TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Nhận thức về cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá và mối liên quan đến ý định bỏ thuốc lá ở nam thanh niên hút thuốc tuổi 18 – 34 ở thành p
Trang 1TRẦN VĂN HẠNH
NHẬN THỨC VỀ CẢNH BÁO SỨC KHỎE
BẰNG HÌNH ẢNH TRÊN VỎ BAO THUỐC LÁ
VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN Ý ĐỊNH BỎ THUỐC LÁ
Ở NAM GIỚI ĐANG HÚT THUỐC TUỔI 18 - 34 TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH, HẬU GIANG NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI - 2015
Trang 2TRẦN VĂN HẠNH
NHẬN THỨC VỀ CẢNH BÁO SỨC KHỎE
BẰNG HÌNH ẢNH TRÊN VỎ BAO THUỐC LÁ
VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN Ý ĐỊNH BỎ THUỐC LÁ
Ở NAM GIỚI ĐANG HÚT THUỐC TUỔI 18 - 34 TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH, HẬU GIANG NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS LÊ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Hội đồng khoa học, Phòng đào tạo sau Đại học và các bộ môn Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp tôi trong thời gian học tập và tiến hành làm luận văn
Quý thầy cô giáo, giảng viên của trường đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và hữu ích về chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Các chuyên gia, các tác giả trong và ngoài nước đã để lại những kiến thức và những thông tin vô cùng quý giá để tôi có tư liệu nghiên cứu và tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến Ts Lê Thị Thanh Hương đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ giúp
đỡ, ủng hộ nhiệt tình cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cám ơn
Tác giả
Trần Văn Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tác hại của thuốc lá 4
1.1.1 Khái niệm thuốc lá 4
1.1.2 Tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người 4
1.1.3 Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế-xã hội 4
1.2 Tình hình sử dụng thuốc lá và một số nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.3 Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh 7
1.3.1 Vai trò của CBSK bằng hình ảnh 7
1.3.2 Qui định về CBSK bằng hình ảnh 8
1.3.2.1 CBSK tại Việt Nam trước khi Luật PCTHTL ra đời 8
1.3.2.2 CBSK theo quy định của Luật PCTHTL: 9
1.3.3 Các Quốc gia đang áp dụng CBSK bằng hình ảnh 10
1.4 Tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh tới ý định bỏ thuốc 11
1.4.1 Thúc đẩy ý định bỏ thuốc hoặc giảm hút thuốc, giúp thay đổi hành vi 11
1.4.2 Giảm sự hấp dẫn của thuốc lá, ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc 13
1.4.3 Bảo vệ những người khác khỏi khói thuốc thụ động 14
Trang 51.4.4 Ưu điểm của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao bì thuốc lá so
với các kênh truyền thông khác 15
1.5 Các yếu tố liên quan đến ý định bỏ thuốc ngoài cảnh báo 16
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 17
1.7 Khung lý thuyết 19
Chương 2 20
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Cỡ mẫu 20
2.5 Phương pháp chọn mẫu 21
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.7 Biến số nghiên cứu 24
2.7.1 Nhóm biến về thông tin chung của ĐTNC 24
2.7.2 Nhóm biến nhận thức CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá 24
2.7.3 Nhóm biến số về ý định bỏ thuốc lá của ĐTNC 24
2.7.4 Nhóm biến về mối liên quan giữa ý định bỏ thuốc với nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao bì thuốc lá của ĐTNC 24
2.8 Các tiêu chuẩn, khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 24
2.8.1 Xác định nam giới 18 – 34 tuổi hiện đang hút thuốc lá và có tiếp xúc với cảnh báo 25
2.8.2 Các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 25
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 25
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
Chương 3 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên bao thuốc lá của ĐTNC 30
Trang 63.2.1 Mức độ chú ý của ĐTNC tới các mẫu hình ảnh cảnh báo trong tháng gần
đây 30
3.2.2 Mức độ suy nghĩ của ĐTNC về các mẫu cảnh báo 31
3.2.3 Hành động né tránh của ĐTNC về các mẫu cảnh báo 32
3.2.4 Nhận thức của ĐTNC về các mẫu CBSK bằng hình ảnh 32
3.2.5 Ý định bỏ thuốc của ĐTNC 34
3.3 Các mối liên quan tới ý định bỏ thuốc của nam giới hút thuốc 35
Chương 4 42
BÀN LUẬN 42
4.1 Nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên bao thuốc lá và ý định bỏ thuốc của ĐTNC 42
4.1.1 Nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá của
ĐTNC 42
4.1.2 Ý định bỏ thuốc của ĐTNC 43
4.2 Yếu tố liên quan đến ý định bỏ thuốc lá của ĐTNC 43
4.2.1 Mối liên quan giữa nhận thức về CBSK bằng hình ảnh và ý định bỏ thuốc lá của ĐTNC 43
4.2.2 Mối liên quan giữa một số yếu tố khác và ý định bỏ thuốc của ĐTNC 45
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 46
KẾT LUẬN 48
KHUYẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Phụ lục 1 Biến số nghiên cứu 54
Phụ lục 2 Các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 57
Phụ lục 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn 60
Phụ lục 4: Nội dung gợi ý thảo luận nhóm 67
Phụ lục 5: Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu 68
Phụ lục 6: Dự trù kinh phí 70
Trang 7Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt nam
Phòng chống tác hại thuốc lá
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3 2 Đặc điểm của ĐTNC về việc hút thuốc 28
Bảng 3.3 Mức độ chú ý và tần suất nhìn kỹ và đọc thông điệp đi kèm với mẫu hình ảnh CBSK của ĐTNC trong tháng gần đây 30
Bảng 3.4 Mức độ suy nghĩ và thảo luận của ĐTNC về các mẫu cảnh báo 31
Bảng 3.5 Mức độ tự tin khi có ý định bỏ thuốc của ĐTNC 35
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa mức độ chú ý vào hình ảnh CBSK trong tháng trước và ý định bỏ thuốc 35
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa mức độ nhìn kỹ và đọc thông điệp CBSK trên vỏ bao thuốc lá và ý định bỏ thuốc 36
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa mức độ suy nghĩ về các thông điệp CBSK và ý định bỏ thuốc lá 37
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa mức độ thảo luận với người khác về CBSK với ý định bỏ thuốc lá 37
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa nhận thức về CBSK bằng hình ảnh và ý định bỏ thuốc 38
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nhận thức tác hại của thuốc lá và ý định bỏ thuốc 39
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuổi bắt đầu hút thuốc và ý định bỏ thuốc 39
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và ý định bỏ thuốc 40
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và ý định bỏ thuốc 40
Biểu đồ 1 Số cuộc gọi đến đường dây điện thoại tư vấn hỗ trợ cai thuốc tại Braxin trước và sau khi có in CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá 12
Biểu đồ 3.1 Lý do hút thuốc 29
Biểu đồ 3.2 Hành động né tránh hình ảnh cảnh báo của ĐTNC 32
Biểu đồ 3.3 Nhận thức về CBSK bằng hình ảnh 32
Biểu đồ 3.4 Nhận thức của ĐTNC về tác hại của việc hút thuốc lá 33
Biểu đồ 3.5 Mức độ lo lắng của ĐTNC về hậu quả của việc hút thuốc lá 34
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ nam giới có ý định bỏ thuốc sau khi tiếp xúc với các mẫu hình ảnh cảnh báo 34
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Cảnh báo sức khỏe bằng chữ trên vỏ bao thuốc lá năm 2008 - 2013 9 Hình 2 Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá đang được lưu hành 10 Hình 3 Bản đồ hành chính Thành phố Vị Thanh 17
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “Nhận thức về cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá và mối liên quan đến ý định bỏ thuốc lá ở nam thanh niên hút thuốc tuổi 18 – 34 ở thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang năm 2015” thực hiện nhằm đánh giá nhận thức về các nhãn cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh theo qui định Và các mối liên quan đến ý định bỏ thuốc của của nam giới đang hút thuốc trong độ tuổi 18 –
34 tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang năm 2015 Từ đó khuyến nghị đến các ngành chức năng công tác tuyên truyền, vận động thực hiện Luật phòng chống tác hại của thuốc lá trên địa bàn thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang trong thời gian tới Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu là: (1) Mô tả nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá và ý định bỏ thuốc của nam giới đang hút thuốc tuổi từ 18-34 tại Tp Vị Thanh tỉnh Hậu Giang năm 2015 (2) Xác định yếu tố liên quan giữa nhận thức về cảnh báo và ý định bỏ thuốc của nam giới đang hút thuốc tuổi từ 18-34 tại Tp Vị Thanh tỉnh Hậu Giang năm 2015
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính Đối tượng nghiên cứu là nam giới tuổi từ 18 – 34 đang hút thuốc có mặt tại thành phố Vị Thanh trong thời gian điều tra Thời gian điều tra từ ngày 20 tháng 4 năm 2015 đến 29 tháng 5 năm 2015 trên phạm vi 02 phường và 02 xã của thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang
Kết quả:
Qua nghiên cứu cho thấy nhận thức của đối tượng nghiên cứu về hình ảnh cảnh báo sức khỏe là chưa cao, chiếm tỷ lệ 66,5%, nhưng nhận thức về hậu quả của thuốc lá đối với sức khỏe là rất cao chiếm tỷ lệ 87% Trong số 200 đối tượng tham gia nghiên cứu chỉ có 14/200 đối tượng có ý định bỏ thuốc Qua kết quả này cho thấy cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân đặc biệt là người đang hút thuốc để họ thấy được hậu quả của thuốc lá và có thể tiến tới bỏ thuốc lá Muốn thực hiện tốt việc này cần nâng cao nhận thức của người dân về các hình ảnh cảnh báo sức khỏe đi kèm thông điệp trên vỏ bao thuốc lá và Luật phòng chống tác hại của thuốc lá đã được ban hành, từ đó góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân trong tương lai
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá thụ động đều có hại cho sức khỏe con người Thuốc lá là nguyên nhân của các bệnh lý về đường hô hấp, tim mạch, dạ dày, thận … Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính hút thuốc lá gây ra hơn 5 triệu ca tử vong mỗi năm và dự kiến vào năm 2030 con số này sẽ tăng lên tới hơn 8 triệu người [2,4]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo tại Điều 11, Công ước khung (FCTC) về kiểm soát tác hại của thuốc lá thì việc kết hợp cảnh báo sức khỏe (CBSK) bằng hình ảnh với bằng chữ hiệu quả hơn rất nhiều so với việc chỉ in CBSK bằng chữ, giúp người nghiện thuốc lá hướng tới ý định bỏ thuốc [1,2], giúp
họ tin tưởng hơn vào khả năng có thể bỏ thuốc của mình [2], giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá trong số những người đang hút thuốc [3], với những đối tượng chưa hút thuốc thì có khuynh hướng không muốn thử hút thuốc [4] Do vậy việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá được Tổ chức Y tế Thế giới cho là một trong những biện pháp có chi phí và hiệu quả thấp nhất trong việc tăng cường nhận thức của cộng đồng về các nguy cơ cho sức khỏe do việc sử dụng thuốc lá, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng
Từ những nguy cơ mà thuốc lá mang lại, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra Quyết định “Phê duyệt chiến lược Phòng chống tác hại (PCTH) của thuốc lá giai đoạn 2012-2020” Ngày 18/6/2012, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ III thông qua Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) và ngày 02/7/2012 Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2013 Điều 15 của Luật qui định ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe (CBSK) bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá với diện tích chiếm 50% cả mặt trước và mặt sau của vỏ bao bì thuốc lá Mục đích của việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá là nhằm tăng cường mức độ nhận thức về tác hại của thuốc lá với sức khỏe không kể nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống để mọi người dân hiểu rằng việc sử dụng thuốc lá gây
ra bệnh tật, tử vong và thay đổi thái độ với hành vi hút thuốc lá, tăng các nỗ lực bỏ thuốc lá [9]
Trang 12Thành phố Vị Thanh mới được thành lập trên cơ sở Thị xã Vị Thanh cũ, là cửa ngõ, nhịp cầu nối trung tâm kinh tế lớn thành phố Cần Thơ và các tỉnh lân cận như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang Qua phỏng vấn nhanh tình trạng hút thuốc lá
ở một số sinh viên và nam giới tuổi 18 - 34 trên địa bàn có 12/22 (54,5%) đối tượng
đã và đang hút thuốc lá Vì vậy việc tìm hiểu tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh tới nam giới hút thuốc tuổi 18 – 34 như thế nào là rất cần thiết Đây là những đối tượng trong tuổi lao động làm ra của cải vật chất cho xã hội, là lực lượng tiềm năng của đất nước Do vậy việc cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá nếu có tác động tốt, thành công thì sẽ giúp cho nhóm đối tượng này có thời gian sống dài, sống lành mạnh không hút thuốc Hiện tại, việc nghiên cứu về vai trò của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá ở Việt Nam chưa nhiều
và tại Hậu Giang chưa có bất cứ nghiên cứu nào về lĩnh vực này được thực hiện
Từ những lý do trên, đề tài: “Nhận thức về cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá và mối liên quan đến ý định bỏ thuốc lá ở nam giới hút thuốc tuổi 18 – 34 tại thành phố Vị Thanh, Hậu Giang năm 2015” được tiến hành nhằm tìm hiểu vai trò, tác động của CBSK bằng hình ảnh tới ý định bỏ thuốc trong số các nam giới đang hút thuốc độ tuổi 18 – 34
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể:
1 Mô tả nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá và ý định bỏ thuốc của nam giới đang hút thuốc tuổi từ 18-34 tại Tp Vị Thanh tỉnh Hậu Giang năm
2015
2 Xác định yếu tố liên quan giữa nhận thức về cảnh báo và ý định bỏ thuốc của nam giới đang hút thuốc tuổi từ 18-34 tại Tp Vị Thanh tỉnh Hậu Giang năm 2015
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tác hại của thuốc lá
1.1.1 Khái niệm thuốc lá
Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu
thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác [19]
Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá [18] Tác hại của thuốc lá là ảnh hưởng có hại của việc sản xuất, sử dụng thuốc lá
gây ra cho sức khỏe con người, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội [19]
Cai nghiện thuốc lá là việc cung cấp thông tin để người nghiện thuốc lá lựa
chọn và tự nguyện từ bỏ sử dụng thuốc lá [11]
Cảnh báo sức khoẻ là thông tin bằng chữ và hình ảnh mô tả hoặc giải thích
về ảnh hưởng có hại tới sức khỏe con người do việc sử dụng thuốc lá [18]
1.1.2 Tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người
Thuốc lá đã và đang gây ra những tổn thất to lớn đối với sức khỏe con người Trong khói thuốc lá có chứa hơn 7.000 hóa chất, trong đó có hàng trăm là chất độc
và 69 chất gây ung thư ở người [20]
Thuốc lá giết chết tới 50% số người thường xuyên sử dụng nó Thuốc lá là nguyên nhân gây ra khoảng 40.000 ca tử vong mỗi năm ở Việt Nam WHO dự báo với tỷ lệ hút thuốc hiện nay, mỗi năm ước tính khoảng 10% dân số trên thế giới sẽ chết vì thuốc lá Số tiền tiêu phí vào mặt hàng độc hại này mỗi năm là hơn 8.000 tỷ USD, đủ nuôi hơn 1/8 dân số trên toàn thế giới trong vòng một năm [21]
Trong các bệnh có liên quan đến thuốc lá thì các bệnh thường gặp là các bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), ung thư, giảm hoặc mất khả năng sinh sản, các biến chứng do thuốc lá ở phụ nữ có thai, ảnh hưởng đến thai nhi
và trẻ sơ sinh, v.v [5]
1.1.3 Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế-xã hội
Bên cạnh các tổn thất về sức khỏe sinh mạng con người, việc sử dụng thuốc lá còn gây ra chi phí kinh tế khổng lồ cho các quốc gia Nghiên cứu chi phí kinh tế - xã
Trang 15hội của việc sử dụng thuốc lá tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, Ô-xtrây-li-a,
Ca-na-đa, Đức cho thấy tổng chi phí kinh tế - xã hội ở các nước từ 346 triệu tới 167 tỷ USD Tại Việt Nam, năm 2010, chỉ riêng chi phí điều trị cho 3 trong số 25 loại bệnh phổ biến nhất liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, bệnh mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn) đã là 2.304 tỷ đồng Bên cạnh đó, thuốc lá còn gây ra những ảnh hưởng có hại khác đến vệ sinh môi trường, làm gia tăng hoạt động buôn lậu, gây ra nguy cơ cháy nổ [16]
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, Trung Quốc là một trong ba quốc gia có số người hút thuốc nhiều nhất thế giới, và là Quốc gia sản xuất thuốc lá lớn nhất thế giới Bệnh tật liên quan đến thuốc lá có thể giết chết 30% nam giới ở lứa tuổi trung niên ở Trung Quốc vào năm 2030 Chi phí cho việc chữa bệnh liên quan đến hút thuốc lá ước tính khoảng 5 tỷ đô la mỗi năm [12]
1.2 Tình hình sử dụng thuốc lá và một số nghiên cứu ở Việt Nam
Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 40.000 người
tử vong vì các bệnh có liên quan đến sử dụng thuốc lá, gấp 4 lần số ca tử vong vì tai nạn giao thông đường bộ tại nước ta mỗi năm Ước tính, 10% dân số hiện nay (tương đương khoảng 8 triệu người) sẽ chết vì các bệnh liên quan đến thuốc lá trong
đó gần 4 triệu người sẽ chết ở độ tuổi trung niên Theo dự báo của tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2020, số người chết vì thuốc lá sẽ nhiều hơn số người chết vì HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường bộ và tự tử cộng lại [15]
Qua nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhật Ái về tình hình hút thuốc lá ở các đối tượng nam giới 18 – 40 tuổi tại địa bàn quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ năm 2013
đi đến các kết quả sau: Tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới tại Quận Ô Môn Thành phố Cần Thơ năm 2013 là 48.0% Tuổi bắt đầu hút thuốc dưới 20 tuổi chiếm 46,1% Tỷ
lệ hút thuốc lá trong nhà 76.1%, nơi làm việc là 40,6% [1]
Các phát hiện từ điều tra của GATS Việt Nam năm 2010 cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc lá, đặc biệt là hút thuốc, rất cao ở Việt Nam Năm 2010, 23,8% những người Việt Nam từ 15 tuổi trở lên đang hút thuốc lá, trong đó có 47,4% nam giới và 1,4% là nữ giới) Trong những người đang hút thuốc, 19,5% là người hút thuốc hàng ngày và 4,3% là người hút thuốc không thường xuyên [37] Khoảng 69,0% người hút thuốc lá hút trên 10 điếu thuốc mỗi ngày, 29,3% hút 20 điếu thuốc lá hoặc
Trang 16hơn mỗi ngày Tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc hằng ngày là 19,8 tuổi đối với nam, 23,6 tuổi đối với nữ và trung bình là 19,9 tuổi [37]
Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY2) vào năm 2010 cho biết tỷ lệ những người đã từng hút thuốc hay hiện nay đang hút thuốc không khác nhau nhiều trong nhóm có cha hoặc mẹ hút thuốc với nhóm cha mẹ không hút thuốc Chẳng hạn, trong số những người có cha hút thuốc có 20,6% đã từng hút thuốc và tỷ lệ trong số những người có cha không hút thuốc là 26,1% Như vậy, việc hút thuốc lá của thanh niên có lẽ còn là kết quả của những tác động rộng hơn từ môi trường bên ngoài Lý do bắt đầu hút thuốc được nhiều nam thanh niên ở cuộc khảo sát SAVY 2 nêu lên nhất chính là do tò mò (35,9%) Một trong những lý
do chính khác là ảnh hưởng của bạn bè Cụ thể là có 30,9% nam thanh niên cho biết
lý do chính khiến họ hút thuốc là do bạn bè của họ hút thuốc Bạn bè cũng có thể có ảnh hưởng theo chiều hướng khác là ngăn ngừa việc hút thuốc Cũng có bằng chứng cho thấy khía cạnh này, nhưng sức ép của bạn bè để tránh hút thuốc không mạnh bằng sức ép hút thuốc Cụ thể là 13% thanh niên cho biết bạn bè động viên họ không hút thuốc (so với 31% cho biết bạn bè rủ rê họ hút thuốc) Tuy nhiên, nhiều người được bạn bè động viên bỏ thuốc lá nhưng đó là quá trình rất khó khăn Đa số thanh niên (98,3%) khẳng định rằng dễ dàng mua thuốc tại nơi ở [11]
Xét trong nhóm thanh niên có hút thuốc hàng ngày thì có khoảng 2/3 hút từ 6 điếu thuốc trở lên mỗi ngày Đây là một tỷ lệ khá cao và nó chỉ rõ nguy cơ về sức khỏe do hút thuốc lá khá lớn đối với thanh niên Tỷ lệ nam thanh niên hút thuốc từ 6 điếu trở lên mỗi ngày cao hơn ở các vùng đô thị và ở nhóm tuổi lớn hơn Chẳng hạn, tỷ lệ này là 48% người có hút thuốc lá ở độ tuổi 14-17 nhưng gần 70% đối với hai độ tuổi cao hơn Cụ thể là trong số nam thanh niên có hút thuốc từ 1 điếu trở lên mỗi ngày, ở khu vực đô thị có tới 69,1% hút từ 6 điếu trở lên trong khi ở nông thôn
tỷ lệ này là 61,1%, và sự khác biệt này là đáng kể về mặt thống kê Con số gần 50% vị thành niên lứa tuổi 14-17 trong số các em hiện nay có hút thuốc hàng ngày hút một số lượng lớn thuốc lá mỗi ngày là một chỉ báo đáng lo ngại cho sức khỏe của các em hiện nay Trong số những người đã từng hút thuốc lá thì vẫn có 74,6% nam thanh niên đô thị và 71,3% nam thanh niên nông thôn hiện vẫn còn hút thuốc
Trang 17Cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, một khi thanh niên đã hút thuốc, khả năng
họ sẽ cai thuốc là rất thấp Khoảng 74% nam thanh niên hút thuốc lá và 94% nữ thanh niên hút thuốc lá đã từng cố gắng bỏ nhưng chưa thực hiện được Đây là điều rất đáng suy nghĩ đối với các chương trình cai thuốc hiện nay để giúp cho thanh niên thực hiện được mong muốn của họ
1.3 Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh
1.3.1 Vai trò của CBSK bằng hình ảnh
Cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là một nguồn thông tin rất tốt để đưa cảnh báo trực tiếp tới từng người hút thuốc lá (mỗi khi họ hút) và cả người không hút thuốc lá nhưng nhìn thấy bao thuốc lá, những thông điệp hữu ích về những tác hại gây ra do sử dụng thuốc lá Việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là nhằm tăng cường mức độ nhận thức về tác hại của thuốc lá với sức khỏe không kể nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống để mọi người dân hiểu rằng, sử dụng thuốc lá gây ra bệnh tật, tử vong và thay đổi thái độ với hành vi hút thuốc lá, tăng các nỗ lực
bỏ thuốc lá Cảnh báo sức khỏe khuyến khích người hút cai thuốc lá hoặc hút bớt đi, người không hút thuốc lá sẽ không bắt đầu hút, nhất là giúp ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc lá vì cảnh báo giúp họ nhận biết hút thuốc lá không làm họ hấp dẫn hơn mà chỉ làm cho họ bệnh tật và chết sớm hơn Như vậy, việc CBSK bằng hình ảnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền thông, giáo dục sức khỏe, tăng cường nhận thức và thái độ của người dân về tác hại của thuốc lá, góp phần nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật và nâng cao tuổi thọ [14]
Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cho thấy, những cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh thúc đẩy người hút thuốc bỏ thuốc và ngăn cản mọi người, đặc biệt là giới trẻ, khỏi việc bắt đầu hút thuốc Tại Brazil, 2/3 số người hút thuốc cho biết các cảnh báo sức khỏe làm họ muốn bỏ thuốc Tại Canada, gần một nửa số người hút thuốc (44%) cho biết các cảnh báo sức khỏe đã làm tăng động lực bỏ thuốc của họ Tại Singapore, hơn một phần tư số người hút thuốc (28%) nói rằng họ hút ít thuốc hơn nhờ những cảnh báo sức khỏe, 71% nói rằng họ biết nhiều hơn về những ảnh hưởng tới sức khỏe của việc hút thuốc…[13]
Trang 181.3.2 Qui định về CBSK bằng hình ảnh
Tại Điều 11 của Công ước khung (FCTC) về đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá “Mỗi nước sẽ thông qua các quy định về in luân phiên các cảnh báo sức khoẻ trên trên bao bì các sản phẩm thuốc lá Cảnh báo sức khoẻ nên chiếm 50% diện tích trưng bày chính nhưng không được nhỏ hơn 30% diện tích trưng bày chính của vỏ bao thuốc Cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh và/hoặc chữ" [34]
Chính vì vậy, rất nhiều nước trên thế giới đã quy định bắt buộc phải in cảnh báo tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá Đến nay, trên thế giới
có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đã quy định bắt buộc phải in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá: Các nước Đông Nam Á và gần Việt Nam có Singapore, Thailand, Malaysia, Bruney, Philippines, Hong Kong, Taiwan; có quốc gia còn quy định diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá rất cao như Uruguay (80% cả hai mặt trước và sau), Mauritius (60% mặt trước và 70% mặt sau), Australia, New Zealand (30% mặt trước và 90% mặt sau), Philippines (60% cả hai mặt trước và sau) …[36]
1.3.2.1 CBSK tại Việt Nam trước khi Luật PCTHTL ra đời
Tại Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT ngày 15/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Y
tế về vệ sinh an toàn đối với sản phẩm thuốc lá yêu cầu bắt buộc in cảnh báo về sức khỏe bằng chữ hoặc bằng hình ảnh trên diện tích tối thiểu là 30% của bề mặt trước
và sau của vỏ bao thuốc lá [8]
Tiếp theo là Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định lời cảnh báo sức khỏe sẽ được in bằng chữ trên vỏ bao thuốc lá Thủ tướng chỉ thị tại mục 1, khoản 3 về việc thực hiện có lộ trình Công Ước Khung (FCTC) quy định về in lời CBSK trên vỏ mỗi bao thuốc lá, tại điểm a nêu rõ: "Kể từ ngày
17 tháng 3 năm 2008, in nội dung lời cảnh báo sức khỏe bằng chữ với hai nội dung:
"Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi" và "Hút thuốc lá có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính" trên nền tương phản, chiếm khoảng 30% diện tích của mỗi vỏ bao thuốc lá; từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, in nội dung lời cảnh báo sức khỏe chiếm khoảng 50% diện tích của mỗi vỏ bao thuốc lá" [8]
Trang 19Hình 1 Cảnh báo sức khỏe bằng chữ trên vỏ bao thuốc lá năm 2008 - 2013
1.3.2.2 CBSK theo quy định của Luật PCTHTL:
Từ ngày 01 tháng 5 năm 2013, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá chính thức có hiệu lực Tại Điều 15 Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá quy định về ghi nhãn là nội dung bắt buộc đối với các sản phẩm hàng hóa Các thông tin trên nhãn hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng những đặc điểm cơ bản nhất của sản phẩm [18]
Bên cạnh việc tuân thủ các yêu cầu chung của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải bảo đảm các yêu cầu riêng như: không được ghi các từ, cụm từ thể hiện sản phẩm thuốc lá đó ít
có hại hoặc làm cho người sử dụng hiểu sai về tác hại của thuốc lá và khói thuốc lá đối với sức khoẻ con người; phải dán tem hoặc in mã số, mã vạch; ghi ngày sản xuất, ngày hết hạn sử dụng; ghi rõ số lượng điếu đối với bao thuốc lá dạng điếu hoặc trọng lượng đối với các loại thuốc lá khác [18]
Luật cũng quy định: Bao bì của thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải in CBSK bằng chữ và hình ảnh bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn, dễ hiểu CBSK phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và mặt chính sau trên bao, hộp thuốc lá Nội dung CBSK trên bao bì thuốc lá phải mô tả cụ thể tác hại của việc sử dụng thuốc lá đối với sức khỏe và thông điệp thích hợp khác, phải được thay đổi theo định kỳ 02 năm một lần [18; 10]
Trang 20Tại Thông tư Liên tịch giữa Bộ Y tế và Bộ Công thương hướng dẫn việc ghi nhãn, in CBSK trên bao bì thuốc lá đã triển khai bộ hình gồm 06 ảnh, kết hợp với chữ cảnh báo theo 06 mẫu như sau [9]:
Hình 2 Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá đang được lưu hành
1.3.3 Các Quốc gia đang áp dụng CBSK bằng hình ảnh
Theo quy định tại Điều 11 của Công ước khung (FCTC) về đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá “Mỗi nước sẽ thông qua các quy định về in luân phiên các cảnh báo sức khoẻ trên trên bao bì các sản phẩm thuốc lá Cảnh báo sức khoẻ nên chiếm 50% diện tích trưng bày chính nhưng không được nhỏ hơn 30% diện tích trưng bày chính của vỏ bao thuốc Cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh và/hoặc chữ” [36]
Năm 2001, chỉ có Canada là nước duy nhất áp dụng cảnh báo bằng hình ảnh trên bao bì sản phẩm thuốc lá, sau gần 10 năm (tính đến 10/2010) đã có 39 nước cũng áp dụng hình thức truyền thông mạnh mẽ và hiệu quả này [19] Hơn nữa,
số nước áp dụng ngày càng tăng nhanh, đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, việc áp dụng in CBSK bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá đã trở thành một xu hướng trên toàn thế giới Đến nay, trên thế giới có 63 quốc gia và vùng lãnh thổ đã quy định bắt buộc phải in CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá Các nước Đông Nam Á
và gần Việt Nam có Singapore, Thailand, Malaysia, Bruney, Philippines, Hong Kong, Taiwan; có quốc gia còn quy định diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá rất cao như Uruguay (80% cả hai mặt trước và sau), Mauritius (60% mặt
Trang 21trước và 70% mặt sau), Australia, New Zealand (30% mặt trước và 90% mặt sau), Philippines (60% cả hai mặt trước và sau) …[36]
1.4 Tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh tới ý định bỏ thuốc
1.4.1 Thúc đẩy ý định bỏ thuốc hoặc giảm hút thuốc, giúp thay đổi hành vi
Theo Schneider và cộng sự (2011), CBSK bằng hình ảnh sẽ gây sự chú ý và suy nghĩ của các đối tượng hút thuốc lá về các nguy cơ sức khỏe có thể gặp phải hay lo sợ c ủ a h ọ về các hậu quả có thể gặp là một trong những thành tố có trước, tạo nên động lực để bỏ thuốc [34] Cũng theo tác giả, một nguyên nhân khác khác góp phần tạo nên động lực bỏ thuốc lại chính là việc người hút thuốc
cố ý tránh các cảnh báo bằng hình ảnh Sự mâu thuẫn này có thể được giải thích là
do phản ứng tự bảo vệ của con người trước các bất lợi Khi con người cảm thấy một mối nguy hiểm nào đó, phản ứng tự nhiên sẽ là bằng mọi cách tránh các mối nguy hiểm đó Ở trường hợp của cảnh báo bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc cũng không ngoại lệ, các cảnh báo bằng hình ảnh là ―mối đe dọa nguy hiểm‖ đối với
những người hút thuốc lá, họ cho rằng các tác hại của thuốc lá là không quá nghiêm trọng và sẽ không xảy ra với mình
Dự định hay ý định bỏ thuốc là một phạm trù khá rộng, nên trong nghiên cứu của Fathelrahman và cộng sự (2010) đã chia ý định bỏ thuốc (quit intention) thành 4 cấp độ Đó là không quan tâm; quan tâm một chút; có suy ngẫm về điều đó
và chuẩn bị, có kế hoạch bỏ thuốc Trong nghiên cứu này, người hút thuốc có ý định bỏ thuốc là 55,5%, trong đó 11,5% ở mức độ có suy ngẫm về việc bỏ thuốc và 5,4 % đã có chuẩn bị cho việc bỏ thuốc [30]
Các nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cũng cho kết quả tương tự Tại Braxin, hai phần ba số người hút thuốc (67%) cho biết các CBSK bằng hình ảnh làm họ muốn bỏ thuốc [35] Tại Canada, trong số người hút thuốc có 44% nói rằng các CBSK bằng hình ảnh làm tăng động lực muốn bỏ thuốc [22] Tại Thái Lan, 44% số người hút thuốc nói rằng CBSK bằng hình ảnh làm cho họ
tăng thêm dự định ―muốn bỏ thuốc vào ngay tháng sau‖ [31]
Không dừng ở ý định đơn thuần, những người hút thuốc đã thực sự bước đầu có những hành động cụ thể để có thể bỏ thuốc Bằng chứng là ở các nước có
Trang 22quy định in số điện thoại hỗ trợ tư vấn cai thuốc lá (quitline) thì số cuộc gọi đến đường dây này rất nhiều
Tại Braxin: Trong 6 tháng sau khi áp dụng rộng rãi việc in cảnh báo
bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá kết hợp số điện thoại tư vấn cai thuốc thì số cuộc gọi đến số điện thoại miễn phí này xin được tư vấn hỗ trợ bỏ thuốc tăng gần 9 lần [33]
Biểu đồ 1 Số cuộc gọi đến đường dây điện thoại tư vấn hỗ trợ cai thuốc tại Braxin
trước và sau khi có in CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá
Tại Zew Zealand: Sau 6 tháng kể từ khi việc in CBSK bằng hình ảnh trên
vỏ bao thuốc lá được áp dụng, số người gọi đến số điện thoại hỗ trợ bỏ thuốc tăng 14% so với 6 tháng trước đó T ỷ lệ người gọi vào số điện thoại xin được
tư vấn, hỗ trợ bỏ thuốc tăng gần 3 lần khi họ nhìn thấy số điện thoại này trên các nhãn cảnh báo.Trong vòng 3 tháng sau khi cảnh báo bằng hình ảnh được đưa vào
sử dụng, vượt quá số người gọi do biết được số điện thoại đó qua quảng cáo trên truyền hình [35]
Từ ý định đến thay đổi hành vi là một bước tiến dài và đòi hỏi sự quyết tâm cao của người hút thuốc Gọi điện thoại xin tư vấn bỏ thuốc cũng phần nào thể hiện được quyết tâm cai nghiện của thuốc lá của họ Thay đổi hành vi đối với những người đang hút thuốc lá bao gồm cố gắng bỏ thuốc, hút ít đi và thay đổi mức tiêu thụ sản phẩm thuốc lá Tuy chưa có nhiều nghiên cứu về số người bỏ thuốc thành công nhờ cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh, nhưng vẫn có một số bằng
4,339
2,318 5,349 7,623 2,713 4,538 3,126 2,804
8,558 9,781
14,898 18,111 17,640
Trang 23chứng về tác động của cảnh báo bằng hình ảnh đến một số bước trong thay đổi hành vi của người hút thuốc Cụ thể là tại Singapore, số người hút thuốc nó i rằ ng
họ giảm bớt số điếu thuốc hút mỗi ngày sau khi nhìn thấy cảnh báo bằng hình ảnh (28%) [26] Tại Australia, những người hiện đang hút thuốc (33%) và những người đã từng hút thuốc (46%) tin rằng những cảnh báo này đã giúp họ giám hút thuốc lá hàng ngày Đặc biệt, có 4 5 % số người mới hút thuốc tin rằng cảnh báo bằng hình ảnh sẽ giúp họ có động lực để bỏ thuốc Kết quả nghiên cứu này có 78% số người tham gia tin rằng những cảnh báo bằng hình ảnh có tác động đến hành vi hút thuốc của họ [6]
Các bằng chứng kể trên đều cho ta thấy kết quả có mối liên quan về tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá như một động lực thúc đẩy người hút thuốc hình thành ý định bỏ thuốc và xa hơn nữa là thay đổi hành vi hút thuốc của bản thân
1.4.2 Giảm sự hấp dẫn của thuốc lá, ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc
Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh có hiệu quả đặc biệt đối với giới trẻ – đối tượng vốn rất coi trọng hình thức của bao bì sản phầm Phản ứng của thanh niên trước các cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh cũng rất tích cực Hơn 90% thanh niên Canada khẳng định rằng những cảnh báo bằng hình ảnh cung cấp cho họ những thông tin quan trọng, thực tế về hậu quả sức khỏe khi hút thuốc và công nhận các cảnh báo bằng hình ảnh làm cho thuốc lá dường như trở nên ít hấp dẫn hơn [25]
Những thông tin cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và bằng chữ được thể hiện rõ ràng sẽ giúp cho thanh niên có đáp ứng tốt với các nguy cơ về sức khỏe từ việc hút thuốc lá, nhất là các hình ảnh gây sốc Hình ảnh hiện thực là bằng chứng sống động nhất từ những người hút thuốc lá nói về tác hại của nó [29]
Trong nghiên cứu của O’ Hegarty và cộng sự (2007), tác giả đã sử dụng các mẫu cảnh báo hình ảnh của Canada để đánh giá phản ứng của thanh thiếu niên ở quận Detroit (Mỹ) Theo đánh giá của những đối tượng tham gia phỏng vấn thì
“nó (cảnh báo hình ảnh của Canada) đưa một hình ảnh trực quan vào đầu bạn,
Trang 24tiếp đó bạn sẽ nghe thấy những phản hồi từ tiềm thức về hình ảnh đó Cảnh báo dạng này là dạng hình ảnh bạn phải nhìn và suy ngẫm, chứ không chỉ là những câu chữ nằm trên nó Nó là cái bạn thấy, do đó nó có tác dụng hơn” (nam hút thuốc lá,
trích nghiên cứu) [30]
Tóm lại, xét về tầm quan trọng của hình ảnh đối với thanh niên và nhất là hình ảnh truyền đạt biểu tượng của một sản phẩm như thuốc lá, hoàn toàn có lý khi chúng ta hy vọng là những hình ảnh sinh động, ấn tượng và truyền đạt được hậu quả nghiêm trọng của việc sử dụng thuốc lá sẽ làm giảm sự hấp dẫn của bao
bì và rộng hơn là giảm sự hấp dẫn của sản phẩm, tiến tới ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc.[29]
1.4.3 Bảo vệ những người khác khỏi khói thuốc thụ động
Hiện nay các nước đã thực hiện cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh kết hợp bằng chữ để cảnh báo người trực tiếp hút thuốc đồng thời đưa các thông tin về tác hại của hút thuốc lá thụ động trong nội dung cảnh báo Cụ thể ở Việt Nam có dòng
chữ cảnh báo “hút thuốc lá rất có hại cho thai nhi và trẻ nhỏ‖, ở Canada có dòng chữ ―Children see children do‖ và ―Protect children: don’t make them breath your
smoke‖, còn ở Malaysia ―cigarette causes premature birth‖…
Các cảnh báo bằng hình ảnh và bằng chữ này đã có 27% số người hút thuốc Canada ít hút thuốc ở trong nhà hơn [22] Tại Singapore, có 14% số người hút thuốc nói rằng họ tránh hút thuốc trước mặt trẻ em [25; 32]
Nếu như việc bỏ thuốc thành công hay không phụ thuộc rất nhiều yếu tố như sự quyết tâm của người hút, tư vấn/hỗ trợ của nhân viên y tế, động viên của gia đình, bè bạn…thì việc tránh hút thuốc trước mặt người khác, đặc biệt là phụ
nữ và trẻ em dễ thực hiện hơn nhiều Hiện nay, khá nhiều nước đã có quy định cấm hút thuốc lá ở những nơi công cộng; đặc biệt tại một số nơi như sân bay, bến tàu đã có phòng dành riêng cho người hút thuốc Điều này kết hợp với những thông tin trên cảnh báo không những thúc đẩy mà còn bắt buộc người hút thuốc không hút trước mặt người khác [29]
Trang 251.4.4 Ưu điểm của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao bì thuốc lá so với các kênh truyền thông khác
Trên thế giới có khá nhiều hình thức truyền thông đa dạng được sử dụng nhằm tuyên truyền về các tác hại của thuốc lá cũng như nâng cao nhận thức của người tiêu dùng Khoảng 10 năm trước đây, phổ biến chỉ có các chiến dịch truyền thông qua tivi, báo, đài hoặc các đoạn phim, áp phích về tác hại của thuốc
lá, thì nay đã có thêm nhiều hình thức truyền thông mới được sử dụng như cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá, các hội thi tìm hiểu về tác hại của thuốc lá, thi chụp ảnh, làm đoạn phim ngắn và cả truyện tranh cổ động bỏ thuốc Đặc biệt là các chiến dịch truyền thông nhân ngày thế giới không thuốc
lá 31/5
Trong các hoạt động trên, cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá một phương tiện truyền thông mạnh mẽ, ít tốn kém mà lại rất hiệu quả trong việc thông tin về tác hại thuốc lá tới sức khỏe [31; 35] Có nhiều ưu điểm so với các kênh truyền thông khác, khả năng của nó bao phủ đối tượng đích, chi phí thấp đến sự đa dạng về nội dung, liên tục về thời gian/tần suất xuất hiện và nhất là hiệu quả cung cấp thông tin cũng như thúc đẩy thay đổi hành vi một cách hiệu quả
Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá là một chiến dịch truyền thông có thể tiếp cận được tất cả những người hút thuốc và phần lớn những người đang định bắt đầu hút thuốc [35] Hiện nay, theo GATS (2010), 23,8% dân số Việt Nam đang hút thuốc [37], tức là cảnh báo hình ảnh có khả năng bao phủ và tiếp cận cùng lúc 21,42 triệu người (đây là mức tối thiểu do chưa tính đến những người không hút thuốc)
Bên cạnh đó, một khi gần như bất kỳ ai hút thuốc đều buộc phải mua
t h u ố c l á và nhìn thấy cảnh báo bằng hình ảnh trên vỏ bao thì hình thức truyền thông này lại có thêm ưu điểm là có khả năng tiếp cận đến cả các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội Điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển, nơi các nhóm yếu thế như học vấn thấp, nghề nghiệp không ổn định, cao tuổi… chiếm tỷ lệ không nhỏ [29]
Trang 261.5 Các yếu tố liên quan đến ý định bỏ thuốc ngoài cảnh báo
Nghiên cứu của Hội Y tế Công cộng Việt Nam năm 2014 được thực hiện trên 1.527 đối tượng tham gia nghiên cứu, trong đó có 50,2% đối tượng có ý định
bỏ thuốc [29] Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đối tượng có ý định bỏ thuốc cao nhất là tỉnh Đồng Tháp với 64,8% và tỉnh Bình Định với 59,3% Trong khi đó, số đối tượng
có ý định bỏ thuốc thấp nhất là ở tỉnh Hải Dương với 32,8% Số đối tượng bắt đầu hút thuốc dưới 20 tuổi có ý định bỏ thuốc dưới 15% so với các đối tượng bắt đầu hút thuốc trên 20 tuổi [29] Một nghiên cứu được thực hiện trên 4.236 đối tượng là thanh niên Mỹ, tỷ lệ đối tượng có ý định bỏ thuốc là 53% [36]
Bên cạnh đó, nhận thức về hậu quả của việc hút thuốc cũng như tác hại của
nó ảnh hưởng rất lớn đến ý định bỏ thuốc của các đối tượng nghiên cứu trong một nghiên cứu của Hội Y tế Công cộng Việt Nam năm 2014, cụ thể các đối tượng đang rất lo lắng về hậu quả của việc hút thuốc với 81,1% đối tượng có ý định bỏ thuốc,
và mức độ hiểu biết cao có ý định bỏ thuốc là 54,4% [29]
Ngoài ra, tỷ lệ các đối tượng tự đánh giá cơ hội thành công của họ nếu họ quyết định bỏ thuốc trong tương lai có 44,8% nói rằng họ không chắc chắn hoàn toàn sẽ thành công, 37,6% nói rằng họ chỉ chắc chắn một phần và số đối tượng rất chắc chắn sẽ thành công là 17,6% [29]
Trong nghiên cứu của Hội Y tế Công cộng Việt Nam năm 2014 cho thấy hơn hai phần ba số các đối tượng được hỏi trả lời cho biết trên các bao bì thuốc lá của họ thường xuyên có các hình ảnh cảnh báo về sức khỏe chiếm 78% [29]
Trang 271.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Hình 3 Bản đồ hành chính Thành phố Vị Thanh
Thành phố Vị Thanh được mệnh danh là "Thành phố Tây sông Hậu", đồng
thời là thành phố trẻ bên dòng Xà No và là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Hậu Giang từ năm 2004, khi tỉnh Hậu Giang được tái lập Vị Thanh hiện tại là đô thị loại 3
Vị Thanh từng là tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện cũ trong giai đoạn 1961-1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa Năm 1966, chính quyền Cách mạng cũng cho thành lập thị xã Vị Thanh trực thuộc tỉnh Cần Thơ Cuối năm 1977, thị xã Vị Thanh bị giải thể Đến năm 1999, thị xã Vị Thanh lại được tái lập, tuy nhiên lúc này vẫn còn thuộc tỉnh Cần Thơ Đầu năm 2004, thị xã Vị Thanh chuyển sang thuộc tỉnh Hậu Giang Năm 2010, Vị Thanh chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Hậu Giang
Vị trí thành phố Vị Thanh nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hậu Giang (trước năm 2004 vùng đất này thuộc tỉnh Cần Thơ cũ)
- Phía Đông giáp huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang)
- Phía Tây giáp huyện Gò Quao (tỉnh Kiên Giang)
- Phía nam giáp huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang)
Trang 28- Phía Bắc giáp huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang) và huyện Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang)
Thành phố Vị Thanh nằm trên các trục tuyến giao thông đường thủy và đường bộ quan trọng của tỉnh Hậu Giang và tiểu vùng Tây sông Hậu, có những điểm giao lưu kinh tế lớn với các huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, và với đô thị trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long là thành phố Cần Thơ
Thành phố Vị Thanh có diện tích đất tự nhiên là 11.867,74 ha và 97.222 nhân khẩu, 09 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các phường: I, III, IV, V, VII và các xã: Vị Tân, Hỏa Lựu, Tân Tiến, Hỏa Tiến Trong đó phường I có diện tích là 0,739
km2, dân số 12.760 nhân khẩu, có 04 khu vực: 1, 2, 3, và 4; Phường III có diện tích đát là 13,60 km2, dân số 12.892 nhân khẩu, có 06 khu vực: 1, 2, 3, 4, 5, và 6; Xã Vị Tân có diện tích đất là 22,576 km2, dân số 13.860 nhân khẩu, có 09 ấp: 1, 2, 2A, 3, 3A, 4, 5, 6, và 7; xã Tân Tiến có diện tích 20,22 km2, dân số 6.873 nhân khẩu, có 06 ấp: Mỹ Hiệp 1, Mỹ Hiệp 2, Mỹ Hiệp 3, Thạnh Quới 1, Thạnh Hòa 1, Tư Sáng
Khu vực nội thị của thành phố có địa hình khá bằng phẳng đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long phát triển kinh tế vườn và kinh tế công nghiệp, dịch vụ, trong đó phát triển mạnh cây lúa, mía, khóm Có hai trục giao thông chính là quốc
lộ 1A, quốc lộ 61; hai trục giao thông đường thủy quốc gia là kênh Xáng Xà No, kênh Quản lộ - Phụng Hiệp Các dịch vụ nhỏ, lẻ phát triển mạnh trong đó mặt hàng thuốc lá cũng rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã Hiện tại đang lưu hành song song các loại thuốc lá chính thống và không chính thống, các loại thuốc lá chính thống tuân thủ việc ghi nhãn, in cảnh báo đầy đủ theo quy định của pháp luật, loại thuốc lá không chính thống thường nhập lậu và không có các hình ảnh cảnh báo như thuốc lá hiệu Hero, Jet, Malboro, Esse, Richmond, Mặc dù các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nhưng các mặt hàng này vẫn tồn tại và người hút thuốc có thể lựa chọn loại thuốc ưa thích Qua khảo sát nhanh cho thấy thanh niên tại thành phố Vị Thanh khi mua thuốc lá để hút thường theo túi tiền của họ, lúc thì mua thuốc sản xuất trong nước, lúc thì mua thuốc nhập lậu,
Trang 291.7 Khung lý thuyết
Ý ĐỊNH
BỎ THUỐC
- Nhận thức về các mẫu cảnh báo sức khỏe
- Nhận thức về hậu quả sức khỏe có thể gặp phải
- Tránh cảnh báo
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
- Số điếu hút/ngày
- Mức độ lo lắng về tác hại của thuốc lá
- Kiếm thức về tác hại của thuốc lá
- Tình trạng hôn nhân
- Tình trạng có con
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nam giới đang hút thuốc lá và có tiếp xúc với các mẫu CBSK tuổi từ 18 – 34 đang sống tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang vào thời điểm điều tra
Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu và loại trừ:
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Nam giới đang hút thuốc tuổi từ 18 – 34 và sinh sống tại thành phố Vị
Thanh, tỉnh Hậu Giang
- Có tiếp xúc với các mẫu CBSK
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Là người hút ít nhất một điếu thuốc trong tuần trước và hút nhiều hơn 100 điếu (05 bao thuốc lá) đến thời điểm phỏng vấn
* Tiêu chuẩn không lựa chọn:
- Đối tượng không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi
- Vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2014 đến tháng 07/1015
- Địa điểm: Tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính
Trang 31Mẫu nghiên cứu được chọn n=200
- Thảo luận nhóm: Đã thực hiện 02 cuộc, một ở khu vực 4 phường 3 thành phố Vị Thanh có 06 đối tượng tham gia, và một ở ấp 6 xã Vị Tân thành phố Vị Thanh, có 08 đối tượng tham gia
2.5 Phương pháp chọn mẫu
* Phần định lượng:
Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Chọn tất cả các phường và xã trên địa bàn thành phố Vị Thanh
- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 2 phường là phường I và phường III; 2 xã được chọn là xã Vị Tân và xã Tân Tiến
Giai đoạn 2: Chọn khu vực/ấp
- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn được mỗi phường 01 khu vực và mỗi xã 01 ấp đưa vào điều tra Ta được khu vực 3, phường I; Khu vực 4 phường III; Ấp 6 xã Vị Tân và ấp Mỹ Hiệp 1 xã Tân Tiến
- Chọn 100 ĐTNC được điều tra ở khu vực thành thị là các phường và 100 ĐTNC điều tra ở khu vực nông thôn là các ấp
- Kế đến với 100 ĐTNC ở khu vực thành thị được chia làm hai, tiến hành điều tra 50 ĐTNC cho một phường Tương tự, khu vực nông thôn điều tra 50 ĐTNC cho một xã
Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu
Chọn mốc là “Nhà thông tin” khu vực hoặc ấp đi theo hai hướng ngược chiều nhau, bắt đầu hướng bên phải khi chọn được 25 đối tượng thì chuyển sang bên trái của Nhà thông tin điều tra tiếp 25 đối tượng còn lại Điều tra theo phương
Trang 32pháp nhà liền nhà và tuân theo qui tắc cánh tay phải Cứ như thế cho đến khi đủ số lượng đối tượng của từng khu vực hoặc ấp
* Thảo luận nhóm:
Tiến hành thảo luận nhóm 02 cuộc: khu vực 4 phường III 01 cuộc có 06 đối tượng tham gia và ở ấp 6 xã Vị Tân 01 cuộc với 08 đối tượng tham gia Thảo luận nhóm được tiến hành sau khi đối tượng đã tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn định lượng
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
- Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn: Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên tham
khảo bộ công cụ nghiên cứu của Hội Y tế Công cộng Việt Nam "The association
between pictorial health warnings and quit smoking intention among male smokers
in Vietnam" [29] Các câu hỏi về tình trạng, hành vi hút thuốc và các yếu tố liên
quan (Phần B, C, D) dựa vào bộ công cụ đã được chuẩn hóa từ "Nghiên cứu toàn cầu về thuốc lá tại Việt Nam (Global Adult Tobacco Survey 2010) [37] (Xem phụ lục 3)
- Thảo luận nhóm: Tiến hành thảo luận về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu trong vòng 60 - 90 phút, có ghi lại biên bản buổi thảo luận
Các câu hỏi do nghiên cứu viên tham khảo và có chỉnh sửa dựa vào sự hiểu biết về các khái niệm, các qui định của pháp luật, đặc điểm đối tượng và các chương trình phòng, chống tác hại thuốc lá Quốc Gia trong các tài liệu (Xem Phụ lục 3)
Bước 2: Tập huấn thu thập số liệu
- Đối tượng tập huấn: tổng số 04 cán bộ điều tra (Mỗi khu vực chọn 01 Tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng và mỗi ấp cũng chọn 01 Tình nguyện viên sức khỏe cộng đồng tập huấn việc thhu thập số liệu)
- Nội dung tập huấn: Mục đích cuộc điều tra, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc và làm việc với cộng đồng, thực hành điều tra thử
- Thời gian, địa điểm: tháng 02 năm 2015, tại phòng họp số 1, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang
Trang 33- Giảng viên tập huấn: tác giả nghiên cứu
Bước 3: Điều tra, giám sát
- Chuẩn bị: Sau khi tập huấn xong, nhóm nghiên cứu liên hệ với các Trạm y
tế xã/phường được chọn để điều tra
- Nhân lực điều tra: 04 điều tra viên
- Tiến hành điều tra: các điều tra viên nhận mẫu Phiếu điều tra và kế hoạch điều tra Giám sát viên là Học viên thực hiện nghiên cứu, giám sát từ 3-5 đối tượng phỏng vấn đầu tiên của mỗi điều tra viên để nhận xét góp ý phù hợp
Bước 4: Thu thập phiếu điều tra
ĐTV nộp phiếu điều tra cho Giám sát viên vào cuối mỗi ngày Giám sát viên kiểm tra phiếu điều tra về số lượng, chất lượng phiếu và kiểm tra xác suất 10% số phiếu điều tra, nếu nhận thấy chưa đạt yêu cầu thì ĐTV đó thực hiện lại toàn bộ phiếu điều tra
Việc phỏng vấn trực tiếp giúp ĐTNC nắm bắt được thông tin từ người phỏng vấn
* Thảo luận nhóm: Xây dựng bản hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 4)
Nội dung bản hướng dẫn thảo luận nhóm được tham khảo từ nghiên cứu
"Xây dựng cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và bằng chữ trên vỏ bao, tút, hộp thuốc lá tại Việt Nam" năm 2013 [17] Thời gian và địa điểm do nghiên cứu viên cùng nhóm được chọn xác định Đầu tiên, nhóm giới thiệu và làm quen các đối tượng tham gia để tạo không khí cởi mở, vui vẻ, thân thiện, tạo cảm giác thoải mái cho thành viên tham gia thảo luận Cử một nghiên cứu viên khác là thư ký ghi lại các ý kiến Nghiên cứu viên là người chủ trì buổi thảo luận, đưa ra chủ đề, gợi mở đối tượng thảo luận, kiểm soát buổi thảo luận đảm bảo tất cả các thành viên tham gia đều có ý kiến và hướng dẫn thảo luận theo đúng chủ đề Cuối mỗi buổi thảo luận, nhóm nghiên cứu trao đổi với các đối tượng tham gia để kiểm tra lại xem những từ gợi mở của mình các đối tượng có thể trao đổi, chia sẻ thêm thông tin gì nữa không Kết thúc buổi thảo luận nhóm, nghiên cứu viên đọc lại quá trình thảo luận nhóm qua biên bản, ghi lại những từ khóa liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
và rút kinh nghiệm hướng dẫn thảo luận lần sau
Trang 342.7 Biến số nghiên cứu
2.7.1 Nhóm biến về thông tin chung của ĐTNC
- Mức độ quan tâm vào hình ảnh cảnh báo
- Thời gian tiếp xúc với CBSK
- Suy nghĩ về các thông điệp CBSK
- Mức độ quan tâm tới các CBSK
- Bàn luận về thông điệp CBSK
- Thảo luận về thông điệp CBSK với người khác
- Hành động né tránh CBSK bằng hình ảnh
2.7.3 Nhóm biến số về ý định bỏ thuốc lá của ĐTNC
- Ý định bỏ thuốc
- Thời điểm sẽ bỏ thuốc
- Quyết định bỏ thuốc trong 6 tháng tới
2.7.4 Nhóm biến về mối liên quan giữa ý định bỏ thuốc với nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao bì thuốc lá của ĐTNC
- Mối liên quan giữa nhận thức CBSK bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá với
ý định bỏ thuốc của ĐTNC
Phần biến số chi tiết xin xem phụ lục số 1 (Trang 54)
2.8 Các tiêu chuẩn, khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Trang 352.8.1 Xác định nam giới 18 – 34 tuổi hiện đang hút thuốc lá và có tiếp xúc với cảnh báo
- Người đang hút thuốc: được định nghĩa là cá nhân:
+ Hút ít nhất 01 điếu thuốc trong tuần trước thời điểm phỏng vấn + Hút thuốc ít nhất 100 điếu thuốc lá (tương đương với 5 bao thuốc, mỗi bao 20 điếu), tính từ khi họ bắt đầu hút thuốc cho đến khi phỏng vấn [27]
Nếu một trong hai tiêu chí trên không đạt thì đối tượng sẽ bị loại ra khỏi danh sách nghiên cứu
- Tuổi: phải đủ từ 18 đến 34 tuổi tính đến thời điểm thu thập số liệu nghiên cứu là tháng 4 năm 2015.(đối tượng nghiên cứu sinh từ tháng 4 năm 1981 đến tháng
4 năm 1997) Những đối tượng nào sinh từ tháng 5 năm 1997 trở về sau không đưa vào ĐTNC Tính số tuổi bằng cách lấy 2015 trừ đi năm sinh của đối tượng
- Tiếp xúc với cảnh báo: đối tượng có nhìn thấy CBSK bằng hình ảnh và bằng chữ trên vỏ bao thuốc lá hoặc đã từng mua các loại thuốc có hình ảnh cảnh báo trên vỏ bao thuốc lá để sử dụng
2.8.2 Các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu
Phần khái niệm chi tiết xin xem phụ lục số 2 (Trang 58)
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
- Sau khi thu thập, số liệu được kiểm tra trước khi nhập liệu để đảm bảo có đầy đủ thông tin cần thiết
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0
Kết quả phân tích gồm 2 phần:
- Phần mô tả: thể hiện tần suất các biến trong nghiên cứu
- Phần phân tích: Mối liên quan giữa nhận thức CBSK bằng hình ảnh và ý định bỏ thuốc qua các bảng 2x2, 2x2n Sử dụng phép kiểm định khi bình phương χ 2
, mức độ tác động được ước lượng với tỷ số chênh (OR), với khoảng tin cậy 95%, mức p có ý nghĩa <0,05
Trang 36- Sử dụng kết quả thảo luận nhóm được bổ sung vào để tìm hiểu sâu hơn về mối liên quan của CBSK bằng hình ảnh tới ý định bỏ thuốc của đối tượng nghiên cứu
- Sử dụng biểu đồ và bảng để trình bày kết quả
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ các khía cạnh của đạo đức theo quy định của Trường Đại học Y tế công cộng và đã được thông qua tại Quyết định số 219/2015/YTCC-HĐĐĐ của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng ký ngày 10 tháng 4 năm 2015
Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ về mục đích và nội dung nghiên cứu đánh giá cũng như những lợi ích và vấn đề có thể gặp phải Đối tượng nghiên cứu có quyền đặt câu hỏi về mục đích của nghiên cứu và nghiên cứu viên sẽ có trách nhiệm trả lời Họ có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu nếu cảm thấy có điều
gì nghi ngờ Các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ điền vào phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn (Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu) (Phụ lục số 5, trang 69)
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 38hoàn thành chương trình cấp 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 51%, số ĐTNC đã hoàn thành chương trình cấp 1 chiếm tỷ lệ 25,5%, hoàn thành cấp 3 và trên cấp 3 bao gồm cao đẳng, đại học có 47 đối tượng, chiếm tỷ lệ 23,5% Một đặc thù của mẫu nghiên cứu liên quan đến nghề nghiệp chủ yếu là lao động tự do chiếm 83% Còn lại 17% các ĐTNC là sinh viên, viên chức Nhà nước và nghề khác trong đó 2% thất nghiệp
Hơn phân nửa mẫu nghiên cứu 58% có thu nhập từ trên 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng, thu nhập đứng hàng thứ hai là từ trên 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng là 28% Thu nhập trên 6 triệu đồng rất ít có 6,5% và mức thu nhập thấp dưới 2 triệu đồng chiếm 7,5% Tỷ lệ ĐTNC đã kết hôn là 63% và phần lớn trong số này đã có con (chiếm tỷ lệ 89,1% trong số các đối tượng đã từng kết hôn/ly thân hoặc ly dị)
Mặc dù ĐTNC được phân bố đều ở hai khu vực thành thị và nông thôn tuy nhiên qua các đặc điểm trên phần lớn là trình độ học vấn chưa cao, số đông là lao động tự do, có mức thu nhập không cao, đa số là đã lập gia đình và đã có con
Bảng 3 2 Đặc điểm của ĐTNC về việc hút thuốc
1 Tuổi trung bình bắt đầu
hút thuốc (SD, max, min)
Trang 39nhất trong nghiên cứu này là từ 6 đến 14 điếu thuốc lá mỗi ngày, chiếm tỷ lệ 58,0%,
số điếu thuốc lá hút mỗi ngày ít hơn hoặc bằng 5 điếu là 33,0% và hút nhiều trên 15 điếu chiếm 9%
Biểu đồ 3.1 Lý do hút thuốc Nhận xét:
Kết quả ở biểu đồ trên cho thấy lý do chính dẫn đến việc đối tượng hút thuốc
là vì tò mò chiếm tỷ lệ cao nhất 43,5%, lý do thức hai là hút theo bạn chiếm tỷ lệ 25,5%, ngoài ra còn rất nhiều lý do để dẫn đối tượng đến với thuốc lá như là quá căng thẳng, chứng tỏ là người lớn, là đàn ông, …
Trang 403.2 Nhận thức về CBSK bằng hình ảnh trên bao thuốc lá của ĐTNC
3.2.1 Mức độ chú ý của ĐTNC tới các mẫu hình ảnh cảnh báo trong tháng gần đây
Bảng 3.3 Mức độ chú ý và tần suất nhìn kỹ và đọc thông điệp đi kèm với mẫu hình ảnh CBSK của ĐTNC trong tháng gần đây
án trả lời chỉ chú ý một vài lần 49% Số đối tƣợng luôn luôn chú ý tới CBSK là 22%
và thỉnh thoảng chú ý đến các hình ảnh cảnh báo là 29% Bảng 3.3 cho thấy phần lớn ĐTNC chƣa nhìn và đọc thông điệp đi kèm với mẫu hình ảnh CBSK là 66 đối tƣợng, tỷ lệ 33% Kết quả thảo luận nhóm khu vực nông thôn các đối tƣợng giải
thích cho việc không chú ý nhìn vào các mẫu CBSK hiện tại: ―Mua thuốc lá lậu nên
không thấy các hình ảnh này‖ (Thảo luận nhóm, ấp 6 xã Vị Tân) Trong số ĐTNC
có 30% thỉnh thoảng nhìn và đọc thông điệp kèm theo, một vài lần có 21% và luôn luôn nhìn và đọc các thông điệp trong tháng gần đây