viên cam kết các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng được thông qua trước khi tiến hành triển khai
Nội dung nghiên cứu phù hợp được Ban giám hiệu trường Đại học Tây Nguyên quan tâm và ủng hộ
HUPH
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố số lượng sinh viên theo khoa và năm học
Khoa
Niên Khóa
Tổng Năm 1
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
n =483
Tỉ lệ % Tuổi
HUPH
Trang 31Nơi cư trú hiện nay
Nơi ở hiện tại
Nhà bố mẹ, người thân, bà con
Nhà riêng, nhà trọ, kí túc xá
118
365
24,4 75,6
Sống chung chưa đăng ký/ có người yêu
Chưa có người yêu
208
275
43,1 56,9
Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy ĐTNC có độ tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất 25; tuổi trung bình 20,5±1,28, đa số ≤ 20 tuổi 54,7%, là nữ giới 70,4% Phần đa sinh viên còn độc thân, 56,9% chưa có người yêu, 43,1% sống chung chưa đăng
ký và có người yêu Sinh viên là dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ đa số 66,5%, dân tộc thiểu số chiếm 33,5% Đồng thời, đại đa số ĐTNC đều không tôn giáo 72,9%,
HUPH
Trang 32chỉ có 27,1% theo tôn giáo Đa số các bạn sống ở nông thôn 73,9%, kinh tế gia đình ở mức khá và vừa đủ 89%, chỉ có 11% rơi vào hoàn cảnh khó khăn Nơi ở hiện tại chủ yếu là nhà thuê, nhà trọ hoặc ký túc xá chiếm 62,5%; ở cùng bố mẹ, người thân, bà con 24,4% Ngoài ra, có 77,9% không đi làm thêm và 22,1% sinh viên có đi làm thêm ngoài việc học
3.2 Tỉ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân
Bảng 3.3: Tình trạng sinh viên quan hệ tình dục trước hôn nhân theo giới tính
Quan hệ tình dục
Tổng số sinh viên n=483 Nam (n=143) Nữ (n=340) Trả lời
57
86
39,9 60,1
41
299
12,1 87,9
Kết quả NC cho thấy tỉ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân chiếm 20,3% Trong 98 sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân, có 57 nam và 41 nữ; chiếm
tỉ lệ lần lượt so với tổng số đối tượng nam và nữ là 39,9%, 12,1%
Bảng 3.4: Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân theo đối tượng sinh viên
51
2
89,5 3,5
37
3
90,2 7,3
HUPH
Trang 3314
7 1,8
Bạn tình đầu tiên khi
quan hệ tình dục lần đầu
Người yêu
Người đã kết hôn
Bạn bè
Người mới quen
Người làm mại dâm
0
0
0
0
Trong 98 sinh viên đã QHTD trước hôn nhân, đối tượng mà sinh viên từng
có quan hệ tình dục với người yêu, bạn bè chiếm tỉ lệ lần lượt là là 89,8%, 10,2% Bạn tình đầu tiên là người yêu chiếm tỉ lệ 87,8%
3.3 Kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng các biện pháp tránh thai
3.3.1 Kiến thức của sinh viên về các biện pháp tránh thai
Biểu đồ 3.1: Sinh viên tự đánh giá kiến thức về các biện pháp tránh thai
HUPH
Trang 34Kết quả từ biểu đồ 3.1cho thấy, có 67,9% sinh viên tự đánh giá kiến thức của bản thân về các biện pháp tránh thai là đầy đủ hoặc tương đối đủ
Thuốc tránh thai phối hợp
Xuất tinh ngoài âm đạo
Ogino Thuốc
tiêm tránh thai
Que cấy tránh thai
Thuốc đặt âm đạo
Triệt sản
Vòng tránh thai Khác
Biểu đồ 3.2: Loại biện pháp sinh viên có biết, nhìn thấy hay nghe qua
Kết quả từ biểu đồ 3.2 cho thấy, tỉ lệ sinh viên có biết, nhìn thấy hay nghe
về bao cao su là 99,2%, thuốc tránh thai khẩn cấp là 76%, vỉ tránh thai là 74,1%
99.38%
62.94%
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ sinh viên biết về các biện pháp tránh thai
Kết quả từ biểu đồ 3.3 cho thấy, đa số SV đều biết 1 trong 3 BPTT (BCS, TTTPH, TTTKC) (99,4%) còn biết cả 3 BPTT đạt 63%
HUPH
Trang 35Bảng 3.5: Kiến thức về bao cao su
BCS là 1 phương pháp hiệu quả để ngăn tránh HIV/AIDS
và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Kiến thức đúng chung về bao cao su
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 90,3% sinh viên trả lời đúng về BCS là 1 phương pháp hiệu quả để ngăn tránh HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; 76% trả lời đúng BCS có thể bị rách/ tuột khỏi dương vật, nhưng chỉ có 27,5% sinh viên biết BCS có thể bị tuột hoặc rớt vào trong âm đạo của người phụ
nữ Kiến thức đúng chung về BCS của sinh viên là 25,3%
Bảng 3.6: Kiến thức về vỉ thuốc tránh thai phối hợp
HUPH
Trang 36Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số sinh viên trả lời đúng về cách uống vỉ thuốc tránh thai phối hợp 50,4% Tuy nhiên, tỉ lệ sinh viên có trả lời đúng về thời điểm uống viên đầu tiên là 27,5%, cách xử trí khi quên 1 viên thuốc là 28% hoặc khi quên 2 viên thuốc trở lên là 41%
Đáng chú ý, tỉ lệ sinh viên có kiến thức đúng chung về vỉ thuốc tránh thai phối hợp rất thấp, chiếm 9,5%
Bảng 3.7: Kiến thức về thuốc tránh thai khẩn cấp
2 viên còn hiệu quả để tránh thai ngoài ý muốn
HUPH
Trang 37Tác dụng phụ gây rối loạn kinh nguyệt
Kiến thức đúng chung về thuốc tránh thai khẩn
Trong nghiên cứu này, đa số sinh viên đều biết, nghe về trường hợp sử dụng của thuốc tránh thai khẩn cấp là 75,6% và hiểu biết đúng về tác dụng phụ của thuốc
là 71,6% Tuy nhiên, có 87% sinh viên chưa có kiến thức đúng về thời gian sau giao hợp dài nhất mà thuốc TTKC loại 2 viên còn hiệu quả và 79,5% có kiến thức chưa đúng về số lần tối đa được dùng thuốc TTKC trong 1 tháng
Đặc biệt, tỉ lệ sinh viên có kiến thức đúng chung về thuốc tránh thai khẩn cấp cực thấp, chỉ chiếm 2,9%
Biểu đồ 3.4: Kiến thức đúng cả ba BPTT và đúng một trong ba BPTT
Trong tổng số 483 ĐTNC, đa số sinh viên đều chưa có kiến thức đúng về
cả 3 BPTT hoặc một trong ba BPTT, tỉ lệ lần lượt 99,6%, 67,5% Như vậy, tỉ lệ sinh viên có kiến thức đúng về 3 BPTT hoặc một trong 3 BPTT nói trên là rất thấp; trong đó có kiến thức đúng về một trong ba BPTT, chiếm 32,5%
HUPH
Trang 383.3.2 Thái độ của sinh viên về các biện pháp tránh thai
Bảng 3.8: Thái độ của sinh viên về bao cao su
gắn với quan hệ lâu dài) hoặc với gái mại dâm
Thái độ đúng chung về bao cao su
Đa số sinh viên đều có thái độ đúng về BSC: 95,4% đồng ý dùng BCS khi QHTD để ngăn tránh HIV/AIDS và STI/STD Khi được người yêu hoặc bạn tình
đề nghị dùng BCS khi quan hệ tình dục có 86,5% sinh viên đồng ý Có 62,7% sinh viên không đồng ý BCS chỉ thích hợp với tình dục ngẫu nhiên (không gắn với quan
hệ lâu dài) hoặc với gái mại dâm; 70,4% không đồng ý với quan điểm mang BCS theo người là hành vi thiếu đạo đức
Tuy nhiên, thái độ đúng chung về BCS rất thấp chỉ chiếm 43,5%
HUPH
Trang 39Bảng 3.9: Thái độ về vỉ thuốc tránh thai phối hợp
Vỉ thuốc tránh thai là một BPTT phù hợp cho đối tượng
thuốc thì có thể QHTD bất cứ khi nào muốn mà không sợ
Thái độ đúng chung về vỉ thuốc tránh thai phối hợp
Thái độ đúng về vỉ thuốc tránh thai thấp: 35,4% đồng ý dùng vỉ thuốc tránh thai phối hợp có hiệu quả tránh thai tốt; 50,5% đồng ý vỉ thuốc tránh thai là một BPTT phù hợp cho đối tượng có QHTD thường xuyên; 22,6% đồng ý nếu người phụ nữ dùng thuốc tránh thai liên tục thì có thể QHTD mà không sợ có thai;
Kết quà cũng cho thấy, thái độ đúng chung về vỉ thuốc tránh thai phối hợp chỉ chiếm 12,63%
HUPH
Trang 40Bảng 3.10: Thái độ về thuốc tránh thai khẩn cấp
Người phụ nữ có thể sử dụng thuốc TTKC khi
QHTD mà trước đó không dùng BPTT nào hay bị
QHTD phát hiện thấy BCS bị thủng/ tuột /rách
thai và các tai biến của nạo phá thai
Thái độ đúng chung về thuốc TTKC
Đa số sinh viên có thái độ đúng về thuốc TTKC: 72% đồng ý sử dụng thuốc TTKC khi QHTD mà trước đó không dùng BPTT nào; 83% đồng ý sử dụng thuốc TTKC sau khi QHTD phát hiện thấy BCS bị thủng, tuộc hoặc rách; 54,2% đồng ý thuốc TTKC có thể ngăn tránh tình trạng nạo phá thai và các tai biến của nạo phá thai; 62,5% đồng ý thuốc TTKC dễ sử dụng và kín đáo
Thái độ đúng chung về thuốc TTKC có tỉ lệ thấp, chiếm 33%
HUPH