ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2018 đến tháng 8/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp cắt ngang, mô tả, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Kết quả định tính được sử dụng để hỗ trợ và làm phong phú thêm cho các kết quả định lượng.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lƣợng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [43]: n = Z 2 1-α/2 p(1-p) d 2 n: cỡ mẫu nghiên cứu
Để tính cỡ mẫu với độ tin cậy 95%, ta sử dụng giá trị Z 1-α/2 = 1,96 Sai số cho phép được xác định là 0,07, trong khi tỉ lệ sử dụng dịch vụ p được chọn là 0,5 để đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất Áp dụng vào công thức, cỡ mẫu tính được là n = 196 Tuy nhiên, với tỷ lệ 5% đối tượng có thể bỏ cuộc, cỡ mẫu cần thiết sẽ là 206, và chúng tôi làm tròn lên thành 210.
Thực tế phỏng vấn: 210 đối tượng
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:
Phỏng vấn sâu (PVS) đã được thực hiện với 6 cán bộ bệnh viện, bao gồm Phó Giám đốc phụ trách khối Khám bệnh, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng khoa Khám bệnh, Trưởng khoa khám bệnh CLC, Điều dưỡng Trưởng khoa Khám bệnh và Điều dưỡng Trưởng khoa khám CLC Ngoài ra, PVS cũng đã được tiến hành với 10 bệnh nhân, trong đó có 5 bệnh nhân tại khoa Khám bệnh và 5 bệnh nhân tại Khoa khám CLC.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lƣợng
Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp hiện đang sử dụng hệ thống phần mềm đăng ký khám bệnh cho toàn bộ bệnh viện Khi bệnh nhân đến khám, thông tin của họ sẽ được nhập vào hệ thống, và mỗi bệnh nhân sẽ được cấp một mã ID Qua đó, chúng tôi có thể xác định đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn lựa chọn.
Theo báo cáo của BVĐKNN năm 2017, trung bình có 680 bệnh nhân được khám mỗi ngày (không bao gồm khám cấp cứu và tiêm chủng) Chúng tôi giả định rằng số lượng bệnh nhân khám trong năm 2018 cũng tương tự, với quần thể bệnh nhân trung bình mỗi ngày là 680.
Thu thập số liệu trong 02 tháng (tháng 5-6/2018), khoảng 40 ngày (đã trừ các ngày nghỉ), trung bình phỏng vấn 06 ĐTNC/ngày Xác định khoảng cách cỡ mẫu là: k = N/n = 680/6 = 113
Người đầu tiên được chọn để khám trong ngày, với chỉ số i nằm trong khoảng từ 1 đến k = 113, sẽ được xác định thông qua việc lập các phiếu từ 1 đến 113 và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ĐTNC đầu tiên.
Người số 2 là: i+ k là mẫu thứ 2
Người số 3 là: i + 2k là mẫu thứ 3
Người số 4 là: i + 3k là mẫu thứ 4
Người số 5 là: i + 4k là mẫu thứ 5
Người số 6 là: i + 5k là mẫu thứ 6
Lấy số liệu tiếp tục từng ngày (trừ các ngày nghỉ) đến khi chọn đủ số lượng là
Nếu đối tượng không đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn, hãy chọn đối tượng có số thứ tự kế tiếp để thay thế Đưa đối tượng này vào danh sách nghiên cứu và tiếp tục chọn mẫu theo công thức đã nêu.
Tiến hành chọn mẫu theo cách trên, chúng tôi thu thập được 127 bệnh nhân tại khoa Khám bệnh và 83 bệnh nhân tại Khoa khám CLC
2.5.2 Chọn mẫu nghiên cứu định tính:
Cán bộ bệnh viện thì chúng tôi tiến hành chọn chủ đích theo cỡ mẫu
Bệnh nhân đến khám thì chúng tôi chọn ngẫu nhiên khi gặp bệnh nhân tại chỗ khám bệnh khi kết thúc đợt khám.
Phương pháp thu thập số liệu
- Chuẩn bị trước khi phỏng vấn:
Nhóm điều tra viên gồm 05 thành viên, là sinh viên Đại học Y Hà Nội đang thực tập tại Bệnh viện, đã được tập huấn trước khi tiến hành điều tra Trong các cuộc phỏng vấn, các thành viên sẽ kiêm nhiệm vai trò giám sát.
Lập kế hoạch phân công vị trí cho các điều tra viên theo từng nhiệm vụ cụ thể, bao gồm việc túc trực tại khu tiếp đón khám bệnh để xác định đối tượng nghiên cứu và người thực hiện phỏng vấn.
+ ĐTV được tập huấn và phỏng vấn thử 10 phiếu
+ Thông báo với ĐTNC đây là nghiên cứu tham gia một cách tự nguyện và ký vào phiếu đồng ý tham gia (phụ lục 2)
- Thu thập số liệu bằng kỹ thuật phỏng vấn dưới hai hình thức:
Nghiên cứu định lượng phỏng vấn trực tiếp ĐTNC khi kết thúc lượt khám bệnh bằng bộ câu hỏi (phụ lục 3) tại khu chờ khám của bệnh nhân
Cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế và bệnh nhân được thực hiện tại phòng họp bệnh viện, sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn Thời gian phỏng vấn thường kéo dài từ 10 đến 15 phút, với sự hỗ trợ của điện thoại có chức năng ghi âm.
Các biến số nghiên cứu
Từ khung lý thuyết là cơ sở để xây dựng các biến số nghiên cứu chính gồm:
Bộ công cụ nghiên cứu định lƣợng (phụ lục 6): trong đó gồm các phần
Bài viết thu thập thông tin cá nhân của bệnh nhân với 09 biến quan trọng, bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, địa dư, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, loại hình dịch vụ khám chữa bệnh mà bệnh nhân sử dụng, việc có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế hay không, và số lần trải nghiệm sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh.
- Thu thập thông tin về bệnh tật của bệnh nhân gồm (03 biến): Vấn đề sức khỏe mà bệnh nhân đang gặp phải; Tình trạng bệnh; Mức độ bệnh;
Bài viết thu thập thông tin liên quan đến bệnh viện với 30 biến, bao gồm khoảng cách từ nơi ở đến bệnh viện, thời gian di chuyển, lý do bệnh nhân biết đến dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện, các kênh truyền thông của bệnh viện, cảm nhận về chi phí khám chữa bệnh cho lần khám này (bao gồm 3 biến), và cảm nhận về chất lượng dịch vụ (bao gồm 22 biến).
Bộ công cụ phỏng vấn sâu:
Nhóm cán bộ y tế: Sử dụng bộ công cụ hướng dẫn để trao đổi (phụ lục 4) gồm các chủ đề tìm hiểu như:
- Quan điểm của cán bộ y tế về các yếu tố tác động tới việc sử dụng dịch vụ khám bệnh tại Bệnh viện
- Tìm hiểu các nguồn lực phục vụ cho công tác khám bệnh và chi phí dịch vụ khám bệnh
Nhóm bệnh nhân Sử dụng bộ công cụ hướng dẫn để trao đổi (phụ lục 5) gồm các vấn đề chủ yếu nhƣ:
- Tiếp cận dịch vụ khám bệnh
- Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ KCB
- Phí hay giá dịch vụ khám chữa bệnh
Xây dựng công cụ, tiêu chuẩn đánh giá chi phí và chất lượng dịch vụ
Bộ câu hỏi được thiết kế để đo lường cảm nhận của bệnh nhân về chi phí và chất lượng dịch vụ, sử dụng thang đo Likert 5 mức Thang đo này có giá trị từ 1 đến 5, trong đó 1 biểu thị sự không đồng ý hoàn toàn và 5 thể hiện sự đồng ý hoàn toàn.
Khi đó, ý nghĩa giá trị trung bình của từng nhóm thang đo được xác định:
Bảng 2.2: Điểm Trung bình của từng nhóm thang đo Điểm giá trị trung bình của nhóm thang đo Ý nghĩa Đánh giá
Nếu điểm trung bình dưới 3,41, bệnh nhân không hài lòng với chi phí và chất lượng dịch vụ khám bệnh tại bệnh viện Ngược lại, nếu điểm trung bình từ 3,41 trở lên, bệnh nhân thể hiện sự đồng ý với dịch vụ.
Phương pháp phân tích số liệu
- Sử dụng phần mềm nhập liệu là Epidata Entry 3.1
- Kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu để đảm bảo nhập liệu chính xác
- Kiểm tra các giá trị mất, các giá trị bất thường và lỗi do mã hoá
- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
- Phần mô tả: Thể hiện tần suất của các biến trong nghiên cứu, vẽ biểu đồ
- Phân tích mô tả đơn biến: tỉ lệ %, bảng phân phối tần suất
- Sử dụng kiểm định phi bình phương sự khác biệt giữa 2 tỉ lệ χ 2 , kiểm định Fisher’s; đánh giá mức độ ý nghĩa thống kê bằng xem xét giá trị p-value = 0,05
Kiểm định Wilcoxon-Mann-Whitney được sử dụng để so sánh trung bình của hai mẫu độc lập, thông qua các giá trị tổng hạng trung bình và chỉ số Mann-Whitney (U) Đơn vị lệch chuẩn (z) cũng được xem xét, cùng với giá trị p-value = 0,05 để đánh giá ý nghĩa thống kê.
- Các cuộc PVS được tiến hành gỡ băng và tạo mã code cho từng cuộc phỏng vấn và phân tích theo chủ đề
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Trước khi tiến hành điều tra, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và chỉ thực hiện khi nhận được sự chấp thuận tham gia từ họ.
Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu này đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt bằng văn bản số 356/2018/YTCC-HD3 vào ngày 09/5/2018, xác nhận sự tuân thủ các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của bệnh nhân sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh
Các đặc điểm về yếu tố cá nhân bao gồm: giới, nhóm tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa dư BHYYT và trải nghiệm sử dụng
Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 210 đối tượng nghiên cứu, trong đó tỉ lệ của nam là 95 người chiếm 45,2%, 115 đối tượng là nữ chiếm 54,8% (biểu đồ 3.1)
Biểu đồ 3.1 thể hiện tỉ lệ phân bổ theo giới của những người tham gia nghiên cứu Độ tuổi trung bình của nhóm là 44,3±16,4 tuổi, với độ tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất là 72 Thông tin về các nhóm tuổi, trình độ học vấn và thu nhập của nhóm nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1: Một số đặc điểm nhóm tham gia nghiên cứu Đặc điểm Phân nhóm n % Tích lũy %
Trung cấp/cao đẳng 45 21,4 77,1 Đại học/ sau đại học 48 22,9 100
Tổng 210 100 Đặc điểm Phân nhóm n % Tích lũy %
Trong nghiên cứu, nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,1%, trong khi các nhóm tuổi khác dao động từ 23-24% Về trình độ học vấn, có 48 bệnh nhân đại học, chiếm 22,9%, trong khi số lượng bệnh nhân có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng cũng đáng chú ý.
45 người (chiếm 21,4%), cấp 3 có 60 người (chiếm 28,6%), trình độ cấp 2 và cấp 1 có 57 người (chiếm 27,1%)
Thu nhập của đa số người lao động chủ yếu dao động trong khoảng từ 4 triệu đến 8 triệu đồng, với 48,7% có thu nhập dưới 4 triệu đồng (29,6%) và 21,6% có mức lương trên 8 triệu đồng Lương tối thiểu tại Vùng I năm 2018 là 3.980.000 đồng/tháng cho người lao động làm việc theo hợp đồng.
Biểu đồ 3.2: Số lƣợng phân bổ theo nghề nghiệp của bệnh nhân
Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp lao động tự do cao nhất, với 45 người (chiếm 21,4%) Tiếp theo là công nhân với 40 người (19%) và nông dân với 39 người (18,6%) Cuối cùng, nhân viên hành chính và người làm trong các cơ quan nhà nước cũng được ghi nhận.
Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp, có 37 người tham gia, trong đó 17,6% là người nghỉ hưu, 14 người (6,7%) là sinh viên, và 4 người (1,9%) thuộc các ngành nghề khác hoặc không có việc làm Bệnh viện nằm trên quốc lộ 1A, thuộc huyện Thanh Trì, cùng trục đường chính với các huyện Thường Tín và Phú Xuyên, thuận lợi cho việc di chuyển vào trung tâm Thủ đô.
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ phân bố theo địa dƣ của bệnh nhân
Tỉ lệ bệnh nhân đến từ huyện Thanh Trì chiếm 49%, huyện Thường Tín 40%, huyện Phú Xuyên 9%, và huyện Thanh Oai có 2 người, chiếm 1% Ngoài ra, có 2 bệnh nhân đến từ các tỉnh khác như Hà Nam và Nam Định, cũng chiếm 1%.
Bảng 3.2: Bệnh nhân sử dụng thẻ BHYT khi khám bệnh
Trải nghiệm sử dụng BHYT
Lần đầu 2-5 lần ≥ 6 lần Tổng n % n % n % n %
Trong nghiên cứu, bệnh nhân lần đầu đến khám chiếm 38,6%, trong khi bệnh nhân khám từ 2-5 lần chiếm 38,1% và bệnh nhân khám trên 6 lần chiếm 23,3% Tỷ lệ bệnh nhân có thẻ BHYT sử dụng dịch vụ khám bệnh đạt 60%, cao hơn so với nhóm không có BHYT với 40% Sự khác biệt về số lần sử dụng dịch vụ khám bệnh trong 6 tháng gần đây giữa bệnh nhân có và không có thẻ BHYT là đáng kể với p 0,05.
Bảng 3.7: Đặc điểm về tuổi bệnh nhân và sử dụng loại hình KCB
Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sử dụng dịch vụ khám bệnh tại bệnh viện cao nhất ở nhóm tuổi 18-39 (47,6%), tiếp theo là nhóm trên 60 tuổi (28,1%) và nhóm từ 40-59 tuổi Khi phân tích sự khác biệt giữa hai khoa khám, tỉ lệ sử dụng dịch vụ tại Khoa khám CLC cũng cao nhất ở nhóm tuổi 18-39, sau đó giảm dần theo độ tuổi Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Bảng 3.8: Thu nhập hàng tháng của bệnh nhân và sử dụng loại hình KCB
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thu nhập cá nhân hàng tháng và việc sử dụng loại hình dịch vụ khám bệnh, với Fisher’s χ² = 52,2, p < 0,001, df = 2 Trong tổng số 210 người tham gia nghiên cứu, 199 đối tượng đã cung cấp thông tin về thu nhập của họ.
Người có thu nhập hàng tháng cao có xu hướng sử dụng dịch vụ khoa khám bệnh CLC nhiều hơn, với tỉ lệ 39,2% ở nhóm thu nhập trên 8 triệu, trong khi nhóm thu nhập dưới 4 triệu chỉ đạt 5,1% Ngược lại, khoa Khám bệnh thông thường lại thu hút nhiều người có thu nhập thấp dưới 4 triệu, với tỉ lệ sử dụng lên đến 45,8%.
Bảng 3.9: Nghề nghiệp bệnh nhân và sử dụng loại hình KCB
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt thống kê đáng kể trong việc thu thập và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (p