LỜI CẢM ƠN Đề tài nghiên cứu “Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2017” đã được học v
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi, sinh sống trên địa bàn phường Quảng An - Quận Tây Hồ - Hà Nội, sẵn sàng tham gia nghiên cứu
Người bán thuốc tại một số hiệu thuốc trên địa bàn phường
- Những đối tượng có rối loạn về tâm thần, không có khả năng trả lời phỏng vấn
- Những đối tượng từ chối trả lời phỏng vấn.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 02/2017 - tháng 07/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Phường Quảng An - Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính.
Cỡ mẫu định lượng
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức chọn mẫu nghiên cứu mô tả cho ước lượng một tỷ lệ: n= 2
- Chọn mức độ tin cậy 95%, Z 1-/2 = 1.96
Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi thực hành an toàn và hợp lý về sức khỏe và dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Trang đã chỉ ra thực trạng sức khỏe và dinh dưỡng của các bà mẹ tại xã Đông Kết, huyện Khoái, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về các thực hành hiện tại.
Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2013, tỷ lệ bà mẹ có con ≤ 05 tuổi có thực hành về SDKS an toàn, hợp lý đạt là 38% [12]
- d: Mức sai số ước lượng giữa tham số mẫu và quần thể
Chọn d = 0,07 Áp dụng công thức ta có:
- Cỡ mẫu nghiên cứu để đánh giá thực hành là: 184,7 làm tròn thành 185 người
=> Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 185 bà mẹ có SDKD cho trẻ khi trẻ bị ốm
Trên thực tế điều tra được 187 bà mẹ có SDKS cho trẻ khi trẻ bị ốm.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện
Bước 1: Lập danh sách các bà mẹ/HGĐ có trẻ dưới 5 tuổi tại Phường
Nghiên cứu viên lập danh sách các bà mẹ/HGĐ có trẻ dưới 5 tuổi theo danh sách thống kê tại phường
Tính đến hết tháng 2/2017, tại Phường Quảng An có:
Tổng số bà mẹ/HGĐ có trẻ dưới 5 tuổi là 602
Tổng số trẻ dưới 5 tuổi tại phường là 786
Bước 2: Tính toán khung mẫu cho nghiên cứu nhằm xác định các bà mẹ có sự phát triển kỹ năng sống (SDKS) cho trẻ khi trẻ bị ốm Để tìm kiếm các bà mẹ này, cần dựa vào số lượng trẻ em có SDKS khi ốm trong 4 tuần trước cuộc điều tra tại địa bàn phường.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được điều trị kháng sinh khi bị ốm và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị ốm trong cộng đồng trong vòng 4 tuần từ hai nghiên cứu để xác định khung mẫu cần thiết.
Nghiên cứu của Mattias Larsson tại huyện Ba Vì – Hà Nội năm 2003 cho thấy tỷ lệ trẻ được điều trị kháng sinh khi bị ốm trong vòng 4 tuần là 75%
Nghiên cứu của Hoàng Thanh Nga tại xã Dương Liễu – huyện Hoài Đức –
Năm 2014, Hà Nội ghi nhận tỷ lệ trẻ em ốm trong vòng 4 tuần tại cộng đồng là 36,1% Để xác định 185 trẻ em có tình trạng sức khỏe kém (SDKS) trong khoảng thời gian này, cần một khung mẫu cho trẻ dưới 5 tuổi với kích thước n = (185/75%)/36,1%.
Dự trù 10%, vậy khung mẫu số trẻ dưới 5 tuổi cần thiết là 683,3 x 10% 751,6 (làm tròn thành 752)
Như vậy, khung mẫu hiện tại: 786 trẻ dưới 5 tuổi và 602 bà mẹ/HGĐ là đủ lớn để phục vụ cho nghiên cứu
Bước 3: Lựa chọn các bà mẹ/HGĐ để điều tra
Như đã tính toán khung mẫu ở bước 2, khung mẫu cần thiết để tìm ra được
Nghiên cứu về sự hỗ trợ của 185 bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi khi trẻ bị ốm cho thấy tầm quan trọng lớn của sự chăm sóc này Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn từng bà mẹ trong danh sách đã lập để thu thập thông tin cần thiết cho nghiên cứu, đảm bảo đủ số mẫu để phân tích.
Trong trường hợp gia đình có hơn 2 trẻ dưới 5 tuổi sử dụng SDKS khi bị ốm, điều tra viên sẽ đề nghị bà mẹ cung cấp thông tin về trẻ có thời điểm SDKS gần nhất với thời điểm điều tra Điều này nhằm hạn chế sai số trong việc nhớ lại thông tin.
Trong trường hợp đối tượng nghiên cứu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn hoặc từ chối tham gia nghiên cứu sau khi đã được thuyết phục, họ sẽ bị loại bỏ và sẽ có đối tượng khác được chọn để thay thế, nhằm đảm bảo cỡ mẫu nghiên cứu.
Sơ đồ quá trình điều tra thực tế:
Các đối tượng được chọn có chủ đích để tiến hành phỏng vấn nhằm bổ trợ cho thông tin định lượng:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát 08 bà mẹ có con dưới 5 tuổi, bao gồm 04 bà mẹ thực hành đạt tiêu chuẩn về sử dụng dinh dưỡng an toàn và hợp lý, cùng với 04 bà mẹ không đạt tiêu chuẩn trong việc thực hành này.
Ba người bán hàng tại các hiệu thuốc được chọn dựa trên tiêu chí cửa hàng lớn, đông khách, nằm trong khu vực dân cư đông đúc và thuận tiện cho giao thông Mỗi cửa hàng phục vụ cho một khu vực dân cư cụ thể.
Phương pháp thu thập số liệu
- Công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 2)
Nghiên cứu viên sẽ liên hệ với chính quyền địa phương và tổ trưởng tổ dân phố để lập danh sách các bà mẹ và hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi Sau đó, điều tra viên sẽ đến từng hộ gia đình trong danh sách để thực hiện phỏng vấn, tập trung vào các bà mẹ có con bị ốm và có dấu hiệu sức khỏe kém.
Tổng số HGĐ, bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại địa bàn nghiên cứu:
Tổng số đối tượng đã điều tra được tại HGĐ:
521 bà mẹ có con dưới 5 tuổi
Tổng số bà mẹ có SDKS cho trẻ khi trẻ bị ốm:
- Các điều tra viên: học viên trường Đại học Y tế công cộng, cán bộ Đoàn thanh niên Phường Quảng An
- Công cụ thu thập số liệu: hướng dẫn phỏng vấn sâu (PVS)
- Cách tiến hành: phỏng vấn sâu có ghi âm (sau khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu)
- Điều tra viên: học viên trường Đại học Y tế công cộng.
Các biến số nghiên cứu
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Trong phần này chúng tôi chỉ đề cập đến nhóm biến chính (các biến cụ thể được trình bạy chi tiết trong phụ lục 1) bao gồm:
Mục tiêu 1: Mô tả thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2017
- Thực hành về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi do các bà mẹ tại Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội thực hiện trong năm 2017.
- Đặc điểm nhân khẩu học về bà mẹ
- Thông tin về trẻ ốm
- Kiến thức về SDKS của các bà mẹ
- Nguồn thông tin về sử dụng kháng sinh
- Nguồn cung cấp thuốc kháng sinh
2.7.2 Nhóm chủ đề nghiên cứu định tính
- Sự tiếp cận thông tin về thuốc kháng sinh (hướng dẫn của bác sĩ, cán bộ y tế, người bán thuốc,…)
- Kinh nghiệm SDKS cho con của các bà mẹ trong những lần trẻ ốm trước
- Tác động của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm
- Tính sẵn có của kháng sinh: nguồn cung cấp kháng sinh, kháng sinh được bán không cần đơn thuốc
- Việc thực hiện bán thuốc theo đơn của người bán thuốc tại các hiệu thuốc.
Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
- Thời gian cư trú của ĐTNC là thời gian ĐTNC thường trú tại Phường Quảng
An (từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu)
Trong cuộc phỏng vấn, những người tham gia được yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của con họ (trẻ dưới 5 tuổi) trong 4 tuần trước cuộc điều tra Các trường hợp được coi là ốm nếu trẻ có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về sức khỏe kéo dài trên 1 ngày, bao gồm tai nạn, ho, sốt, sổ mũi, ngộ độc, tiêu chảy hoặc có chẩn đoán từ bác sĩ.
Người ốm tự điều trị tại nhà là những trường hợp mà người bệnh tự ý mua thuốc, sử dụng đơn thuốc cũ, hoặc dùng thuốc của người khác mà không có sự hướng dẫn từ bác sĩ Họ thường sử dụng thuốc có sẵn mà không qua khám bệnh, dẫn đến những rủi ro về sức khỏe.
Người ốm sử dụng kháng sinh theo đơn là những bệnh nhân đã đi khám tại cơ sở y tế công hoặc tư nhân, nhận được đơn thuốc hoặc hướng dẫn từ bác sĩ, và tuân thủ điều trị theo chỉ định.
Đơn thuốc là tài liệu do bác sĩ chỉ định cho bệnh nhân, đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho việc sử dụng, bán và cấp thuốc theo đơn.
Nhóm thuốc kê đơn bao gồm các loại thuốc như thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc, thuốc độc bảng A, B, thuốc kháng sinh, thuốc nội tiết (ngoại trừ thuốc tránh thai), thuốc tim mạch và dịch truyền.
Thuốc kê đơn là loại thuốc có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe nếu không được sử dụng đúng theo chỉ dẫn của người kê đơn Việc cấp phát, bán lẻ và sử dụng thuốc này phải tuân theo đơn thuốc và các quy định trong danh mục thuốc kê đơn.
- Hạn sử dụng của thuốc: là thời gian sử dụng được ấn định cho một lô thuốc mà sau thời hạn này thuốc không được phép sử dụng [18]
- Phản ứng có hại của thuốc: là những tác dụng không mong muốn có hại đến sức khỏe, có thể xuất hiện ở liều dùng bình thường [18]
Kiến thức về thuốc kháng sinh bao gồm việc hiểu cách sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, tuân thủ đúng theo đơn của thầy thuốc, và nhận biết các đối tượng cần thận trọng khi sử dụng Ngoài ra, cần biết cách xử trí khi thuốc kháng sinh không hiệu quả và cách ứng phó với các tai biến có thể xảy ra trong quá trình sử dụng.
Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh bao gồm các bước quan trọng như khám bệnh để nhận đơn thuốc, uống thuốc theo chỉ định, tuân thủ nghiêm ngặt đơn thuốc, xử trí kịp thời khi có dấu hiệu bất thường và kiểm tra hạn sử dụng của thuốc khi mua.
Nhiễm khuẩn hô hấp trên là tình trạng nhiễm khuẩn ở phần trên của đường hô hấp, bao gồm viêm mũi họng, viêm amidan, viêm xoang, viêm tai giữa và cảm lạnh Trung bình, mỗi người có thể mắc bệnh từ 3-5 lần trong năm, đặc biệt là vào mùa lạnh và mùa mưa Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng này là do virus, bên cạnh một số trường hợp do vi khuẩn và các nguyên nhân khác.
- Nhiễm khuẩn hô hấp dưới gồm có viêm thanh quản cấp, viêm phế quản cấp, viêm phổi [3]
2.8.2 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
2.8.2.1 Đánh giá thực hành của bà mẹ
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (SDKS) cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ được xây dựng dựa trên Hướng dẫn SDKS của Bộ Y tế, đồng thời tham khảo các tiêu chuẩn đánh giá từ các nghiên cứu có chủ đề tương tự.
Thực hành đạt: đối tượng trả lời đúng tất cả các câu B5, C2, C3, C4, C5, C6 được coi là có thực hành đạt về SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi
Thang điểm chi tiết được trình bày tại phụ lục 5
2.8.2.2 Đánh giá kiến thức của bà mẹ
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về sức khỏe sinh sản của bà mẹ được xây dựng dựa trên Hướng dẫn SDKS của Bộ Y tế, đồng thời tham khảo các tiêu chí đánh giá từ các nghiên cứu có chủ đề tương tự.
Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức gồm 14 câu (Từ D1 đến D14) với tổng điểm tối đa là 20 điểm
Chúng tôi tiến hành chấm điểm kiến thức và chia nhóm kiến thức của các bà mẹ:
Nhóm 1: Bà mẹ có kiến thức không đạt (điểm kiến thức dưới 15 điểm) Nhóm 2: Bà mẹ có kiến thức đạt (điểm kiến thức từ 15 điểm trở lên)
Thang điểm chi tiết được trình bày tại phụ lục 5.
Phương pháp phân tích số liệu
- Nhập liệu: sử dụng phần mềm Epi Data 3.1
Làm sạch số liệu là bước quan trọng sau khi hoàn tất nhập liệu, trong đó các số liệu được kiểm tra và hiệu chỉnh để khắc phục các sai sót phát sinh trong quá trình nhập.
- Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 phân tích và xử lý số liệu:
Thống kê mô tả: lập bảng phân bố tần số của các biến số
Nghiên cứu này thực hiện thống kê phân tích để khám phá mối liên hệ giữa kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi với các đặc điểm thông tin chung Phép kiểm định khi bình phương (χ²) và tỷ số chênh (OR) được áp dụng để đánh giá kết quả Mức ý nghĩa thống kê được thiết lập ở α = 0,05, tương ứng với khoảng tin cậy 95%.
Nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi có kết quả sơ bộ từ nghiên cứu định lượng Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm và chuyển thể một cách trung thực Nghiên cứu viên tiến hành đọc, tóm tắt thông tin và mã hóa theo các chủ đề trong khung lý thuyết.
Kết quả nghiên cứu định tính được trích dẫn để bổ sung, giải thích cho kết quả định lượng.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức trường Đại học
Y tế công cộng phê duyệt Giấy chấp thuận (cho phép) của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng số 088/2017/YTCC-HD3
Nghiên cứu này chỉ tiến hành phỏng vấn không có tác động trực tiếp nào đến đối tượng nghiên cứu
Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ cộng đồng và sự ủng hộ của chính quyền địa phương cùng các cơ quan y tế Đối tượng tham gia nghiên cứu là những người từ 18 tuổi trở lên, tự nguyện trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Nếu không đồng ý, họ có quyền từ chối tham gia Tất cả thông tin do người tham gia cung cấp sẽ được bảo mật, không ghi lại tên, địa chỉ hay thông tin nhận diện, và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tại phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, do đó, các kết luận và khuyến nghị được đưa ra chỉ có giá trị áp dụng tại phường Quảng An và những khu vực có đặc điểm tương tự.
Do nguồn lực hạn chế, kinh phí thấp và thời gian nghiên cứu ngắn, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc mô tả thực hành sử dụng đồ chơi sáng tạo (SDKS) cho trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ tại thời điểm điều tra.
Việc thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi hiện nay chủ yếu dựa vào phỏng vấn bà mẹ, mà chưa có sự quan sát và đo lường trực tiếp.
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục
- Sai số nhớ lại: ĐTNC không nhớ được chính xác loại bệnh, tên thuốc, số ngày sử dụng, liều lượng sử dụng
- Sai số do thu thập thông tin
Xem xét đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh của trẻ Nếu bà mẹ đã sử dụng dịch vụ y tế cho trẻ nhiều lần trong vòng 4 tuần trước khi điều tra, hãy hỏi về lần sử dụng gần nhất với thời điểm phỏng vấn.
Để đảm bảo hiệu quả của cuộc điều tra, cần tập huấn kỹ lưỡng cho đội ngũ điều tra viên (ĐTV) và hướng dẫn chi tiết cho đội ngũ nhân viên điều tra (ĐTNC) về cách thức trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Đồng thời, ĐTV cũng cần làm rõ mục đích và ý nghĩa của cuộc điều tra để nâng cao nhận thức và sự hợp tác từ phía người tham gia.
Để nâng cao độ tin cậy của số liệu, nghiên cứu đã thử nghiệm bộ công cụ trên một số đối tượng nhằm xác định tính phù hợp của các khái niệm và tính logic của bộ câu hỏi Qua đó, nghiên cứu phát hiện sai sót và thực hiện chỉnh sửa, hoàn thiện trước khi tiến hành phỏng vấn thu thập số liệu chính thức.
Giám sát chặt chẽ trong việc thu thập số liệu là rất quan trọng Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia vào quá trình này, hàng ngày gặp gỡ điều tra viên (ĐTV) để thu phiếu và xử lý các khó khăn phát sinh Ngoài ra, tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu thu được từ ĐTV để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.
- Làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy tính và kiểm tra số liệu sau khi đã nhập.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.2 Thông tin chung về bà mẹ
Trong một nghiên cứu với 521 bà mẹ có 690 trẻ dưới 5 tuổi, chỉ có 187 bà mẹ thực hiện sự chăm sóc sức khỏe (SDKS) cho trẻ khi trẻ bị ốm Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 187 bà mẹ này để thu thập thông tin chi tiết về tình hình SDKS.
Bảng 3 1 Thông tin chung về bà mẹ có SDKS cho trẻ
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trình độ học vấn Từ PTTH trở xuống 31 16,6
Từ trung cấp trở lên 156 83,4
Nghề nghiệp Cán bộ/công chức/ viên chức/nhân viên hành chính
Đặc điểm nhân khẩu học của các bà mẹ cho thấy 67,9% nằm trong độ tuổi từ 25-34 Hơn 83% bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên, trong khi chỉ 16,6% có trình độ từ PTTH trở xuống Về nghề nghiệp, 47,6% là cán bộ, công chức, viên chức hoặc nhân viên hành chính, 26,2% làm kinh doanh, và 14,4% là nội trợ.
187 bà mẹ, 90,4% bà mẹ có 1 và 2 con, chỉ có 9,6% bà mẹ có trên 2 con
3.1.2 Thông tin về trẻ ốm được điều trị bằng kháng sinh
Bảng 3 2 Thông tin chung của trẻ ốm được điều trị bằng kháng sinh
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trẻ là con thứ mấy trong gia đình
Trong số 187 trẻ em được điều trị bằng kháng sinh, có 57,2% là bé trai và 42,8% là bé gái Độ tuổi của các trẻ chủ yếu trên 24 tháng, chiếm 65,2%, trong khi 34,8% trẻ dưới 24 tháng Hơn một nửa số trẻ là con thứ hai trở lên, với tỷ lệ 56,7%.
Biểu đồ 3 1 Một số bệnh của trẻ đã được SDKS trong vòng 4 tuần trước khi điều tra
Biểu đồ 3.1 cho thấy các bệnh mà trẻ mắc phải trong vòng 4 tuần trước khi điều tra, chủ yếu là các triệu chứng liên quan đến đường hô hấp Cụ thể, tỷ lệ trẻ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên là 61,5%, viêm phế quản 16,6%, và viêm phổi 3,7%.
Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá các bà mẹ thực hành sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách, bao gồm việc đưa trẻ đi khám khi ốm, tuân thủ chỉ định của bác sĩ, sử dụng đúng loại thuốc, số ngày và liều lượng theo đơn Điều tra viên yêu cầu bà mẹ cung cấp sổ y bạ hoặc đơn thuốc để xác minh thông tin và mô tả cách sử dụng thuốc cho trẻ.
Thực hành đạt Thực hành không đạt
Biểu đồ 3 2 Tỷ lệ bà mẹ có thực hành đạt về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi
Trong tổng số 187 bà mẹ, có 99 bà mẹ có thực hành đạt về SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 52,9%) và có 88 bà mẹ có thực hành không đạt (chiếm 47,1%)
Kết quả chi tiết, cụ thể về thực hành SDKS cho trẻ của bà mẹ được thể hiện trong bảng 3.3 dưới đây:
Bảng 3 3 Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Người ra chỉ định dùng kháng sinh cho trẻ
Tự bản thân quyết định 12 6,4
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người quen
Sử đụng đơn thuốc cũ 23 12,3
Dùng đúng loại kháng sinh theo đơn thuốc
Thời gian SDKS đúng theo đơn thuốc
Liều lượng kháng sinh sử dụng đúng theo đơn thuốc
Trong số 187 bà mẹ, 73,8% đã đưa con đi khám và sử dụng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ Trong khi đó, 12,3% sử dụng thuốc theo đơn thuốc cũ từ những lần khám trước, 7% dựa vào lời khuyên của người bán thuốc, và 6,4% tự quyết định việc sử dụng kháng sinh cho con.
Theo khảo sát, 62% bà mẹ tuân thủ đúng số ngày sử dụng thuốc theo đơn, trong khi 73,3% bà mẹ thực hiện đúng liều lượng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
Kết quả PVS cho thấy nhiều bà mẹ đã nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc đưa trẻ đi khám khi bị bệnh và tuân thủ sự chỉ định của bác sĩ trong việc sử dụng dịch vụ y tế.
Khi trẻ bị ho, sổ mũi kèm theo sốt, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ trước khi sử dụng thuốc Mỗi lần trẻ ốm có thể cần loại thuốc và liều lượng khác nhau, vì vậy việc tự ý dùng thuốc là không an toàn.
(PVS bà mẹ - 06) Tuy nhiên, một số bà mẹ không đưa con đi khám mà SDKS theo tư vấn của người bán hàng ở hiệu thuốc:
Chỉ khi ốm nặng, tôi mới đi khám bác sĩ; còn khi bị cảm cúm, ho hắng nhẹ hoặc trẻ em bị tiêu chảy, tôi thường ra hiệu thuốc để hỏi người bán về loại thuốc phù hợp trước khi mua và sử dụng.
(PVS bà mẹ - 08) Các loại kháng sinh bà mẹ đã sử dụng cho trẻ được thể hiện trong biểu đồ 3.3 và 3.4 sau đây:
Biểu đồ 3 3 Các loại kháng sinh bà mẹ cho trẻ sử dụng theo đơn của bác sĩ
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ sử dụng một số loại kháng sinh phổ biến theo đơn của bác sĩ cho trẻ em, trong đó Amoxicillin (nhóm Penicillin) chiếm 29%, Azithromycin (nhóm Macrolid) chiếm 22,5%, Cefixime (Cefalosporin thế hệ 3) chiếm 18,1%, và Cefuroxime (Cefalosporin thế hệ 2) chiếm 8,7% Ngoài ra, còn có một số loại kháng sinh khác như Cefpodoxime và Clarithromycin.
Biểu đồ 3 4 Các loại kháng sinh bà mẹ cho trẻ sử dụng không theo đơn của bác sĩ
Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ sử dụng một số loại kháng sinh phổ biến mà bà mẹ cho con sử dụng không theo đơn bác sĩ, trong đó Amoxycilin (thuộc nhóm Penicillin) chiếm 46,9%, Cefuroxime (thuộc phân nhóm Cefalosporin thế hệ 2) chiếm 18,4%, Cefixime (thuộc phân nhóm Cefalosporin thế hệ 3) chiếm 16,3%, Azithromycin (thuộc nhóm Macrolid) chiếm 8,2%, cùng với một số loại kháng sinh khác như Cefdinir và Cefaclor.
Bảng 3 4 Số ngày sử dụng kháng sinh cho trẻ
Số ngày sử dụng kháng sinh cho trẻ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.4 cho thấy trong tổng số 187 bà mẹ, có 24,6% bà mẹ cho con SDKS dưới 5 ngày
Kết quả PVS cho thấy:
“Bác sĩ kê đơn 5 ngày, nhưng cháu nhà chị uống 2 ngày các triệu chứng đã đỡ nên chị cho uống thêm 1 ngày nữa cho đủ 3 ngày rồi dừng uống”
Nhiều bà mẹ có xu hướng cho con uống kháng sinh trong thời gian ngắn, thường chỉ khoảng 3 ngày rồi dừng lại Mặc dù khi bán thuốc, tôi luôn tư vấn họ nên tuân thủ đúng số ngày ghi trong đơn, nhưng tôi không thể biết được họ thực sự sử dụng như thế nào.
Trung bình, bà mẹ SDKS cho trẻ sử dụng thuốc trong 4,8 ngày, với thời gian ngắn nhất là 2,5 ngày và dài nhất là 10 ngày Tất cả các bà mẹ đều cho trẻ uống thuốc qua đường uống.
Bảng 3 5 Loại nước bà mẹ sử dụng cho kháng sinh đường uống
Loại nước sử dụng cho kháng sinh đường uống Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nước đun sôi để nguội 186 99,5
Theo Bảng 3.5, 99,5% các bà mẹ chọn nước đun sôi để nguội làm thức uống cho trẻ khi sử dụng kháng sinh, trong khi chỉ có 1 trường hợp (0,5%) bà mẹ sử dụng sữa cho con uống kháng sinh.
Bảng 3 6 Địa điểm bà mẹ mua thuốc kháng sinh cho trẻ Địa điểm mua kháng sinh Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhà thuốc tại các CSYT công/ tư nhân có đăng ký, đạt tiêu chuẩn nhà thuốc tốt
Nhà thuốc tư nhân có đăng ký, đạt tiêu chuẩn nhà thuốc tốt
Theo Bảng 3.6, 58,8% bà mẹ chọn mua thuốc kháng sinh cho con tại các nhà thuốc tư nhân, trong khi chỉ có 4,3% bà mẹ mua thuốc từ nhà thầy thuốc tư.
Mua thuốc tại hiệu thuốc Thúy đầu phố là lựa chọn tiết kiệm hơn so với việc mua ở bệnh viện, vì giá thuốc ở đây rẻ hơn từ một đến hai chục nghìn Sau khi khám bệnh, bạn nên ghé qua hiệu thuốc Thúy để tiết kiệm chi phí.
Bảng 3 7 Nội dung bà mẹ đã yêu cầu người bán thuốc tư vấn
Thực hành của bà mẹ
Không đạt (N) Đạt (N) Nội dung bà mẹ đã yêu cầu người bán thuốc tư vấn
Không yêu cầu người bán tư vấn 9 4 13
Bảng 3.7 cho thấy các mẹ bà thường yêu cầu người bán thuốc tư vấn đề cách sử dụng (163/187 bà mẹ) và tác dụng phụ của thuốc (133/187 bà mẹ)
Kết quả PVS cho thấy:
“Em thường yêu cầu người bán thuốc tư vấn về cách sử dụng của thuốc, cho trẻ uống vào lúc no hay đói, liều lượng sử dụng ra sao”
“Mình cũng có tư vấn nhưng những khách hàng nào có đơn thuốc rồi thì họ cứ theo đơn thuốc mà sử dụng thôi”
Bảng 3 8 Thực hành của bà mẹ về kiểm tra hạn sử dụng thuốc
Kiểm tra hạn sử dụng thuốc Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Hầu hết các bà mẹ, chiếm 94,1% trong tổng số 187 bà mẹ, đều kiểm tra hạn sử dụng của thuốc kháng sinh trước khi cho con sử dụng, như được thể hiện trong Bảng 3.8.
Bảng 3 9 Thực hành của bà mẹ sau 3 ngày SDKS cho trẻ
Thực hành sau 3 ngày sử dụng kháng sinh cho trẻ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Các triệu chứng thuyên giảm nên ngừng/rút ngắn ngày dùng 29 15,6
Các triệu chứng thuyên giảm nên giảm liều dùng 7 3,8
Các triệu chứng không thuyên giảm nên đổi loại kháng sinh khác
Các triệu chứng không thuyên giảm nên đưa trẻ đi khám tại
Sau 3 ngày sử dụng SDKS cho con, trong số 186 bà mẹ tham gia khảo sát, có 15,6% đã ngừng hoặc rút ngắn thời gian sử dụng khi thấy triệu chứng bệnh thuyên giảm, trong khi 3,8% giảm liều dùng khi nhận thấy triệu chứng bệnh cải thiện.
Một số yếu tố liên quan đến thực hành SDKS cho trẻ của các bà mẹ
3.3.1 Yếu tố kiến thức về SDKS của bà mẹ
Bảng 3 10 Kiến thức của bà mẹ về SDKS cho trẻ
Tỷ lệ (%) Đối tượng cần thận trọng khi
Phụ nữ có thai và cho con bú 167 89,3
Người bị bệnh gan, thận, cơ địa dị ứng 140 74,9
Chỉ định điều trị kháng sinh
Khác (cụ thể: ho, sốt, tiêu chảy) 15 8,0
Người có thể ra chỉ định dùng kháng sinh
Cá nhân tự quyết định 2 1,1
Người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp
Mua và sử dụng đúng tên thuốc theo đơn 162 86,6
Sử dụng đúng đường dùng 107 57,2
Sử dụng đủ số ngày được chỉ định 131 70,1
Nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các bà mẹ đã nhận thức được những đối tượng cần thận trọng khi sử dụng sản phẩm, bao gồm phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em, và những người mắc bệnh gan, thận hoặc có cơ địa dị ứng.
Hơn một nửa số bà mẹ (58,3%) nhận thức được rằng kháng sinh được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, có tới 25,7% bà mẹ tin rằng kháng sinh có thể chữa được tất cả các bệnh, và 8% không có kiến thức về vấn đề này Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy 96,8% bà mẹ biết rằng bác sĩ là người chỉ định sử dụng kháng sinh.
Theo Bảng 3.10, 86,6% bà mẹ cho rằng sử dụng thuốc đúng cách bao gồm việc mua và sử dụng đúng tên thuốc trong đơn, 72,7% nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng đúng liều, và 70,1% cho rằng cần sử dụng đủ số ngày được chỉ định Ngoài ra, 57,2% bà mẹ cho rằng việc sử dụng đúng đường dùng cũng rất quan trọng Khi được hỏi về tác hại của việc sử dụng thuốc không đúng cách, 95,2% bà mẹ nhận thức được rằng nhờn thuốc (kháng thuốc) là một trong những hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, 20,9% bà mẹ vẫn không biết thời gian nên cho trẻ sử dụng thuốc là bao lâu, trong khi 43,8% cho rằng một đợt sử dụng thuốc nên kéo dài từ 5 ngày trở lên, và 35,3% cho rằng nên sử dụng dưới 5 ngày cho một đợt điều trị.
Kết quả PVS bà mẹ cho thấy:
Kháng sinh không nên được sử dụng trong thời gian dài, đặc biệt là ở trẻ em, vì có thể gây ra tiêu chảy Thời gian sử dụng kháng sinh nên được rút ngắn, khoảng 3 ngày là hợp lý Chỉ trong những trường hợp viêm phổi nặng, thời gian điều trị có thể kéo dài từ 1 tuần đến 10 ngày.
Hầu hết các bà mẹ (99,5%) đều biết về kháng sinh đường uống, trong khi 61,5% biết về đường tiêm và 58,3% về đường truyền tĩnh mạch Đặc biệt, 99,5% bà mẹ nhận thức được rằng cần sử dụng nước đun sôi để nguội khi uống kháng sinh, chỉ có một trường hợp cho rằng nước hoa quả hoặc nước đường có thể được dùng thay thế.
Khi mua thuốc kháng sinh cho trẻ, các bà mẹ thường yêu cầu người bán thuốc tư vấn về cách sử dụng (91,4%), tác dụng phụ (78,1%), chống chỉ định (74,3%) và hạn sử dụng (57,2%).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đánh giá kiến thức của các bà mẹ thông qua 14 câu hỏi, với tổng điểm tối đa là 20 Điểm cắt được xác định là 75%, từ đó phân chia thành hai nhóm: nhóm có kiến thức không đạt (điểm < 15) và nhóm có kiến thức đạt (điểm ≥ 15).
Kiến thức đạt Kiến thức không đạt
Biểu đồ 3 5 Phân nhóm kiến thức về SDKS của bà mẹ
Biểu đồ 3.5 cho thấy 66,8% bà mẹ không đạt kiến thức về SDKS an toàn và hợp lý, trong khi 33,2% có kiến thức đạt Điểm kiến thức trung bình của các bà mẹ là 12,98, với điểm thấp nhất là 3 và điểm cao nhất là 20.
Bảng 3 11 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với kiến thức SDKS của bà mẹ
Kiến thức Thực hành Tổng
Bảng 3.11 chỉ ra sự khác biệt rõ rệt trong tỷ lệ thực hành SDKS giữa các bà mẹ có kiến thức đạt và không đạt Cụ thể, 72,6% bà mẹ có kiến thức đạt thực hiện SDKS thành công, trong khi chỉ có 43,2% bà mẹ có kiến thức không đạt làm được điều này Tỷ suất chênh lệch giữa hai nhóm là 3,48 (khoảng tin cậy 95% từ 1,79 đến 6,74), cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị χ² là 21 và p = 0,0001.
3.3.2 Yếu tố cá nhân bà mẹ
Bảng 3 12 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với nghề nghiệp của bà mẹ
Nghề nghiệp Thực hành Tổng
98 100% Công chức/viên chức/nhân viên hành chính
Bảng 3.12 chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ thực hành SDKS giữa các bà mẹ là công chức, viên chức, nhân viên hành chính và những bà mẹ thuộc các nhóm nghề khác Cụ thể, 53,9% bà mẹ công chức/viên chức/nhân viên hành chính thực hành SDKS đạt, trong khi tỷ lệ này ở các nhóm nghề khác là 52%.
Tỷ suất chênh giữa hai tỷ lệ là 1,08 với khoảng tin cậy 95% từ 0,61 đến 1,92 Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt giữa hai nhóm là có ý nghĩa thống kê, với giá trị χ² = 0,013 và p = 0,911.
Bảng 3 13 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với trình độ học vấn của bà mẹ
Trình độ học vấn Thực hành Tổng
Từ trung cấp trở lên 69
Bảng 3.13 chỉ ra sự khác biệt trong tỷ lệ thực hành SDKS giữa các bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên và các bà mẹ có trình độ học vấn từ PTTH trở xuống.
Trong nghiên cứu, 55,8% bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên thực hành sử dụng kiến thức sức khỏe đạt yêu cầu, trong khi chỉ có 38,7% bà mẹ có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở xuống đạt yêu cầu này Tỷ suất chênh lệch giữa hai nhóm là 1,99, với khoảng tin cậy 95% từ 0,91 đến 4,39 Tuy nhiên, không đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt giữa hai nhóm là có ý nghĩa thống kê, với giá trị χ² = 2,38 và p = 0,123.
Bảng 3 14 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với số lượng con trong gia đình
Số lượng con Thực hành Tổng
Bảng 3.14 cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ thực hành SDKS giữa các bà mẹ có 1 con và những bà mẹ có 2 con trở lên Cụ thể, 55,6% bà mẹ chỉ có 1 con thực hành SDKS đạt, trong khi tỷ lệ này ở nhóm bà mẹ có 2 con trở lên chỉ là 51,9% Tỷ suất chênh lệch giữa hai nhóm là 1,16 (khoảng tin cậy 95%: 0,61 – 2,19) Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (χ² = 0,09; p = 0,768).
3.3.3 Yếu tố liên quan đến trẻ
Bảng 3 15 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với giới tính của trẻ
Giới tính của trẻ Thực hành Tổng
Bảng 3.15 cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ thực hành SDKS giữa các bà mẹ có con ốm là bé trai và bé gái Cụ thể, 56,1% bà mẹ có con ốm là bé trai thực hành SDKS đạt, trong khi chỉ có 48,8% bà mẹ có con ốm là bé gái đạt tỷ lệ này Tỷ suất chênh lệch giữa hai nhóm là 0,75 (khoảng tin cậy 95% từ 0,42 đến 1,33) Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (χ² = 0,71; p = 0,398).
Bảng 3 16 Mối liên quan giữa thực hành SDKS với nhóm tuổi của trẻ
Nhóm tuổi Thực hành Tổng
Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ
Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hành SDKS cho trẻ của các bà mẹ được trình bày theo các chủ đề như sau:
3.4.1 Sự tiếp cận thông tin về thuốc kháng sinh (hướng dẫn của bác sĩ, cán bộ y tế, người bán thuốc,…)
Hiện nay, các bà mẹ có nhiều kênh truyền thông để tiếp cận thông tin về kháng sinh và nguyên tắc sử dụng kháng sinh, bao gồm bác sĩ, cán bộ y tế, người bán thuốc, truyền hình, báo chí và internet Kết quả khảo sát cho thấy bác sĩ là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất, với 96,8% trong số 187 bà mẹ được hỏi cho biết họ tin tưởng vào thông tin về kháng sinh và nguyên tắc sử dụng kháng sinh từ bác sĩ.
“Chị cũng có lên mạng tìm hiểu các thông tin nhưng tin tưởng nhất vẫn là bác sĩ”
Thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ
1 Sự tiếp cận thông tin về thuốc kháng sinh (hướng dẫn của bác sĩ, cán bộ y tế, người bán thuốc,…)
2 Kinh nghiệm SDKS cho con của các bà mẹ trong những lần trẻ ốm trước
3 Tác động của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm
4 Tính sẵn có của kháng sinh
5 Việc thực hiện bán thuốc theo đơn của người bán thuốc tại các hiệu thuốc
Mình cần tuân thủ đúng theo đơn của bác sĩ, sử dụng thuốc trong 5 ngày như chỉ định và sau đó đi khám lại Việc tự ý rút ngắn thời gian sử dụng hoặc thay đổi liều lượng có thể dẫn đến tình trạng nhờn thuốc trong tương lai.
Bác sĩ đã hướng dẫn chi tiết cho chị về cách sử dụng thuốc cho con, nhấn mạnh rằng việc sử dụng kháng sinh cho trẻ em cần phải thận trọng hơn.
Việc bác sĩ tư vấn và hướng dẫn cho bà mẹ là rất quan trọng để đảm bảo tuân thủ SDKS Tuy nhiên, một số bà mẹ cảm thấy rằng họ chưa nhận được sự tư vấn đầy đủ khi đưa con đi khám.
Khi đưa con đi khám, bác sĩ thường chỉ kê đơn thuốc mà không nhấn mạnh việc cần phải uống đủ số ngày theo đơn.
Người bán thuốc tại các hiệu thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các bà mẹ, với 23,7% bà mẹ tin tưởng vào thông tin từ họ.
Ngoài bác sĩ, người bán thuốc cũng là nguồn thông tin đáng tin cậy Họ có kiến thức chuyên môn và hiểu rõ cách sử dụng các loại thuốc, vì vậy nên lắng nghe hướng dẫn của họ.
“Em thường yêu cầu người bán thuốc tư vấn về cách sử dụng của thuốc, cho trẻ uống vào lúc no hay đói, liều lượng sử dụng ra sao”
Việc tư vấn cho khách hàng về cách sử dụng và những lưu ý khi sử dụng thuốc là rất quan trọng Qua phỏng vấn, người bán thuốc đã thể hiện sự quan tâm trong việc hướng dẫn bà mẹ về cách sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả.
“Khách đến mua thuốc, em đều tư vấn đầy đủ, ghi cụ thể liều lượng sử dụng dán lên vỏ hộp thuốc”
Ngoài báo chí và truyền hình, Internet hiện nay là công cụ hữu ích giúp các bà mẹ nhanh chóng tìm kiếm thông tin về kháng sinh Tuy nhiên, bên cạnh những nguồn thông tin chính thống, cũng tồn tại nhiều thông tin không chính xác, chủ yếu là kinh nghiệm sử dụng thuốc từ các bà mẹ khác.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, khi con gặp vấn đề sức khỏe, tôi thường lên mạng tìm kiếm thông tin về bệnh lý, phương pháp điều trị và loại thuốc phù hợp Nhiều trang web cung cấp tư vấn từ bác sĩ và chia sẻ kinh nghiệm từ các bậc phụ huynh đã từng trải qua tình huống tương tự, giúp tôi lựa chọn được loại thuốc hiệu quả.
Một số diễn đàn dành cho các mẹ nuôi con nhỏ cung cấp thông tin về cách điều trị bệnh và thảo luận về các loại thuốc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hướng dẫn chi tiết từ bác sĩ và người bán thuốc có tác động lớn đến thực hành sử dụng dịch vụ y tế cho trẻ em của các bà mẹ Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin từ các nguồn như báo mạng và diễn đàn trực tuyến cũng ảnh hưởng đến quyết định của họ trong việc chăm sóc sức khỏe cho con.
3.4.2 Kinh nghiệm SDKS cho con của các bà mẹ trong những lần trẻ ốm trước
Nhiều bà mẹ thường dựa vào kinh nghiệm cá nhân để điều trị kháng sinh cho trẻ, tự quyết định loại kháng sinh và thời gian sử dụng Họ cho biết những kinh nghiệm này được tích lũy từ các lần điều trị trước đó cho con.
Chị có thể mua thuốc tại hiệu thuốc tư nhân trên đường mà không cần tư vấn, vì chị đã nắm rõ cách sử dụng Chị đã cho cháu uống thuốc này nhiều lần trước đó.
Sau 3 ngày sử dụng kháng sinh, nếu trẻ đã cải thiện, nên ngừng thuốc vì việc dùng kháng sinh lâu dài có thể gây hại cho sức khỏe Việc sử dụng kháng sinh trong vài ngày có thể khiến trẻ mệt mỏi và mất sức, cần thời gian dài để hồi phục.
BÀN LUẬN
Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, cách đánh giá thực hành sử dụng thuốc an toàn và hợp lý (SDKS) của các bà mẹ có sự khác biệt so với một số nghiên cứu trước đây Để xác định thực hành SDKS đạt yêu cầu, chúng tôi dựa vào nguyên tắc sử dụng thuốc và hướng dẫn sử dụng kháng sinh do Bộ Y tế ban hành Các bà mẹ cần thực hiện đầy đủ các yếu tố như đưa trẻ đi khám bác sĩ khi mắc bệnh, sử dụng đúng đơn thuốc cho mỗi lần khám, mua và sử dụng đúng loại thuốc được kê đơn, cũng như tuân thủ đúng đường dùng, liều lượng và thời gian điều trị.
Nghiên cứu của chúng tôi đã xem xét sổ y bạ và đơn thuốc để xác định các loại kháng sinh mà các bà mẹ đã sử dụng cho trẻ, nhằm tăng tính chính xác và giảm thiểu sai số nhớ lại Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, nghiên cứu không thể quan sát thực hành của các bà mẹ.
Một hạn chế của nghiên cứu này là chúng tôi chưa đánh giá được kiến thức của các bà mẹ về việc sử dụng phối hợp nhiều loại kháng sinh, cũng như việc không nên trộn chung kháng sinh với các loại thuốc khác khi uống.
Thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bà mẹ thực hành SDKS đạt 52,9%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013) với tỷ lệ 38% ở đối tượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi Sự khác biệt này có thể do địa bàn nghiên cứu và TĐHV của bà mẹ, khi nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại khu vực thành thị, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013) ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, gần một nửa số bà mẹ vẫn chưa thực hiện SDKS an toàn và hợp lý cho con, cho thấy sự chủ quan trong việc chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi, một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
4.2.1 Các triệu chứng, bệnh của trẻ đã được SDKS
Trẻ nhỏ, đặc biệt là dưới 5 tuổi, rất dễ bị tổn thương và thường xuyên ốm do sức đề kháng yếu hơn người lớn, nhất là trong thời tiết thay đổi thất thường Trẻ em thường ngậm đồ chơi và cho tay vào miệng, dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn cao Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hơn 80% triệu chứng và bệnh của trẻ liên quan đến đường hô hấp, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Cao Thị Mai Phương (2003) trên bệnh nhi tại huyện Gia Lâm.
Tại Tp Hà Nội, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hô hấp đã tăng lên 57% trong hơn 10 năm qua Mặc dù hai nghiên cứu có đối tượng và địa bàn gần nhau, nhưng thời điểm thực hiện khác nhau Sự gia tăng này có thể được giải thích bởi những thay đổi rõ rệt trong thời tiết và khí hậu, cùng với sự gia tăng các tác nhân ô nhiễm không khí và sự phát triển của các mầm bệnh theo thời gian.
Theo nghiên cứu, nhiễm khuẩn đường hô hấp chủ yếu do virus, do đó hầu hết không cần dùng kháng sinh Tuy nhiên, tỷ lệ bà mẹ sử dụng kháng sinh cho trẻ khi chỉ có triệu chứng hô hấp rất cao, lên đến trên 90% Điều này cho thấy sự lạm dụng kháng sinh trong điều trị các triệu chứng như ho và sổ mũi thông thường Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Tatyana Belkina, nơi chỉ có 74,1% bà mẹ sử dụng kháng sinh cho các triệu chứng tương tự Nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy cũng cho thấy người dân sử dụng kháng sinh cho các bệnh như cảm cúm và sổ mũi Điều này cho thấy cần phải xem xét lại việc sử dụng kháng sinh trong cộng đồng khi chưa xác định rõ tác nhân gây bệnh.
4.2.2 Thực hành SDKS tuân thủ theo đơn thuốc của bác sĩ
Tỷ lệ sử dụng thuốc không theo đơn của bác sĩ cho trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi là 26,2%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, nghiên cứu của Cao Thị Mai Phương (2003) ghi nhận tỷ lệ 43% và nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013) là 79,1% ở các bà mẹ có con nhỏ Sự khác biệt này có thể do khác nhau về tiếp cận thông tin và điều kiện địa phương Ngoài ra, tỷ lệ của chúng tôi cũng thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy (2003), với 79,33% và 88% ở thị trấn Lim và xã Phú Lâm, tỉnh Bắc Ninh.
Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi địa bàn và đối tượng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, điều này cho thấy việc sử dụng thuốc không theo đơn bác sĩ vẫn phổ biến trong một bộ phận lớn người dân, đặc biệt là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách và không theo đơn của bác sĩ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm tác dụng phụ không mong muốn, làm mờ triệu chứng nhiễm trùng và tăng nguy cơ tái nhiễm vi khuẩn Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn biến đổi và kháng thuốc Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng xây dựng và thực thi các chính sách hợp lý nhằm giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh không an toàn, từ đó hạn chế sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bà mẹ sử dụng SDKS cho con mà không có đơn thuốc của bác sĩ chủ yếu là do tự quyết định (6,4%), sử dụng đơn thuốc cũ (12,3%) hoặc mua theo hướng dẫn của người bán thuốc (7%) Những con số này thấp hơn so với nghiên cứu của Dana A Darwish và cộng sự (2012) tại cộng đồng người Iraq ở Jordan, nơi có 29% đối tượng đồng ý sử dụng SDKS theo lời khuyên của bạn bè hoặc người thân, và một nửa số đối tượng SDKS theo tư vấn của dược sĩ.
Việc tuân thủ điều trị kháng sinh theo đơn thuốc của bác sĩ rất quan trọng, bao gồm cả số ngày sử dụng và liều lượng thuốc Nghiên cứu cho thấy 38% bà mẹ không tuân thủ thời gian sử dụng kháng sinh, trong khi 26,7% không tuân thủ đúng liều lượng Nhiều bà mẹ có xu hướng tự ý ngừng hoặc giảm liều khi triệu chứng bệnh thuyên giảm, do lo ngại rằng việc sử dụng kháng sinh lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ, dẫn đến còi cọc Đây là một quan niệm sai lầm nhưng lại phổ biến trong cộng đồng.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng 96,8% bà mẹ tin tưởng bác sĩ là nguồn thông tin hàng đầu, cao hơn so với 73,2% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013) Sự tin tưởng này cho thấy vai trò quan trọng của bác sĩ trong việc hướng dẫn và tư vấn cho bệnh nhân về sức khỏe Nếu bác sĩ cung cấp hướng dẫn chi tiết về điều trị và tuân thủ quy trình sức khỏe, việc thực hiện sẽ hiệu quả hơn Đồng thời, y tế địa phương cần tổ chức các buổi truyền thông để giải thích cho bà mẹ về tầm quan trọng của việc đưa trẻ đi khám và tuân thủ phác đồ điều trị, nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc bừa bãi và bảo vệ sức khỏe trẻ em.
4.2.3 Các loại kháng sinh bà mẹ sử dụng cho trẻ
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng kháng sinh phổ biến được sử dụng cho trẻ em là nhóm Penicilin, đặc biệt là Amoxicillin, chiếm 29% trong số bà mẹ có đơn của bác sĩ và 46,9% trong số bà mẹ không có đơn Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Mattias Larsson.
Nghiên cứu năm 2003 tại Ba Vì, Hà Nội, đã điều tra đối tượng trẻ dưới 5 tuổi Một nghiên cứu khác của Abobakr Abasaeed và cộng sự vào năm 2009 tại các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất cho thấy rằng Amoxicillin chiếm tới 70% trong số các loại kháng sinh được sử dụng cho trẻ nhỏ.
Nhóm kháng sinh Penicilin tương đối an toàn cho trẻ nhỏ, nhưng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc trong nhóm này đang gia tăng, dẫn đến hiệu quả điều trị thấp Việc gần một nửa số bà mẹ trong nghiên cứu sử dụng kháng sinh Amoxicillin không theo đơn bác sĩ gây lãng phí thuốc và ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ, làm trầm trọng thêm tình trạng kháng kháng sinh (KKS) Đặc biệt, 22,4% bà mẹ tự ý sử dụng kháng sinh Cefalosporin thế hệ 3, có tác dụng tốt với vi khuẩn Gram âm nhưng hạn chế với vi khuẩn Gram dương Việc không đưa trẻ đi khám và tự ý dùng kháng sinh dựa trên tư vấn không chính xác có thể làm gia tăng tình trạng kháng thuốc.
4.2.4 Thời gian SDKS cho một đợt điều trị
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, thời gian điều trị cho một đợt SDKS tối thiểu là 5 ngày Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc không tuân thủ thời gian điều trị khuyến cáo không chỉ xảy ra ở những người không có đơn thuốc mà còn ở cả những người có đơn từ bác sĩ Đặc biệt, tỷ lệ trẻ em sử dụng kháng sinh dưới 5 ngày chiếm 24,6% trong tổng số.
187 bà mẹ Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Nghiên cứu năm 2013 cho thấy 60% bà mẹ có con dưới 5 tuổi không đưa trẻ đi khám bác sĩ, dẫn đến việc thiếu tư vấn về thời gian điều trị tối thiểu Sự khác biệt này có thể do địa bàn nghiên cứu và thói quen của từng gia đình Nhiều bà mẹ, dù có cho con đi khám, vẫn ngừng sử dụng thuốc khi thấy triệu chứng thuyên giảm, không tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ Để cải thiện tình trạng này, cần có biện pháp truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức của bà mẹ và cộng đồng về tầm quan trọng của việc tuân thủ thời gian sử dụng thuốc theo đơn.
4.2.5 Thực hành mua, bán thuốc theo đơn và kiểm tra hạn sử dụng của thuốc
Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ
Nghiên cứu cho thấy việc tự SDKS liên quan đến các yếu tố như nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp Trong nghiên cứu của chúng tôi, mối liên hệ giữa thực hành SDKS cho trẻ dưới 5 tuổi của mẹ và các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con, giới tính và nhóm tuổi của trẻ đã được phân tích Kết quả cho thấy có sự liên quan giữa thực hành SDKS của mẹ và nhóm tuổi cũng như điểm kiến thức của mẹ.
4.3.1 Kiến thức về sử dụng kháng sinh của bà mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên quan giữa thực hành sử dụng dịch vụ y tế và kiến thức của bà mẹ, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 72,6% bà mẹ có kiến thức đạt về sức khỏe sinh sản (SDKS) thực hiện các biện pháp SDKS đúng cách, trong khi chỉ có 43,2% bà mẹ có kiến thức không đạt thực hành SDKS hiệu quả Điều này cho thấy việc nâng cao kiến thức cho bà mẹ là rất quan trọng để đảm bảo họ thực hiện các biện pháp SDKS an toàn và hợp lý.
Trong nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, cần thận trọng với các đối tượng như trẻ em, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người già, và những người mắc bệnh gan, thận hoặc có cơ địa dị ứng, do sự khác biệt về sinh lý và bệnh lý có thể ảnh hưởng đến dược động học của kháng sinh Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trẻ em và phụ nữ có thai hoặc cho con bú là những đối tượng được các bà mẹ quan tâm nhiều nhất, với tỷ lệ lần lượt là 88,9% và 89,3% Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang Đặc biệt, tỷ lệ bà mẹ nhận thức về sự cần thận trọng với những người mắc bệnh gan, thận, cơ địa dị ứng và người già cũng khá cao, lần lượt là 74,9% và 59,9%, vượt trội so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang.
Kháng sinh là thuốc hiệu quả trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn, nhưng không phải là thuốc chữa được tất cả các loại bệnh Nghiên cứu cho thấy nhiều bà mẹ vẫn nhầm lẫn rằng kháng sinh có thể điều trị mọi bệnh, với 25,7% cho rằng kháng sinh chữa được tất cả bệnh và 8% cho rằng nó có thể điều trị ho, cảm cúm Nhận thức này cũng được ghi nhận trong các nghiên cứu khác, cho thấy sự phổ biến của quan niệm sai lầm về tác dụng của kháng sinh Do đó, cần làm rõ các bệnh thông thường và bệnh do virus để tránh hiểu lầm Hơn nữa, 96,8% bà mẹ biết rằng bác sĩ là người chỉ định sử dụng kháng sinh, cho thấy bác sĩ cần có trách nhiệm giải thích rõ ràng về tác dụng của kháng sinh Người bán thuốc cũng cần hướng dẫn người dân để họ có quyết định đúng đắn trong việc sử dụng thuốc.
Việc các bà mẹ nắm vững kiến thức về sử dụng kháng sinh đúng cách sẽ nâng cao hiệu quả điều trị cho trẻ Để sử dụng kháng sinh hiệu quả, bà mẹ cần tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ, sử dụng đúng liều lượng, đủ thời gian và đúng đường dùng Kháng sinh thuộc nhóm thuốc kê đơn, do đó cần có sự chỉ định của bác sĩ Nghiên cứu cho thấy 96,8% bà mẹ nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ chỉ định này, cao hơn so với 62% trong nghiên cứu của Dana A Darwish Sự khác biệt này có thể do yếu tố địa bàn nghiên cứu, văn hóa và khả năng tiếp cận thông tin về nguyên tắc sử dụng kháng sinh.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các bà mẹ có kiến thức tốt về việc sử dụng kháng sinh đúng cách Hiểu biết về thời gian điều trị sẽ giúp họ tuân thủ đơn thuốc tốt hơn, đảm bảo hiệu quả điều trị và hạn chế kháng thuốc Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, thời gian điều trị cho bệnh nhiễm khuẩn ít nhất là 5 ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy 43,8% bà mẹ cho rằng đợt điều trị kháng sinh nên kéo dài từ 5 ngày trở lên, tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (44,6%) Tuy nhiên, nhiều bà mẹ vẫn cho rằng thời gian điều trị nên dưới 5 ngày hoặc không biết, dẫn đến việc tự rút ngắn thời gian điều trị khi triệu chứng thuyên giảm Kết quả PVS cũng cho thấy các bà mẹ lo ngại việc dùng kháng sinh lâu dài có hại cho sức khỏe trẻ, do đó thường tự ý rút ngắn thời gian sử dụng Vì vậy, cần truyền thông cho các bà mẹ hiểu rằng việc sử dụng kháng sinh trên 5 ngày không ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ và việc tự rút ngắn thời gian dùng có thể dẫn đến kháng thuốc.
4.3.2 Yếu tố cá nhân bà mẹ
Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thực hành SDKS của bà mẹ và các yếu tố cá nhân như nghề nghiệp, TĐHV Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013), cho thấy nghề nghiệp và TĐHV có liên quan đến thực hành Tương tự, nghiên cứu của Dana A Darwish và cộng sự (2002) trong cộng đồng người Iraq ở Jordan cũng chỉ ra mối liên hệ giữa TĐHV, nghề nghiệp và việc sử dụng kháng sinh theo đơn bác sĩ.
4.3.3 Yếu tố liên quan đến trẻ
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng độ tuổi của trẻ có ảnh hưởng đến thực hành của các bà mẹ Cụ thể, 72,3% bà mẹ có con ≤ 24 tháng tuổi thực hiện tốt các thực hành SDKS, trong khi chỉ có 42,6% bà mẹ có con > 24 tháng tuổi đạt tiêu chuẩn này Điều này cho thấy các bà mẹ thường cẩn trọng hơn trong việc thực hiện SDKS cho trẻ dưới 24 tháng tuổi.