TOM TAT NGHIÊN CỨU Sâu răng, viêm lợi là hai bệnh thường gặp nhất trong các bệnh răng miệng và số người mắc bệnh này rất lớn, phí tổn chữa rất cao.. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài:
Trang 1THỰC TRANG BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM LỢI VÀ MỘT SỐ
YEU TO LIEN QUAN Ở HỌC SINH LỚP 1 VÀ LỚP 5 TẠI HAI TRUONG TIEU HOC XA AN VI VA HONG TIEN, HUYEN KHOAI CHAU, TINH HUNG YEN NAM 2005
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 607276
HUONG DAN KHOA HOC: TS NGUYEN VAN MAN
TS NGUYEN DUC TRONG
Trang 2
Lời cắm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới:
TS: Nguyên Văn Mạn, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi tron# suốt quá trùnh nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng đào tạo nghiên cứu khoa học, Phòng điều phối thực địa cùng các thầy
cô giáo Trường Đại học y tế công cộng đã nhiệt tình gidng
dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tron# quá trình học tập
va lam dé tai nay
Tôi xin chân thành cắm ơn Ban giám đốc, các cán bộ Trung tâm y tế huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đã nhiệt tinh giup do, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời đian nghiên
cửu tại thực địa
Tôi xin chân thành cẩm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô &
trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, bạn bẻ, đồng nghiệp,
các bạn tập thể lớp cao hoe ? Trường Đại học y té công cộng
đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trùnh nghiên cứu đề tài này
Tôi biết ơn gia dinh, ban bé và người thân đã luôn khuyến
khích động viên, điúp tôi có điều kiện tốt nhất để hoàn thành
chương trình học tập và nghiên cứu đề tài
Hà nội, này 80 thang O8 nam 2008
Bs Nguyén Thi Nguyén
Trang 3Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Knowledge Attitude Practice ( Kiến thức, thái độ, hành
động)
Nghiên cứu Răng miệng Rang ham mat Sâu- mất- Tram (ding cho răng vĩnh viễn) sâu- mất- trám (dùng cho răng sữa)
Sau rang Sau rang vinh vién
Vé sinh rang miéng
World Healh Organization: T6 chitc y tế thế giới
Trang 4Mục tiêu nghiên cứu
Chương I: Tổng quan tài liệu
1 Sau rang va viém loi `
1.1 Sau rang:
1.1.1 Nguyén nhân và những hiểu biết về sâu răng
1.1.2, Tình hình bệnh sâu răng ở trẻ em
I.2 Viêm lợi
I.2.1 Nguyên nhân - bệnh sinh - biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm lợi
I.2.2 Tình hình bệnh viêm lợi ở trẻ em
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh răng miệng
I.3.1 Yếu tố nguy cơ sâu rang
I.3.2 Yếu tố nguy cơ bệnh viêm lợi
2 Tính chỉ số sâu mất trám, chỉ số đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi
3 Các phương pháp chả[ răng
4 Chương trình nha học đường (NHĐ)
Chương 2 Đởi tượng - phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
7 Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu
10 Đạo đức trong nghiên cứu
|1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
| Thong tin chung
2 Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi
Trang 5
3 Một số yếu tố liên quan
4 Một số mối liên quan
Chương 4 Bàn luan 1.Thông tin chung
2, Thực trạng bệnh sâu rãng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan
3 Một số mối liên quan
Trang 6DANH SACH CAC BIEU DO VA BANG
Trang 8TOM TAT NGHIÊN CỨU
Sâu răng, viêm lợi là hai bệnh thường gặp nhất trong các bệnh răng miệng và
số người mắc bệnh này rất lớn, phí tổn chữa rất cao Phòng chống bệnh sâu răng,
viêm lợi, đặc biệt ở trẻ em đang là vấn đề được quan tâm không những ở Việt Nam
mà còn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Chính vì thế, nghiên cứu về bệnh răng miệng đã và đang trở thành một vấn dé quan trong hang dau trong chiến lược cham sóc sức khoẻ trẻ em Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài: * Thực trạng sau rang,
viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp I và lớp Š tại 2 trường tiểu học
xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005” Với mục
tiêu là:
1 Mô tả thực trạng bênh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp 1 và lớp 5
2.Mô tả một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp l và lớp 5
Nghiên cứu được tiến hành với phương pháp nghiên cứu mổ tả cắt ngang có phân
tích, thu thập số liệu bằng phỏng vấn, khám lâm sàng và quan sat trên 513 học sinh 2 trường tiểu học An Vĩ và Hồng Tiến (236 nam và 277 nữ) chúng tôi thu được kết quả Sau:
Tỷ lệ sâu răng học sinh lớp I là 74,8%, số trung bình răng sâu-mất-trám của hs lớp 1 là 3,66 Tỷ lệ sâu rang học sinh lớp 5 là 47,3%, SMT: 1,13
Tỷ lệ viêm lợi hs lớp 1 là 56,3%, ty lệ viêm lợi hs lớp 5 là 61%
Xã An Vĩ có tỷ lệ học sinh sâu rang, số trung bình răng sâu-mất-trám, tỷ lệ viêm lợi ở cả 2 khối đều cao hơn xã Hồng Tiên
Có mối liên quan giữa viêm lợi với yếu tố địa dư: Học sinh lớp 5 6 xa An Vi co nguy cơ mắc bệnh viêm lợi gấp 2.59 lần học sinh ở xã Hồng Tiến (p = 0.0003)
Có mối liên quan giữa phương pháp chải rãng ở học sinh lớp 5 với sâu rãng, viêm lợi: Học sinh nào có phương pháp chải răng đúng sẽ có nguy cơ mắc bệnh sâu răng ít hơn 4.5 lần (1/0.22) và nguy cơ bị viêm lợi ít hơn 16,7 lấn (1/0.006) học sinh có phương phap chai rang sai (p = 0,03: p = 0,0000001)
Hạn chế của đề tài là chỉ nghiên cứu ở 2 khối lớp 1 và lớp 5 của 2 trường nên
không thể suy rộng cho học sinh toàn huyện được.
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sâu rãng, viêm quanh răng là hai bệnh phổ biến nhất trong các bệnh răng miệng, gặp ở 90% dân số thế giới bệnh mắc từ rất sớm và tăng dần theo lứa tuổi
phí tổn chữa rất cao Trong 20 năm gần đây, mặc dù có sự giảm tỷ lệ sâu răng một
cách đáng kể ở những nước phát triển nhờ những tiến bộ về phòng bệnh nhưng
không thấy giảm nhiều ở những nước đang phát triển, mà ở một số nước còn thấy
sự tiến triển của sâu răng tăng lên
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và bệnh quanh răng ở mức cao trên 90% dân
số {1}, {3}, {6} và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây, đặc biệt ở
nơi chưa có chương trình nha học đường {3} Tré em lứa tuổi đang đi học (6-15
tuổi) có tỷ lệ mắc các bệnh rãng miệng cao và được ưu tiện hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ rãng miệng ở nước ta
Năm 2001, viên RHM Hà Nội phối hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide ( Austrailia ) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng qui mô toàn quốc và cho kết quả 84,9% trẻ em 6-8 tuổi sâu răng sữa, 64,1% trẻ em 12-14 tuổi sâu răng vĩnh viễn và 78,55% có cao răng Điều đó cho thấy bệnh räăng miệng ở trẻ em đang ở mức báo động đồi hỏi có những giải pháp phòng bệnh và điều trị hữu hiệu
Huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đang phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện Đặc biệt, các hoạt động của ngành Y tế đã có nhiều khởi sắc Riêng công tác nha học đường hầu như không có và chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về thực trạng sâu rang, viêm lợi của học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng và các yếu tố liên quan đến 2 bệnh sâu răng và viêm lợi tại đây Theo số liệu liên về bệnh răng miệng của trung tâm Y tế huyện công tác nha học đường hoạt động được 2 năm
1997, 1998 tại một số trường tiểu học, trong đó có trường tiểu học xã An Vĩ là
Trang 10một trường điểm nằm ngay giữa trung tâm thị trấn Khoái Châu và trường tiểu học
xã Hồng Tiến một trường nằm cách xa thị trấn Để có được kết quả về tình hình sâu răng viêm lợi, một số yếu tố liên quan và so sánh sự khác nhau giữa 2 trường tiểu học trên chúng tôi nghiên cứu đề tài : “?hực trạng sau rang, viêm lợi và một
số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp Š tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005”
Kết quả thu được từ nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc lập kế hoạch triển khai công tác nha học đường sắp tới và làm tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn
về răng miệng tại huyện Khoái Châu
Trang 11MỤC TIỂU
1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng bệnh răng miệng và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến huyện Khoái Châu, tính
Hung Yén nam 2005
Trên cơ sở đó đưa ra một số các giải pháp thực thi nhằm hạn chế, khống
chế bệnh rãng miệng ở học sinh tiểu học của huyện Khoái Châu, Hưng Yên
2 Mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp 1 và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm
2005
- M6 ta mot s6 yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh lớp I
và lớp 5 tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2005
Trang 12
CHUONG I: TONG QUAN TAI LIEU
1 Sau rang va viém loi 1.1 Sau rang:
1.1.1 Nguyên nhân và những hiểu biết về sản rang:
Sâu rãng là một quá trình bệnh lý, xuất hiện sau khi rãng đã mọc, tổ chức cứng của răng bị phá huỷ và tạo thành một hố gọi là lô sâu
Trước năm 1970, người ta còn quan niệm sau rang là một thương tổn không thể phục hồi Giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi
khuẩn Streptococcus Mutans va giai thich bénh căn sâu răng bằng sơ đồ KEY như
Trang 13Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ hơn căn nguyên bệnh sâu răng và giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ KEY (chất đường) bằng
vòng tròn chất nền (Substrate) nhấn mạnh vai trò nước bọt (chất trung hoà - Buffers) [26] và pH của dòng chảy môi trường xung quanh răng Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite của răng kết hợp thành Fluoroapatit rắn
chắc, chống được sự phân huỷ của axit tạo thành thương tổn sâu rãng [26], [161]
Chất nền
Nước bọt
WHITE CYCLE (1975)
Người ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học sâu răng bằng hai quá tình huỷ
khoáng và tái khoáng Mỗi quá trình đều do một số yếu tổ thúc đẩy Nếu quá trình
huỷ khoảng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ xuất hiện sâu răng:
Trang 14
Sâu răng = Huỷ khoáng > Tai khoáng (cơ chế hoá học va vat ly sinh hoc)
Các yếu tố gây mat 6 dinh lam sau rang
Các yếu tố bao vệ chong lai sau rang
Mảng bám: Vị khuẩn (kiểm soát)
Chế độ an đường nhiều lần (kiểm
soát)
Thiếu nước bọt hay nước bọt axit
Axit từ dạy dầy tràn lên miệng
pH<3
Nước bọt (kích thích)
Khả nãng kháng acide của men
Fluor có ở bề mặt men răng
Trám bít hố rãnh
D6 Ca** NPO, quanh rang
pH>5,5
Trang 15Với những nghiên cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu răng là
một bệnh, các lỗ sâu chỉ là đấu hiệu của bệnh đang hoạt déng [161] Theo Seob 98%
những nguy cơ chủ yếu gây sâu răng ở trẻ em là do ăn uống thiếu Fluor, vệ sinh răng
miệng kém và ăn chất ngọt (đường) mà không kiểm soát được [133]
Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ [43] đã đưa ra khái niệm sâu räng là bệnh nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải thích nguyên nhân sau rang bang so đồ với ba vòng tròn của các yếu tổ vật chủ (răng: gồm men răng, ngà rang, xương răng) môi trường (thức ân có khả năng lên men chứa carbohydrate) và tác
nhân (vi khuẩn chủ yếu là Streptococcus Mután và Lactobacillus) như sau:
chủ
Môi trường
Sơ đồ nguyên nhân sâu rang của hội nha khoa Hoa Kỳ [43] [82]
Cũng từ những hiểu biết mới về căn nguyên của sâu rang, ngudi ta cho rang bất cứ một phương pháp nào có thể ngan cản được phản ứng sâu răng theo chiều từ trái sang phải (mất khoáng) hoặc làm gia tăng chiều từ phải sang trái (tái khoáng) đều
có thể được xem là một biện pháp phòng ngừa sâu răng Có 4 chiến lược được ghi nhận để thay đổi tốc độ tấn công của sâu răng cho cộng đồng Đó là: Vệ sinh răng miệng, chế độ ăn uống có kiểm soát chất đường và tĩnh bột, trám bít hỗ rãnh, sử dụng Fluor Cải thiện vệ sinh răng miệng, thay đổi chế độ ăn uống sẽ làm giảm lượng mất khoáng, trong khi đó, trám bít hố rãnh có thể ngăn ngừa được sự tiếp cận của axit phân huỷ từ thức ăn tới răng Fluor có cả hai tác dụng làm giảm mất khoáng va làm tăng tái khoang [18] [96] [102] Vac xin phòng sâu răng cũng được nghiên cứu và là
du phòng sau rang theo hướng kháng vi khuẩn Trên thí nghiệm ở chuột vac xin này kích thích hình thành các immunoglobulin A nước bọt (IgA) có khả năng ức chế các enzym glucosyltransferaze do đó ức chế sự hình thanh dextran ya mang bam rang lgA ngăn cản 90-99% vị khuẩn bám và men răng Tuy nhiên việc thực nghiệm trên
Trang 1615
người chưa được thực hiện và ở người cơ chế tác dụng còn phức tạp hơn [48] Năm
2000, Fontan cong bố hiệu quả làm giảm phát triển sâu rang trong thực nghiệm của kháng thể đa clôn kháng các protein bề mặt Streptococcus mutans [97]
1.1.2 Tình hình bệnh sâu răng ở trẻ em:
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu räng phụ thuộc vào chỉ
số SMT ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35 - 44 như sau:
Mức độ SMT 12 tuổi SMT 35 - 44 tuổi Rất thấp 0,0 - 1,1 0,2 - 1,5 Thấp 1.2 - 2,6 1.6 - 6,2 Trung binh 27-434 6,3 - 12,7 Cao 4,5 - 6,5 12,8 - 16,2 Rất cao >6,6 > 16,3
Phân chia mức độ sâu răng theo chỉ số SMT của WHO
* Tình hình diễn biến sâu răng trên thế giới:
Theo xác định của ngân hàng đữ liệu sức khoẻ răng miệng của WHO [157] hiện nay, có hai xu hướng chính của sức khoẻ răng miệng:
- Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung bình của trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4, l)
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hoá cao (SMTT trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống khoảng 2 - 4) [14]
Các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Canada, Thuy Điển, úc, Mỹ, Phần Lan những năm 60 - 70 có tỷ lệ sâu răng cao trên 90% dân số, trung bình môi trẻ
em 12 tuổi có chỉ số SMTR từ 7,4 đến 12 và tình hình sâu rãng là rất nghiêm trong Tuy nhiên những năm 80-90 và đến nay chỉ sổ này đã giảm xuống rất nhiều Nam
997, tuổi 12 của Canada, Na Uy, Thuy Điển là 12 - 2,6: Mỹ là 1,2 Phần Lan va
Australia < 1,2 [114], [150]
Một số tác giả nghiên cứu và đưa ra nhận định: tình hình sau rang va chi số SMT tuổi 12 ở các nước công nghiệp hoá cao, nhiều nước ở châu Âu và cả những nước trong khu vực như Malaixia, Singapore [109] [111] tt nam 1983 dén nam 2000
Trang 17l6
có nhiều biến động nhưng theo chiều hướng giảm xuống [87], [S8], [89], [94] [113]
[118], [137] [162] Đó là nhờ các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu
Ở những nước đang phát triển (trong đó có nhiều nước trong khu vực) tình trạng sâu rang và chỉ số SMT ở trẻ em còn cao và có chiều hướng tăng lên SMT ở
một số nước điển hình như Tran: 2,4 (1974) lên 4,9 (1976); Marốc: 2,6 (1960) lên 4,5
(1980) Các nước như Lào, Camphuchia Triều Tiên, Bruney, Philippines chỉ số SMT
tuổi 12 từ 2,4 đến 5,5 năm 1994 [80], [81], [92], [93], [95], [99], [119], [124], [129],
[139], [155], [156], [157]
* Tinh hình diễn biến sâu răng ở Việt Nam:
Từ những nầm của thập kỷ 60 đến nay đã có những nghiên cứu tình trạng sâu rãng ở Việt Nam nói chung và ở trẻ em nói riêng Năm 1977, Nguyễn Dương Hồng
thong báo 77% trẻ em 6 tuổi Hà Nội và nông thôn bị sâu rãng sữa, 30% trẻ em 13
tuổi sâu răng vĩnh viễn [24] Năm 1978 bộ môn Rãng hàm mặt Đại hội Y Hà Nội
thông báo tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ em 6 tuổi trở lên khoảng 39%, sâu răng sữa
1-5 tuổi là 31,33% [4], [72] Năm 1981 Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở
một số tỉnh Miền Nam là 70,49%, ở Thuận Hải là 72.14% [25] Lê Đình Giáp và
cộng sự cho biết 75,85%-trẻ 12 tuổi thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mắc sâu
răng vĩnh viễn [19] Theo Wong H.D chỉ số SMT tuổi 12 ở trẻ em Việt Nam năm
1982 1a 1,8 [78]
Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy sâu răng ở Việt Nam là bệnh phổ biến và đưa ra những tỷ lệ về bệnh này Càng về sau, càng có nhiều nghiên cứu ở
nhiều địa phương nhiều lứa tuổi và có qui mô rộng hơn Qua đó thấy ràng khi chưa
có công tác nha học đường, tình trạng sâu răng ở trẻ em Việt Nam có chiều hướng
tăng lên Sâu răng ở miễn Bắc nói chung thấp hơn so với miền Nam [1], [4], [11]
[12], [19], [24] [50] 56] [58] [59] Đặc biệt có những điều tra cơ bản đã công bố
tình trạng sâu răng trên phạm vi toàn quốc Qua điều tra lần 1 nam 1990 thấy tỷ lệ
sâu răng ở tuổi I2 như sau: Miền Bác: 43,33%; SMT: 1,15; Miền Nam: 76,33%
SMT: 2,93 Toàn quốc: 55,69%; SMT: 1,82 [I1], [50], [53]
Từ năm 1991 đến 1998 tiếp tục có nhiều nghiên cứu đưa ra tỷ lệ sâu răng trẻ
em và chỉ số SMT ở một số địa phương như Yên Bái Hoà Bình, Hà Nội, Nam Định,
Đà Năng và thấy tỷ lệ sâu rãng giao động trong khoảng 34,54% đến 62%, SMT từ
1,33 đến 4,28 [12] [13], [35] [37], [46], [54], [71]:
Trang 18
Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quéc sau diéu tra lan 2 (1999 - 2001) [70]
Qua đó thấy rằng tình trạng sâu răng ở trẻ em còn rất phổ biến Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, từ khi có chương trình nha học đường, trẻ em được chảm sóc räng miệng nên tình trạng răng miệng của học sinh đã được cải thiện Tuy vậy nhìn chung trong cả nước mới có khoảng 25% trẻ em được chăm sóc răng miệng Còn lại khoảng
13 triệu trẻ em chưa được chăm sóc rãng miệng [66]
Với mục tiêu phòng bệnh năm 2010 của WHO là 90% trẻ em 5-6 tuổi không
bị sâu răng và SMT ở tuổi 12 < 1: 100% trẻ em 18 tuổi giữ được toàn bộ răng Việt Nam phấn đấu năm 2010 đạt được các mục tiêu trên bằng cách phát triển chương trình nha học đường [62] [64], [66]
1.2 Viém loi:
1.2.1 Nguyên nhan - bénh sinh - biéu hién lam sàng của bệnh viêm lợi
a Nguyên nhân:
Qua nhiều nghiên cứu từ những năm 60 của Greene, Ramfforg, Loe và cho tới
ngày nay người ta đã khẳng định được sự hình thành và vai trò của mảng bám rang,
một tác nhân ngoại lai quan trọng nhất trong những nguyên nhân của bệnh viêm lợi
và bệnh viêm quanh răng
Mảng bám răng hình thành trên bề mặt thân răng ngay sau khi ăn, nó có nguồn gốc từ nước bọt do men Carboxydase hay Neuramidase tác động lên axit Sialic của Muxin trong nước bọt làm cho nó kết tủa trên bể mặt rang Sau đó các vị khuẩn xâm nhập, cố định và phát triển thành mảng bám vi khuẩn sau tt đoạn
HU VEEN -
Trang 1918
này các mảng bám vi khuẩn dé dàng bị làm sạch bằng cách chải răng Nếu ở người
bình thường cứ chải sạch răng, sau 24 giờ thì các mảng bám răng mới lại hình thành
để lâu vài ngày chúng sẽ bám chặt vào bề mặt than rang và lúc này không thể làm
sạch bằng chải răng nó trở thành cao răng thường sau 7 ngày [20]
Về mật cấu trúc mảng bám vi khuẩn tụ tập các loại ví khuẩn sống và chết
trong một chất tựa hữu cơ giầu Polysacharide và Glucopotein tỷ lệ:
+ 70% là vi khuẩn
+ 30% là chất hữu cơ
Chiều dày của mảng bám vi khuẩn thay đổi từ 5 um - 200 um Theo Theilade
và Loe (1966) thành phần, số lượng của các loại vi khuẩn thay đổi theo thời gian và vị trí của chúng ở các mảng bám răng trên lợi: theo nghiên cứu của Theilade và Loe
(1960) lúc mới hình thành mảng bám ít vì khuẩn nhưng có nhiều tế bào bong của
niêm mạc rồi sau đó vi khuẩn tích tục dần, có tới 90% là cầu khuẩn và trực khuẩn Grr
(+), 10% là cầu khuẩn Grr (-) Các cầu khuẩn và trực khuẩn Gr (-) tăng dần lên, tới
ngày thứ 3 thứ 4 có các loại ví khuẩn hình thoi và hình sợi từ ngày thứ 5 có xoăn
Trực khuẩn Gr (-) gồm:
Actynomyces Visesus Actynomyces Naeslundi Các loại này không bám chắc vào rãng nên dễ làm sạch Ba tuần sau có sự thay đổi: Cầu khuẩn Gr (+) giảm, trực khuẩn Gr (-) tăng lên
Theo Ritz (1969) khi mảng bám vi khuẩn dày lên có nhiều lớp thì vi khuẩn
yếm khí và trực khuan Gr (-) tăng lên, lúc này là khởi điểm cho quá trình viêm và
thấy rõ trên lâm sàng Theo các nhà vi khuẩn học: viêm lợi xét về phương diện vi
khuẩn học chủ yếu là sự gia tầng nhân lên số lượng vi khuẩn so với lợi bình thường
[Š7]
Trang 20
19
Theo Đồ Quang Trung trong viêm lợi có sự gia tăng đặc biệt của 3 lợi trực khuẩn, cầu khuẩn và xoắn khuẩn thì xoắn khuẩn có sự gia tăng đặc biệt từ 40% ở lợi bình thường tăng lên 72,72% ở lợi viêm [43]
Ngoài nguyên nhân gây nên bệnh viêm lợi và viêm quanh răng là mảng bám răng đã nêu ở trên còn phải kể đến các nguyên nhân khác nữa gây nên bệnh viêm lợi là:
- Do siêu vi tring Herpet
- Do thuốc trong điều trị
- Do hàn răng không đúng kỹ thuật
Ngoài các men, vị khuẩn còn tiết ra các nội độc tố và những sản phẩm đào
thải, chuyển hoá trung gian như NH3, uree, Hydrosunfua
+ Tác động gián tiếp: do tính chất kháng nguyên của vi khuẩn chúng khuếch tán quá biểu mô và khởi động những phản ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân
c Biểu hiện lâm sàng của viêm lợi:
- Khi lợi bị viêm ở các mức độ khác nhau sẽ có biểu hiện ở sự thay đổi màu sắc, hình thể, trương lực
- Vị trí biểu hiện để thấy là bể mặt lợi có chảy máu, dịch viêm ở khe lợi
- Không có túi lợi bệnh lý (không có sự di chuyển của biểu mô bám dính, không có tiêu xương 6 rang [44]
- Viêm lợi thường thấy đi đôi với tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt có nhiều mảng bám răng, cặn thức an, cao rang
1.2.2 Tinh hinh bénh viêm lợi ở trẻ em:
- Theo AAP Current Procedural Terminology of Periodentics, 5th Edition 1987: bệnh tổ chức quanh răng bao gồm:
Trang 2120
+ Bệnh lợi
+ Bệnh viêm quanh răng
+ Bệnh teo vùng quanh răng
Trong bệnh lợi, thể viêm lợi do mảng bám vi khuẩn và các sản phẩm của nó là thể hay gặp nhất, chiếm đa số trong các trường hợp viêm lợi
- Bệnh quanh răng ở trẻ em thường được biểu hiện là viêm lợi Sự lưu hành viêm lợi khác nhau theo tuổi Năm 1964, Aranjo và Mc Donald [17] đã cho thấy sự
lưu hành của xoăn khuẩn trong miệng trẻ em từ 3-7 tuổi thấp hơn so với người lớn
Thời kỳ 5-6 tuổi đến 12 tuổi là thời kỳ hàm răng hỗn hợp Năm 197§ WHO
[154] thông báo bình quân trên thế giới có 80% trẻ em đưới 12 tuổi và 100% trẻ em
14 tuổi bị viêm lợi mãn
* Tình hình bệnh viêm lợi trên thể giới:
Theo nghiên cứu của một số tác giả ở các nước thuộc châu Âu châu Mỹ, châu
Á đều cho thấy tỷ lệ trẻ em bị bệnh quanh râng cao ở mức trên 90%
Ở Phần Lan 1981 viêm lợi ở trẻ em cáe độ tuổi là:
Chỉ số nhu cầu điều trị nha nhu của cộng đồng tuổi 12 và 15 tại một số nước
như Thái Lan, Brazin Đức được công bố CPITN I và 2: Từ 43,7 đến 95.7% ở tuổi 12:
38.6 đến 94,40% ở tuổi 15 Ngoài ra còn có > 50% trẻ 15 tuổi có CPITN 3 và 4[104],
[112], [116], [136], [1541
Về số trung bình vùng lục phân có cao răng (CPITN 2) qua thông báo của WHO từ năm 1981 đến năm 1983 tuổi 1Š ở các nước đều có giao động từ 0,1 (Pháp)
đến 4 (Philippines, Italia) [154]
Trang 2221
* “Tình hình bênh viêm lợi ở trẻ em Việt Nam:
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về bệnh quanh răng và đưa ra nhận
xét bệnh quanh răng là bệnh phổ biến tỷ lệ mac cao [6], [11], [50] [56] [66] [75]
Theo điều tra năm 1990: trẻ em 12 tuổi ở miền Nam có 6,36% chảy máu lợi, 91,5%
có cao rãng [11] 98,33% trẻ em 12 tuổi toàn quốc bị viêm lợi [50]
Từ năm 199] - 1998 có nhiều tác giả thông báo tình hình bệnh quanh răng ở
lứa tuổi học sinh ở một số tỉnh như Yên Bái, Hải Hưng, Hà Nội, Nam Dinh, Da Nang,
Thái Bình trong đó CPITNI giao động từ 4,78% đến 40,40%; CPITN2 từ 10.52% đến
89,22% [13], [34], [40], [56], [63], [75]
Theo Trần văn Trường, nam 2001 Vién Rang - Ham - Mat phối hợp với trường
dai hoc Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ rãng miệng qui mô
toàn quốc và cho kết quả sau [66], [70):
Bảng I.5: Tình trạng chảy máy lợi và cao răng ở trẻ em toàn quốc
Qua đó thấy rằng bệnh viêm lợi là bệnh phổ biến Mặc dù nhờ có chương trình
nha học đường, tỷ lệ bệnh răng miệng ở tuổi học sinh đã giảm xuống Nhưng ở những
nơi chưa có chương trình này, tỷ lệ bệnh còn cao, ở mức báo động đòi hỏi có những
giải pháp phòng bệnh và điều trị hữu hiệu và việc tăng cường chương trình chăm sóc
räng miệng trẻ em học đường là vô cùng cấp bách [66]
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh rãng miệng:
13.1 Yéu t6 nguy cơ xâu rằng:
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học, người ta biết rằng sâu răng là một day
chung của những sự kiện động học dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan với
nhau như: đặc tính sinh học, hoàn cảnh xã hội, hành vi, tâm lý và mức sống của đối
tượng Càng ngày càng có nhiều yếu tố nguy cơ được biết liên quan đến sâu răng
Trang 2322
[31], [36], [85], [105], [108], [115] [117], [127] [163] Tuy nhiên từ kinh nghiệm
lâm sàng của nha sỹ về sự hiện diện số lượng và độ trầm trọng của sâu răng sữa sự
hiện diện và số lượng sâu rãng ở mặt bên rãng vĩnh viễn người ta đã đánh giá được
những yếu tố nguy cơ sâu rãng nổi trội gôm:
- Vị khuẩn: Do không chai rang hoặc chải răng không đúng phương pháp sau khi ăn, đặc biệt sau khi ăn đồ ngọt
- Dinh dưỡng: Nguồn cung cấp Fluor không đủ, vd: nồng độ Fluor trong nguồn nước sinh hoạt thấp
- Sức đề kháng của răng: Chất lượng men răng
- Nước bọt: Độ pH của nước bọt
Messer LB [II7] đã nghiên cứu những nguy cơ gây sâu răng ở trẻ em Uc 2
thập kỷ qua, cho thấy tình trạng sâu răng phụ thuộc vào tuổi và điều kiện sống
Đánh giá nguy cơ sâu răng ở trẻ em là một phần trong việc đánh giá sức khoẻ toàn thân đặc biệt là thói quen vệ sinh rằng miệng [28]
1.3.2 Yéu té neny cơ bệnh viêm lợi:
Những yếu tố nguy cơ của viêm lợi là những yếu tố tại chỗ và toàn thân gây ảnh hưởng đến việc tích tụ mảng bám rang hoặc làm biến đổi sự đáp ứng của tổ chức
quanh răng đối với mảng bám răng [l 12], như:
- Không chải răng thường xuyên sau ăn hoặc chải răng không đúng phương pháp
- Han rang khong dung ky thuat
trên đường viên lợi, có thể không gây ra bệnh quanh răng Nhưng cao rang dưới lợi
trên bề mặt chân rang sé tao diéu kiện cho những mảng bám rang và vi khuẩn bám
nhiều hơn và khó lấy đi hơn
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tích tụ mảng bám răng là không chải răng hoặc chải răng không đúng cách Ở trẻ em, nếu không được hướng dẫn và
nhắc nhở sẽ không tạo được cho các em thói quen cần thiết chải rãng hàng ngày Đó
Trang 2423
là việc quan trọng trong thói quen vệ sinh răng miệng Nếu tạo được thói quen chải răng đều đặng hàng ngày và được hướng dân vệ sinh răng miệng một cách đầy đủ sẽ làm sạch vi khuẩn và mảng bám răng, góp phần ngăn ngừa viêm lợi
2 Tính chỉ số sâu mất trám, chỉ số đánh giá tình trạng bênh viêm lợi
2.1 Tính chỉ sở sâu mất trám
- Sâu (S) được tính theo 2 mã sổ:
Ma so |: Sau răng nguyên phát
Ma s6 2: Rang da tram có sâu lại
- Mat (M) duoc tinh theo 2 mã số:
Mã số 4: Mất do sâu răng
Mã số 5: Mất vì lý do khác
- Tram (T) được tính theo 1 mã số:
Mã số 3: Đã trám và không có sâu lại
Số trung binh rang sâu-mất-trám là tỷ lệ tổng số răng mã số I+2+3+4/tổng số
người khám
2.2 Các chỉ vố đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi:
Nhiều tác giả đã nghiên cứu các chỉ số để đánh giá tình trạng viêm lợi như: + Chỉ số lợi (G1) của Loe và Silness
+ Chỉ số chảy máu rãnh lợi (SBL) của Muhleman 1971
+ Chỉ số chảy máy lợi (GBL) của Carter và Barner 1974
+ Chỉ số nhú lợi bờ lợi, lợi dính (PMA) của Schour và Massler 1967
+ Nam 1982 Ainamo dua ra chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cho cộng đồng (CPITN) và đưa được tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sử dụng để đánh giá tình trạng bệnh của tổ chức quanh răng và nhu cầu điều trị trong cộng đồng
*Các chi s6 đánh giá tình trạng bệnh viêm lợi ap dung trong dé tai:
Trang 25rang thì không tính và gạch chéo (X)
+ Chi tinh rang 8 khi nó thế chỗ chức nang rang 7
Trẻ em và thiếu niên (trên 7 tuổi)
+ Khi răng chỉ định không còn thì vùng đó không được tính
- Dung cụ khám: Trâm thăm dò nha chu của tổ chức y tế thế giới
+ Đầu tròn đường kính 0,5 mm
+ Có các vạch đánh dấu các khoảng 3.5; 2,0; 3,0 và 3,0 mm (tổng cộng 11,5
- Sử dụng trâm khám:
+ Xác định độ sâu túi lợi, chảy mấu va cao rang
+ Đưa nhẹ đầu trâm khám vào rãnh lợi giữ tiếp xúc với bề mặt răng để phát
hiện cao răng
+ Dùng lực lŠ - 25 gr tránh gây khó chịu cho bệnh nhân
+ Nhãn vào cột màu nhận biết túi sâu <3,5 mm 3,5 - 5,5 mm
và > 3,5 mm
- Tiêu chuẩn đánh giá:
Mã số Ö: tổ chức quanh răng bình thường
Mã số 1: chảy máy nhẹ sau thăm khám
Mã số 2: có cao răng trên hay dưới lợi
Mã số 3; túi lợi sâu 4 - 5 mm
Trang 2625 + Sử dụng đồ hình quanh răng cho môi người
+ Gạch chéo vùng mất răng
+ Đánh dấu rãng đại điện cho vùng có mã số cao nhất
+ Không khám những răng còn lại sau khi đã phát hiện răng có mã số 4
+ Chỉ dùng mã số 0; I và 2 cho bệnh nhân 7 đến l I tuổi
b, Tinh todn CPITN cho nhóm:
Mã số nhóm có thể theo những phương pháp tính
- Tỷ lệ bệnh toàn bộ người có mô nha chu lành mạnh và bị bệnh
- Số trung bình vùng lục phân lành mạnh và có bệnh nha chu/ môi người
- Nhu cầu điều trị của cả nhóm
3 Các phương pháp chải răng:
Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các phương pháp chải rang khác
nhau, nhìn chung có thể thấy một số phương pháp tiêu biểu đã được miêu tả [60]
3.1 Phương pháp chải ngang:
Bàn chải được giữ ngang, tay ấn để các lông của bàn chải áp sắt và vuông góc với bể mặt thân răng Động tác chải là chuyển động ngang theo chiều trước sau ở mọi
vị trÍ của cung răng, vì thế kiểu chải này không làm sạch mảng bám và cặn thức ăn
bám nhất là ở khe kẽ của răng đồng thời gây mòn cổ răng nhiều
3.2 Phương pháp Fone (I930):
Bàn chải được giữ ngang, các lông bàn chải được ấn để áp nhẹ với mặt thân răng và lợi
Động tác chải là chuyển động xoay vòng và tịnh tiến từ phía trong ra phía ngoài
Phương pháp này khó thực hiện do 2 hàm cắn chặt vào nhau nên góc trong cùng khó chải, vùng kẽ ít được làm sạch gây sang chấn; chải mặt trong theo chiều
trước sau và mặt nhai chải ngang có nhiều động tác chải khác nhau nên khó hướng
dẫn
3.3 Phương pháp OItolegi:
Bàn chải được giữ ngang và nghiêng để các lông bàn chải hướng lên tiền đình miệng Mặt cạnh của các lồng bàn chải tiếp xúc với lợi và mặt thân rang Dong tac
chải là chuyển động xoay trục của bàn chải để cạnh bên của các lông bàn chải miết
vào lợi và rằng theo hướng từ trên lợi xuống mật nhai
Trang 2726
Phương pháp này gây đâu lợi nhiều, khó thực hiện động tác xoay trục của bàn chải
3.4 Phitong phap Charter:
Bàn chải được giữ ngang để các lông bàn chải tiếp xúc với men rang va loi, các lồng bàn chải tạo với trục răng một góc 900, Động tác chải là chuyển động ấn và rung chiều trước sau để vừa chải vừa xoa nắn lợi
Phương pháp này khó thực hiện vì động tác không thoải mái
là chuyển động rung nhẹ chiều trước sau đồng thời xoay tròn tịnh tiến
Phương pháp này được Bass được cải tiến năm 1948, động tác chải là chuyển
động rung nhẹ chiều trước sau và tịnh tiến từ phía lợi về phía mặt nhai Phương pháp
này được các nước Bắc Âu và nhiều nước trên thế giới áp dụng vì nó làm sạch MBR
và cặn thức ăn hơn, đặc biệt là ở rãnh giữa 2 răng
Động tác đơn thuần dễ thực hiện và dé hướng dẫn áp dụng cho cộng đồng Theo Ngô Đồng Khanh và cộng sự (1990) phương páhp này phù hợp với trẻ
em hơn các phương pháp khác [49]
$.7 Phương pháp chất răng được áp đụng trong chương trình NHĐ:
Phương pháp Bass cải tiến được lựa chọn để hướng dan cho hoc sinh chai rang, được chỉ tiết hoá để hướng dẫn cho các em thực hiện và được Vụ tiểu học, Vụ Giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và đào tạo tập huấn cho các cán bộ giảng dạy vệ sinh rang miệng của các trường [1Š]
3.7.1 Phân chia vùng chải răng:
Chia mỗi cung hàm thành Š - 6 đoạn, môi đoạn gồm 2 - 3 răng môi đoạn đó được chải từ 6 đến 10 lần
3.7.2 Chải răng có thứ tự:
Chải thứ tự để tránh bỏ sót và dễ thực hiện hướng dẫn kiểm soát động tác của
các em, khi chải răng tập thể theo hiệu lệnh trống nhạc
Trang 28Lam động tác rung nhẹ tại chô theo chiều trước sau Luôn giữ cho lông bàn chải tiếp xúc với mặt răng và di chuyển dần dân theo hướng từ cổ rãng đến mặt nhai Lặp đi lặp lại từ 6 - 10 lần cho một đoạn 2 - 3 răng Sau đó nhích dần bàn chải sang phần kế tiếp thứ tự
* Chai mat trong:
Mặt trong được chải sau khi chải xong mặt ngoài, động tác chải giống như mặt
ngoài Riêng phần mat trong rang cửa bàn chải để theo chiều thăng đứng lông ban
chải tạo với mặt trong răng cửa một góc 450 ép lông bàn chải và rung nhẹ đồng thời
di chuyển từ phía cổ răng về phía rìa cắn
* Chải mặt nhai:
Đặt lông băn chải thẳng góc với mặt nhai của răng ép nhẹ lông bàn chải lên mat nhai của răng và chải theo chiều trước sau
4 Chương trình nha học đường (NHĐ)
4.1 Cơ sở của chương trình NHĐ:
Chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng trẻ em từ 6 - 1Š tuổi tại trường học được gọi là chương trình nha học đường (NHĐ) Đây là chiến lược của ngành y
tế trong việc bảo vệ sức khoẻ răng miệng cho ca cộng đồng trong tương lai - Trẻ em
là tương lai của đất nước, tổ chức y tế thé gidi (WHO) nam 1984 đã nêu lên khẩu hiệu “Sức khoẻ cho trẻ em hôm nay, giàu có cho ngày mai” Lứa tuổi đang đi học là lứa tuổi được ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ rãng miệng ở Việt Nam vì đân số nước ta khoảng 80 triệu người, trong đó lứa tuổi này khoảng l4 triệu - tỷ lệ mac bénh rang miệng rất cao, việc điều trị đòi hỏi sự tốn kém rất lớn Hơn nữa chúng
ta lại đang rất nghèo nên phải xác định chiến lược khống chế dần tỷ lệ bệnh răng miệng, tiến tới thanh toán dần từng bệnh Hiện nay số học sinh được chăm sóc răng
Trang 2928
miệng tại trường khoảng 3 triệu (miền Bắc 2 triệu, miền Nam 1 triệu) Với tổng số
1105 điểm NHĐ ở phía Bắc và 451 điểm ở phía Nam Về sinh lý đây là lứa tuổi răng
vĩnh viễn đang bắt đầu mọc, đang ở giai đoạn ngấm vôi, dùng Fluo rất hiệu quả Bệnh của tổ chức quanh răng chủ yếu là viêm lợi nếu được cham sóc sẽ rất hiệu quả Về tâm lý học sinh: giai đoạn này cần được uốn nan, chi bao cu thé trong hoe tap, sinh hoạt và dễ hình thành các thói quen tốt nói chung và về vệ sinh rãng miệng nói riêng Môi trường tốt nhất để tiến hành là nhà trường; dễ tổ chức phối hợp giữa ngành y tế
và giáo dục để đạt kết quả tốt Nhà trường sẽ là môi trường giáo dục sức khoẻ răng miệng rất cần thiết và khả thi, vì các em hiện đang sống trong môi trường gia đình ở nông thôn có thực trạng kiến thức, thái độ hành động về phòng bệnh răng miệng kém Năm 1990 theo kết quả nghiên cứu của Ngõ Đồng Khanh và cộng sự thấy: [29]
- 70 - 80% số người bị viêm lợi, có cao răng thậm chí cả đã mất răng lẻ tẻ Chưa bao giờ đi khám răng miệng
- 50% số người nhận thức thấy tình trạng rang lợi khoẻ mạnh là quan trọng
- 10% biết hướng dẫn con chau chai rang
- 72% số người ở nông thôn không có bàn chải
- 90% học sinh tiểu học không chải rãng thường xuyên
4.2 Nội dung chương trình nha học đường:
Có 4 nội dung chính:
+ Giáo dục nha khoa
+ Xúc miệng dung dịch Fluo 0,2% mỗi tuần 1 lần
+ Tổ chức khám chữa răng tại trường
+ Tram bít hố rãnh trên mật nhai răng vĩnh viễn
Thực tế hiện nay việc triển khai các nội dung này còn gặp nhiều khó khăn đo nguồn kinh phí nghèo nàn Chương trình nha học đường toàn quốc đã hoạt động tích cực và đạt được kết quả rất khả quan là triển khai được mạng lưới nha học đường rộng khắp và hoạt động chủ yếu với 2 nội dung Giáo dục nha khoa và khám chữa răng tại trường
1.5.3 Nội dung và vai trò của giáo dục nha khoa:
Tuyên truyền giáo dục, giảng dạy cho học sinh các biện pháp giữ gìn vệ sinh răng miệng, ngăn ngừa các thói quen xấu có hại, biết được các kiến thức cơ bản về phòng bệnh để các em tu cham séc răng miệng
Trang 3029
Thực tế hiện nay việc giảng dạy về vệ sinh răng miệng cho học sinh tiểu học
đã được đưa vào chương trình chính khoá, nhưng đang được tiến hành ở mức độ: một
số giờ lý thuyết ít öi mà không có thực hành, nhất là học về cách chải răng Theo các
nhà tâm lý học, học sinh tiểu học đang hình thành những thói quen, sự tự giác còn rất
hạn chế nên việc học cần phải đi đôi với thực hành Hoạt động của các em sau khi
được giảng dạy là các hành động có ý chí, các hành động có ý chí này cần phải có
hành động hô trợ đó là hành động tự động hoá
Hành động tự động hoá lúc đầu là hành động có ý thức, ý chí và do được lặp đi
lặp lại, rèn luyện mà trở thành tự động, nghĩa là khi đó không cần có sự kiểm soát
trực tiếp của ý thức mà vẫn hoạt động có kết quả Thói quen được hình thành sẽ có
tính bền vững hơn kỹ xảo [48] Chính vì vậy các em học sinh tiểu học sau khi được
học các kiến thức cơ bản và các biện pháp giữ gìn vệ sinh rãng miệng, ngăn ngừa thói
quen xấu có hại để phòng bệnh rãng miệng, các em sẽ có ý thức trong việc chải răng
biết chải rãng đúng Nếu được thực hành chải răng ở trường dưới sự kiểm soát, uốn
nắn của thầy cô giáo và cán bộ nha học đường một cách đều đặn thì sẽ đạt được kỹ
xảo chải rãng Lúc đó các em mưới có thể chải ăng đúng và dần dần mới trở thành
thói quen của sinh hoạt hàng ngày Khi do việc giữ gìn vệ sinh răng miệng, phòng
bệnh sâu răng, viêm lợi bằng biện pháp chai rang sẽ có kết quả tốt và được duy trì
bền vững trong cuộc sống Để đạt được kết quả giáo dục nha khoa cần phải có môi
trường giáo dục mà trước hết chương trình nha học đường phải tạo ra môi trường giáo
dục nha khoa tại nhà trường, giảng dạy các kiến thức vệ sinh răng miệng cơ bản cùng
với cán bộ NHĐ hướng dẫn kiểm tra, giám sát việc chải răng của các em tại trường
để đạt được kết quá tốt: Không ai có thể làm việc đó tốt hơn các thầy cô giáo của các
em
Trang 31
30
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh tiểu học lớp 1 và lớp 5 không phân biệt nam, nữ đang học ở2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Chúng tôi chỉ chọn 2 khối lớp I và lớp 5 để xác định tỉ lệ sâu răng sữa và răng vĩnh viên: Học sinh lớp l tương đương 6 tuổi đang ở thời kỳ răng sữa bát đầu thay răng vĩnh viễn và lứa tuổi 10 tuổi(lớp 5) răng sữa được thay thế gần hết, răng vĩnh viễn đang mọc và ở thời kỳ ngấm vôi rất quan trọng, lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh viêm lợi cao Chọn 2 trường tiểu học trên vì trường tiểu học xã An Vĩ là trường nằm ngay trung tâm thị trấn Khoái Châu, trường tiểu học xã Hồng Tiến nằm ngoài thị trấn
2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/ 2005 - 8/ 2005
3 Địa điểm nghiên cứu:
Tại 2 trường tiểu học xã An Vĩ và Hồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
4 Phương pháp nghiên cứu :
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Š Mâu nghiên cứu
5.1 C& mau :
Diéu tra toan b6 hoe sinh kh@i lép | va lép 5 cé mat tai 2 trường trong thời gian triển
khai nghiên cứu
6 Phương pháp thu thập số liệu
6.1 Công cụ thu thập xổ liêu
a Phiếu phỏng vấn học sinh có cấu trúc Bộ câu hỏi dành cho học sinh lớp I bao gồm
9 câu, bộ câu hỏi dành cho học sinh lớp 5 gồm II câu (Xem chỉ tiết ở phụ lục 1)
Trang 323]
b Khám lâm sàng bao gồm: phiếu khám lâm sàng, dụng cụ khám (Đèn pin, gương, thám trâm, đè lưỡi, cây thăm dò nha chu, kẹp gap, dụng cu để khử khuẩn chậu rửa, khăn vải, gạc, giấy lau tay)
c Quan sát thực hành chải răng: Phiếu quan sát, bàn chải đánh răng 6.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp học sinh bằng phiếu phỏng vấn
có cấu trúc, khám lâm sàng, quan sát thực hành chải răng 6.3 Điều tra viên tà giám sát viên
6.3.1 Điều tra viên:
Là các cán bộ của Trung tâm y tế huyện Khoái Châu, các bác sỹ chuyên khoa RHM,
cử nhân YTCC học viên cao học trường Đại học YTCC
6.3 2 Giám sát viên
Gồm tác giả (nghiên cứu viên) và 01 Bác sỹ chuyên khoa RHM Hai giám sát viên này đã trực tiếp tập huấn cho các điều tra viên trong thời gian l ngày về các nội dung: mục tiêu của cuộc điều tra, thống nhất cách điền phiếu khám, phiếu quan sát, cách điền phiếu phỏng vấn, các kỹ năng phỏng vấn, nội dung và ý nghĩa của từng câu
hỏi, kiểm tra phiếu và thực hành sử dụng bộ câu hỏi trên thực địa Nghiên cứu viên
cũng tham gia vào quá trình điều tra, giải quyết những khó khăn trong quá trình thu thập số liệu làm sạch số liệu
6.3.3 Tiến hành điều tra
- Liên hệ với chính quyền địa phương và nhà trường để họ biết và tạo điều kiện cho việc thu thập số liệu:
- Tập huấn cán bộ điều tra:
Tập huấn tổ khám, tổ phỏng vấn và tổ giám sát:
Tập huấn dé thống nhất cách hỏi, khám, giầm sát tránh sai số Thời gian: 1 ngày
- Nghiên cứu thử và hoàn chính bộ câu hỏi Thời gian: Ì ngày
- Tiến hành khám phỏng vấn, quan sat chai rang tại nhà trường theo lịch đã thống nhất với nhà trường điều tra viên sẽ chia làm 3 tổ:
+Tổ khám: Gồm các bác sỹ chuyên khoa RHM + Tổ quan sát và tổ phỏng vấn: Bao gồm các cán bộ của Trung tâm y tế huyện Khoái Châu, cử nhân YTCC, nhóm học viên cao học trường Đại học YTCC
Trang 3332
- Nơi khám phải đảm bảo đủ bàn ghế, ánh sáng, khám đến đâu ghi chép vào phiếu khám đến đó Nơi quan sát chải răng phải có đầy đủ ánh sáng nguồn nước sử dụng nơi thoát nước, môi em 1 bàn chải riêng biệt, ca đựng nước
7 Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập từ thực địa về được làm sạch trước khi nhập vào máy
để phân tích Nhập toàn bộ số liệu vào máy tính bằng chương trình Epi-Info 6.04
Tính toán thống kê: tính tỷ lệ, ty suất chênh (OR)
- Các sai số nhớ lại trong phỏng vấn hồi cứu một số yếu tố nghiên cứu sẽ được giảm
thiểu bằng những câu hỏi kiểm tra chéo:
- Các sai số quan sát sẽ được hạn chế bằng tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên
10 Van dé dao đức trong nghiên cứu:
Nghiên cứu tuân thủ qui trình của hội đồng đạo đức nhà trường qui định và chỉ tiến hành khi hội đồng đạo đức cho phép
Đây là điều tra cát ngang, khám răng miệng và quan sát hành thực hành chải răng Điều tra này không trực tiếp can thiệp, điều trị cho học sinh
Qua điều tra, chúng tôi tư vấn, hướng dẫn học sinh cách đánh răng, ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ, giúp cho học sinh biết cách bảo vệ răng miệng tốt hơn
11 Một số khái niêm sử dụng trong nghiên cứu:
* Hiểu biết đúng về nguyên nhân sâu răng:
Cho rằng nguyên nhân sâu răng là do:
- An nhiều bánh kẹo, nước ngọt
-Không chải răng sau khi ăn
* Hiểu biết đúng về cách phòng sâu răng: Cho rằng phòng bệnh sâu răng bằng cách:
- Chải rang đúng cách với kem chải răng
- Chai rang ngày 3 lần sau bữa ăn
- Thay bàn chải sau mỗi 3 tháng
- Hạn chế an đồ ngot, an vat
Trang 3433
CHƯƠNG II: KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
1 Thong tin chung về học sinh
Bang |: Phân bố giới tính của học sinh
Khối Học Nam Nữ Tổng
Lớp | 113 475 125 52,5 238 00.0 Lớp 5 123 | 44/7 152 | 5;.4 275 100,0
Nhận xét: Tỷ lệ nam lớp 1 là 47,5%; nữ 52,5%, lớp 5: 44,7% và 55,3%, tỷ lệ nữ nhiều
hơn nam nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 2: Tỷ lệ học sinh phân bố theo địa dư
Trang 3534
2 Thực trạng sâu răng, viêm lợi của học sinh
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sâu rang của học sinh
Nhận xét: Tỷ lệ sâu răng của học sinh lớp I là 74.8%, lớp 5 là 47,3%
Nhận xét: Lớp 1 có tỷ lệ sâu răng ở nam là 78,7%, nữ 71,2%, lớp 5: 52% và 43.3%
Tỷ lệ sâu răng của nam cao hơn nữ, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Trang 36Nhận xét: Tỷ lệ sâu rãng của học sinh lớp l ở xã An Vĩlà 78,9%, xã Hồng Tiến 72,3
Tỷ lệ sâu răng ở học sinh lớp 5 của xã An Vĩ 50,4%, xã Hồng Tiến 44.7% Chỉ số Smt/hs ở học sinh lớp | của xã An Vĩ là 4,06; xã Hồng Tiến 3,41 Chỉ số SMT lớp 5
Biểu đồ 2: Tình trạng lợi của học sinh
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh lớp 1 bị viêm lợi là 56,3%, lớp 5 là 61%