ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu (N) được tính theo công thức:
N: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
Z 1- /2 : Hệ số tin cậy (với α=0,05: Z 1- /2 =1,96)
P: Tỷ lệ người dân có thực hành “đạt” về phòng bệnh ĐTĐ (theo kết quả nghiên cứu của Võ Thị Bổn thì p = 48,7%) d: Độ sai lệch ước muốn (d = 0,06) Áp dụng công thức trên, chúng tôi tính được cỡ mẫu N = 267 đối tượng Dự phòng 15% đối tượng thuộc diện loại trừ, số đối tượng cần thiết tiếp cận là: 267 + (0,15 x 267 ) = 307 đối tượng Thực tế trong nghiên cứu này, chúng tôi điều tra được 274 mẫu, đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích
2.3.2 Chọn mẫu Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:
Bước đầu tiên trong quy trình là lập danh sách khung mẫu cho tất cả cư dân từ 30-69 tuổi có hộ khẩu thường trú tại Phường 4, TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, loại trừ những người mắc bệnh đái tháo đường đang được Trạm Y tế quản lý Theo số liệu từ danh sách quản lý dân số năm 2015 của Phòng Dân số & Kế hoạch hóa gia đình - Trung tâm Y tế Thành phố Cao Lãnh, tổng số người trong độ tuổi này là 4.319 Sau khi loại bỏ 21 người mắc đái tháo đường, danh sách khung mẫu còn lại là 4.298 người.
- Bước 2: Tính khoảng cách mẫu (k) k = Nº/N
Tổng số người dân từ 30-69 tuổi đang sinh sống tại Phường 4, không bao gồm những người mắc bệnh đái tháo đường được quản lý bởi Trạm Y tế, là Nº Theo công thức tính khoảng cách mẫu, chúng tôi đã xác định được k = 4.298/307 = 14.
Bước 3 trong nghiên cứu là chọn ngẫu nhiên người tham gia từ danh sách khung mẫu Đầu tiên, bốc thăm 14 số từ 1 đến 14 để xác định người đầu tiên; nếu bốc được số 4, người đầu tiên sẽ là người có số thứ tự thứ 4 Tiếp theo, để chọn người thứ 2, cộng số thứ tự của người đầu tiên (4) với khoảng cách mẫu (14), kết quả là 18, nên người thứ 2 sẽ là người thứ 18 trong danh sách Tương tự, để chọn người thứ 3, cộng số thứ tự của người thứ 2 (18) với khoảng cách mẫu (14), được 32, và người thứ 3 sẽ là người thứ 32 Quá trình này tiếp tục cho đến khi đủ 307 đối tượng tham gia nghiên cứu Nếu số đối tượng loại trừ lớn hơn 307, cần có biện pháp điều chỉnh.
Để đảm bảo tính chính xác của cuộc khảo sát, nếu tỷ lệ mẫu điều tra dưới 15% (số lượng mẫu ít hơn 267 đối tượng), cần tiếp tục lựa chọn thêm mẫu cho đến khi đạt tối thiểu 267 đối tượng.
Trong nghiên cứu này, nhóm đã điều tra 274 trong số 307 đối tượng được chọn, vượt qua cỡ mẫu tối thiểu là 267, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu Tuy nhiên, 33 đối tượng không thể điều tra do nhiều lý do: 12 người mắc bệnh ĐTĐ, 2 người không hợp tác vì say rượu, 2 người bệnh nặng không thể trả lời phỏng vấn, và 17 người thường xuyên vắng nhà do công việc xa hoặc chăm sóc cháu bé.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu trong nghiên cứu này là phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (xem phụ lục 2) Chúng tôi quyết định không thu thập thông tin về dân tộc, do hơn 99% cư dân Phường 4 thuộc dân tộc Kinh.
Danh sách mẫu nghiên cứu được lựa chọn trước khi xuống thực địa
Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên khung lý thuyết vững chắc, tổng quan tài liệu hiện có và tham khảo từ các nghiên cứu trước đó, bao gồm nghiên cứu của Cục Y tế dự phòng.
Năm 2015, điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm đã được thực hiện, dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Vinh Quang và Võ Thị Bổn Nội dung điều tra đã được thử nghiệm và chỉnh sửa để phù hợp với yêu cầu chính thức Điều tra viên tham gia bao gồm nhân viên y tế và cộng tác viên từ Trạm Y tế Phường 4, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tổ chức tập huấn cho 8 điều tra viên (ĐTV) nhằm trang bị kỹ năng sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn và làm việc với cộng đồng trước khi tiến hành điều tra Nội dung chính của buổi tập huấn bao gồm báo cáo về tình hình mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tiền đái tháo đường và các nguy cơ liên quan đến bệnh ĐTĐ tại địa bàn Phường.
Cuộc điều tra nhằm giúp ĐTV hiểu rõ nguyên nhân, mục đích và ý nghĩa của việc thu thập thông tin để tăng cường sự hợp tác từ đối tượng Hướng dẫn cụ thể cho 8 ĐTV về cách hỏi và ghi chép thông tin cho từng câu hỏi, bao gồm cách tự giới thiệu, lý do đến nhà đối tượng và mục đích phỏng vấn Trong bộ câu hỏi, có đoạn tự giới thiệu để ĐTV sử dụng khi tiếp cận cộng đồng Sau khi hoàn tất hướng dẫn và giải đáp thắc mắc, nhóm ĐTV cùng người hướng dẫn sẽ thực hành phỏng vấn tại các hộ gia đình gần Trạm Y tế Phường 4, nơi đã liên hệ trước với 16 người dân để chuẩn bị cho buổi thực tập.
Vào ngày 17/3/2016, tại Trạm Y tế Phường 4, nhóm nghiên cứu đã tổ chức buổi tập huấn cho các điều tra viên (ĐTV) và thử nghiệm bộ câu hỏi, sau đó điều chỉnh một số câu hỏi cho phù hợp với thực tế Ngày 22/3/2016, các ĐTV bắt đầu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) tại từng hộ gia đình, và kết thúc điều tra vào ngày 25/4/2016 Trong ngày điều tra đầu tiên, tác giả cùng 8 ĐTV tiến hành phỏng vấn tại khóm 2, thu thập được 12 ĐTNC Sau mỗi cuộc phỏng vấn, tác giả đã góp ý cho ĐTV về thông tin và phương pháp phỏng vấn Từ ngày điều tra thứ hai, các ĐTV tự tách ra để thực hiện điều tra tại bốn khóm của Phường 4 Tác giả đã quay lại 32 hộ gia đình đã được phỏng vấn để kiểm tra lại thông tin, và kết quả cho thấy thông tin thu được giữa tác giả và ĐTV là tương đồng.
Xử lý số liệu
Sau khi thu thập dữ liệu, phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ thông tin, làm sạch và mã hóa Dữ liệu được nhập vào phần mềm Epi Data 3.1 và phân tích bằng SPSS 15 Phương pháp phân tích thống kê được áp dụng và chia thành hai phần.
Thống kê mô tả, bao gồm tần số và tỷ lệ phần trăm, được áp dụng hiệu quả cho các biến số như đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, cũng như kiến thức và thực hành phòng bệnh tiểu đường của họ.
- Kiểm định χ 2 được dùng để: xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, đến thực hành về phòng bệnh ĐTĐ của ĐTNC.
Các biến số nghiên cứu chính
Gồm các nhóm biến số sau:
Nhóm biến số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu bao gồm các yếu tố như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng hôn nhân, tiền sử bệnh tiểu đường trong gia đình, và khả năng tiếp cận thông tin về bệnh tiểu đường.
Nhóm biến số kiến thức chung về phòng bệnh tiểu đường (ĐTĐ) bao gồm ba nhóm chính: kiến thức về bệnh ĐTĐ, kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ, và kiến thức về các biện pháp phòng ngừa bệnh ĐTĐ.
Nhóm biến số về thực hành phòng bệnh tiểu đường (ĐTĐ) bao gồm các yếu tố quan trọng như chế độ ăn uống hợp lý, hành vi sử dụng rượu, bia và thuốc lá, thói quen luyện tập thể dục thể thao, kiểm soát cân nặng để ngăn ngừa thừa cân và béo phì, cùng với việc khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm bệnh ĐTĐ.
Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá
* Kiến thức chung: kiến thức tổng hợp của 03 nhóm kiến thức: bệnh ĐTĐ;
YTNC gây bệnh ĐTĐ và phòng bệnh ĐTĐ
Kiến thức chung được coi là "đạt" khi thí sinh đạt tổng điểm kiến thức từ 27 điểm trở lên trong buổi phỏng vấn Ngược lại, thí sinh sẽ không được coi là "đạt" nếu tổng điểm kiến thức dưới 27 điểm.
* Kiến thức về bệnh ĐTĐ :
Kiến thức về bệnh tiểu đường được coi là “đạt” khi người tham gia phỏng vấn có tổng điểm kiến thức trên 13 điểm Ngược lại, nếu tổng điểm kiến thức dưới 13 điểm, người tham gia sẽ không được xem là “đạt”.
* Kiến thức về các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ
Kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường được coi là “đạt” khi điểm số kiến thức của đối tượng trả lời phỏng vấn đạt trên 07 điểm.
“đạt” khi ĐTNC trả lời câu hỏi phỏng vấn có tổng điểm kiến thức < 07 điểm
* Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ
Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ được coi là "đạt" khi ĐTNC trả lời phỏng vấn với tổng điểm kiến thức trên 08 điểm Ngược lại, nếu tổng điểm kiến thức của ĐTNC dưới 08 điểm, thì được xem là không "đạt".
* Thực hành phòng bệnh ĐTĐ (gồm 06 nhóm thực hành dưới đây)
Thực hành phòng bệnh ĐTĐ được định nghĩa là “đạt” khi ĐTNC có tổng điểm thực hành > 26 điểm “Không đạt” khi ĐTNC có điểm thực hành < 26 điểm
* Thực hành chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ
Thực hành chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ được định nghĩa là “đạt” khi ĐTNC có điểm thực hành > 08 điểm Không “đạt” khi ĐTNC có điểm thực hành < 08 điểm
Hạn chế sử dụng rượu, bia là một biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh tiểu đường (ĐTĐ) Hành vi này được coi là “đạt” khi điểm thực hành của ĐTNC (điểm thực hành nâng cao) lớn hơn 05 điểm, trong khi đó, nếu điểm thực hành dưới 05 điểm thì không được xem là “đạt”.
Hạn chế hút thuốc là một hành động quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Để xác định mức độ thực hành, nếu điểm thực hành của người tham gia (ĐTNC) đạt trên 05 điểm, hành vi này được coi là "đạt" Ngược lại, nếu điểm thực hành dưới 05 điểm, hành vi này được xem là "không đạt".
* Thực hành hoạt động thể lực
Thực hành hoạt động thể lực là phương pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh tiểu đường (ĐTĐ) Để được coi là "đạt", điểm thực hành của ĐTNC cần phải lớn hơn 4 điểm; ngược lại, nếu điểm thực hành dưới 4 điểm, sẽ không được xem là "đạt".
* Thực hành kiểm soát thừa cân, béo phì
Kiểm soát thừa cân và béo phì là biện pháp quan trọng để phòng ngừa bệnh tiểu đường Để được coi là “đạt”, điểm thực hành trong Đánh giá Thực hành Nâng cao Chăm sóc (ĐTNC) phải đạt từ 2 điểm trở lên Ngược lại, nếu điểm thực hành dưới 2 điểm, tình trạng này sẽ không được xem là “đạt”.
* Thực hành kiểm tra phát hiện sớm bệnh ĐTĐ
Kiểm tra phát hiện sớm bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) được xem là "đạt" khi điểm thực hành của ĐTNC đạt từ 2 điểm trở lên Ngược lại, nếu điểm thực hành của ĐTNC dưới 2 điểm, sẽ được coi là không "đạt".
Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt, với văn bản chấp thuận số 162/YTCC-HD3, liên quan đến việc chấp thuận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Tất cả thông tin cá nhân của ĐTNC sẽ được bảo mật tuyệt đối.
- Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không dùng vào mục đích khác.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
* Hạn chế của nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại Phường 4, do đó kết quả không thể đại diện cho toàn bộ Thành phố Cao Lãnh.
* Sai số và cách khắc phục sai số
Nghiên cứu cắt ngang thường gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin chính xác do sự sai sót trong hồi tưởng quá khứ Để khắc phục điều này, khi phỏng vấn, cần dành thời gian thích hợp để thu thập thông tin về tiếp cận truyền thông, hành vi sử dụng rượu/bia, kiểm soát thừa cân và béo phì, cũng như việc kiểm tra phát hiện sớm bệnh đái tháo đường Ngoài ra, chỉ nên hỏi về những thông tin trong khoảng thời gian 6 tháng trước khi tiến hành điều tra để nâng cao độ chính xác của dữ liệu.
Sai số do việc trả lời không trung thực của ĐTNC có thể được khắc phục bằng cách giải thích rõ ràng với ĐTNC về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn.
Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi thiết kế sẵn có thể dẫn đến sai số do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên Để khắc phục điều này, cần thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, tiến hành phỏng vấn thử và tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên trước khi thu thập số liệu.
Trong quá trình thu thập số liệu, việc giám sát chặt chẽ là rất quan trọng Học viên sẽ hỗ trợ điều tra viên trong việc điều tra những người đầu tiên, đảm bảo rằng mọi thông tin được ghi nhận đầy đủ và hợp lý Nếu phiếu thu thập thông tin chưa đầy đủ hoặc có sự không hợp lý, điều tra viên sẽ được yêu cầu bổ sung kịp thời để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.
Nhập số liệu, làm sạch và xử lý số liệu được thực hiện hai lần để so sánh kết quả Chỉ khi kết quả giữa hai lần xử lý giống nhau, chúng mới được đưa vào nghiên cứu Nếu không, sẽ tiến hành rà soát để khắc phục sai số.
2 lần xử lý tương đồng nhau.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiến thức chung về phòng bệnh đái tháo đường của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3.Kiến thức về khái niệm, chẩn đoán, theo dõi phát hiện và điều trị ĐTĐ
1 Khái niệm về bệnh ĐTĐ (N'4) Đúng 156 56,9
2 Biết đúng cách chẩn đoán bệnh ĐTĐ (N'4) Đúng 151 55,1
3 Biết cách theo dõi phát hiện sớm bệnh ĐTĐ (N1)
Xét nghiệm đường máu ≤ 6 tháng/lần 120 79,5
Xét nghiệm đường máu > 6 tháng/lần 12 7,9
4 Biết bệnh ĐTĐ có thể điều trị khỏi không (N'4)
Theo Bảng 3.3, 56,9% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) hiểu đúng rằng bệnh tiểu đường (ĐTĐ) là tình trạng đường máu tăng cao đạt ngưỡng chẩn đoán 55,1% ĐTNC biết rằng cách chẩn đoán bệnh ĐTĐ là thông qua xét nghiệm đường máu, trong đó 79,5% ĐTNC nhận thức được tầm quan trọng của việc theo dõi và phát hiện sớm bệnh ĐTĐ bằng cách xét nghiệm đường máu định kỳ ≤ 6 tháng/lần Tuy nhiên, 62% ĐTNC cho rằng bệnh ĐTĐ không thể điều trị khỏi.
Biểu đồ 3.4 Kiến thức của ĐTNC về triệu chứng của bệnh ĐTĐ (N'4)
Kết quả từ biểu đồ 3.4 cho thấy: Gần ẵ (47,8%) ĐTNC khụng biết gỡ về triệu chứng của bệnh ĐTĐ
Biểu đồ 3.5 Kiến thức một số triệu chứng của bệnh đái tháo đường (N3)
Biểu đồ 3.5 chỉ ra rằng trong số các triệu chứng mà ĐTNC nhận thức, phần lớn có tỷ lệ nhận biết dao động từ 44,4% đến 77,5% Mặc dù ngứa da là một triệu chứng điển hình, nhưng tỷ lệ ĐTNC biết đến chỉ đạt 21,8%.
Bảng 3.4 Kiến thức về sự nguy hiểm của bệnh đái tháo đường
Kiến thức về sự nguy hiểm của bệnh ĐTĐ Tần số Tỷ lệ (%)
1 Biết bệnh ĐTĐ có dẫn đến nguy hiểm (N'4)
2 Nói đúng các nguy hiểm của bệnh ĐTĐ (N#5)
Gây nhiều biến chứng, tàn phế 53 22,6
Có thể dẫn đến chết người 47 20,0
Theo khảo sát, 85,8% đối tượng nghiên cứu nhận thức được rằng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) có thể gây ra những nguy hiểm nghiêm trọng Tuy nhiên, vẫn còn 8% cho rằng bệnh này không nguy hiểm và 6,2% chưa hề biết đến mối nguy hiểm của ĐTĐ Mặc dù có nhận thức về sự nguy hiểm, nhưng 57,4% đối tượng vẫn không rõ các nguy cơ cụ thể mà bệnh ĐTĐ có thể gây ra.
Bảng 3.5 Kiến thức về biến chứng của bệnh đái tháo đường
Kiến thức về biến chứng của bệnh ĐTĐ n %
1 Biết biến chứng của bệnh ĐTĐ (N'4)
2 Nêu đúng một số biến chứng của bệnh ĐTĐ (N4)
Nhiễm trùng các cơ quan 46 26,4
Theo khảo sát 274 đối tượng tham gia, có 63,5% cho biết họ biết về các biến chứng của bệnh tiểu đường (ĐTĐ) Tỷ lệ người biết đến các biến chứng khác nhau dao động từ 59% đến 72% Tuy nhiên, một số biến chứng như nhiễm trùng các cơ quan và biến chứng thần kinh, thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, chỉ có 26,4% và 39,1% đối tượng biết đến.
Biểu đồ 3.6 phân loại mức độ kiến thức về bệnh đái tháo đường (N'4), bao gồm các khía cạnh quan trọng như khái niệm bệnh, phương pháp chẩn đoán, nhận diện sự nguy hiểm, triệu chứng, biến chứng, điều trị và cách theo dõi để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường.
Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá, kiến thức về bệnh ĐTĐ được đánh giá là
“không đạt” khi ĐTNC trả lời câu hỏi phỏng vấn có tổng điểm kiến thức < 13 điểm,
Theo biểu đồ 3.6, chỉ có 36,9% đối tượng tham gia khảo sát có kiến thức về bệnh tiểu đường (ĐTĐ) được đánh giá là "đạt", trong khi đó, 63,1% còn lại bị đánh giá là "không đạt" Tỷ lệ này cho thấy sự thiếu hụt kiến thức nghiêm trọng về bệnh ĐTĐ trong cộng đồng.
3.2.2 Kiến thức về yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh đái tháo đường
Bảng 3.6 Kiến thức về yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh đái tháo đường
Kiến thức về các YTNC dẫn đến ĐTĐ n %
1 Biết YTNC dẫn đến bệnh ĐTĐ (N'4)
2 Nêu được một số YTNC dẫn đến bệnh ĐTĐ (N7)
Chế độ ăn không hợp lý 70 44,6
Gia đình có người ĐTĐ 54 34,4
Tăng huyết áp 53 33,8 Ít hoạt động thể lực 49 31,2
Tiền sử ĐTĐ thai kỳ 24 15,3
Căng thẳng thần kinh (stress) 23 14,6
Tiền sử đẻ con to (> 3,6 kg) 19 12,1
Bảng 3.6 cho thấy rằng 57,3% đối tượng nghiên cứu nhận thức được yếu tố nguy cơ (YTNC) dẫn đến bệnh tiểu đường (ĐTĐ), nhưng không có YTNC nào được hơn 50% đối tượng biết đến YTNC được biết đến nhiều nhất là "chế độ ăn hợp lý" với 44,6%, tiếp theo là "thừa cân, béo phì" (40,1%) YTNC ít được biết đến nhất là "tiền sử sinh con to" với tỷ lệ chỉ 12,1% Một số YTNC như "rối loạn mỡ máu" và "hút thuốc" cũng có khả năng cao dẫn đến ĐTĐ, nhưng tỷ lệ nhận thức của đối tượng chỉ đạt 14,6% và 12,7% Mặc dù những YTNC này hoàn toàn có thể được kiểm soát.
Biểu đồ 3.7 Phân loại kiến thức về yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường (ĐTĐ) được coi là "không đạt" khi điểm số của đối tượng phỏng vấn (ĐTNC) ≤ 07 Biểu đồ 3.7 chỉ ra rằng có tới 63,1% ĐTNC không đạt yêu cầu về kiến thức về yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ.
3.2.3 Kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường
Bảng 3.7 Kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường
Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ n %
1 Biết bệnh ĐTĐ có thể phòng tránh được (N'4)
2 Nêu được một số cách phòng bệnh ĐTĐ (N7)
Chế độ ăn hợp lý 114 91,7
Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ n %
Luyện tập thể dục hợp lý 137 87,3
Xét nghiệm đường máu định kỳ 134 85,4
Kiểm soát thừa cân, béo phì 114 72,6
Hạn chế uống rượu, bia 107 68,2
3 Kiến thức về chế độ ăn để phòng bệnh (N7)
Hạn chế ăn thức ăn ngọt 151 96,2
Giảm chất béo 127 80,9 Ăn nhiều rau, quả 119 75,8
4 Biết đúng cách chế biến thức ăn để phòng bệnh (N7)
Không biết hoặc biết không đúng cách 29 18,8
5 Khái niệm về thừa cân (N7)
Không biết/Biết không đúng 121 77,1
Biết đúng khái niệm thừa cân là BMI ≥ 23 36 22,9
6 Biết cách phòng thừa cân, béo phì (N7)
Hoạt động thể lực hợp lý 76 48,4 Ăn uống hợp lý 74 47,1
Bảng 3.7 cho thấy rằng 57,3% đối tượng nghiên cứu biết bệnh tiểu đường có thể phòng tránh được Trong số này, hơn 50% có kiến thức về các phương pháp phòng bệnh, trong khi chỉ 35,7% biết đến cách "tránh căng thẳng" Hơn 75% đối tượng nêu được chế độ ăn uống hợp lý để phòng bệnh tiểu đường, và 81,2% hiểu đúng cách chế biến thức ăn Tuy nhiên, chỉ 22,9% biết khái niệm thừa cân là BMI ≥ 23, và đáng lưu ý là chỉ 4,5% đối tượng biết cả hai phương pháp phòng ngừa thừa cân và béo phì thông qua hoạt động thể lực và chế độ ăn uống hợp lý.
Biểu đồ 3.8 Phân loại mức độ kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, kiến thức phòng bệnh ĐTĐ được coi là “không đạt” khi điểm số tổng hợp từ câu trả lời của ĐTNC trong phỏng vấn nhỏ hơn hoặc bằng mức quy định.
08 điểm Biểu đồ 3.8 cho thấy: Có 52,9% ĐTNC có kiến thức về phòng bệnh ĐTĐ được đánh giá là “không đạt”
3.2.4 Phân loại mức độ kiến thức chung của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.9 Phân loại mức độ kiến thức chung của ĐTNC (N'4) gồm kiến thức về bệnh, yếu tố nguy cơ gây bệnh, phòng bệnh)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, kiến thức chung được coi là “không đạt” khi thí sinh (ĐTNC) có tổng điểm kiến thức ≤ 27 điểm Biểu đồ 3.9 chỉ ra rằng 63,9% ĐTNC có kiến thức chung “không đạt”, trong khi chỉ có 36,1% ĐTNC được đánh giá là “đạt” kiến thức chung.
Thực hành về phòng bệnh đái tháo đường của đối tượng nghiên cứu
3.3.1 Thực hành chế độ ăn phòng bệnh đái tháo đường
Bảng 3.8 Một số thói quen về ăn uống của đối tượng nghiên cứu (N'4)
Thói quen ăn uống của ĐTNC n %
1 Sử dụng dầu, mỡ để nấu ăn
2 Tần suất ăn thức ăn chiên, xào
Thói quen ăn uống của ĐTNC n %
3 Tần suất ăn thịt nhiều mỡ (thịt ba chỉ; đùi, đuôi, đầu, giò, da, lòng heo)
Không ăn 02 0,7 Ăn < 1 chén/bữa (ăn ít) 76 27,8 Ăn từ 1-2 chén/bữa (trung bình) 128 46,7 Ăn > 2 chén/bữa (ăn nhiều) 68 24,8
5 Mức độ ăn trái cây
Theo bảng 3.8, 81% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có thói quen sử dụng dầu thực vật trong nấu ăn Tuy nhiên, tần suất tiêu thụ thức ăn chiên xào của ĐTNC cho thấy một thói quen không tốt, với 52,9% ăn từ 1-3 ngày/tuần và 6,2% ăn ≥ 4 ngày/tuần.
Tần suất tiêu thụ thịt nhiều mỡ trong ĐTNC cho thấy 40,2% ăn từ 1-3 ngày/tuần và 4,7% ăn ≥ 4 ngày/tuần, điều này không tốt cho sức khỏe Về thói quen ăn rau, 46,7% ĐTNC tiêu thụ ở mức trung bình (1-2 chén/bữa) và 24,8% ăn nhiều (>2 chén/bữa), nhưng vẫn có 27,8% ăn ít rau (< 1 chén/bữa) Đối với trái cây, 48,9% ĐTNC ăn ở mức trung bình (1-3 ngày/tuần) và 30,3% ăn > 4 ngày/tuần, tuy nhiên, 19,7% ít ăn trái cây (< 1 ngày/tuần) và 1,1% không ăn trái cây.
Bảng 3.9 Thói quen và mức độ uống nước ngọt của đối tượng ngiên cứu
Thói quen uống nước ngọt của ĐTNC n %
1 Thói quen uống nước ngọt (N'4)
2 Mức độ uống nước ngọt (Nb)
Phần lớn đối tượng không có thói quen uống nước ngọt (chiếm 77,4%) Tuy nhiên, trong những đối tượng có thói quen uống nước ngọt thì số đối tượng uống >
2 ly nước ngọt/tuần chiếm đến 83,9%
Biểu đồ 3.10 Phân loại mức độ thực hành chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, thực hành chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ được xem là “không đạt” khi điểm thực hành của ĐTNC dưới 08 điểm Biểu đồ 3.10 cho thấy, có đến 45,6% ĐTNC không đạt yêu cầu về thực hành chế độ ăn phòng bệnh ĐTĐ.
3.3.2 Hành vi uống rƣợu, bia
Bảng 3.10 Hành vi hạn chế uống rượu, bia của ĐTNC
Sử dụng rƣợu, bia của ĐTNC n %
1 Uống rượu, bia của ĐTNC (N'4)
2 Có uống rượu, bia theo giới tính (đối với người có uống rượu, bia; N)
Nam có uống rượu, bia 85 92,4
Nữ có uống rượu, bia 7 7,6
2 Số lần uống rượu, bia/ tuần/tháng (N)
Uống thường xuyên: > 5 lần/tuần 10 10,9
Uống tương đối thường xuyên: uống từ 1-4 lần/ tuần 26 28,2
Uống trung bình: uống 1-3 lần/ tháng 31 33,7
Uống thỉnh thoảng: uống < 1 lần/tháng 25 27,2
3 Số lượng rượu, bia/mỗi lần uống (N)
Uống ít (uống < 1 lon bia hoặc < 60 ml rượu nhẹ/vang hoặc < 30 ml rượu mạnh)
Uống vừa phải ( uống 1-2 lon bia hoặc < 60-120 ml rượu nhẹ/vang hoặc 30-60 ml rượu mạnh)
Uống nhiều (uống > 2 lon bia hoặc > 120 ml rượu nhẹ/vang hoặc > 60 ml rượu mạnh)
Khảo sát việc sử dụng rượu/bia của 274 đối tượng tham gia nghiên cứu trong 03 tháng trước thời điểm điều tra cho thấy tỷ lệ người uống rượu/bia đạt 33,6% Trong số 92 đối tượng uống rượu/bia, nam giới chiếm 92,4%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 7,6% Tần suất uống rượu/bia trung bình là cao nhất với 33,7%, tiếp theo là tần suất uống tương đối thường xuyên chiếm 28,2%, và có đến 10,9% đối tượng tham gia uống với tần suất thường xuyên.
Về số lượng rượu/bia trong mỗi lần uống, gần ẵ (48,9%) ĐTNC uống rượu, bia ở mức nhiều; Mức độ uống ít chiếm tỷ lệ 21,7%
Biểu đồ 3.11 Phân loại mức độ hạn chế uống rượu, bia của ĐTNC (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, hành vi hạn chế sử dụng rượu được xác định là “không đạt” khi điểm thực hành của ĐTNC ≤ 05 điểm Biểu đồ 3.11 cho thấy tỷ lệ ĐTNC có thực hành hạn chế uống rượu, bia “không đạt” là 18,3%.
3.3.3 Hành vi hút thuốc lá
Bảng 3.11 Hành vi hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu
1 Hút thuốc hiện tại của ĐTNC (N'4)
2 Hút thuốc hàng ngày ĐTNC (N4)
3 Có hút thuốc phân theo giới tính (N4)
4 Mức độ hút thuốc/ngày (N4)
Trong số 274 đối tượng được điều tra, 38% hút thuốc hàng ngày, với 95,2% là nam giới Tỷ lệ người hút thuốc dưới 10 điếu mỗi ngày chiếm 76%, cho thấy mức độ tiêu thụ thuốc lá chủ yếu ở mức thấp.
Trong số các đối tượng, 38% người hút thuốc hàng ngày được đánh giá là có hành vi hạn chế hút thuốc lá “không đạt” Theo tiêu chuẩn đánh giá, việc hút thuốc sẽ nhận 0 điểm, và hút hàng ngày cũng nhận 0 điểm Dù các tiêu chí khác có đạt điểm tối ưu, tổng điểm thực hành về hút thuốc lá vẫn dưới 5 điểm chuẩn, dẫn đến việc xác định hành vi hạn chế hút thuốc lá không đạt yêu cầu.
3.3.4 Thực hành hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.12 Hoạt động thể lực nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (N'4)
Mức độ hoạt động thể lực nghề nghiệp của ĐTNC, phần lớn ở mức “trung bình” chiếm 62,8%, tiếp đến là mức “nhẹ” (30,6%), thấp nhất là mức “nặng” (6,6%)
Bảng 3.12 Đi bộ hoặc sử dụng xe đạp để đi lại
1 ĐTNC đi bộ hoặc sử dụng xe đạp để đi lại (N'4)
2 Thời gian đi lại/ngày (N0)
3 Tần suất đi lại/tuần (N0)
Trong số 274 vụ tai nạn giao thông (ĐTNC), có 51,1% đối tượng đi bộ hoặc sử dụng xe đạp Trong nhóm này, 58,6% người tham gia có thời gian đi bộ hoặc xe đạp từ 30 phút trở lên mỗi ngày, trong khi chỉ có 29,3% thực hiện hoạt động này với tần suất từ 5 ngày trở lên trong tuần.
Bảng 3.13 Hoạt động thể lực lúc nhàn rỗi của đối tượng nghiên cứu
1 Luyện tập thể lực lúc nhàn rỗi của ĐTNC (N'4)
2 Thời gian luyện tập thể lúc nhàn rỗi lực (Nf)
3.Tần suất luyện tập thể lực lúc nhàn rỗi (Nf)
Bảng 3.13 cho thấy, trong 274 ĐTNC, chỉ có 24,1% đối tượng có tham gia luyện tập thể dục, thể thao Khi đó, chỉ có 31,8% ĐTNC luyện tập với thời gian ≥
30 phút/ngày, tỷ lệ đối tượng có tần suất luyện tập ≥ 5 ngày/tuần chiếm 36,4%
Biểu đồ 3.13 Mức độ hoạt động thể lực của đối tượng nghiên cứu (N'4)
Theo tiêu chí đánh giá, hoạt động thể lực để phòng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) được coi là “đạt” khi điểm thực hành của đối tượng không chuyên (ĐTNC) đạt từ 4 điểm trở lên Biểu đồ 3.13 cho thấy, 81,8% đối tượng không tham gia luyện tập thể dục thể thao hoặc có luyện tập nhưng chưa đạt yêu cầu Chỉ có 18,2% đối tượng thực hành hoạt động thể lực được đánh giá là đạt tiêu chuẩn.
3.3.5 Thực hành của đối tƣợng nghiên cứu về kiểm soát thừa cân, béo phì
Bảng 3.14.Thực hành kiểm soát thừa cân, béo phì
Thực hành kiểm soát thừa cân, béo phì n %
1 Kiểm tra cân nặng trong 6 tháng qua (N'4)
2 Đã từng đo chiều cao (N9)
Trong 6 tháng qua, 54,4% đối tượng nghiên cứu đã thực hiện kiểm tra cân nặng Trong số những người này, 71,8% đã từng đo chiều cao của mình.
Biểu đồ 3.14.Mức độ thực hành kiểm soát thừa cân, béo phì của ĐTNC (N'4)
Theo tiêu chí đánh giá, thực hành kiểm soát thừa cân/béo phì để phòng bệnh ĐTĐ được xem là “không đạt” khi ĐTNC có điểm thực hành dưới 2 Biểu đồ 3.14 cho thấy rằng 60,9% ĐTNC không đạt tiêu chí này trong việc kiểm soát thừa cân/béo phì.
3.3.6 Thực hành của ĐTNC về kiểm tra phát hiện sớm bệnh đái tháo đường
Bảng 3.15.Thực hành về kiểm tra phát hiện sớm bệnh đái tháo đường (N'4)
Kiểm tra phát hiện sớm bệnh ĐTĐ n %
1 Đã từng kiểm tra đường huyết
2 Kiểm tra đường huyết trong 06 tháng qua của ĐTNC
Bảng 3.15 cho thấy, tỷ lệ ĐTNC không từng kiểm tra đường huyết của mình là 36,9%; Tỷ lệ đối tượng không kiểm tra đường huyết trong 6 tháng qua là 46%.
Biểu đồ 3.15 Mức độ thực hành kiểm tra phát hiện sớm bệnh ĐTĐ (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, thực hành kiểm tra phát hiện sớm bệnh ĐTĐ được coi là “không đạt” khi điểm thực hành của ĐTNC dưới 2 điểm Biểu đồ 3.15 cho thấy rằng 64,2% ĐTNC được đánh giá là “không đạt” tiêu chí này.
3.3.7 Phân loại mức độ thực hành phòng bệnh đái tháo đường của ĐTNC
Biểu đồ 3.16 Phân loại mức độ thực hành phòng bệnh đái tháo đường (N'4)
Theo tiêu chuẩn đánh giá, thực hành phòng bệnh ĐTĐ được định nghĩa là
Để đạt yêu cầu, ĐTNC cần có tổng điểm thực hành lớn hơn 26 điểm Ngược lại, nếu tổng điểm thực hành dưới 26 điểm, ĐTNC sẽ không đạt Theo biểu đồ 3.16, hơn 56,9% ĐTNC trong thực hành phòng bệnh ĐTĐ được đánh giá là “không đạt”.
Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh đái tháo đường
Bảng 3.16 Liên quan giữa kiến thức chung với đặc điểm chung của ĐTNC Đặc điểm chung của ĐTNC Kiến thức chung (N'4)
Không sống chung 35 (76,1) 11 (23,9) 46 (100) Đang sống chung 140 (53,6) 88 (46,4) 228 (100)
Có sự liên quan giữa kiến thức phòng bệnh tiểu đường và trình độ học vấn của các nhóm đối tượng Cụ thể, những người có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở có tỷ lệ kiến thức không đạt cao hơn so với những người có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (OR = 3,62) Sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê với p