ĐOÀN BÉ NĂMKIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG ĐÔNG XUYÊN, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG NĂM 2021
Trang 1ĐOÀN BÉ NĂM
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG ĐÔNG XUYÊN,
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2021
Trang 2ĐOÀN BÉ NĂM
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI PHƯỜNG ĐÔNG XUYÊN,
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Lê Thị Thanh Hương
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương – Trường Đại học Y tế công cộng Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
An Giang, ngày 23 tháng 10 năm 2021
Học viên
Đoàn Bé Năm
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo, các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng và Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã tận tình giảng dạy, truyền đạt, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏa lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Lê Thị Thanh Hương – Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian trao đổi, chỉ dẫn và chia sẽ kinh nghiệm quý báo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cám ơn Quý Lãnh đạo, đồng nghiệp Trung tâm Y tế Thành phố Long Xuyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong khoảng thời gian học tập, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các anh, chị, em đồng nghiệp Trạm Y tế Phường Đông Xuyên, các cô, chú cộng tác viên tại khu vực và các chủ hộ cũng như người tham gia nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại địa phương
Tôi chân thành cảm ơn tập thể lớp YTCC K23-3B – Đồng Tháp, đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏa lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên, chia sẻ những khó khăn và cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
An Giang, ngày 23 tháng 10 năm 2021
Học viên
Đoàn Bé Năm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ viiii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số định nghĩa liên quan 4
1.2 Đặc điểm SXHD 4
1.2.1 Tác nhân gây bệnh 4
1.2.2 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền 4
1.2.3 Tính cảm nhiễm và sức đề kháng 5
1.2.4 Véc tơ truyền bệnh 5
1.2.5 Diễn biến của bệnh SXHD 5
1.2.6 Phân độ SXHD 7
1.3 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue 7
1.3.1 Các nghiên cứu KAP về bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới 7
1.3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam 12
1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue 14
1.5 Sơ lược về phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên 16
1.5.1 Đặc điểm 16
1.5.2 Tình hình mắc SXHD 17
1.5.3 Các hoạt động phòng chống bệnh SXHD 17
Trang 61.6 Khung lý thuyết 19
Chương 2 20
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 20
2.5 Phương pháp chọn mẫu 21
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin 21
2.6.2 Kỹ thuật thiết kế bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát 22
2.6.3 Kỹ thuật phỏng vấn, quan sát 22
2.6.4 Thu thập số liệu 22
2.7 Các biến số nghiên cứu 23
2.8 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 24
2.9 Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá 25
2.9.1 Kiến thức 25
2.9.2 Thái độ 26
2.9.3 Thực hành 26
2.9.4 Chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều 27
2.10 Phương pháp phân tích số liệu 27
2.11 Đạo đức trong nghiên cứu 27
Chương 3 28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Yếu tố tiếp cận truyền thông 30
3.3 Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 31 3.4 Thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 37
3.5 Thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 39
Trang 73.6 Một số yếu tố liên quan đến KAP về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của
đối tượng nghiên cứu 40
3.6.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 40
3.6.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng 42
3.6.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng 44
Chương 4 47
BÀN LUẬN 47
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 47
4.2 Yếu tố tiếp cận truyền thông 49
4.3 Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 51 4.4 Thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 57
4.5 Thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 58
4.6 Một số yếu tố liên quan đến KAP phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 61
4.6.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu 61
4.6.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng bệnh SXHD của đối tượng nghiên cứu 62
4.6.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng 63
4.7 Hạn chế của nghiên cứu 65
KẾT LUẬN 66
KHUYẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Trang 8NVYT Nhân viên y tế
PCSXHD Phòng chống sốt xuát huyết Dengue PNMT Phụ nữ mang thai
TĐHV Trình độ học vấn
SXHD: Sốt xuất huyết Dengue
YTLQ Yếu tố liên quan
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Tình hình mắc SXHD phường Đồng Xuyên từ năm 2010-2019 17
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính, nhóm tuổi, dân tộc, kinh tế gia đình 28
Bảng 3.2 Đặc điểm của HGĐ nghiên cứu 30
Bảng 3.3 Kênh truyền thông người dân tiếp cận về SXHD 30
Bảng 3.4 Kênh truyền thông người dân tin tưởng nhất 31
Bảng 3.5 Kiến thức về khả năng mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue 31
Bảng 3.6 Kiến thức về triệu chứng của bệnh 32
Bảng 3.7 Kiến thức về véc tơ truyền bệnh 34
Bảng 3.8 Kiến thức về biện pháp phòng ngừa muỗi đốt 35
Bảng 3.9 Kiến thức về các biện pháp kiểm soát bọ gây/lăng quăng, véc tơ trung gian truyền bệnh 36
Bảng 3.10 Thái độ đối với các biện pháp phòng chống bệnh SXHD của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.11 Thực hành các biện pháp phòng SXHD của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với kiến thức về SXHD 40
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với thái độ phòng SXHD 42
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa kiến thức chung về bệnh SXHD và thái độ phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng 43
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu với thực hành phòng bệnh SXHD 44
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số đặc điểm đặc điểm hộ gia đình của ĐTNC với thực hành phòng bệnh SXHD 45
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức chung về bệnh SXHD và thực hành phòng bệnh SXHD 45
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa thái độ phòng bệnh SXHD và thực hành phòng bệnh SXHD 46
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Bản đồ phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên 17
Biểu đồ 3.1 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 29
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 29
Biểu đồ 3.3 Kiến thức về đường lây truyền bệnh SXHD 33
Biểu đồ: 3.4 Kiến thức về đường lây truyền bệnh SXHD 33
Biểu đồ 3.5 Kiến thức về phòng bệnh SXHD 35
Biểu đồ 3.6 Kiến thức về cách phòng bệnh SXHD hiệu quả nhất 36
Biểu đồ 3.7 Kiến thức chung về phòng chống bệnh SXHD 37
Biểu đồ 3.8 Thái độ chung của ĐTNC về phòng chống bệnh SXHD 38
Biểu đồ 3.9 Thực hành chung của đối tượng nghiên cứu 40
Trang 11Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên đối tượng là chủ hộ hoặc người đại diện gia đình với cỡ mẫu là 350 người Kết quả được trình bày bằng tần số và tỉ lệ Sử dụng phép kiểm định khi bình phương ( ) và tỉ suất chênh (Odds ratio) để xác định mối liên quan với mức ý nghĩa p<0,05
Nghiên cứu có kết quả như sau: ĐTNC có Kiến thức đúng (46,6%), thái độ đúng (48,0%), thực hành đúng (57,1%) về phòng bệnh SXHD ĐT có nghề nghiệp
là CBVC, TĐHV cao hơn cấp I, có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng cao hơn các đối tượng khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05 ĐTNC cứu có kiến thức đúng thì có khả năng có thái độ đúng cao hơn 10,333 lần (95% CI: 6,308-16,928); Người có kiến thức đúng thì có khả năng thực hành đúng cao gấp 16,307 lần so với người có kiến thức chưa đúng (95% CI: 9,296-28,606); ĐTNC có thái độ đúng có khả năng thực hành đúng cao gấp 4,889 lần so với người
có thái độ chưa đúng về phòng SXHD (95% CI: 3,077-7,767)
Khuyến nghị: Truyền thông giáo dục sức khỏe chú trọng cung cấp các thông tin người dân còn thiếu (khả năng lây nhiễm từ mẹ sang con, khả năng mắc lại bệnh, thời gian muỗi đốt, nơi trú ẩn của muỗi); Tăng cường sử dụng kênh truyền thông người dân tin tưởng nhất (Cán bộ y tế, đài truyền hình) nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh SXHD; Cán bộ y tế cùng các cơ quan đoàn thể tuyên truyền, vận động người dân chủ động súc rửa DCCN, đậy kín DCCN, tăng cường ngủ mùng cả ngày lẫn đêm, hạn chế sử dụng hóa chất diệt muỗi do ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh nhiễm trùng do vi rút
arbovirus thuộc giống Flavivirus (họ Flaviviridae) gây ra và có bốn type huyết
thanh riêng biệt, nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, DEN 1,2,3 và 4 Nhiễm bất
kỳ type nào sẽ tạo ra khả năng miễn dịch suốt đời đối với type huyết thanh và miễn dịch một phần tạm thời với các type huyết thanh khác [6], [22]
SXHD là bệnh truyền nhiễm (BTN) lưu hành ở nhiều địa phương tại Việt Nam, đôi khi tạo thành bệnh dịch lớn, nhất là ở các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ và vùng ven biển miền Trung [3] Số ca mắc SXHD được báo cáo cho WHO đã tăng hơn 8 lần trong hai thập kỷ qua, từ 505.430 trường hợp vào năm 2000, lên hơn 2,4 triệu ca vào năm 2010 và 4,2 triệu ca vào năm 2019
Số ca tử vong được báo cáo từ năm 2000 đến 2015 đã tăng từ 960 ca lên 4032 ca [22] Tình trạng mắc SXHD ở Việt Nam không ổn định, các đợt cao điểm thường vào rơi vào gữa quý 2 tới quý 4 (nhất là từ tháng 06 – tháng 10 hằng năm) Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân đã tăng từ 120 ca mắc trong năm 2009 (tương đương với 105.370 ca) lên 194 ca mắc trong năm 2017 (184.000 ca) Số ca mắc được ghi nhận trong năm 2019 là 320.000 [28]
Hiện nay SXHD vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccine phòng bệnh SXHD tại Việt Nam, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là kiểm soát muỗi vằn và nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về phòng, chống SXHD Hiện nay đã có các nghiên cứu đã chỉ ra người dân có kiến thức đúng về phòng bệnh SXHD khá tốt nhưng tỷ lệ người dân thực hành đúng về phòng bệnh SXHD chưa tương xứng [8], [10] Các vấn đề còn tồn tại trong cách thực hành phòng bệnh SXHD của người dân như: dọn dẹp, thu nhặt phế liệu, phế thải xung quanh nhà 35,9% [10]; sử dụng thuốc diệt côn trùng trong nhà để giảm muỗi ≤ 48% [10], [29]; nuôi cá để diệt lăng quăng ≤ 35% [10], [11]; tham gia vào các chiến dịch giúp phòng bệnh SXHD ≤ 42% [29] Những tồn tại trong hành vi của người dân đã được chứng minh có mối liên quan với kiến thức, giới tính, trình độ học vấn (TĐHV),
Trang 13kinh tế gia đình với thực hành phòng chống SXHD, nghiên cứu chỉ ra người có học vấn cao có khả năng thực hành đúng cao hơn gấp 2 lần so với người có học vấn thấp hơn, người có gia cảnh khá hơn thì tỷ lệ thực hiện thực đúng các biện pháp phòng bệnh cao hơn 58,9%, 95% CI: 0,233-0,724 [8]
Đông Xuyên là phường thuộc nội ô thuộc Thành phố Long Xuyên, với diện tích 120,02 ha, dân số 13.576 người, với 2.344 hộ dân có 04 khóm và 65 tổ dân phố, các hộ tập trung vào các lĩnh vực thương mại, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ tập trung thành các khu chợ đông đúc, sầm uất [15] Mặc dù hàng năm phường đều có kế hoạch phòng, chống SXHD thông qua các hoạt động như: Tuyên tuyền phòng chống SXHD, thực hiện vệ sinh môi trường tại các khóm có nguy cơ bùng phát dịch liên tục 8 tháng kể từ tháng 4 đến tháng 12, thực hiện công tác xây dựng kế hoạch xử lý ổ dịch theo hướng dẫn của Bộ Y tế [34], [35], [36] Tuy nhiên, theo báo cáo năm 2018 Đông Xuyên có số ca mắc là 37 ca tăng 27,6% (29 ca) so với năm 2017, số mắc bình quân từ năm 2015 đến 2019 là 31,2 ca đây là số mắc cao hơn các phường khác trong thành phố [14]
Từ các vấn đề nêu trên, câu hỏi đặt ra là KAP phòng SXHD của người dân ở khu vực đô thị như thế nào? Cụ thể hơn là ở phường Đông Xuyên như thế nào? Những tồn tại trong cách thực hành phòng bệnh SXHD của người dân tại phường Đông Xuyên như thế nào? Liệu có phải do KAP kém nên hành vi vệ sinh môi trường sống của người dân phường Đông Xuyên kém đã tạo điều kiện cho sự phát triển của muỗi vằn nên số mắc SXHD hằng năm tại phường vẫn cao như vậy không? đâu là các yếu tố liên quan (YTLQ) đến KAP phòng SXHD của người dân phường Đông Xuyên?
Hiện nay các đề tài KAP về phòng bệnh SXHD trên đại bàn tỉnh chủ yếu nghiên cứu tại các vùng nông thôn, rất ít nghiên cứu tại thành thị đặc biệt là tại phường Đông Xuyên chưa có đề tài nào liên quan đến KAP của người dân về phòng bệnh SXHD Từ các vấn đề và để trả lời các câu hỏi nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài KAP về phòng bệnh SXHD và một số YTLQ của người dân tại phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2021
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2021
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tới kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2021
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số định nghĩa liên quan
Bệnh truyền nhiễm: là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc
từ động vật sang người do tác nhân gây BTN [9]
Trung gian truyền bệnh là côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và các vật khác mang tác nhân gây BTN và có khả năng truyền bệnh [9]
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế định nghĩa: “SXHD là BTN nhóm B gây dịch do
vi rút Dengue gây nên Vi rút Dengue có 4 type huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu” [3]
1.2 Đặc điểm SXHD
1.2.1 Tác nhân gây bệnh
Vi rút Dengue thuộc giống Flaviviridae, họ Togaviridae là tác nhân gây nên
bệnh SXHD Vi rút Dengue có 3 ổ chứa là người, muỗi và một số động vật thuộc nhóm linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh Có 4 type huyết thanh là DEN 1, DEN 2, DEN 3, DEN 4 Khi bị nhiễm type nào sẽ tạo miễn dịch bền vững với type đó Dù các type huyết thanh có kháng nguyên chung là đặc hiệu nhóm, nhưng chỉ sinh ra bảo vệ chéo trong giới hạn thời gian (vài tháng) nếu nhiễm type khác chứ không tạo miễn dịch bảo vệ suốt đời khi nhiễm type DEN khác Ở nước ta đã phân lập được cả
4 type Dengue [3], [6], [21]
1.2.2 Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền
Giai đoạn ủ bệnh (thường từ 3 đến 14 ngày), trung bình thường từ 5 đến
7 ngày Giai đoạn lây nhiễm mạnh nhất lúc bệnh nhân đang sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt vì đây là lúc trong máu có tải lượng vi rút cao Muỗi vằn mang mầm bệnh thường sau 8 đến 12 ngày sau hút máu có thể lây truyền bệnh cho người khác và truyền bệnh suốt đời [3] Theo tài liệu của WHO thì bệnh nhân là nguồn lây ngay trước thời kỳ sốt cho đến cuối giai đoạn sốt, trung bình thời gian lây là 6 đến 7 ngày Bên cạnh bệnh nhân, những người nhiễm vi rút nhưng không có biểu hiện lâm sàng cũng là một nguồn lây bệnh đáng chú ý [25]
Trang 161.2.3 Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
Con người là vật chủ duy nhất vói sự nhiễm đa dạng, từ thể không triệu chứng đến có biểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và tử vong Sau khi nhiễm với type Dengue nào thì có miễn dịch lâu dài với type Dengue
đó nhưng chỉ bảo vệ được một phần và tạm thời với 3 type còn lại Nếu bị mắc bệnh lần thứ hai với type vi rút Dengue khác, bệnh nhân có thể sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue [3]
1.2.4 Véc tơ truyền bệnh
Bệnh SXHD lây truyền qua trung gian truyền bệnh là muỗi vằn, muỗi mang mầm bệnh chích (đốt) người và gây bệnh, do đó SXHD không lây từ người sang người một cách trực tiếp Hiện nay ở nước ta, bệnh SXHD được xác định chủ yếu là
do muỗi Aedes aegypti (Ae aegypti) và Aedes albopictus (Ae albopictus), trong đó muỗi Ae aegypti là nguyên nhân chính trong các vụ dịch SXHD [3] Vi rút Dengue được truyền qua vết chích (đốt) của muỗi mang mầm bệnh [2] Muỗi cái Ae aegypti
có thể hoạt động cả ngày, hoạt động kém vào ban đêm ở trong buồng có đèn sáng,
thời gian hoạt động chủ yếu vào buổi sáng sớm và chiều tối Muỗi Ae aegypti sẽ
mang virus Den sau khi đốt người bệnh, virus sẽ tồn tại và phát triển trong tuyến nước bọt sau khoảng thời gian từ 8 đến 10 ngày Sau thời gian đó muỗi nhiễm virus
có khả năng lây truyền bệnh cho người khác [26]
1.2.5 Diễn biến của bệnh SXHD
Bệnh SXHD có 3 giai đoạn lâm sàng từ nhẹ đến nguy hiểm và cuối cùng là giai đoạn hồi phục nếu vượt qua được giai đoạn nguy Hiểu rõ từng giai đoạn lâm sàng của bệnh để phát hiện bệnh sớm từ đó đưa ra chẩn đoán và hướng điều trị phù hợp và kịp thời sẽ giảm được nguy hiểm cũng như nguy cơ tử vong cho người bệnh [6], [12], [26]
Giai đoạn nhẹ (Giai đoạn sốt) người bệnh có biểu hiện lâm sàng thường gặp như sốt cao đột ngột, liên tục không được hạ sốt người bệnh có thể có biểu hiện nhức đầu, chán ăn, cảm giác buồn nôn, có thể da bị xung huyết; có trường hợp đau
cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt, khi thực hiện nghiệm pháp dây thắt cho người bệnh kết quả (+), người bệnh thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi
Trang 17Giai đoạn nhẹ không được xử lý hợp lý người bệnh có thể xuất hiện các biểu hiện nguy hiểm của bệnh (giai đoạn nguy hiểm): Giai đoạn này thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến 7 của bệnh, nếu người bệnh đáp ứng tốt với các biện pháp hạ sốt thì triệu chứng sốt sẽ giảm, còn các biện pháp hạ sốt không hiểu quả thì người bệnh có thể vẫn còn sốt Giai đoạn này có các biểu hiện sau:
- Đau bụng nhiều: người bệnh có thể biểu hiện đau bụng nhiều và liên tục hoặc người bệnh tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan
- Có trường hợp người bệnh nôn ói, vật vã, lừ đừ, li bì
- Do tăng tính thấm thành mạch làm thoát huyết tương ở người bệnh, biểu hiện này có thể kéo dài từ 24 đến 48 giờ):
+ Tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, nề mi mắt, gan to, có thể đau + Nếu thoát huyết tương nhiều có thể dẫn đến sốc (vật vã, lì bì, mạch nhỏ, huyết áp kẹp và có thể không đo được huyết áp Thời gian kéo dài bệnh nhân có thể
bị sốc nặng (nổi vân tím)
- Bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết nhiều nơi như:
+ Xuất huyết dưới da: Người bệnh nổi các nốt chấm đỏ (xuất huyết) rải rác, dấu chấm đỏ thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, đôi khi có
ở bụng, đùi, mạng sườn Có trường hợp bệnh nhân nổi thành mảng bầm tím
+ Xuất huyết ở niêm mạc: Người bệnh bị xuất huyết niêm mạc ở mũi (chảy máu mũi), lợi, có thể tiểu ra máu Đối với phụ nữ có thể kinh nguyệt kéo dài hoặc chu kỳ kinh có sớm hơn
+ Xuất huyết nội tạng: Các nội tạng có thể bị xuất huyết như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng Trường hợp nặng gây suy tạng như viêm nặng: gan, não, cơ tim Các dấu hiệu này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương
Người bệnh bước qua gia đoạn hồi phục thường vào ngày thứ 7 đến ngày thứ
10 của bệnh Người bệnh có thể trãi qua hoặc không trãi qua giai đoạn nguy hiểm Sau giai đoạn nguy hiểm 24 đến 48 giờ người bệnh có hiện tượng tái hấp thu dần dịch từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch, quá trình này có thể kéo dài 48 đến 72 giờ
- Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt, thèm ăn, huyết động ổn định, tiểu nhiều
- Có thể phát ban hồi phục hoặc bị ngứa ngoài da
Trang 18- Người bệnh có nhịp tim chậm, không đều, và có thể suy hô hấp do quá tải dịch truyền [6]
1.2.6 Phân độ SXHD
Bệnh SXHD được chia làm 3 mức độ (theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2009)
- Sốt xuất huyết Dengue
- Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo
- Sốt xuất huyết Dengue nặng [6]
1.3 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.3.1 Các nghiên cứu KAP về bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
1.3.1.1 Kiến thức
SXHD là BTN do muỗi truyền và có khả năng lây lan nhanh, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc tăng số mắc ca SXHD như điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của lăng quăng (bọ gậy) và muỗi, khu vực lưu hành SXHD quanh năm với số mắc và tử vong cao, chưa có sự phối hợp chủ động của các ban, ngành, đoàn thể trong phòng chống SXHD, ý thức của cộng đồng Để đánh giá sự hiểu biết,
ý thức và các hành vi phòng chống SXHD được người dân áp dụng các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu các vấn đề trên Một số kết quả nghiên cứu được tôi tổng hợp như sau:
Các nghiên cứu về KAP phòng chống SXHD của người dân tại, Yemen, Peru, Venezuela, Malaysia cho thấy tỷ lệ người dân biết 1 triệu chứng bệnh SXHD khá cao trên 90% [18], [23], [29], [30] Trong đó các triệu chứng được người dân liệt kê nhiều nhất là sốt (>85%), đau đầu (>76%), đau cơ (>67%) [23], [30] Tuy nhiên nghiên cứu tại Venezuela tỷ lệ người dân cho rằng đau đầu và đau cơ là triệu chứng của SXHD thấp hơn, tỷ lệ lần lượt là 57,1% và 34,3% [18]
Nghiên cứu Jelte Elsinga và công sự tại Maracay, Venezuela từ tháng 9 -
2013 đến tháng 2 năm 2014 về KAP phòng bệnh SXHD của người dân Kết quả cho thấy đa số người dân có kiến thức đúng về đường lây truyền SXHD là do muỗi đốt 95,2% [18] Ở một số nghiên cứu khu vực khác cũng có kết quả tương tự như Cambodia 96,7%, Malaysia 97,2%, Costa Rica 98% [19], [23], [24] Một nghiên cứu tương tự được thực hiện tại Viêng Chăn, thủ đô của nước CHDCND Lào năm
Trang 192015 cho thấy tỷ lệ người dân biết về đường lây truyền SXHD là 67,15% [16]
Kumaran E, Doum D, Keo V, Sokha L, Sam B, Chan V và cộng sự nghiên cứu tại vùng nông thôn của Cambodia Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiến thức của người dân về thời gian hoạt động cũng như thời gian muỗi đốt đúng khá cao, mặc
dù có 17,8% người tham gia cho rằng véc tơ truyền bệnh SXHD đốt vào ban đêm [19] Một nghiên cứu khác tại Peru ghi nhận, hầu hết ĐTNC biết rằng muỗi truyền bệnh SXHD nhưng chỉ có 18,6% đối tượng biết rằng véc tơ truyền bệnh SXHD thường hoạt động và đốt người vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối [30]
Nghiên cứu tại Viêng Chăn, thủ đô của CHDCND Lào năm 2015 của các tác giả Chanthalay Sayavong, Jiraporn Chompikul, Somsak Wongsawass, CheerwitRattanapan Kết quả nghiên cứu ghi nhận về mức độ hiểu biết của người dân về véc tơ gây bệnh SXHD như sau: Trong số những người tham gia, 61,35% biết về vòng đời của muỗi, kiến thức về nơi sinh sản của các vật trung gian truyền bệnh là 52,21% [16]
Nghiên cứu của Valerie A Paz-Soldán và cộng sự tại Iquitos, Peru năm 2015 cho thấy kiến thức về phòng bệnh SXHD của người dân như sau: Có 54,3% người dân cho rằng sử dụng màn chống muỗi là cách phòng chống muỗi hiệu quả, các biện pháp khác được người dân lựa chọn như dọn dẹp nhà cửa (46,6%), loại bỏ các thùng chứa nước không sử dụng (37,1%), đậy các DCCN 26,4%, sử dụng phương pháp hun khói để xua muỗi (17,7%), sử dụng các sản phẩm hóa chất khác nhau (13,5%), sử lý nước bằng thuốc tẩy (3,7%) [30]
Nghiên cứu về kiến thức điều trị chỉ 25,0% số người liệt kê phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh sốt xuất huyết (tức là uống paracetamol, uống bù nước hoặc đến trạm y tế), trong khi 17,1% cho biết cách điều trị các triệu chứng không phù hợp, chẳng hạn như kháng sinh hoặc tiêm chủng, và 57,9% còn lại thì không biết hoặc không đưa ra câu trả lời [31]
1.3.1.2 Thái độ
Thái độ về bệnh SXHD của người dân cũng như quan điểm của họ về sự nguy hiểm của bệnh được các nhà nghiên cứu ghi nhận như sau: Đa số người dân nghỉ họ có khả năng mắc SXHD từ 70% trở lên [18], [19], [31] Người dân cho rằng
Trang 20bệnh SXHD là bệnh nguy hiểm và có khả năng gây tử vong cao (98,1%) [18] Đa số người dân cho rằng bệnh SXHD có khả năng phòng ngừa được (78%) [19] Có 57,2% người dân cho rằng việc loại bỏ các nơi sinh sản của muỗi là trách nhiệm của cán bộ y tế [29]
Nghiên cứu KAP phòng chống SXHD và tỷ lệ lưu hành bệnh SXHD tại một
số vùng lưu hành cao ở Malaysia năm 2020 cho thấy 89,7% người tham gia mong muốn giảm các ca sốt xuất huyết trong khu vực của họ Tuy nhiên, không phải tất cả (70,5%) thường xuyên kiểm tra tình hình sốt xuất huyết tại khu vực mình sinh sống Khoảng một nửa trong số họ có nhận thức sai lầm rằng phun sương bằng hóa chất của cơ quan y tế là đủ để phòng chống sốt xuất huyết Chỉ 78,0% muốn tham gia tích cực vào việc loại bỏ nơi sinh sản của muỗi [23]
Nghiên cứu của Victoria L Egedus, José Morales Ortega & Anabelle Alfaro Obando tại Costa Rica, các tác giả đặt câu hỏi “vấn đề quan trọng nhất trong cộng đồng” có 6% người dân cho rằng sự thiếu nhân sự tại các bệnh viện, 4% cho rằng có vấn đề về sự vứt rác trên đường phố và trên sông, 3% ý kiến về vấn đề của nguồn nước, 1,3% cho rằng sự hoạt động không hiệu quả các tôt chức chính trị, 5% cho rằng bệnh SXHD hoặc sự hiện diện của quá nhiều muỗi Câu trả lời phổ biến nhất là tình trạng sử dụng ma túy 29% Một câu hỏi khác được đặt ra “Vấn đề sức hỏe chính của đất nước” có 50% người được hỏi cho rằng bệnh SXHD là vấn đề sức khỏe chính và 1,3% cho rằng có dịch bệnh SXHD do muỗi [24]
Nghiên cứu Jelte Elsinga và công sự tại Maracay, Venezuela từ tháng 9 -
2013 đến tháng 2 năm 2014 về KAP phòng bệnh SXHD của người dân Các tác giả tìm ra những lý do khiến người dân cảm thấy có nguy cơ mắc bệnh SXHD là có sự hiện diện của muỗi trong nhà (63,0%), có ao tù nước đọng gần nhà (37,0%), các trường hợp mắc SXHD ở vùng lân cận (28,8%), có núi đồi lân cận (19,2%), có sông ngòi kênh gạch (6,8%) Những lý do người dân cho rằng không phải là yếu tố gây bệnh SXHD như không có ao tù nước đọng xung quanh nhà (33,3%), không có rác xung quanh nhà (30%), sử dụng các biện pháp bảo vệ bản thân (30%), không có ca SXHD nào gần đây (23,3%), không có muỗi trong nhà (20%), Không có địa điểm sinh sản của muỗi (20%) [18]
Trang 21Victoria L Egedus, José Morales Ortega3 & Anabelle Alfaro Obando tiến hành nghiên cứu về KAP phòng chống SXHD của người dân ở một ngôi làng ven biển Thái Bình Dương của Costa Rica vào năm 2013, ghi nhận kết quả: Về kiến thức có 98% người tham gia biết rằng bệnh SXHD do muỗi truyền và 98% biết rằng muỗi sinh sản trong nước tù đọng, khi được hỏi làm thế nào để giảm số ca nhiễm SXHD trong cộng đồng 88% người tham gia đề cập đến việc loại bỏ nước tù đọng
Về thái độ của người dân về SXHD, khi được hỏi mức độ nguy hiểm đối với một người bị nhiễm bệnh SXHD thì có 157 (52%) người được hỏi cho biết nó rất nguy hiểm, 125 (42%) nói rằng nó nguy hiểm và 18 (6%) nói rằng nó không nguy hiểm, hoặc họ đã không biết Có 212 (71%) người được hỏi báo cáo rằng “các hành động phòng chống sốt xuất huyết” là rất quan trọng, 75 (25%) người cho biết các hành động này là quan trọng, 3 (1%) người cho biết các hành động đó không quan trọng
và 10 (3%) người được báo cáo họ không biết Về thực hành, qua kết quả khảo sát
có 264 điểm có thể là nơi sinh sản của muỗi, số điểm trung bình có thể là nơi sinh sản của mỗi cho mỗi nhà là 8,5 điểm, trong đó có 9% số điểm trên được kiểm tra có
sự hiện diện của ấu trùng hoặc nhộng Aedes aegypti Số lượng vật dụng có thể là nơi sinh sản của muỗi được tìm thấy trên mỗi khu đất trống từ 0 đến 6, gồm nhiều loại vật chứa như: xô nước nhỏ, chậu hoa, các vật dụng không sử dụng nhứng có thể chứa nước [24]
1.3.1.3 Thực hành
Nghiên cứu KAP về phòng chống SXHD và tỷ lệ lưu hành huyết thanh ở một
số vùng lưu hành SXHD tại Malaysia năm 2020 của Selvarajoo, S., Liew, J.W.K., Tan, W cộng sự cho thấy kết quả điều tra thực hành phòng chống SXHD như sau:
“tìm kiếm và tiêu diệt nơi sinh sản của muỗi” (95,0%), tiếp theo là “sử dụng bình xịt muỗi” (94,5%) là phương pháp kiểm soát được nhiều người tham gia lựa chọn nhiều nhất khi nào có nhiều muỗi Khoảng 53,5% trong số họ có ý thức cọ rửa thùng chứa trước khi loại bỏ thùng chứa bằng bộ sưu tập nước để loại bỏ trứng muỗi bám vào thùng chứa Phương pháp tự bảo vệ tốt nhất được chọn là loại bỏ nơi sinh sản của muỗi (80,4%), tiếp theo là 58,3% thích sử dụng thuốc đuổi muỗi [23]
Người dân ở Villa El Salvador, Lima, Peru kiểm soát muỗi bằng các sản
Trang 22phẩm dụng cụ như: bình xịt diệt côn trùng (35,0%), nhang muỗi (10,8%) và thuốc tẩy bôi sàn nhà (4,6%), hơn 21,7% số người được hỏi cho biết không làm gì để giảm muỗi Mặc dù 66,7% người dân biết rằng việc đậy các DCCN bên ngoài có thể ngăn ngừa bệnh sốt xuất huyết, chỉ có 05 người được hỏi (2,1%) cho biết họ thực sự đậy các DCCN như một biện pháp chống muỗi [31]
Nghiên cứu tại Yemen của Khaled G Saied và cộng sự năm 2015 ghi nhận trong số 780 người tham gia nghiên cứu có bể chứa nước trong nhà, 730 (93,5%; 95% CI: 91,6–95,2%) có nắp đậy cho chúng và hầu hết tất cả đều nói rằng họ đã đậy nắp ngay sau khi sử dụng Chỉ có một số ít báo cáo sử dụng các biện pháp phòng chống muỗi, chẳng hạn như màn chống muỗi (131/804; 16,3%; KTC 95%: 13,8–19,0%), màn chắn cửa sổ (59/804; 7,3%; KTC 95%: 5,6–9,4%) ) hoặc màn chắn cửa (65/804; 8,1%; KTC 95%: 6,3–10,2%), nhưng hơn 1/3 cho biết họ phun thuốc diệt côn trùng trong nhà hoặc sử dụng thuốc đuổi muỗi để ngăn muỗi đốt Khoảng 94% (755/804) nói rằng họ tìm kiếm sự trợ giúp y tế khi cảm thấy ốm [29]
Nghiên cứu của Jelte Elsinga và cộng sự tại Maracay, Venezuela năm 2018 ghi nhận có 81,3% HGĐ được thu thập dữ liệu về thực hành phòng bệnh SXHD, người dân cho biết đã sử dụng ít nhất một biện pháp để tránh tiếp xúc với muỗi Các biện pháp phòng ngừa thường được đề cập nhất là sử dụng các chất xua đuổi cá nhân, sau đó là sử dụng thuốc diệt côn trùng phun trong nhà, sử dụng quạt, sử dụng màn chống muỗi, và viên nén đuổi hoặc cuộn thuốc diệt côn trùng [18]
Các nghiên cứu tại Lào, Malaysia, Indonesia trên ĐT là người dân về kiến thức, thái độ, thực hành đều cho thấy người dân tại các địa phương này có KAP về phòng bệnh SXHD thấp Các nghiên cứu tại Malaysia, Indonesia có địa điểm nghiên cứu là ở thành thị và sử dụng điểm cắt 80% để đánh giá kiến thức chung, thái độ chung, thực hành chung của người dân tại đây Kết quả tỷ lệ người dân có kiến thức đúng của 2 nước lần lượt là (50,7%; 45,9%), thái độ chung phòng bệnh SXHD người dân 2 nước lần lượt là (46,8%; 32,0%), thực hành chung về phòng bệnh SXHD của người dân có tỷ lệ đúng rất thấp, người dân có thực hành đúng thấp hơn so với kiến thức và thái độ của họ về phòng bệnh SXHD Tỷ lệ lần lượt ở 3 nước là (50,2%, 32,0%) Nghiên cứu tại Lào sử dụng điểm cắt khác so với 2 nghiên
Trang 23cứu trên (<80%), kết quả nghiên cứu tại Lào là (KT: 51,69%, TĐ: 56,52%, TH: 52,17%) Qua kết quả nghiên cứu tại các nước lân cận Việt Nam, cụ thể nghiên cứu tại Malaysia, Indonesia nhận thấy có ĐTNC phù hợp, địa điểm nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, nên chúng tôi chọn điểm cắt tương tự với 2 nghiên cứu trên để làm cơ sở đánh giá KAP của ĐTNC
1.3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
1.3.2.1 Kiến thức
Các nghiên cứu về KAP phòng chống SXHD tại Việt Nam có kết quả nghiên cứu như sau: Kiến thức của người dân về bệnh SXHD, người dân biết đúng nguyên nhân gây bệnh SXHD có tỷ lệ khá cao trên 80% [1], [32], [33] biết đúng triệu chứng của bệnh (59,7%) [33], (61,2%) [1], (70,9%) [32] Biết về thời điểm đốt người của muỗi thấp hơn 36% [10], [33] tuy nhiên ở nghiên cứu của Trần Văn Hai,
Lê Thành Tài ghi nhận hiểu biết đúng của ĐTNC về thời điểm đốt người của muỗi lên đến 91,6% [33] Kiến thức về nơi muỗi đẻ trứng trên 58% [32], [33] Người dân thực hành phòng chống bệnh SXHD chiếm tỷ lệ trên 70% [1], [10], [32], [33]
Năm 2015 Nguyễn Ngọc Vĩnh Điền thực hiện nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng bệnh SXHD của người dân và một số yếu tố liên quan tại xã Đại Ân 2
và Viên An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng có kết quả như sau: Kiến thức của người dân về biểu hiện của bệnh 100% người được hỏi tại xã Đại Ân 2 cho rằng sốt cao liên tục là biểu hiện của SXHD, hơn 66% cho rằng xuất huyết, 19,2% người cho rằng có biểu hiện đau mõi người/đau mõi các khớp; hầu hết đều cho rằng bệnh SXHD nguy hiểm có thể gây chết người (97%) và bệnh có thể lây lan nhanh (51,5%); Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh, đường lây truyền: chỉ có 49% người được hỏi biết bệnh do virus Dengue, tuy nhiên hầu hết đều biết đường lây truyền là
do muỗi (99%) nhưng tỷ lệ người biết loài muỗi nào truyền bệnh thì chỉ có 86,9% Người dân cho rằng thời gian muỗi chích vào ban ngày chiếm 87%, hầu như mọi người đều cho rằng muỗi đẻ trong DCCN sinh hoạt, dụng cụ phế thải chứa nước mưa lần lượt là 97%, 89%; kiến thức về phòng bệnh có 100% người dân chọn cách diệt lăng quăng, 60% người dân phòng bằng cách tránh muỗi đốt, 85% chọn biện
Trang 241.3.2.2 Thái độ
Nghiên cứu của Lê Tuấn Anh và cộng sự tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên năm 2018 ghi nhận thái độ phòng chống SXHD của ĐTNC như sau: có 84,2% có thái độ đúng về khả năng mắc bệnh, có 57,2% xử lý đúng khi nghi bệnh và có 81,2% có thái độ đúng về việc sử dụng biện pháp phòng tránh, và 100%
có thái độ đúng về diệt muỗi phòng bệnh SXHD [1]
Nghiên cứu KAP và một số YTLQ đến phòng SXHD của người dân xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ người dân có thái độ phòng chống SXHD đúng là 56,5% Trong đó 85,9% đồng tình biện pháp kiểm soát muỗi, bọ gậy, 9,7% dùng hóa chất, không có ý kiến là 4,4% Có 59,4% cho rằng trách nhiệm kiểm soát muỗi, bọ gậy (lăng quăng) thuộc về cả nhà nước và nhân dân, 36,5% cho rằng trách nhiệm thuốc về nhà nước, 4,1% cho rằng người dân tự làm Để đánh giá thái độ đúng của ĐTNC, tác giả đã sử dụng điểm cắt dưới mức khá (<80%) Qua phân tích kết quả về thái độ của ĐTNC tá giả ghi nhận ĐTNC có thái độ chung đúng là 56,5% còn lại là có thái độ chưa đúng về phòng bệnh SXHD [32]
1.3.2.3 Thực hành
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng bệnh SXHD của người dân thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2016 của tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận và cộng sự cho thấy trong 220 ĐT được phỏng vấn và kèm theo quan sát thực hành phòng bệnh SXHD tại HGĐ có 57,7% HGĐ có ngủ màn nhưng chỉ có 41,8% HGĐ ngủ màn cả ngày lẫn đêm, 52,7% dùng đèn, vợt điện diệt muỗi, 47,3% phun thuốc diệt muỗi và chỉ có 21,4% dùng hương diệt muỗi Hầu hết các HGĐ tại thị trấn Vân Canh đều có trữ nước để ăn uống và sinh hoạt nhưng chỉ có 48,2% HGĐ đậy kín các DCCN để ngăn muỗi đẻ trứng Khi quan sát tình trạng vệ sinh phòng bệnh SXHD ở các HGĐ tham gia nghiên cứu cho thấy 63,2% HGĐ có súc
Trang 25rửa các DCCN ăn uống trong nhà, nhưng chỉ có 35,9% HGĐ dọn dẹp tốt phế liệu phế thải chứa nước trong và quanh nhà, chỉ có 24,1% HGĐ có thả các loài cá ăn bọ gậy vào các bể chứa nước Có 53,6% HGĐ súc rửa DCCN và 51,4% HGĐ dọn dẹp vật phế thải đúng cách, có 20,9% HGĐ trong nghiên cứu có bọ gậy Aedes [10]
Nghiên cứu của Lê Tuấn Anh và cộng sự tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên năm 2018 có kết quả như sau: Thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết: có 88,5% người dân có hành vi tốt về biện pháp diệt muỗi, có 71,5% người dân thực hiện phòng muỗi đốt, và có 44,5% quan tâm đến thông tin về SXHD [1]
Các nghiên cứu về KAP về phòng bệnh SXHD trên ĐT là người dân tại các địa phương trong nước có điểm cắt đánh giá ở mức độ trung bình khá (50% - 75%)
có kết quả thường ở mức trung bình hoặc kém Tỷ lệ người dân có kiến thức chung đúng tại An Phú – An Giang (39,6%), Vân Canh – Bình Định (36,4%), Ba Đình –
Hà Nội (56,0%), về thực hành người dân tại 3 địa phương trên có khả năng thực hành phòng bệnh SXHD rất kém (> 70% người dân có thực hành chung về phòng bệnh SXHD không đúng) [14], [16], [24]
1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
Nghiên cứu KAP liên quan đến việc lây nhiễm vi-rút sốt xuất huyết trong cư dân Aceh, Indonesia năm 2018 ghi nhận có sự tương quan thuận đáng kể giữa tình trạng kinh tế và điểm KAP, điều này cho biết kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh SXH tăng lên khi tình trạng kinh tế ngày càng tăng Có một mối tương quan thuận đáng kể giữa kiến thức-thái độ, kiến thức-thực hành và thái độ-thực hành với mối tương quan mạnh nhất được xác định cho kiến thức-thái độ Qua phân tích cho thấy những người tham gia có kiến thức tốt có khả năng có thái độ tốt về phòng bệnh SXHD cao hơn 2,66 lần (OR: 2,66, KTC 95%: 1,87–3,77) Tuy nhiên, không có mối liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức tốt và thực hành tốt (OR: 1,41; KTC 95%: 1,00–1,98) Theo dự đoán, có mối liên hệ chặt chẽ giữa thái độ tốt và thực hành phòng ngừa bệnh SXHD tốt (OR: 2,18; KTC 95%: 1,52–3,11) [17]
Nghiên cứu KAP phòng ngừa liên quan đến các biện pháp kiểm soát sinh sản
Trang 26trung gian truyền bệnh SXHD ở người trưởng thành trong cộng đồng Viêng Chăn, thủ đô của CHDCND Lào năm 2015 tìm ra các YTLQ đến KAP phòng ngừa bệnh SXHD Những người trưởng thành có hiểu biết tốt về biện pháp kiểm soát véc tơ gây bệnh SXHD có khả năng thực hành phòng ngừa chung tốt về các biện pháp kiểm soát véc tơ SXHD cao hơn 7,62 lần so với những người có kiến thức kém (95% CI: 4,11–14,12), và sự khác biệt này rất có ý nghĩa với giá trị p <0,001 Về thái độ chung về các biện pháp kiểm soát véc tơ truyền bệnh SXHD, những người trưởng thành có thái độ tích cực có hành vi phòng bệnh tốt hơn 1,26 lần đối với các biện pháp kiểm soát véc tơ sinh sản sốt xuất huyết (OR = 1,26, 95% CI = 0,73–2,19); tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê [16]
Một nghiên cứu tại Yemen năm 2015, bằng cách phân tích đơn biến và đa biến để tìm mối liên quan giữa các yếu tố khác nhau với thực hành phòng ngừa bệnh SXHD chưa đúng của người dân Kết quả cho thấy, trong phân tích đơn biến
có mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh SXHD chưa đúng với yếu tố tuổi già, TĐHV thấp, không làm công việc được trả lương, ít người trong nhà hơn, kiến thức, thái độ Trong phân tích đa biến, chỉ có TĐHV thấp và kiến thức kém về phòng bệnh SXHD có liên quan đáng kể đến các thực hành phòng ngừa kém [29]
Các nghiên cứu về KAP phòng bệnh SXHD đã tìm ra các YTLQ giữa TĐHV với kiến thức phòng bệnh SXHD của ĐTNC và thực hành của ĐT về phòng bệnh SXHD [8], [32] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiệt tại An Giang chỉ ra mối liên quan giữa giới tính và thực hành phòng bệnh SXHD của ĐTNC, xác xuất thực hành xem là đúng ở nam giới thấp hơn 68,5% so với nữ giới, KTC 95%: 0,171-0,578 [8], nghiên cứu tương tự do Lê Thành Tài và Nguyễn Thị Kim Yến không tìm thấy mối liên quan giữa giới tính và thực hành phòng bệnh SXHD [32]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền đã tìm ra mối liên quan giữa kiến thức
- thái độ, kiến thức - thực hành, thái độ - thực hành Cụ thể mối liên quan như sau:
Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống SXHD của ĐTNC ĐT
có kiến thức phòng chống SXHD đạt có thực hành đạt cao gấp 6,4 lần nhóm ĐT có kiến thức chưa đạt Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,01 Những người kiến thức đạt có thái độ đạt cao gấp 4,65 lần so với những người có kiến thức chưa đạt
Trang 27Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,01 Tỷ lệ những người thái độ đạt có thực hành đạt cao gấp 6,24 lần so với những người có thái độ chưa đạt Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,01 [11]
Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng bệnh SXHD và một số YTLQ ở người dân tộc Khmer tại xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2020 đã tìm ra mối liên quan giữa các yếu tố như giới tính, nghề nghiệp, gia đình từng có người mắc SXHD, kênh truyền thông, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế với thực hành phòng bênh SXHD của ĐTNC với p < 0,001 Cụ thể, ĐT là nữ giới sẽ thực hành đúng cao hơn 36% so với năm giới (KTC: 0,24-0,55); ĐT là nông dân hay làm thuê sẽ thực hành đúng thấp hơn 40% so với những người có nghề nghiệp khác họ (KTC: 0,25-0,64); người tiếp cận kênh truyền thông qua tivi, loa đài, NVYT có thực hành cao hơn từ 2 - 14 lần so với người không tiếp cận qua các kênh trên; Khoảng cách từ nhà ĐT đến cơ sở y tế càng gần thì tỷ lệ ĐT thực hành đúng cao hơn (dưới 1
km thực hành đúng cao gấp 52,44 làn so với ĐT có nhà xa cơ sở y tế hơn 3 km KTC: 25,4-108,1); gia đình từng có người mắc SXHD sẽ thực hành đúng thấp hơn 13% so với gia đình chưa từng có người mắc SXHD (KTC: 0,05-0,34); người có kiến thức đúng sẽ thực hành đúng cao gấp 9,49 lần so với người có kiến thức kém hơn (KTC: 5,75-15,66) [37]
Qua việc tìm hiểu các kết quả nghiên cứu của các tác giả tại Việt Nam và một số tác giả ở nước ngoài, chúng tôi nhận thấy có nhiều YTLQ đến KAP của ĐTNC Nhiều tác giả đã tìm ra mối liên quan giữa kiến thức và thái độ, kiến thức và thực hành, thái độ và thực hành, bên cạnh đó các tác giả còn tìm ra các môi liên quan về đặc điểm chung và KAP của ĐTNC như: TĐHV, nghề nghiệp, gia đình từng có người mắc SXHD…
1.5 Sơ lược về phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên
1.5.1 Đặc điểm
Đông Xuyên là phường thuộc nội ô Thành phố Long Xuyên, với diện tích 120,02 ha, dân số 13.576 người, với 2.344 hộ dân có 04 khóm và 65 tổ dân phố, chủ yếu các hộ dân tập trung vào các lĩnh vực thương mại, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ lẻ
Trang 28Hình 1.1 Bản đồ phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên
1.5.3 Các hoạt động phòng chống bệnh SXHD
Hiện nay SXHD là một trong 28 BTN bắt buộc phải giám sát và báo cáo trong hệ thống giám sát BTN của Việt Nam Các hoạt động giám sát phát hiện và đáp ứng với bệnh SXHD được lồng ghép trong hệ thống giám sát BTN nói chung
và được ưu tiên là một trong các chương trình quốc gia y tế phòng chống các bệnh dịch nguy hiểm cho cộng đồng Hoạt động thông tin báo cáo được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc Hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch BTN [5]; Thông
Trang 29tư số 15/2014/TT-BYT ngày 15/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Hướng dẫn thông tin, báo cáo hoạt động kiểm dịch y tế [4]; Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNN&PTNT ngày 27/5/2013 của Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền
từ động vật sang người [13]
Các hoạt động y tế dự phòng bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân thực hiện tốt theo chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) Các hoạt động phòng chống SXHD trên địa bàn phường Đông Xuyên thực hiện khá toàn diện, gồm giám sát ca bệnh, giám sát côn trùng, truyền thông, tập huấn, điều tra ca bệnh, xử lý ổ dịch, phun hóa chất dập dịch diện rộng, tổ chức các chiến dịch diệt lăng quăng
Công tác truyền thông phòng chống bệnh SXHD được phường xây dựng hàng năm và triển khai theo từng đợt Các hoạt động truyền thông đã được triển khai như phát thanh trên loa truyền thanh của phường 02 lần/tuần với nội dung là tuyên truyền về bệnh SXHD và các biện pháp phòng chống bệnh; Sử dụng loa lưu động phát động ở các khu vực có dịch và thực hiện chiến dịch, phát lưu động hàng tuần 01 lần về phòng chống dịch SXHD; cán bộ y tế phát tờ bướm, tờ rơi, kiểm tra kiến thức bằng phiếu điều tra…tất cả các hoạt động trên nhằm mục tiêu nâng cao sự hiểu biết của người dân từ đó chuyển đổi hành vi của người dân cùng tham gia các hoạt động phòng chống bệnh SXHD [12]
Trang 301.6 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở quyết định số 3711/QĐ-BYT ngày 19/9/2014 của Bộ Y tế về việc Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD và một số nghiên cứu KAP phòng bệnh SXHD của người dân của tác giả Nguyễn Văn Kiệt [14] và Phan Văn Sậu [22], đây là các nghiên cứu thực hiện trên
ĐT là người dân và được thực hiện trên địa bàn tỉnh An Giang
(1) PNMT: Phụ nữ mang thai; (2) SXHD: Sốt xuất huyết Dengue;
(3) DCCN: Dụng cụ chứa nước; (4) VLPT: Vật liệu phế thải.
Yếu tố nhân khẩu - xã hội học
Yếu tố tiếp cận thông tin
- Các phương tiện truyền thông được người dân sử dụng để tìm hiểu về SXHD
- Loại truyền thông mà đối tượng nghiên cứu tin tưởng nhất
Yếu tố khác
- Chương trình phòng chống SXHD của ngành Y tế
- Sư quan tâm của ban ngành đoàn thể
- Sự tham gia vào hoạt động
PC SXHD của cộng đồng
Kiến thức
- Kiến thức về khả năng lây truyền của bệnh SXHD
- Kiến thức về triệu chứng của bệnh
- Kiến thức về đường lây truyền, véc tơ truyền bệnh
- Kiến thức về phòng bệnh SXHD
- Kiến thức về các biện pháp kiểm soát bọ gây/lăng
quăng, véc tơ trung gian truyền bệnh
Thực hành
- Biện pháp ngăn muỗi sinh sản (đậy nắp DCCN 3 , dọn dẹp VLPT 4 , ao tù nước động)
- Sử dụng các biện pháp tránh muỗi đốt (ngủ mùng…)
- Sử dụng các phương pháp đuổi muỗi (sử sụng hóa chất, màn chắn, kính chắn)
- Dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, quần áo ngăn nắp
Thái độ
- Mức độ nguy hiểm của bệnh
- Lý do sử dụng biện pháp sử dụng trong phòng và diệt muỗi
- Thái độ việc sử dụng biện pháp phòng và diệt muỗi
- Thái độ về việc dọn dẹp vật phế thải chứa nước xung quanh nhà
- Thái độ về tìm kiếm thông tin về SXHD
Trang 31d2
Z2 (1 – α/2) p (1 – p)
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ hộ hoặc người đại diện cho gia đình, tuổi từ 18 trở lên thường trú tại phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Dụng cụ chứa nước, dụng cụ phế thải của HGĐ
- Nhà ở của hộ gia đình
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Chủ hộ hoặc người đại diện cho gia đình, tuổi từ 18 tuổi trở lên, đang sinh sống liên tục trên đại bàn của phường ít nhất 6 tháng trở lên
- Có khả hiểu và trả lời nội dung phỏng vấn
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Bị câm điếc, rối loạn tâm thần
- Không hợp tác, vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ 01 tháng 6 năm 2020 đến ngày 30 tháng 6 năm
2021 tại phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Thời gian thu thập số liệu: Từ ngày 18/02/2021 đến 30/3/2021
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n = Trong đó:
n: Là cỡ mẫu nghiên cứu cần có
tin cậy mong muốn là 95%, thì Z = 1,96
p1 = 0,396là tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng bệnh SXHD
Trang 32có 350 người đồng ý tham gia nghiên cứu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn HGĐ theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống:
+ Lập danh sách các HGĐ trong phường (2344 hộ), đánh số thứ tự từ 1 đến
2344 vào toàn bộ các đơn vị mẫu;
+ Xác định khoảng cách mẫu: k= 2344/350 = 6,7, chọn k = 6;
+ Chọn ngẫu nhiên hộ đầu tiên bắt đầu từ số 3;
+ Chọn các đơn vị vào mẫu: các đơn vị có số thứ tự 3+i6 (i từ 0 đến n-1) là đơn vị được chọn vào mẫu chọn đến khi đủ 350 hộ thì dừng
- Chọn đối tượng điều tra:
+ Tại mỗi hộ chọn chủ hộ để phỏng vấn
+ Trường hợp đến phỏng vấn không gặp chủ hộ: Chọn 1 người đại diện có
độ tuổi 18 trở lên, sống liên tục trên đại bàn của phường ít nhất 6 tháng trở lên am
hiểu các thông tin về gia đình
+ ĐT được chọn được phỏng vấn trực tiếp Trường hợp ĐT từ chối tham gia phỏng vấn hoặc vắng mặt sau 3 lần đến phỏng vấn thì bỏ qua và tiếp tục với các HGĐ tiếp theo trong danh sách đã được chọn
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin
Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp và quan sát thực tế thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn và bảng kiểm quan sát (phụ lục 1)
Trang 332.6.2 Kỹ thuật thiết kế bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát
- Tìm tài liệu liên quan: Các câu hỏi do nghiên cứu viên xây dựng dựa trên các mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài
- Soạn thảo bộ câu hỏi
- Chỉnh sửa và hoàn chỉnh thêm bộ câu hỏi
- Phỏng vấn thử nghiệm tại thực địa: sau khi bộ câu hỏi được xây dựng, nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn thử với bộ câu hỏi này
- Hoàn thiện bộ câu hỏi: chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung của bộ câu hỏi một cách phù hợp sau đó in ấn phục vụ cho điều tra
2.6.3 Kỹ thuật phỏng vấn, quan sát
Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích nghiên cứu cho ĐTNC, kết quả nghiên cứu chỉ dùng để nghiên cứu, được giữ bí mật, không thông báo, không ghi tên trong phiếu điều tra Đề nghị ĐT tham gia trả lời với tinh thần tự nguyện, hợp tác, trung thực với sự hiểu biết của mình
Trước khi tiến hành đánh giá theo bảng kiểm quan sát, phỏng vấn viên phải xin phép và được sự đồng ý của chủ hộ mới tiến hành quan sát, đánh giá theo bảng kiểm chuẩn bị sẵn
Quá trình thu thấp số liệu không có trường hợp không đồng ý tham gia nghiên cứu, tuy nhiên có trường hợp chủ hộ đi vắng, khi đó phỏng vấn đại diện gia đỉnh theo tiêu chuẩn lựa chọn (36 trường hợp), trường hợp chủ hộ đi vắng và không
có đại diện gia đình để thay thế thì nhờ cộng tác viên liên hệ trước và phỏng vấn cho lần tiếp theo Vì vậy, không có trường hợp ĐTNC đi vắng 3 lần không phỏng vấn được
Trang 342.7 Các biến số nghiên cứu
Nhóm biến về đặc điểm chung của ĐT nghiên cứu
- Tuổi: tính theo năm dương lịch
- Giới: là giới tính của ĐTNC
- Số nhân khẩu: Số người trong gia đình
- Gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi:
- Gia đình có phụ nữ đang mang thai
- ĐTNC đã từng mắc SXHD
- Người khác trong gia đình mắc SXHD: Trong 5 gần đây/
Nhóm biến số về yếu tố truyền thông
- Nguồn kênh truyền thông thông tin về SXHD ĐT biết đến
- Nguồn kênh truyền thông mà ĐT tin tưởng nhất
Nhóm biến về kiến thức của ĐTNC
- Kiến thức về khả năng lây truyền của bệnh SXHD
- Kiến thức về triệu chứng của bệnh
- Kiến thức về đường lây truyền, véc tơ truyền bệnh
Trang 35- Thái độ về việc sự dụng các biện pháp phòng và diệt muỗi trong nhà mình
- Thái độ về việc sử dụng các phương pháp phòng bệnh SXHD
- Thái độ về việc dọn dẹp những vật phế thải chứa nước xung quanh nhà
- Thái độ về việc quan tâm đến thông tin về bệnh SXHD
- Thái độ chung về việc phòng bệnh SXHD
Nhóm biến thực hành về phòng bệnh SXHD
- Thực hành về việc trang bị nắp đậy DCCN
- Thực hành về việc đậy nắp DCCN sau khi sử dụng
Chi tiết thông tin biến số nghiên cứu được tổng hợp theo bảng biến số nghiên
cứu (kèm theo phụ lục 03), trong đó thể hiện đầy đủ tên biến, các định nghĩa, loại
biến, phương pháp thu thập theo từng biến số nghiên cứu
2.8 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.8.1 Sai số
- Các vấn đề thường gặp khi phỏng vấn: Người được phỏng vấn cung cấp sai thông tin, không hiểu hoặc hiểu nhầm câu hỏi, đôi khi trả lời nhanh để kết thúc sớm buổi phỏng vấn Các vấn đề trên dẫn đến sai số do người cung cấp thông tin
- Sai số do người thu thập thông tin: Ghi chép sai, nhập liệu sai…
- Sai ĐT được chọn: Lỗi này do cộng tác viên chọn sai HGĐ đầu tiên và những hộ tiếp theo được chọn (NC chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống)
2.8.2 Cách khắc phục
Tiến hành thu thập mẫu thử để hoàn thiện bộ câu hỏi, tránh hỏi câu hỏi khó hiểu gây hiểu nhầm cho người được phỏng vấn
Trang 36Thái độ khi tiếp cận ĐTNC cần niềm nở nhẹ nhàng, giải thích lợi ích việc tham gia nghiên cứu, kết hợp vừa phỏng vấn vừa cung cấp thông tin về bệnh SXHD cho ĐT
Phiếu điều tra sau khi thu thập được kiểm tra, làm sạch, bổ sung những thông tin sai hoặc còn thiếu
Tập huấn cho cộng tác viên về việc chọn HGĐ đồng thời kiểm tra thường xuyên việc chọn HGĐ có đúng với danh sách đã lập trước đó
2.9 Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá
- Ý 2, 3
1 điểm
0 điểm C3 - Ý 1
- Ý 2 và 3
1 điểm
0 điểm C4 - Ý 1-4 trả lời từ được 2 ý [22]
- Ý 5, 6
1 điểm
0 điểm C5 - Ý 1 -5 trả lời từ được 2 ý [22]
- Ý 6, 7
1 điểm
0 điểm C6 - Ý 1
- Ý 2, 3
1 điểm
0 điểm C7 - Ý 1
- Ý 2,3,4,5
1 điểm
0 điểm C8 - Ý 3
- Ý 1,2,4
1 điểm
0 điểm C9 - Ý 1- 4 trả lời từ được 2 ý
- Ý 5, 6
1 điểm
0 điểm C10 - Ý 1 hoặc 2
- Ý 3, 4
1 điểm
0 điểm C11 - Ý 2
- Ý 1, 3
1 điểm
0 điểm C12 - Ý 1
- Ý 2, 3
1 điểm
0 điểm
Trang 37C13 - Ý 1-6 trả lời từ được 2 ý
- Ý 7
1 điểm
0 điểm C14 - Ý 1 hoặc 2
- Ý 3, 4, 5
1 điểm
0 điểm C15 - Ý 1- 5 trả lời từ được 2 ý
- Ý 6
1 điểm
0 điểm C16 - Mỗi ý 1-4 trả lời từ được 2 ý
- Ý 5, 6
1 điểm
0 điểm
- Được đánh giá là đạt khi trả lời đúng theo nội dung định nghĩa biến số
- Tổng cộng 16 câu hỏi kiến thức về bệnh SXHD, mỗi câu trả lời đúng được
1 điểm, tổng điểm là 16 điểm, ĐTNC trả lời đúng từ 80% số câu hỏi (≥ 12,8 điểm ta lấy ≥ 13 điểm) thì được đánh giá là có kiến thức chung đúng về bệnh SXHD [28]
- Ý 2, 3
1 điểm
0 điểm D3 - Ý 3
- Ý 1, 2, 4
1 điểm
0 điểm D4 - Ý 1 hoặc ý 2
- Ý 3, 4
1 điểm
0 điểm D5 - Ý 1 hoặc ý 2
- Ý 3, 4
1 điểm
0 điểm ĐTNC được đánh giá là có thái độ đúng về phòng bệnh SXHD khi có ý kiến ủng hộ các biện pháp phòng SXHD Mỗi câu hỏi về thái độ phòng SXHD đúng là 1 điểm, phần thái độ tổng điểm là 5 điểm, ĐT trả lời từ 80% số câu hỏi (≥ 4 điểm) được đánh giá là có thái độ chung đúng về phòng bệnh SXHD [28]
2.9.3 Thực hành
Nội dung đánh giá thực hành được xây dựng theo dạng bảng kiểm quan sát đánh giá thực tế Nội dung thực hành được đánh giá là đạt khi phỏng vấn viên quan sát thực tế đánh giá là đạt
Tổng số 10 nội dung có tổng điểm là 10 điểm ĐT cần trả lời đúng và thực hành đúng từ 80% số nội dung (≥ 8 điểm) thì được đánh giá là có thực hành chung
Trang 38đúng về phòng bệnh SXHD [28]
2.9.4 Chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều
Căn cứ quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 – 2020 [34] để áp dụng phân loại tình trạng kinh tế gia định của ĐTNC Tiêu chuẩn áp dụng cụ thể tại phụ lục 2
2.10 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập xong được tổng hợp và làm sạch, nhập liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS
Đánh giá KAP được thực hiện theo tiêu chí đánh giá tại mục 2.8 và KAP của
ĐT nghiện cứu được chia thành đúng và chưa đúng dựa trên điểm cắt 80% [28] Thống kê mô tả được trình bày bằng tần số và tỉ lệ Sử dụng phép kiểm định khi bình phương ( ) và tỉ suất chênh (Odds ratio) để xác định mối liên quan với mức ý nghĩa p<0,05
2.11 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành trên cơ sở tự nguyện tham gia của ĐTNC, hoàn toàn không ép buộc, nếu muốn dừng không tham gia thì sẽ không phỏng vấn Lĩnh vực nghiên cứu đang là vấn đề sức khỏe tại địa phương, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, không gây tổn hại nào về vật chất, tinh thần của ĐTNC Các thông tin được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối Các kết quả chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y
tế công cộng phê duyệt tại công văn số 42/2021/YTCC-HD3 ngày 08 tháng 2 năm
2021 của Hội đồng Đạo đức trong NCYSH - Trường Đại học Y tế công cộng
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra phỏng vấn 350 ĐT, cả 350 ĐT là chủ HGĐ hoặc người đại diện gia đình từ 18 tuổi trở lên am hiểu thông tin về gia đình tại phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Thông tin chung của ĐTNC được tổng hợp qua Bảng 3.1, Bảng 3.2 và Biểu đồ 3.1, 3.2
Bảng 3.1 Phân bố ĐTNC theo giới tính, nhóm tuổi, dân tộc, kinh tế gia đình
Nhận xét: Trong tổng 350 người dân tham gia nghiên cứu, có 52,6% là nam
giới, nữ giới chiếm 47,4%, ĐTNC chủ yếu là dân tộc kinh chiếm 98,6% dân tộc khác 1,4%, kinh tế HGĐ các ĐTNC nghèo chiếm 9,1%, không nghèo chiếm 90,9%
Độ tuổi ĐTNC chiếm nhiều nhất là độ tuổi ≥ 50 tuổi chiếm 36,9%, độ tuổi từ 40-49 chiếm 27,7%, độ tuổi 30-39 chiếm 20,6%, độ tuổi < 30 tuổi chiếm 14,9%
Trang 40Biểu đồ 3.1 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Người được phỏng vấn làm nghề buôn bán chiếm 36,0%, làm thuê chiếm 22,6%, CBVC chiếm 14,9%, nghề khác chiếm 26,5%
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: ĐT có trình độ học vấn chiếm tỷ lệ cao nhất là THCS 33,1%, tiểu
học chiếm 27,1%, cao đẳng, đại học trên đại học chiếm 20,0%, kế đến là THPT chiếm 15,7%, mù chữ chiếm tỷ lệ thấp nhất (4%)