1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận đống đa, hà nội, năm 2014

139 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Điều Kiện Đảm Bảo An Toàn Thực Phẩm Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Tại Các Cửa Hàng Phở Trên Địa Bàn Quận Đống Đa, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thùy Dương
Người hướng dẫn ThS. Lưu Quốc Toản, TS. Nguyễn Hùng Long
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nhiều cơ sở trên chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP, qua thanh kiểm tra còn vi phạm quy định ATTP… Trước yêu cầu cần phải có những thông tin cụ thể về thực trạn

Trang 1

NGUYỄN THUỲ DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC CỬA HÀNG PHỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THUỲ DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO AN TOÀN

THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC CỬA HÀNG PHỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành đề cương luận văn thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ Y tế Công cộng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên, gia đình và người thân

Để đạt được kết quả hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Ðào tạo Sau Ðại Học, các thầy cô giáo Trường Ðại Học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong khóa học Đặc biệt, xin cho tôi gửi lời tri ân sâu sắc tới 2 giảng viên hướng dẫn của tôi là TS.Nguyễn Hùng Long

và ThS.Lưu Quốc Toản Các thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy, hướng dẫn của các thầy đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quí báu, một tầm nhìn mới, sự tự tin trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin dành tình cảm đặc biệt và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh dạo Cục ATVSTP – Bộ Y tế, các chuyên gia và đồng nghiệp đã dành cho tôi những tình cảm, sự hỗ trợ toàn diện, quí báu giúp tôi triển khai thành công nghiên cứu này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Chi Cục An toàn Thực phẩm Hà Nội, Trung tâm Y tế quận Đống Đa và một số đơn vị y tế liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập các tài liệu liên quan tới luận văn

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Mặc dù dã rất cố gắng tuy nhiên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những mặt hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của các chuyên gia để tôi rút kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu sau này

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.Một số khái niệm 4

1.2.Một số quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống 8

1.3.Tình hình ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm trên thế giới 11

1.4.Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam 12

1.5.Thực trạng an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại địa bàn nghiên cứu 18

1.6.Khung lý thuyết 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1.Đối tượng nghiên cứu 26

2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.3.Thiết kế nghiên cứu 26

2.4.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27

2.5.Phương pháp thu thập thông tin 28

2.6.Biến số nghiên cứu 29

2.7.Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 31

2.8.Phương pháp phân tích số liệu 33

2.9.Đạo đức nghiên cứu 33

2.10 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1.Thực trạng điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở 36

Trang 5

3.2.Thực trạng kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến

chính tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014 45

3.3.Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm của người chế biến chính và điều kiện an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014 61

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 69

4.1 Thực trạng điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa 69

4.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến chính tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa 76

4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành ATTP của người chế biến chính và điều kiện ATTP tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa 82

4.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 85

KẾT LUẬN 88

KHUYẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤC LỤC 1 BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ATTP TẠI CÁC CỬA HÀNG PHỞ 97

PHỤC LỤC 2 PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI CHẾ BIẾN CHÍNH TẠI CỬA HÀNG PHỞ 100

Phụ lục 3: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 109

Phụ lục 4: THƯỚC ĐO TIÊU CHÍ 120

Phụ lục 5: BẢNG ĐIỂM ĐIỀU KIỆN ATTP TẠI CÁC CỬA HÀNG 121

Phụ lục 6: BẢNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC ATTP 123

CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN CHÍNH 123

Phụ lục 7: BÀNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THỰC HÀNH AN TOÀN CỦA NGƯỜI CHẾ BIẾN CHÍNH 124

Phụ lục 8: DỰ TRÙ KINH PHÍ 125

Phụ lục 9: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 126

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATTP An toàn thực phẩm

CSKD DVĂU Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

GCN Giấy chứng nhâ ̣n

GAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (Good Agricultures

Practice)

HACCP Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (Hazard Analysis

and Critical Control Points) NCBC Người chế biến chính

NĐTP Ngô ̣ đô ̣c thực phẩm

QĐ-BYT Quyết đi ̣nh - Bô ̣ Y tế

TTYT Trung tâm Y tế

VSATTP Vê ̣ sinh an toàn thực phẩm

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ quy hoạch quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 23

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Địa điểm và quy mô các cửa hàng phở 36

Bảng 3.2 Thời gian hoạt động và diện tích các cửa hàng phở 36

Bảng 3.3 Điều kiện vệ sinh tại các cửa hàng phở 37

Bảng 3.4 Vệ sinh dụng cụ chế biến và bảo quản tại các cửa hàng phở 38

Bảng 3.5 Vệ sinh bát ăn khách hàng sau khi rửa tại các cửa hàng phở 40

Bảng 3.6 Điều kiện vệ sinh môi trường tại các cửa hàng phở 40

Bảng 3.7 Đặc điểm vệ sinh cá nhân 42

Bảng 3.8 Một số điều kiện khác tại các cửa hàng phở 42

Bảng 3.9 So sánh điều kiện vệ sinh chung với tỷ lệ cửa hàng được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận “Cơ sở đủ điều kiện VSATTP” 44

Bảng 3.10 Thông tin chung về người chế biến chính 45

Bảng 3.11 Thời gian làm nghề tại cửa hàng của NCBC 45

Bảng 3.12 Kiến thức về thực phẩm an toàn 46

Bảng 3.13 Kiến thức về cách chọn và bảo quản thực phẩm chế biến phở 47

Bảng 3.14 Nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm trong quá trình chế biến 49

Bảng 3.15 Kiến thức về ngộ độc thực phẩm 49

Bảng 3.16 Kiến thức về một số nguyên tắc khi ngộ độc thực phẩm xảy ra 50

Bảng 3.17 Kiến thức về vệ sinh bàn tay và các hành vi/ thói quen không nên có trong khu vực KDDVĂU 51

Bảng 3.18 Hiểu biết pháp luật về ATTP của NCBC 52

Bảng 3.19 Hiểu biết về các bệnh khi mắc không được trực tiếp tiếp xúc và 53

chế biến thực phẩm 53

Bảng 3.20 Khám sức khỏe và tập huấn kiến thức về VSATTP 54

Bảng 3.21 Thực hành vệ sinh cá nhân 55

Bảng 3.22 Thực hành vệ sinh chung tại nơi làm việc 56

Bảng 3.23 Thực hành về ATTP trong chế biến thực phẩm 57

Bảng 3.24 Thực hành ATTP liên quan đến thực phẩm chín của ĐTNC 58

Trang 8

Bảng 3.25 Thực hành về ATTP trong bảo quản thực phẩm 59

Bảng 3.26 Mối liên quan giữa diện tích và điều kiện ATTP tại cửa hàng 61

Bảng 3.27 Mối liên quan giữa việc xử phạt vi phạm và điều kiện ATTP 61

Bảng 3.28 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức ATTP của NCBC 62

Bảng 3.29 Mối liên quan giữa trình độ chế biến đã qua đào tạo và kiến thức ATTP của NCBC 63

Bảng 3.30 Mối liên quan giữa việc tiếp cận với các nguồn thông tin ATTP và kiến thức ATTP của NCBC 63

Bảng 3.31 Mối liên quan giữa việc tham gia tập huấn ATTP và kiến thức ATTP của NCBC 64

Bảng 3.32 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành ATTP của NCBC 65

Bảng 3.33 Mối liên quan giữa trình độ chế biến đã qua đào tạo và thực hành ATTP của NCBC 65

Bảng 3.34 Mối liên quan giữa tiền sử kiểm tra ATTP bởi cơ quan chức năng và thực hành ATTP của NCBC 66

Bảng 3.35 Mối liên quan giữa việc tiếp cận với các nguồn thông tin ATTP 67

và thực hành ATTP của NCBC 67

Bảng 3.36 Mối liên quan giữa việc tham gia tập huấn ATTP và thực hành ATTP của NCBC 67

Bảng 3.37 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành ATTP của NCBC 68

DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 3.1 Điều kiện vệ sinh chung tại các cửa hàng phở 44

Biểu đồ 3.2 Hiểu biết về tác hại của thực phẩm không an toàn 47

Biểu đồ 3.3 Hiểu biết về quá trình ô nhiễm TP trong quá trình chế biến 48

Biểu đồ 3.4 Hiểu biết khi mắc các bệnh không đƣợc trực tiếp tiếp xúc 53

và chế biến thực phẩm 53

Biểu đồ 3.5 Kiến thức chung về ATTP của ĐTNC 54

Biểu đồ 3.6 Thực hành kiểm tra thực phẩm có bao gói của NCBC 58

Biểu đồ 3.7 Đánh giá thực hành ATTP của NCBC 60

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trong thời gian qua, các Bộ ngành có thẩm quyền về quản lý an toàn thực phẩm đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) Tuy nhiên, công tác quản lý ATTP chưa hoàn thiện cùng một loạt các vấn đề khó khăn của cơ chế thị trường dẫn đến khó quản lý và kiểm soát, đặc biệt là các loại hình sản xuất kinh doanh dịch vụ ăn uống quy mô nhỏ lẻ như các cửa hàng phở Theo Chi Cục An toàn thực phẩm Hà Nội, Đống Đa là quận có nhiều

cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (CSKD DVĂU) nhất thành phố trong đó số cơ sở kinh doanh phở/miến chiếm tỷ lệ cao nhất trên toàn quận Tuy nhiên, nhiều cơ sở trên chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP, qua thanh kiểm tra còn

vi phạm quy định ATTP… Trước yêu cầu cần phải có những thông tin cụ thể về thực trạng ATTP tại các cửa hàng phở để nâng cao hiệu quả công tác quản lý ATTP tại các cửa hàng phở nói riêng và tại các CSKD DVĂU nói chung, nghiên cứu

“Đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014” được tiến hành

Nghiên cứu triển khai từ 05/2014 đến 10/2014, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và hồi cứu số liệu Tổng cộng có 103 cửa hàng kinh doanh phở và 103 người chế biến chính được khảo sát nhằm trả lời các câu hỏi của nghiên cứu: Thực trạng điều kiện ATTP tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận ra sao? Kiến thức, thực hành của người chế biến chính (NCBC) như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng tới thực trạng trên?

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chỉ hơn một nửa các cửa hàng (51,2%) đảm bảo điều kiện ATTP, thấp hơn so với tỷ lệ cửa hàng được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận “Cơ sở đủ điều kiện VSATTP” (76,6%) 43,7 % NCBC không đạt về kiến thức và 35,9% không đạt về thực hành Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng bước đầu chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng ATTP tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa Tuy nhiên, như các nghiên cứu cắt ngang khác, nghiên cứu vẫn tồn tại những hạn chế như không có khả năng suy rộng, kết quả chỉ phản ánh tại thời điểm nghiên cứu,

Nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghị thích hợp nhằm tăng cường công tác đảm bảo VSATTP tại các cửa hàng kinh doanh phở nói riêng và các CSKD DVĂU trên địa bàn quận nói chung, góp phần nâng cao chất lượng ATTP

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

An toàn thực phẩm không chỉ tác động trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe của mọi người, mọi nhà, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội, lâu dài còn ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi của dân tộc [39] Vì thế đây đang là vấn đề được Đảng, nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm và là vấn đề bức xúc của mọi người dân Trong thời gian qua, các Bộ ngành có thẩm quyền về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đặc biệt là Bộ Y

tế đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các hoạt động nhằm bảo đảm VSATTP [47] Tuy nhiên, ngộ độc thực phẩm (NĐTP) còn khá phổ biến, ngày càng diễn biến phức tạp và khó kiểm soát

Theo báo cáo của Cục An toàn thực phẩm, trong giai đoạn 2007 - 2011, toàn quốc đã nghi nhận 927 vụ NĐTP với 30.733 người mắc và 229 người chết Trung bình có185 vụ/năm với 6147 người mắc/năm và 46 người chết NĐTP/năm [19] Năm 2013, toàn quốc có 163 vụ NĐTP với 5.348 người mắc, 4.810 người đi viện và

28 trường hợp tử vong, trong đó số vụ NĐTP xảy ra tại nhà hàng, khách sạn là 12

vụ (chiếm 7,4%) Các vụ ngộ độc có nguyên nhân do vi sinh vật là 82 vụ (50,3%),

26 vụ do độc tố tự nhiên (16%), 08 vụ do hóa chất (4,9%) và 47 vụ chưa xác định được nguyên nhân bằng xét nghiệm và lâm sàng (28,8%) [18]

Công tác quản lý ATTP chưa thực sự hoàn thiện lại phải đối mặt với một loạt với các vấn đề khó khăn cùng lúc của cơ chế thị trường như sự phát triển tràn lan của các cơ sở sản xuất, chế biến và dịch vụ ăn uống dẫn đến khó quản lý và kiểm soát, đặc biệt là các loại hình sản xuất KDDVĂU với quy mô nhỏ lẻ như các cửa hàng cơm bình dân, bún, phở

Phở là một món ăn truyền thống và cũng có thể xem là một trong những món

ăn đặc trưng nhất của ẩm thực Việt Nam Với mùi vị thơm ngon đặc trưng và sự tiện lợi trong tiêu dùng, phở được rất nhiều người ưa chuộng từ trẻ em, người lớn, người già, người bệnh và cả khách du lịch nước ngoài

Quận Đống Đa là quận nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội có diện tích là 9.960 km2 gồm 21 phường với dân số thường trú là 396.595 người Theo điều tra của Chi Cục An toàn thực phẩm Hà Nội, Đống Đa là quận có nhiều CSKD DVĂU nhất trên toàn thành phố với tổng số 971 cơ sở, trong đó số cơ sở kinh doanh

Trang 11

phở/miến chiếm tỷ lệ cao nhất trên toàn quận là 117 cơ sở Tuy nhiên, trong số các CSKD DVĂU trên chỉ có 70.7% (687/971 cơ sở) cơ sở được cấp giấy chứng nhận

đủ điều kiện VSATTP và chỉ có 66,4 % người chế biến (802/1203 người chế biến) thực phẩm tại các cơ sở trên được tập huấn kiến thức về ATTP [11]

Ngoài các cửa hàng phở lớn, được đầu tư về cơ sở vật chất và thương hiệu, đại đa số các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa đều chật hẹp, tạm bợ và không đảm bảo vệ sinh môi trường Nguồn nguyên liệu như bánh phở, thịt và nước dùng đều không đảm bảo nguồn gốc, không có hợp đồng mua bán nguyên liệu, chủ yếu vẫn được cung cấp từ các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ dẫn đến việc kiểm soát về ATTP sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn Nhiều cơ sở chưa tuân thủ các điều kiện về vệ sinh trong quá trình chế biến Nguồn nước được dùng để vệ sinh, chế biến không đảm bảo, có nơi còn dùng nước giếng khoan Dụng cụ chế biến như dao, thớt, chảo, nồi, rổ rá chưa đảm bảo vệ sinh, thớt chế biến thực phẩm sống chín còn dùng chung Thiết bị bảo quản thực phẩm như tủ lạnh, tủ đá và cách lưu trữ thực phẩm chưa đảm bảo Sản phẩm tại đa số các cơ sở có nguy cơ ô nhiễm do vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại phát hiện từ nguyên liệu, phụ gia chế biến thức ăn; nước nấu ăn; dụng cụ sơ chế, chế biến, dụng cụ ăn uống; nơi kinh doanh bị ô nhiễm bởi bụi bẩn, ruồi, côn trùng; do bảo quản và vận chuyển thức ăn không bảo đảm vệ sinh và

do bàn tay của người chế biến gây ô nhiễm thức ăn

Đã có những nghiên cứu về các CSKD DVĂU được một số tác giả thực hiện tại các địa phương nhưng nghiên cứu về từng mặt hàng cụ thể như phở, cơm… thì còn ít Trên thực tế, tại địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Do đó, việc nghiên cứu thực trạng ATTP và các yếu tố có liên quan tới thực trạng ATTP của các cửa hàng phở là cần thiết trên địa bàn là rất cần thiết cho

công tác quản lý VSATTP Với những lý do trên, nghiên cứu “Đánh giá điều kiện

đảm bảo an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014” được tiến hành

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014

2 Mô tả kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người chế biến chính tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014

3 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm của người chế biến chính và điều kiện an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội năm 2014

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Thực phẩm

Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [38]

Thực phẩm được ăn vào dưới nhiều dạng, dạng tươi sống tự nhiên như trái cây, rau sống hoặc dưới dạng nấu chín như cơm, bánh mì, thịt, cá và rất nhiều thực phẩm sau các quá trình sơ chế, chế biến như thịt hộp, cá hộp, bánh kẹo, mứt Trong suốt quá trình từ sản xuất đến sử dụng, thực phẩm đều có thể có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các tác nhân sinh học, hoá học và vật lý nếu thực hành sản xuất, chế biến, phân phối, vận chuyển, bảo quản không tuân thủ các quy định vệ sinh an toàn Khi

đó, thực phẩm có thể trở nên nguy hại đối với sức khoẻ con người và là nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thực phẩm [40]

1.1.2.2 Mối liên quan giữa an toàn thực phẩm đối với bệnh tật và sức khỏe

Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người Nếu chất lượng VSATTP không đảm bảo hoặc sẽ gây ra ngộ độc thực phẩm cấp tính, các bệnh truyền qua thực phẩm hoặc sẽ gây ra ngộ độc mãn tính, ảnh hưởng tới các chức năng, bệnh lý mạn tính như ung thư, tiểu đường, suy gan, thận, rối loạn thần kinh, rối loạn tim mạch, rối loạn tiêu hoá đặc biệt là ảnh hưởng tới phát triển giống nòi Mức độ ảnh hưởng tới tình trạng sức khoẻ tuỳ thuộc vào tác nhân gây ngộ độc có trong thực phẩm Các đối tượng có nguy cơ cao như trẻ em, người già, phụ nữ có thai, người suy giảm miễn dịch thường bị mắc nhiều hơn,

Trang 14

hậu quả tồi tệ hơn, đôi khi còn kéo theo một số bệnh liên quan khác Muốn bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phát triển giống nòi cần phải có một thị trường thực phẩm đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn [34]

Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khoẻ mà an toàn thực phẩm còn liên quan chặt chẽ đến năng xuất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại,

du lịch và an sinh xã hội Đảm bảo an toàn thực phẩm sẽ tăng cường nguồn lực, thức đẩy phát triển và góp phần xoá đói giảm nghèo [27]

1.1.3 Ngộ độc thực phẩm và các mối nguy

1.1.3.1 Ngộ độc thực phẩm

Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc [38]

Có 2 loại ngộ độc thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm cấp tính và ngộ độc thực phẩm mạn tính

Ngộ độc thực phẩm cấp tính: Là hội chứng bệnh lý cấp tính do ăn uống phải thực phẩm có chất độc, biểu hiện bằng những triệu chứng dạ dày - ruột (buồn nôn, nôn, ỉa chảy ) và những triệu chứng khác tùy theo tác nhân gây ra ngộ độc với những biểu hiện đặc trưng của từng loại ngộ độc (tê lệt thần kinh, co giật, rối loạn

hô hấp, rối loạn tuần hoàn, rối loạn vận động ) [5]

Ngộ độc thực phẩm mạn tính: Là hội chứng rối loạn cấu trúc và chức năng của tế bào, tổ chức dẫn tới những hội chứng bệnh lý mạn tính hoặc các bệnh mạn tính do sự tích lũy dần các chất độc bởi ăn uống [5]

1.1.3.2 Các mối nguy về ATTP

Các mối nguy về ATTP tại các CSKD DVĂU có thể gặp bao gồm mối nguy

ô nhiễm sinh học, mối nguy ô nhiễm hóa học và mối nguy ô nhiễm do các yếu tố vật lý

a) Mối nguy do vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng

Mối nguy gây ô nhiễm sinh học bao gồm: vi khuẩn, virus, ký sinh trùng [41]

- Vi khuẩn: Phân thành 2 loại, đó là vi khuẩn sinh bào tử (ví dụ: Cl.perfringens ) và vi khuẩn không hình thành bảo tử (Vibrio cholerae; Vibrio parahaemolyticus; Shigella; Salmonella; S aureus; Campylobacter )

Trang 15

- Vi rút: Các loại vi rút gây ô nhiễm thực phẩm như: virut viêm gan A, virut viêm gan E, Rota virus, Norwalk virus

- Ký sinh trùng: giun đũa, giun móc, giun xoắn, sán lá gan nhỏ

b) Mối nguy hoá học

Gồm những chất phụ gia thực phẩm (sử dụng những loại cấm, quá liều, không đúng chủng loại, ngoài danh mục cho phép của Bộ Y tế ); hóa chất bảo vệ thực vật; các kim loại nặng; những hoá chất lẫn vào thực phẩm (độc tố nấm mốc, kháng sinh, hormone, chất bảo quản )

Về phụ gia thực phẩm: Phụ gia thực phẩm được bổ sung một cách chủ ý, trực

tiếp hoặc gián tiếp vào thực phẩm, nhằm cải thiện kết cấu hoặc đặc tính kỹ thuật của thực phẩm đó Phụ gia thực phẩm tồn tại trong thực phẩm như một thành phần của thực phẩm với một giới hạn tối đa cho phép đã được quy định Các hóa chất này sẽ

an toàn nếu được dùng đúng giới hạn quy định và đúng chủng loại [41] Tuy nhiên, nếu sử dụng vượt quá giới hạn, không đúng chủng loại, sử dụng hoá chất không nằm trong danh mục cho phép thậm chí bị cấm có thể dẫn đến ô nhiễm thực phẩm

và gây độc cho người sử dụng, thậm chí còn có thể có nguy cơ hình thành khối u, ung thư, đột biến gen

Về hóa chất bảo vệ thực vật: Hiện nay, trên thế giới đã sản xuất rất nhiều loại

hóa chất bảo vệ thực vật khác nhau Các hóa chất bảo vệ thực vật thường tồn tại dưới dạng dư lượng trong lương thực, thực phẩm Khi người tiêu dùng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cấm, quá liều, không giữ đúng thời gian cách ly sẽ có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe, thậm chí còn ảnh hưởng tới tính mạng con người

Các kim loại nặng lẫn vào thực phẩm: Hiện nay có nhiều loại thực phẩm

thiên nhiên và thực phẩm đã qua chế biến bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng như chì (Pb); thuỷ ngân (Hg), Asen (As), kẽm (Zn), đồng (Cu) do nguyên liệu dùng chế biến thực phẩm bị ô nhiễm từ môi trường bên ngoài; do kỹ thuật sản xuất, chế biến thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, an toàn; do đồ chứa đựng, bảo quản, nấu nướng làm thôi nhiễm kim loại nặng vào thực phẩm; do nước có hàm lượng các ion kim loại nặng Khi người tiêu dùng sử dụng các loại thực phẩm này sẽ có nguy cơ bị ngộ độc cấp tính hoặc mạn tính, thậm chí dẫn đến tử vong nhanh chóng [41]

Trang 16

Các hóa chất khác lẫn vào thực phẩm: Thực phẩm bị ô nhiễm kháng sinh bởi

kháng sinh có sẵn trong thực phẩm ở trạng thái tự nhiên hoặc có thể do nhiễm vào thực phẩm từ môi trường bảo quản; do kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc có thể cho trực tiếp vào thực phẩm với mục đích bảo quản Vì vậy, người dùng thực phẩm có chứa kháng sinh có thể làm thay đổi vi khuẩn đường ruột, dị ứng, ngộ độc, gây hiện tượng kháng kháng sinh, làm mất hiệu quả khi điều trị bệnh bằng kháng sinh, thậm chí dẫn tới tử vong [41]

c) Mối nguy ô nhiễm do các yếu tố vật lý

Mối nguy vật lý bao gồm các dị vật bị lẫn vào thực phẩm như các mảnh thủy tinh, mảnh gỗ, sạn, đất, sỏi, xương, lông tóc, có khả năng gây hại cho người sử dụng như làm gẫy răng, hóc xương, làm tổn thương đến niêm mạc miệng, dạ dầy, ruột …

Ô nhiễm phóng xạ từ các sự cố như rò rỉ phóng xạ từ các trung tâm nghiên cứu phóng xạ, các nhà máy điện nguyên tử… hoặc các động vật, thực vật nuôi trồng trong vùng môi trường bị ô nhiễm phóng xạ, kể cả nước uống, sai sót trong việc bảo quản thực phẩm bằng chiếu xạ sẽ làm cho thực phẩm bị nhiễm các chất phóng xạ và gây hại cho người sử dụng khi ăn, uống phải chúng [41]

d) Mối nguy do thực phẩm biến chất

Như các chất đạm, mỡ, tinh bột bị biến chất do quá trình bảo quản không đúng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc đã quá thời hạn sử dụng thực phẩm là thời hạn mà thực phẩm vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng và bảo đảm an toàn trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãn theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Báo cáo kết quả kiểm tra hàng năm của cơ quan chưc năng và kết quả các nghiêm cứu tương tự đã được thực hiện trước đây đã cho thấy “các mẫu TP xét nghiệm nhanh và xét nghiệm vi sinh chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh còn cao, bát đĩa rửa chưa sạch” [46]

1.1.4 Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể [38]

Khái niệm cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống rất rộng lớn vì thế việc quản lý phức tạp và khó khăn Các CSKD DVĂU phải đảm bảo một số điều kiện về ATTP

Trang 17

được quy định tại Điều 28, 29, 30, Mục 4, chương IV về Điều kiện bảo đảm ATTP trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, Luật ATTP như: Bếp ăn được bố trí đảm bảo không nhiễm chéo giữa thực phẩm chưa qua chế biến và thực phẩm đã qua chế biến,

có dụng cụ thu gom rác thải, có thiết bị bảo quản thực phẩm…

Theo các định nghĩa trên, mô hình các cửa hàng phở được coi là mô hình cửa hàng ăn uống, quán ăn hay còn gọi là cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống Tuy nhiên, trên thực tế hiện các cửa hàng kinh doanh phở được chia thành 2 loại, đa số là được bày bán tại các cửa hàng, quán ăn và phục vụ cả ngày, còn lại là các quán ăn được bày bán trên đường phố, phục vụ trong một khoảng thời gian trong ngày

1.2 Một số quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Trong những năm gần đây, nhìn chung các văn bản quản lý pháp luật đã ban hành cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về đảm bảo ATTP như Luật

an toàn thực phẩm; Nghị định số 38/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm và các thông tư hướng dẫn thi hành… Theo khoản

2 Điều 3 Luật an toàn thực phẩm quy định “sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh”, theo đó, các văn bản quy định cụ thể về điều kiện đảm bảo ATTP cũng đã được ban hành như Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung đảm bảo ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Thông tư số 16/2012/TT-BYT ngày 22/10/2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói thực phẩm Đặc biệt, Thông số 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện ATTP đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố Theo các quy định trên, về cơ bản, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải đáp ứng 03 nhóm điều kiện: điều kiện về cơ sở; điều kiện về trang thiết bị, dụng cụ

và điều kiện về con người Cụ thể như sau:

Các yêu cầu chung: Bao gồm các khía cạnh: giấy chứng nhận cơ sở đủ điều

kiện ATTP, Giấy chứng nhân đã tham dự các lớp tập huấn về VSATTP; giấy khám

sức khỏe, hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu thực phẩm…

Trang 18

Về nguyên liệu tươi sống

Thực phẩm dễ bị nhiễm bẩn trong các công đoạn của dây chuyền thực phẩm Thực phẩm tươi sống lại càng trầm trọng vì các mối nguy hiểm vi sinh vật, hóa học,

lý học có thể phát sinh và tồn tại.trong suốt quá trình chế biến và xử lý

Yêu cầu: nguyên liệu tươi sống cần được lấy từ các nguồn đáng tin cậy, có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, Nguyên liệu tươi sống phải được vận chuyển và bảo quản riêng biệt

Về nước sử dụng

Nước được sử dụng trong nhiều công đoạn của hoạt động chế biến thực phẩm Nó có thể bị nhiễm các yếu tố nguy hại về vi sinh vật, hóa học và vật lý Nước nhiễm bản sẽ tạo nên mối nguy cơ lớn về sức khỏe

- Nước đá để pha chế đồ uống phải được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với QCVN số 01:2009/BYT, được vận chuyển, lưu giữ vệ sinh và an toàn

- Nếu là thực phẩm đông lạnh thì phải làm tan băng trước khi nấu

- Trang bị găng tay xử dụng một lần

Về bảo quản thực phẩm

Bảo quản đúng quy định các loại thực phẩm thường là trọng điểm đối ATTP tại các CSKD DVĂU Các thao tác sai quy cách có thể dẫn tới hình thành độc tố, phát triển mầm bệnh và tái nhiễm bẩn

Trang 19

Yêu cầu:

- Có đủ giá, kệ bảo quản làm bằng các vật liệu chắc chắn, hợp vệ sinh;

- Bảo đảm đủ ánh sáng và che chắn an toàn

- Nguyên liệu, sản phẩm thực phẩm phải đươ ̣c đóng gói và bảo quản ở vị trí cách nền tối thiểu 20cm, cách tường tối thiểu 30cm và cách trần tối thiểu 50cm

- Vật liệu xây dựng tiếp xúc với thực phẩm bảo đảm an toàn

- Có thiết bị chuyên dụng điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm (tủ lạnh, tủ đá), thông gió và các yếu tố ảnh hưởng tới an toàn thực phẩm;

- Thức ăn ngay, thực phẩm chín phải được trưng bày trên bàn hoặc giá cao cách mặt đất ít nhất 60cm; để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản, che đậy hợp vệ sinh, chống được ruồi, nhặng, bụi bẩn, mưa, nắng và côn trùng, động vật gây hại

Về cơ sở, trang thiết bị và dụng cụ nấu nướng

- Có đủ diện tích để bố trí các khu vực bày bán thực phẩm, khu vực chứa

đựng, bảo quản và thuận tiện để vâ ̣n chuyển nguyên liê ̣u, sản phẩm thực phẩm

- Không bị ngập nước, đọng nước

- Không bị ảnh hưởng bởi động vật, côn trùng, vi sinh vật gây hại

- Không bị ảnh hưởng đến an toàn thực ph ẩm từ các khu vực ô nhiễm bụi, hoá chất độc hại, các nguồn gây ô nhiễm khác

- Thiết bị, đồ nấu nướng, đồ đựng thức ăn không được làm từ vật liệu thải độc hại như chì, đồng, cadimi và phải dễ rửa sạch

- Có quy trình, chế độ vệ sinh đối với cơ sở

- Có thiết bị phòng chống côn trùng và động vật gây hại và không han gỉ, dễ tháo rời để bảo dưỡng và làm vệ sinh

Về con người:

- Chủ cơ sở và người trực tiếp kinh doanh thực phẩm phải được tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định., ngừng kinh doanh khi bị ốm (vàng da, ỉa chảy, nôn, sốt cao, viêm họng, chảy mủ tai, chảy nước mũi, viêm da )

- Người trực tiếp kinh doanh thực phẩm phải mặc trang phục bảo hộ riêng; không hút thuốc, khạc nhổ trong khu vực kinh doanh thực phẩm

- Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thực phẩm

Trang 20

Về xử lý chất thải và kiểm soát trung gian truyền bệnh

Tất cả rác thải phải được xử lý để tránh nhiễm bẩn thực phẩm, nước và môi trường Đặc biệt, phải tránh không cho trung gian truyền bệnh (côn trùng và chuột) cũng như súc vật (chó, mèo) tiếp xúc chất thải thực phẩm

Cơ sở có đủ dụng cụ chứa đựng chất thải, rác thải; dụng cụ chứa đựng ch ất thải, rác thải phải kín, có nắp đậy và được chuyển đi trong ngày Nước thải được thu gom trong hệ thống không gây ô nhiễm môi trường

1.3 Tình hình ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm trên thế giới

Càng ngày, NĐTP và các bệnh truy ền qua thực phẩm xảy ra ở quy mô rộng, nhiều quốc gia và ngày càng trở lên phổ biến, việc phòng ngừa và xử lý vấn đề này càng ngày càng khó khăn đối với mỗi quốc gia và trở thành một thách thức lớn của toàn nhân loại Hàng loạt các vấn đề liên quan đến ATTP xảy ra liên tục trên thế giới trong thời gian gần đây đã cho thấy rõ vấn đề này, như: vấn đề sữa nhiễm

Melamine tại trung Quốc (2008); E Coli O157:H7 trong bánh mỳ tại Mỹ (2009);

Bisphenol A trong đồ nhựa (2010); diethylhexyl phtalat (DEHP) trong đồ uống tại Đài Loan (2011); Benzopyrene trong mỳ ăn liền tại Hàn Quốc (2012) và gần đây nhất trong năm 2013 là Di-Ethylhexyl Adipate (DEHA) trong màng bọc thực phẩm tại Trung Quốc, Clostridium botulium trong các sản phẩm có chứa whey protein tại New Zealand…Đây là những mối nguy ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe và chất lượng cuốc sống, kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội của nhân loại

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước đang phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra [38] Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng Nước Mỹ mỗi năm vẫn có 76 triệu ca NĐTP với 325.000 người phải vào viện và 5.000 người chết [51]

Tại Anh, cứ 1000 dân có 190 ca bị NĐTP mỗi năm và chi phí cho một ca bị NĐTP mất 789 bảng Anh [4]

Tại Nhật Bản, sự cố nổ nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Fukushima năm 2011

đã gây ra những thiệt hại lớn về tài chính và con người Bộ Y tế Nhật Bản đã ra thông báo danh sách 11 loại rau quả được trồng tại tỉnh Fukushima bị phát hiện nhiễm phóng xạ vượt mức an toàn Nếu một người dùng 100 g rau có trong danh sách trong vòng 10 ngày có thể tiếp nhận mức phóng xạ tương đương với người

Trang 21

khác tiếp nhận từ môi trường trong vòng một năm Một số nước đã thông báo cấm nhập khẩu sữa và rau quả từ các tỉnh vùng bị nhiễm xạ gần nhà máy bị rò rỉ hạt nhân gây thiệt hại hơn 100 tỷ USD cho Nhật Bản

Ở các nước phát triển khác như: Hà Lan, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc…có hàng ngàn trường hợp bị NĐTP mỗi năm và chi phí hàng tỷ USD cho việc ngăn chặn nhiễm độc thực phẩm [49]

Những vụ dịch bệnh truyền qua thực phẩm và những vấn đề về ô nhiễm thực phẩm không chỉ ảnh hưởng đến cộng đồng tại địa phương mà còn nhanh chóng trở thành vấn đề sức khỏe của toàn cầu do sự phát triển nhanh của thương mại thực phẩm và du lịch quốc tế [53]

1.4 Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam

1.4.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm

Trong Theo Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gia VSATTP của

Bộ Y tế giai đoạn 2006 - 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 944 vụ NĐTP với 33.168 người mắc, làm 259 người bị tử vong, bình quân hàng năm có 189 vụ NĐTP với 6.633 người mắc và 52 người tử vong [16] Nhà nước cũng phải chi trên 3 tỉ đồng cho việc điều trị, xét nghiệm và điều tra tìm nguyên nhân Tiền thuốc men và viện phí cho mỗi nạn nhân ngộ độc do vi sinh vật tốn chừng 300.000 - 500.000 đồng, các ngộ độc do hóa chất (thuốc trừ sâu, phẩm màu…) từ 3 - 5 triệu đồng, nhưng các chi phí do bệnh viện phải chịu thì còn lớn hơn nhiều [21] Nguyên nhân NĐTP có xu hướng thay đổi, NĐTP do vi sinh có xu hướng giảm, trong khi NĐTP

do hóa chất, độc tố tự nhiên có xu hướng tăng lên Đây là một thách thức lớn đối với công tác phòng chống NĐTP

Theo báo cáo tổng kết của Cục An toàn thực phẩm, năm 2013 toàn quốc ghi nhận có có 163 vụ NĐTP với 5.348 người mắc, 4.810 người đi viện và 28 trường hợp tử vong Số vụ ngộ độc lớn (>30 người mắc) là 39 vụ (4.107 người mắc, 3.755 người đi viện và không ghi nhận trường hợp tử vong) So sánh với cùng kỳ năm

2012, số vụ ngộ độc giảm 04 vụ, số người mắc giảm 160 người, số người đi viện tăng 508 người và số người tử vong giảm 06 người; Số vụ ngộ độc lớn (≥ 30 người mắc) tang 01 vụ, số mắc giảm 167 người, số đi viện tăng 396 người, không ghi nhận trường hợp tử vong Nguyên nhân gây ngộ độc do vi sinh vật là 82 vụ

Trang 22

(50,3%), 26 vụ do độc tố tự nhiên (16%), 08 vụ do hóa chất (4,9%) và 47 vụ chưa xác định được nguyên nhân bằng xét nghiệm và lâm sàng (28,8%) Các vụ ngộ độc chủ yếu là xảy ra tại gia đình (70 vụ chiếm 42,9%); tiếp đến là tại đám cưới/ giỗ (30

vụ chiếm 18,4%), bếp ăn tập thể (23 vụ chiếm 14,1%), nhà hàng, khách sạn (12 vụ chiếm 7,4%)…[17]

Bệnh truyền qua thực phẩm là nguy cơ lớn đối với sức khỏe con người và giống nòi do sử dụng lâu dài thực phẩm không bảo đảm an toàn vệ sinh Hiện nay,

Bộ Y tế đã xác định được tỷ lệ ca bệnh truyền qua thực phẩm/100.000 dân là 7 - 22 ca/100.000 dân Cơ cấu bệnh truyền qua thực phẩm chủ yếu được ghi nhận: Tiêu chảy (75 - 89,7%), lỵ trực khuẩn (2,2 - 4,6%), thương hàn (0,5 - 1,2%), viêm gan vi rút A (0,2-0,86%) Cơ cấu nguyên nhân NĐTP cấp tính và các bệnh truyền qua thực phẩm thường gặp là do vi sinh vật và độc tố (74,5% số ca NĐTP), độc tố tự nhiên (18,75%), hóa chất (2,8%), các nguyên nhân khác chiếm 3,9% số ca [16]

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc trên Một trong những nguyên nhân là việc thực hiện các quy định về ATTP của người trực tiếp chế bến chưa tốt, kiến thức, thực hành về ATTP của người trực tiếp chế biến không tốt, điều kiện vệ sinh cơ sở không đảm bảo, nguyên liệu thực phẩm không an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản không đúng quy định

1.4.2 Thực trạng an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Trong những năm qua, các CSKD DVĂU và thức ăn đường phố không ngừng gia tăng về số lượng cơ sở và quy mô kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu với người tiêu dùng về địa điểm phục vụ, đa dạng về chủng loại thức ăn và giá cả phù hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng, phục vụ nhanh chóng và thuận tiện [9] Các CSKD DVĂU đã thực sự trở thành hệ thống cung cấp thực phẩm cho cộng đồng dân cư, góp phần tạo công ăn việc làm, đặc biệt là tại các đô thị lớn Một số người ít người hoặc không có vốn, không có khả năng lớn về cơ sở vật chất và thiết

bị dụng cụ cũng có thể làm được dịch vụ này

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên thì các CSKD DVĂU cũng đang bộc lộ những nhược điểm như: Thiếu hạ tầng cơ sở và các dịch vụ vệ sinh môi trường, thói quen vứt rác và không thu gom rác ở mặt bằng kinh doanh khá phổ biến; đa dạng, cơ động, tạm bợ và mùa vụ nên khó kiểm soát; nhận thức về ATTP

Trang 23

của người tiêu dùng còn hạn chế, đơn giản, chủ quan và dễ chấp nhận mọi điều kiện phục vụ; người kinh doanh dịch vụ ăn uống nhận thức về ATTP còn hạn chế, để tăng lợi nhuận nên việc chấp hành các điều kiện vệ sinh còn mang tính đối phó, hình thức; dụng cụ chứa đựng thực phẩm thường cũ, không đảm bảo vệ sinh… Dịch

vụ ăn uống đã và đang xuất hiện nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm đe dọa đến sức khỏe của người tiêu dùng và văn minh đô thị Quản lý ATTP tại các CSKD DVĂU đang là vấn đề cấp thiết và là mối quan tâm của các cấp, các ngành và cả cộng đồng [10]

Công tác bảo đảm VSATTP đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống

và thức ăn đường phố đã được Ủy ban nhân dân (UBND) các địa phương, các Bộ ngành chức năng, các đơn vị liên quan tích cực triển khai và đã đạt được những thành công đáng ghi nhận v ề nhận thức và trách nhiêm, về hệ thống văn bản hướng dẫn, về tổ chức quản lý, chỉ đạo … đã góp phần trong phát triển kinh tế và b ảo đảm

an sinh xã hô ̣i

Tuy nhiên, nguy cơ mất ATTP do KD DVĂU và TĂĐP còn khá cao Trong giai đoạn 2006 – 2010, việc kinh doanh thức ăn không bảo đảm VSATTP còn khá phổ biến; tỷ lệ NĐTP có nguyên nhân do thức ăn đường phố chiếm 3,2 – 5,7%, tại bếp ăn tập thể chiếm 13,1 – 20,4% tổng số vụ NĐTP ghi nhận trong mỗi năm

Công tác bảo đảm ATTP đối với KD DVĂU và TĂĐP còn nhiều khó khăn, thách thức Nguyên nhân sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các cơ sở, quy mô phục vụ; điều kiện hạ tầng cơ sở không bảo đảm; nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn; quản lý của các cơ quan chức năng không thường xuyên, hiệu quả; văn bản quản

lý kém khả thi… nên nguy cơ mất ATTP, xảy ra NĐTP diễn biến phức tạp, khó kiểm soát [20]

1.4.3 Các yếu tố liên quan đến ATTP tại các CSKD DVĂU tại Việt nam

Các yếu tố liê n quan đến ATTP tại các CSKD DVĂ U có thể bao gồm các mối nguy hại từ môi trường; thiếu nước sạch; thiếu không gian, diện tích để chế biến, vệ sinh; thực hành chế biến và bảo quản chưa đạt yêu cầu; nguyên liệu không

rõ nguồn gốc, không đảm bảo yêu cầu vệ sinh

Trong những năm gần đây, tình trạng thực phẩm không đảm bảo chất lượng đang ở mức đáng báo động Nhiều vụ ngộ độc xảy ra có liên quan đến việc sử dụng

Trang 24

thức ăn được chế biến sẵn bị ô nhiễm trong quá trình chế biến, bảo quản và lưu thông, phân phối tới tay người tiêu dùng Ngoài yếu tố chất lượng thực phẩm từ nguồn cung cấp , những yếu tố liên quan tới cơ sở vâ ̣t chất và kiến thức , thái độ, thực hành của người quản lý và người chế biến , bảo quản thực phẩm có vai trò rất lớn trong đảm bảo VSATTP

Kiến thức, thái độ và hành vi của người kinh doanh, chế biến thực phẩm,

là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo thực hiện ATVSTP Hầu hết các nghiên cứu về kiến thức, thực hành ATVSTP của các nhóm đối tượng này còn rất thấp (chung cho các nhóm đối tượng mới đạt khoảng 50%) [28, 36] Còn nhiều phong tục canh tác, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu là mối nguy ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm [1, 30, 44] Đa số ngư ời làm DVĂU nhỏ lẻ thư ờng chưa được đào tạo qua trường lớp nấu ăn Phần lớn phụ nữ nông thôn vào nội thành kiếm sống bằng giải pháp KD DVĂU Họ đã tự tạo lấy việc làm mà không cần trải qua quá trình học nghề tốn kém Quá trình kinh doanh chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chế biến thức ăn tại gia đình, học thêm từ bạn bè, họ hàng nên loại hình dịch vụ này rất phù hợp với phụ nữ đã từng quen công việc nội trợ Dịch vụ này phát triển đã tạo thêm số việc làm và cung cấp nguồn thức ăn với giá mềm hơn so với nhà hàng, khách sạn nhưng lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ Do điều kiện nước ta các vấn đề dinh dưỡng an toàn thực phẩm chưa ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân, sự coi thường và gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm còn phổ biến, các luật lệ đặt ra thường không được chấp hành nghiêm chỉnh do vậy nếu không được kiểm tra theo dõi thường xuyên, nhóm đối tượng này có nguy cơ vì lợi nhuận mà bỏ qua các quy định đảm bảo ATTP Thông qua giám sát các đối tượng này sẽ đần dần chuyển biến nhận thức từ thụ động, bắt buộc sang tự giác và chủ động, ý thức của mỗi người kinh doanh, chế biến cộng đồng sẽ ngày một nâng cao

Các yếu tố liên quan tới truyền thông , quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát, liên ngành cũng đóng vai trò rất quan tro ̣ng trong đảm bảo an toàn vê ̣ sinh thự c phẩm Từ phía ngành y tế , các hoạt động giáo dục , truyền thông, đào ta ̣o, kiểm tra sức khỏe và cấp chứng nhâ ̣n đa ̣t tiêu chuẩn vê ̣ sinh cần được thực hiê ̣n đầy đủ

Trang 25

Chính quyền địa phương và các ban chuyên trách cần đảm bả o phối hơ ̣p liên ngành đầy đủ để thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng đảm bảo VSATTP

1.4.4 Một số nghiên cứu liên quan đến ATTP tại các CSKD DVĂU

Những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực ATTP Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về các CSKD DVĂU nói chung và nghiên cứu riêng

về các cửa hàng phở

Trước đây, khái niệm “thức ăn đường phố” bao gồm quán ăn và các cửa hàng ăn, vì thế nhiều công trình nghiên cứu về thức ăn đường phố đã cho thấy điều kiện vệ sinh cơ sở của các quán ăn, cửa hàng chưa được đảm bảo và người chế biến

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác đảm bảo ATTP của cơ sở

Năm 2006, Hà Thị Anh Đào và cộng sự - Viện Dinh dưỡng đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng vệ sinh an toàn thực phầm thức ăn đường phố tại Gia Lâm,

Hà Nội và một số yếu tố liên quan” từ tháng 7 - 10/2006 Kết quả khảo sát 15 cơ sở thức ăn đường phố cố định, 15 người làm dịch vụ và 90 mẫu thức ăn chế biến sẵn tại các cơ sở đó cho thấy: 66.7% số cơ sở không đạt điều kiện về sinh môi trường,

vệ sinh nước sử dụng và vệ sinh dụng cụ ăn uống Nộm là thức ăn có tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cao nhất (87,2%) Cần thiết phải cải thiện tình trạng thức ăn đường phố tại Gia Lâm thông qua đảm bảo nguồn nước sử dụng và thực hành vệ sinh thực phẩm [22]

Kết quả nghiên cứu “Thực trạng về điệu kiện của dịch vụ thức ăn đường phố của các cửa hàng ăn và quán ăn tại thị trấn Xuân mai năm 2008” của Trần Thị Hương Giang, Chi cục VSATTP Hà Nội và cộng sự đã cho thấy điều kiện chung VSATTP tại các cửa hàng ăn chưa đạt, mức độ đạt riêng ở các tiêu chí rất khác nhau: Sử dụng nước sạch 60%; Có dụng cụ riêng gắp thức ăn sống, chín 35,6%;Nơi chế biến thực phẩm đảm bảo cách xa nguồn gây ô nhiễm 18,9%; sử dụng phụ gia 37,8%; cơ sở có tủ kính để bán hàng 66,7% Không có một quán ăn nào đạt cả 5 tiêu chí về điều kiện vệ sinh cơ sở 8/8 (100%) cơ sở không đảm bảo về nguồn gốc thực phẩm 36,2% các cơ sở đạt chỉ số kiểm tra độ sạch tinh bột của bát, đũa; 61,5% đạt chỉ số kiểm tra vệ sinh thực phẩm, hàn the trong giò, chả, bún; 66,7% đạt chỉ số axit vô cơ không có trong dấm, 60% cơ sở đạt kiểm tra độ sôi của nước uống dùng cho khách sử dụng [43]

Trang 26

Các nghiên cứu về thực trạng cơ sở vật chất của các CSKD DVĂU đã được tiến hành cho thấy tình tra ̣ng không đa ̣t tiêu chuẩn VSATTP còn phổ biến Tác giả Trần Đình Tấn mô tả thực trạng điều kiện VSATTP của các cơ sở sản xuất bún tại làng nghề Vân Tiêu xã Tân Hưng, huyện Tiên Lưc, tỉnh Hưng Yên năm 2008 cho thấy: 100% không có giấy đăng ký và chứng nhận VSATTP100%, mẫu nước không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, 8,5% có hàn the 91,5% không khám sức khỏe định kỳ, 74,5% không nghỉ khi bị bệnh, 83% không dùng bảo hộ, 8,5% bàn tay có vết xước/mụn nhọt, không rửa tay khi chế biến chiếm 72,3% [42]

Theo tác giả La Kim Luận, kiến thức, thái độ, thực hành ATVSTP của người làm trực tiếp TĂĐP tại phường Bùi Thị Xuân năm 2008 thì kiến thức đạt 74,2%, thái độ tốt 75,7% và thực hành đạt 55,71% Người có kiến thức, thái độ đúng thì thực hành đạt cao 80,7% và 88,6% ảnh hưởng bởi sự quan tâm của chủ cơ sở, công tác thanh kiểm tra của cơ quan chức năng [26]

Gần đây nhất, nghiên cứu “Kết quả triển khai mô hình cải thiện ATTP dịch

vụ ăn uông tại một số phường, thị trấn thành phố Hà Nội năm 2010-2011” của Hoàng Thị Minh Thu và cộng sự - Chi Cục ATTP Hà Nội cho thấy: Tỷ kệ các cơ sở đạt tiêu chí ATTP sau khi triển khai tăng cao hơn so với trước khi triển khai (64,1%

- 88,4%) Tỷ lệ các cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP sau khi triển khai tăng cao hơn so với trước khi triển khai (từ 52,4% tăng lên 81,6%) Tỷ lệ các xét nghiệm nhanh dụng cụ, thực phẩm đạt VSATTP sau khi triển khai tăng cao hơn so với trước khi triển khai (81,2%-90,8%) Tỷ lệ kiến thức thực hành về ATTP sau khi triển khai tăng cao hơn so với trước khi triển khai (người kinh doanh chế biến 53,4% - 84,6%) [24]

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên hầu hết được thực hiện khi Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn thực hiện như Thông tư số 15/2012/TT-BYT ngày

12 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 5 tháng 12 năm 2012 quy định về điều kiện ATTP đối với CSKD DVĂU, kinh doanh thức ăn đường phố chưa được ban hành Vì thế, việc tiến hành nghiên cứu căn cứ trên các tiêu chí trong các văn bản quy định mới là hết sức cần thiết Hơn nữa, các

Trang 27

nghiên cứu trên chưa chỉ ra được một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành ATTP của người chế biến tại các CSKD DVĂU và các cơ sở TĂĐP

1.5 Thực trạng an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại địa bàn nghiên cứu

1.5.1 Tình hình ATTP tại các CSKD DVĂU trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.5.1.1 Điều kiện vệ sinh cơ sở

Hiện nay, CSKD DVĂU đang gia tăng tại khắp mọi khu vực trên toàn quốc nói chung và tại thành phố Hà Nội nói riêng Các CSKD DVĂU thực sự đã đáp ứng được nhu cầu của ngươi tiêu dùng vệ địa điểm phục vụ, đa dạng về chủng loại thức

ăn và giá cả phù hợp với nhiều đối tượng người tiêu dùng Tuy nhiên, nguy cơ mất ATTP do KD DVĂU tại Hà Nội còn khá cao

Theo kết quả điều tra cơ bản tháng 02.2011 trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện đang quản lý 26.129 CSKD DVĂU Theo quy định của pháp luật, các cơ sở đó phải được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP thì mới được hoạt động nhưng số lượng đã được cấp GCN còn rất hạn chế mới đạt 61.8% (16.138 có GCN/26/129 cơ sở) Điều tra cơ bản tháng 02/2012 cho thấy các CSKD DVĂU có GCN đạt 18737/27656 cơ sở chiếm 67.8%

Năm 2012, toàn thành phố có 16.271 cửa hàng ăn uống, quán ăn, cửa hàng bán thức ăn chín Đa số các cửa hàng đều không đảm bảo về diện tích mặt bằng, trang thiết bị chế biến, bảo quản và phân chia thức ăn; quy mô các cơ sở thường nhỏ, lẻ; Điều kiện vệ sinh cơ sở và vệ sinh môi trường hầu như không đảm bảo; người trực tiếp chế biến, kinh doanh thiếu hiểu biết về kiến thức và các quy định pháp luật về ATTP Các cửa hàng ăn uống, quán ăn thường ít có khả năng lắp đặt hệ thống nước máy của thành phố tại địa điểm bán hàng Dụng cụ ăn uống và nấu nướng không được rửa sạch, tình trạng chỉ dùng một vài chậu nước tráng bát đũa cho hết thức ăn dính vào rồi dùng khăn lau lại là hiện tượng thường gặp ở các quán

ăn vào tầm đông khách Các trang thiết bị và dụng cụ không đảm bảo vệ sinh, gây thôi nhiễm hóa chất độc hại, làm ô nhiễm thực phẩm hoặc gây sứt vỡ các mẫu dụng

cụ, cát bụi…vào trong thực phẩm Điều tra cơ bản tháng 02/2012, chỉ có 69.2% các cửa hàng ăn uống, quán ăn bán thức ăn chín có GCN đạt

Trang 28

Diện tích kinh doanh của các cửa hàng ăn uống, quán ăn còn hạn chế, phần lớn vừa là nhà ở, vừa dùng để kinh doanh hoặc là thuê lại những vị trí tạm thời, không ổn định Do đó, quy trình chế biến bố trí chưa theo nguyên tắc một chiều Phần lớn các cơ sở có một phòng vừa chế biến, vừa nấu nướng, vừa phân chia thức

ăn và thiếu diện tích để kê đủ các bàn theo yêu cầu chế biến

Do đặc điểm phục vụ ở nơi đông người qua lại như các đầu mối giao thông, chợ, trường học, bệnh viện…nên không khí xung quanh thường bị nhiễm bụi bẩn Cống rãnh ứ đọng nước bẩn, rác thải ở các khu chợ, bến tàu, bến xe không được dọn dẹp ngay thường tạo điều kiện cho ruồi, nhặng phát triển dễ gây ô nhiễm thức

ăn nhất là với các món ăn chế biến với khối lượng lớn, thời gian bán ở nhiệt độ bình thường kéo dài Do nơi kinh doanh chật trội, thiếu thốn dụng cụ và do lợi nhuận kinh doanh nên hiện tượng dùng chung dao thớt hoặc để thực phẩm tươi sống cạnh thức ăn chín gây nên sự ô nhiễm chéo còn phổ biến Việc sử dụng phụ gia thực phẩm không có trong danh mục được phép sử dụng trong thực phẩm để tăng lợi nhuận vẫn còn thường xuyên xảy ra Bàn tay của người chế biến không được rửa sạch sau khi tiếp xúc với thực phẩm sống hoặc vừa nhận tiền xong lại cầm vào thức

ăn còn khá phổ biến

Theo nghiên cứu năm 2008 của Viện Dinh Dưỡng tại khu vực Chợ Đồng Xuân (32 cơ sở) và Thanh Xuân Bắc (29 cơ sở), số cơ sở TĂĐP không đạt về vệ sinh cơ sở là trên 70% Trong đó dụng cụ chứa nước có nắp đậy chỉ chiếm 34,4% (khu vực Chợ Đồng Xuân); 10,3% (Khu vực Thanh Xuân Bắc)

Theo điều tra tháng 2/2011 của Chi Cục An toàn thực phẩm Hà Nội:

+ Của hàng ăn uống, quán ăn, của hàng bán thức ăn chín: Tỷ lệ các cơ sở được cấp GCN đủ điều kiện ATTP là 10540/16.738 cơ sở (đạt 63%)

+ Nhà hàng, khách sạn: Hầu hết các khách sạn do tuyến thành phố quản lý

Trang 29

+ Dịch vụ ăn uống trong siêu thị : Tỷ lệ các cơ sở được cấp giấy chứng nhận

đủ điều kiện ATTP là 78/101 (Đạt 77,2%)

+ Hàng rong về ăn uống: Tỷ lệ các cơ sở được cấp giấy chứng nhận dù điều kiện ATTP là 02/271 ( Đạt 0,74%)

Kết quả điều tra năm 2012 cho thấy tỷ lệ các cửa hàng ăn uống, quán ăn, cửa hàng bán thức ăn chín được cấp GCN đủ điều kiện ATTP là 11266/16.271 cơ sở (đạt 69,2%) [9]

1.5.1.2 Kiến thức, thực hành của người chế biến thực phẩm

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh người trực tiếp chế biến, phục

vụ ăn uống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác bảo đảm ATTP Kinh nghiệm trên thế giới chỉ ra rằng, trong mọi việc làm khi cộng đồng có nhận thức và thực hành tốt thì sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt, vì vậy người trực tiếp chế biến thực phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác ATTP Thuật ngữ “Vệ sinh thực phẩm” gắn liền với “Vệ sinh cá nhân” Nghiên cứu ở Indonesia, Nigeria, Ấn

Độ, Colombia đã xác nhận rằng, việc gây ô nhiễm vi khuẩn trong thực phẩm có thể giải quyết được bởi người chế biến thực phẩm và phục vụ bữa ăn [52]

Khảo sát tình hình thực hành vệ sinh cá nhân của các nhân viên trực tiếp chế biến và tiếp xúc với thực phẩm trong các cửa hàng ăn uống, quán ăn tại 11 quận, thị

xã của Thành phố Hà Nội năm 2010 cho thấy tỷ lệ nhân viên không được trang bị bảo hộ lao động, đeo đồng hồ, trang sức và để móng tay dài trong quá trình chế biến thực phẩm là 59,2% Nhân viên trực tiếp phục vụ trong các cửa hàng ăn uống thường xuyên thay đổi nên việc tập huấn, khám sức khỏe còn gặp nhiều khó khăn

và hạn chế [9]

1.5.2 Thực trạng ATTP tại các cửa hàng phở

Đối với vấn đề an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở, phạm vi ảnh hưởng

là lớn do phở là một món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam Bún, phở được xếp vào danh sách nhóm thực phẩm thường xuyên dùng của người Việt chỉ sau cơm

Do nhu cầu sử dụng và thuận tiện nên phở được sử dụng trong cả ngày: bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, bữa ăn đêm và được bày bán để phục vụ cho đông đảo các đối tượng, tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những đối tượng vì công việc nên không

Trang 30

thể dùng bữa tại gia đình như: sinh viên, thí sinh khi đi thi, nhân viên, người lao động, những người xa nhà hoặc đi công tác Điều này cho thấy phạm vi ảnh hưởng của nó đến đại đa số người dân Hiện nay, các cơ quan quản lý mới chỉ kiểm tra xác suất và hoạt động thanh kiểm tra chưa được tiến hành thường xuyên nên tình hình ATTP tại các CSKD DVĂU đặc biệt tại các cửa hàng kinh doanh phở chưa đảm bảo, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và văn minh đô thị trước mắt và lâu dài

Vì đặc tính dễ ăn và thuận tiện trong việc chế biến nên đối tượng sử dụng phở rất nhiều: từ trẻ em, người lớn, người già, người bệnh và cả khách du lịch nước ngoài vì phở là món ăn nằm trong danh sách món phải thưởng thức khi đến thăm Việt Nam Người nước ngoài đến Việt Nam không ai là không háo hức được một lần thưởng thức món ăn trứ danh này Một phóng viên nước ngoài đã viết gần đây “Bát phở ngon nhất nằm ở những hàng quán không sạch sẽ, với những người bán hàng thô lỗ, dòng người xếp hàng dài và môi trường tồi tàn nhất” [37] Thông tin từ Sở VH-TT&DL Hà Nội cho biết, lượng khách quốc tế đến Hà Nội năm 2013 ước đạt 2,58 triệu lượt, tăng 12,2% so với năm 2012 [1] Với lượng khách quốc tế đông đảo như vậy thì việc đảm bảo ATTP tại các CSKD DVĂU nói chung và tại các cửa hàng kinh doanh phở nói riêng nhằm giảm tối đa tình trạng NĐTP là rất cần thiết, giúp cho hình ảnh Hà Nội an toàn hơn trong mắt khách du lịch quốc tế Khi có

vụ việc nào xảy ra thì sẽ tạo những ấn tượng xấu về hình ảnh con người và đất nước Việt Nam trong lòng du khách Mỗi người kinh doanh buôn bán cũng như người chế biến nên có ý thức hơn về nghề nghiệp của mình, bởi vì ẩm thực cũng là một trong những nhân tố thu hút khách du lịch đến với đất nước Việt Nam nói chung và những vùng miền nói riêng, mang trong mình những bản sắc của vùng đất đó

Hà Nội là 1 trong 2 địa phương có số lượng cơ sở thực phẩm nhiều nhất và cũng đứng thứ nhất trên toàn quốc về số lượng cơ sở kinh doanh phở (1089 cơ sở) [11] Điều này cho thấy sự phức tạp trong quản lý ATTP tại đây

Theo kết quả kiểm tra, giám sát các các cơ sở kinh doanh DVAU 6 tháng đầu năm 2013 cho thấy: trong số 68 cơ sở được kiểm tra, có 37 cơ sở (54.4%) vi phạm các điều kiện về ATTP, 42/68 cơ sở còn tồn dư tinh bột và dầu mỡ trên bát/đĩa sau khi rửa sạch chiếm 61.7%, trong số 37 mẫu bánh phở, bún có 12 mẫu (32.4%)

Trang 31

nhiễm hóa chất Nhìn chung, ngoài các cửa hàng phở lớn, được đầu tư về cơ sở vật chất và thương hiệu theo tiêu chuẩn, còn đại đa số các cửa hàng đều chật hẹp, tạm

bợ, nhếch nhác và không đảm bảo vệ sinh môi trường Nguồn nguyên liệu như bánh phở, thịt và nước dùng đều không đảm bảo nguồn gốc, không có hợp đồng mua bán nguyên liệu, chủ yếu vẫn được cung cấp từ các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ dẫn đến việc kiểm soát về ATTP sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn Nhiều cơ sở không tuân thủ các điều kiện về nguyên tắc vệ sinh trong quá trình chế biến, cơ sở vật chất xuống cấp Nguồn nước được dùng để vệ sinh, chế biến cũng không đảm bảo, có nơi còn dùng nước giếng khoan Dụng cụ chế biến như dao, thớt, chảo, nồi, rổ rá còn chưa đảm bảo vệ sinh, thớt chế biến thực phẩm sống chín còn dùng chung Thiết bị bảo quản thực phẩm như tủ lạnh, tủ đá và cách lưu trữ thực phẩm cũng chưa đảm bảo Tác nhân gây ô nhiễm thực phẩm thường là vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại được phát hiện từ nguyên liệu, phụ gia chế biến thức ăn; nước nấu ăn; dụng cụ sơ chế, chế biến, dụng cụ ăn uống; nơi kinh doanh bị ô nhiễm bởi bụi bẩn, ruồi, côn trùng; do bảo quản và vận chuyển thức ăn không bảo đảm vệ sinh và do bàn tay của người chế biến gây ô nhiễm thức ăn

1.5.3 Tình hình ATTP trên địa bàn quận Đống Đa

Đống Đa là một quận nội thành, trung tâm của thủ đô Hà Nội, được Chính phủ xác định là Trung tâm hành chính - chính trị quốc gia Quận Đống Đa có diện tích là 996 km2 gồm 21 phường với dân số thường trú là 396.595 người nhiều nhất trong các quận, huyện của Hà Nội với tổng số trẻ em dưới 5 tuổi là 27226, tổng số người cao tuổi là 32799

Trang 32

Hình 1.1 Bản đồ quy hoạch quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

Theo báo cáo của TTYT quận, hiện nay trên địa bàn quận Đống Đa có 157

cơ sở sản xuất, 1223 cơ sở kinh doanh thực phẩm và 2137 cơ sở dịch vụ ăn uống Trong số cơ sở dịch vụ ăn uống, có 103 cơ sở kinh doanh phở với tổng số 186 người trực tiếp chế biến và phục vụ Với số lượng lớn về cơ sở và đa dạng về loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm nên việc bảo đảm ATTP trên địa bàn là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bao quát được thường xuyên thể hiện qua các đợt kiểm tra hàng năm như các cơ sở được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP còn thấp, các mẫu thực phẩm xét nghiệm nhanh và xét nghiệm vi sinh chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh còn cao, bát đĩa rửa chưa sạch Hiện tại việc quản lý nhà nước về ATTP đối với các CSKD DVAU

và TAĐP chỉ chủ yếu qua tuyên truyền và vận động nên vẫn chưa đủ sức răn đe

Trên địa bàn thành phố Hà Nội, quận Đống Đa là quận có nhiều cửa hàng phở nhất (103 cơ sở), chiếm 9,31% tổng số cơ sở của 29 đơn vị hành chính cấp huyện Mặc dù những năm qua trên địa bàn quận Đống Đa chưa có vụ ngộ độc thực phẩm lớn xảy ra nhưng qua khảo sát nhanh 5 cửa hàng kinh doanh phở tại đây thì cả

5 cửa hàng đều rất chật chội, sập xệ, vị trí nằm ở cạnh cống rãnh, không che đậy bụi Các cửa hàng đều không có khu chế biến riêng Khu vệ sinh, chế biến nguyên liệu không có hệ thống nước thải kín mà thường chế biến trực tiếp trên nền đất, vỉa

hè và đổ trực tiếp nước thải ra cống rãnh trước cửa hàng Nguồn nước sử dụng để chế biến, vệ sinh không đảm bảo, có nơi cả ngày chỉ dùng vài xô nước để chế biến,

Trang 33

rửa chén bát Nguồn thực phẩm nguyên liệu chưa rõ ràng, hầu hết không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu Nhân viên chế biến đa số chưa được khám sức khỏe và tập huấn kiến thức về ATTP nên hiểu biết về ATTP của các nhân viên này còn rất hạn chế, điều đó sẽ tác động đến việc thực hành đảm bảo ATTP của họ tại các cơ sở này

Thêm vào đó, do Phở là một món ăn rất quen thuộc chỉ sau cơm nên có thực trạng một số cửa hàng kinh doanh nhiều loại thực phẩm cùng một lúc như cửa hàng cơm, phở bình dân vừa kinh doanh cơm và kinh doanh thêm cả phở, bún, miến, cháo, gà tần Những cửa hàng kinh doanh nhiều mặt hàng như vậy lại thu hút khá đông khách vì đa dạng chủng loại, muốn ăn gì cũng có Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cửa hàng này rất khó khăn do diện tích khu chế biến có hạn và số lượng nhân viên ít mà phải chuẩn bị, chế biến quá nhiều mặt hàng và phục vụ quá nhiều người một lúc Bát, đũa và dụng

cụ chế biến thường xuyên dùng chung giữa thực phẩm sống và chín Tủ lạnh thường xuyên trong tình trạng đầy ắp thịt, cá, trứng, rau sống, chín lẫn lộn Điều này sẽ tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mất ATTP

Bảo đảm ATTP đang là hoạt động mà y tế công cộng coi trọng, được cả nước quan tâm và tham gia Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng ATTP tại các CSKD DVĂU nói chung và các cơ sở kinh doanh phở nói riêng để tìm hiểu thực trạng điều kiện vệ sinh an toàn cơ sở, trang thiết bị, dụng cụ, con người và mức độ ô nhiễm của các cửa hàng phở đến đâu, còn kém về mặt nào để có kế hoạch can thiệp phù hợp và kịp thời là vô cùng cần thiết

Trang 34

1.6 Khung lý thuyết

CỬA HÀNG PHỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA

(Quy mô cơ sở, Địa điêm, Thời gian hoạt động, Diện tích)

CHẾ BIẾN CHÍNH

- Tuổi, giới

- Trình độ học vấn, trình độ nấu ăn

- Thời gian làm nghề tại cửa hàng

Điều kiện vệ sinh môi trường

- Vệ sinh môi trường chung

- Nguồn nước sử dụng

- Thùng chứa rác, thức ăn thừa,…

Vệ sinh dụng cụ chế biến,bảo quản

- Kiến thức/hiểu biết pháp luật về ATTP

Thực hành ATTP của NCBC

- Thực hành vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung

- Thực hành về ATTP trong chế biến và bảo quản thực phẩm

Vệ sinh cá nhân và điều kiện khác

- Khám sức khoẻ

- Tập huấn kiến thức về ATTP

- Giấy chứng nhận điều kiện ATTP,…

biến đã qua đào

tạo chưa cao

Trang 35

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Cửa hàng phở

Các cửa hàng phở trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội tại thời điểm nghiên cứu Các cửa hàng phở được lựa chọn vào nghiên cứu cần đáp ứng được các yêu cầu theo định nghĩa về cửa hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống tại mục 1, điều 2 thông

tư 30/2012/TT-BYT Cụ thể, các cửa hàng phở được lựa chọn là cơ s ở có tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn ngay có đi ̣a điểm cố đi ̣nh

Các hàng phở theo định nghĩa tại mục 2, điều 2 thông tư 30/2012/TT-BYT là các cơ sở thuộc diện kinh doanh thức ăn đường phố (loại hình kinh doanh th ực phẩm, thức ăn, đồ uống để ăn ngay , uống ngay được bán rong trên đư ờng phố hay bày bán t ại những địa điểm công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội) hoặc ở những nơi tương tự) sẽ không được chọn vào nghiên cứu

2.1.2 Người chế biến chính

Người chế biến chính đươc lựa chọn vào nghiên cứu là người tham gia trực tiếp chế biến nhiều suất ăn nhất tại cửa hàng Cụm từ “người chế biến” được đề cập trong nghiên cứu này là người lao động tại cửa hàng phở có thực hiện một hoặc một

số công việc như nấu ăn, sơ chế, phục vụ

Tại mỗi cửa hàng phở được lựa chọn tại Mục 2.1.1 vào thời điểm nghiên cứu, nghiên cứu khảo sát 01 người chế biến chính Với những cửa hàng có sử dụng nhiều người chế biến chính và phân ca làm việc, người chế biến chính được chọn là người đang làm việc tại cửa hàng tại thời điểm nghiên cứu Với những cửa hàng sử dụng

từ 02 người chế biến chính trở lên tại cùng một thời điểm, người chế biến chính được chọn là người đầu tiên nghiên cứu viên quan sát được khi tới cửa hàng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014

- Địa điểm: Quận Đống Đa, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng

Trang 36

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Mô tả điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cửa hàng phở

- Toàn bộ các cửa hàng kinh doanh phở trên địa bàn quận Đống Đa được

chọn để đánh giá điều kiện ATTP theo các tiêu chí quy định tại Thông tư số 30/2012/TT-BYT quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố [6]

Các cửa hàng phở được chọn thỏa mãn các tiêu chí về đối tượng nghiên cứu quy định tại mục 1 Theo số liệu thống kê tính đến tháng 8/2013 của Chi Cục ATTP

Hà Nội và Trung tâm Y tế quận Đống Đa hiện có 117 cửa hàng kinh doanh phở Tuy nhiên, thực tế khi triển khai thu thập số liệu trên địa bàn chỉ còn tổng số 103 cửa hàng đang hoạt động do một số cửa hàng đã nghỉ hoặc chuyển địa điểm kinh doanh khác và mới chuyển đến

- Chọn bát dùng chứa đựng thực phẩm ở các cửa hàng phở để khảo sát nhanh chỉ số sạch tinh bột và dầu mỡ: mỗi cửa hàng chọn xét nghiệm ngẫu nhiên 02 mẫu bát đã được rửa để tái sử dụng, đánh giá nhanh dư lượng tinh bột, dầu mỡ còn tồn đọng sau khi rửa Bát được chọn xét nghiệm đã được rửa để tái sử dụng là bát ăn được dùng cho đại bộ phận khách hàng sử dụng dịch vụ tại cửa hàng Tổng số có

Người chế biến chính là người chịu trách nhiệm thực hiện công việc nấu chính tại cửa hàng, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Những người chỉ thực hiện công việc sơ chế hoặc công việc phục vụ tại cửa hàng không được coi là người chế biến chính được khảo sát trong nghiên cứu

Trang 37

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

Để đảm bảo việc thu thập thông tin được thuận lợi trong bối cảnh các cơ sở kinh doanh rất bận rộn trong việc cung cấp dịch vụ, nhóm nghiên cứu khảo sát mỗi

cửa hàng phở bao gồm 2 điều tra viên: Một điều tra viên phụ trách 2 nội dung Mô tả

điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và Thu thập số liệu thứ cấp; Một điều

tra viên phụ trách 2 nội dung Khảo sát nhanh chỉ số tinh bột và dầu mỡ trên bát ăn

sau khi rửa và Khảo sát kiến thức, thực hành của người chế biến chính

thu thập

Đối tượng thực hiện

Công cụ thu thập

1 Mô tả điều kiện

đảm bảo vệ sinh

an toàn thực

phẩm

Quan sát kết hợp với sử dụng hồ sơ, phiếu khám sức khoẻ, hợp đồng mua bán nguyên liệu để chấm điểm

Nghiên cứu viên 1

Bảng kiểm quan sát

2 Khảo sát nhanh

chỉ số tinh bột và

dầu mỡ trên bát

ăn sau khi rửa

Quan sát kết quả khảo sát Nghiên cứu

viên 2

Quan sát kết quả khảo sát

3 Kiến thức, thực

hành của người

chế biến chính

Phỏng vấn trực tiếp và quan sát kỹ năng thực hành của NCBC trong thời gian chế biến thực phẩm

Nghiên cứu viên 2

Bộ câu hỏi định lượng

Nghiên cứu viên 1

Hồ sơ, hợp đồng, GK, tài liệu, sổ sách, báo cáo, văn bản pháp luật…

Trang 38

2.6 Biến số nghiên cứu (chi tiết xem Phụ lục 3)

Biến số nghiên cứu được xây dựng để trả lời các mục tiêu nghiên cứu Biến số nghiên cứu gồm 2 nội dung chính:

- Các biến số liên quan tới Điều kiện đảm bảo ATTP tại các cửa hàng phở (6 nhóm biến số):

 Thông tin chung (4 biến số): quy mô cơ sở, địa điểm,…

 Điều kiện vệ sinh cơ sở (3 biến số): vị trí của bếp nấu, thiết kế và tổ chức của bếp,…

 Vệ sinh dụng cụ chế biến và bảo quản (6 biến số): dụng cụ chế biến thực phẩm, thiết bị bảo quản thực phẩm, …

 Điều kiện vệ sinh môi trường (5 biến số): Vệ sinh môi trường chung, Dụng cụ chứa đựng nước sạch, …

 Vệ sinh cá nhân và các điều kiện khác (7 biến số): Khám sức khoẻ, Tập huấn kiến thức về ATTP của người chế biến,…

 Khảo sát chỉ số tinh bột, dầu mỡ trên bát ăn sau khi rửa: Dư lượng tinh bột

và dầu mỡ trên bát ăn sau khi rửa sạch

- Các biến số liên quan tới Kiến thức, thực hành ATTP của NCBC tại các cửa hàng phở (3 nhóm biến số):

 Thông tin chung (5 biến số): Trình độ học vấn, Trình độ nấu ăn đã qua đào tạo, …

 Kiến thức về ATTP của người chế biến chính:

 Kiến thức về thực phẩm (7 biến số): Cách chọn thịt bò tươi, an toàn, Cách bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh, …

 Kiến thức về ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm (8 biến số): Mẫu thực phẩm, bệnh phẩm cần giữ lại khi bị NĐTP, Nơi báo cáo khi ngộ độc thực phẩm xảy ra, …

 Kiến thức/hiểu biết pháp luật về ATTP (5 biến số): Quy định tập huấn ATTP, Quy định về khám sức khỏe, …

Trang 39

 Thực hành về ATTP của người chế biến chính:

 Thực hành vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung (11 biến số): Ghi chép giao nhận thực phẩm hàng ngày, Thu gom rác thải,…

 Thực hành về ATTP trong chế biến và bảo quản thực phẩm (9 biến số): Thực hiện quy trình chế biến thực phẩm, Nơi sơ chế thực phẩm (nhặt rau, thái thịt ),…

Trang 40

2.7 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Các khái niệm

Dựa theo thông tư số 30/2012/TT-BYT ban hành ngày 5 tháng 12 năm 2012

quy định về điều kiện ATTP đối với CSKD DVĂU, kinh doanh TĂĐP:

- Cửa hàng phở: là cơ sở đáp ứng được các yêu cầu theo định nghĩa về của

hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống tại mục 1, điều 2 thông tư 30/2012/TT-BYT

- Người chế biến chính: là người tham gia trực tiếp chế biến nhiều suất ăn

nhất Với “Chế biến thực phẩm” là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành

nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm

2.7.2 Thước đo các tiêu chí

- Thông tư số 30/2012/TT-BYT quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối

với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố

- Thông tư số 15/2012/TT-BYT quy định về điều kiện chung bảo đảm an

toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm

2.7.3 Tiêu chuẩn đánh giá

2.7.3.1 Đánh giá về điều kiện vệ sinh cơ sở, vệ sinh dụng cụ, vệ sinh trong chế biến, bảo quản thực phẩm

Điều kiện ATTP của cửa hàng ăn bao gồm 4 mục lớn tổng số 42 tiêu chí (Chi

tiết xin xem Phụ lục 4) Trong đó có 2 tiêu chí liên quan đến nước sạch do điều kiện

nghiên cứu hạn chế về nguồn lực không đánh giá chính xác được nên không tính điểm, 40 tiêu chí còn lại mỗi tiêu chí đạt tương ứng với 1 điểm

Dựa vào đánh giá quan sát, cho điểm điều kiện ATTP tại các cửa hàng ăn Nếu cửa hàng ăn đạt 40 điểm tức 100% các tiêu chí là đạt đủ điều kiện ATTP theo

quy định ban hành Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu cho thấy, tại thời điểm khảo sát,

không có bất cứ cửa hàng nào đảm bảo 100% số tiêu chí đề ra Tham khảo một số nghiên cứu về chủ đề tương tự, nghiên cứu quyết định lựa chọn mốc 70% (tương đương 28 điểm) làm giới hạn phân định các cơ sở đạt hoặc không đạt về điều kiện ATTP để tìm hiểu các yếu tố liên quan [22, 31, 35] Những cửa hàng ăn đạt từ 28 điểm trở lên được đánh giá là đạt điều kiện ATTP chung Những cửa hàng ăn dưới

Ngày đăng: 02/12/2023, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đa ̣o liên ngành về Vê ̣ sinh an toàn thƣ̣c phẩm (2007), Báo cáo đánh giá thực hiê ̣n công tác bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2001-2006 và các biê ̣n pháp trọng bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2007-2015 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá thực hiê ̣n công tác bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2001-2006 và các biê ̣n pháp trọng bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2007-2015
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
2. Bích Vân (2013), Hơn 2,58 triệu lượt du khách quốc tế đến Hà Nội năm 2013, Báo Điện tử VTV: http://vtv.vn/du-lich/hon-258-trieu-luot-du-khach-quoc-te-den-ha-noi-nam-2013-115107.htm TRUY CẬP LÚC 11:00 NGÀY 21/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 2,58 triệu lượt du khách quốc tế đến Hà Nội năm 2013
Tác giả: Bích Vân
Năm: 2013
5. Bộ Y tế (2011), Tài liệu kiểm soát ngộ độc thực phầm và bệnh truyền qua thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu kiểm soát ngộ độc thực phầm và bệnh truyền qua thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
6. Bộ Y tế (2012), Thông tư số 30/2012/TT - BYT ngày 05/12/2012 quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 30/2012/TT - BYT ngày 05/12/2012 quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
8. BS Hoàng Xuân Đại (2008), Nhiễm bệnh từ găng tay chế biến thực phẩm, Viện Sốt rét Ký sinh trùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm bệnh từ găng tay chế biến thực phẩm
Tác giả: BS Hoàng Xuân Đại
Nhà XB: Viện Sốt rét Ký sinh trùng
Năm: 2008
9. Chi cục An toàn Thực phẩm Hà Nội (2013), Đề án triển khai mô hình cải thiện ATTP đối với dịch vụ ăn uống tại các phường, thị trấn của 29 quận, huyện, thị xã thuốc thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án triển khai mô hình cải thiện ATTP đối với dịch vụ ăn uống tại các phường, thị trấn của 29 quận, huyện, thị xã thuốc thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Chi cục An toàn Thực phẩm Hà Nội
Năm: 2013
11. Chi cục An toàn Thực phẩm Hà Nội (2013), Kết quả điều tra phân loại các ngành hàng dịch vụ ăn uống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra phân loại các ngành hàng dịch vụ ăn uống
Tác giả: Chi cục An toàn Thực phẩm Hà Nội
Năm: 2013
15. Cục An toàn Thực phẩm (2011), Tài liệu tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm
Tác giả: Cục An toàn Thực phẩm
Năm: 2011
16. Cục An toàn thực phẩm (2011), Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Cục An toàn thực phẩm
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
20. Cục An toàn Thực phẩm (2012), Tình hình ngộ độc thực phẩm thức ăn đường phố năm 2011 và giải pháp cải thiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình ngộ độc thực phẩm thức ăn đường phố năm 2011 và giải pháp cải thiện
Tác giả: Cục An toàn Thực phẩm
Năm: 2012
22. Hà Thị Anh Đào và Cộng sự (2007), Thực trạng vệ sinh an toàn thực phầm thức ăn đường phố tại Gia Lâm, Hà Nội và một số yếu tố liên quan, Kỷ yếu hội nghị khoa học VSATTP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng vệ sinh an toàn thực phầm thức ăn đường phố tại Gia Lâm, Hà Nội và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Hà Thị Anh Đào và Cộng sự
Năm: 2007
23. Hoàng Minh Hiền (2005), Đánh giá thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm dựa trên 10 tiêu chí thức ăn đường phố tại phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm dựa trên 10 tiêu chí thức ăn đường phố tại phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tác giả: Hoàng Minh Hiền
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2005
24. Hoàng Thị Minh Thu và Cộng sự (2012), Kết quả triển khai mô hình cải thiện ATTP dịch vụ ăn uông tại một số phường, thị trấn thành phố Hà Nội năm 2010 - 2011, Tạp chí Y học thực hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả triển khai mô hình cải thiện ATTP dịch vụ ăn uông tại một số phường, thị trấn thành phố Hà Nội năm 2010 - 2011
Tác giả: Hoàng Thị Minh Thu và Cộng sự
Năm: 2012
25. Khánh Nguyễn (2013), Thức ăn đường phố, Báo Sài Gòn Giải phóng: http://www.sggp.org.vn/ytesuckhoe/2013/1/309782/ TRUY CẬP LÚC 21:00 NGÀY 12/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn đường phố
Tác giả: Khánh Nguyễn
Nhà XB: Báo Sài Gòn Giải phóng
Năm: 2013
26. La Kim Luận (2008), Kiến thức, thái độ, thực hành ATVSTP của người làm trực tiếp TĂĐP tại phường Bùi Thị Xuân năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành ATVSTP của người làm trực tiếp TĂĐP tại phường Bùi Thị Xuân năm 2008
Tác giả: La Kim Luận
Năm: 2008
27. Nguyễn Công Khẩn (2009), Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam - Các thách thức và triển vọng, Kỷ yếu Hội nghị khoa học an toàn vệ sinh thực phẩm lần thứ 5, Nhà xuất bản Hà Nội, tr.11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam - Các thách thức và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2009
28. Nguyễn Lan Phương và cô ̣ng sự (2008), Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật vào chế biến thực phẩm thủy hải sản đông lạnh và chế biến sẵn trên đi ̣a bàn Hà Nội năm 2006-2008, Kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thứ 5- 2009, Nhà xuất bản Hà Nội,tr 176 – 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật vào chế biến thực phẩm thủy hải sản đông lạnh và chế biến sẵn trên đi ̣a bàn Hà Nội năm 2006-2008
Tác giả: Nguyễn Lan Phương, cô ̣ng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2008
29. Nguyễn Loan (2003), Hiểm hoạ từ thức ăn đường phố, Báo Diễn đàn doanh nghiệp: http://dddn.com.vn/phap-luat/hiem-hoa-tu-thuc-an-duong-pho-co-nen-cap-phep-ban-hang-38810.htm , TRUY CẬP LÚC 10:30 NGÀY 02/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểm hoạ từ thức ăn đường phố
Tác giả: Nguyễn Loan
Nhà XB: Báo Diễn đàn doanh nghiệp
Năm: 2003
30. Nguyễn Hải Nam (2010), Nghiên cứu thực trạng kiến thức thái độ thực hành về ATVSTP của người tiêu dùng tại 10 tỉnh, Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Quân y, tr. 44- 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng kiến thức thái độ thực hành về ATVSTP của người tiêu dùng tại 10 tỉnh
Tác giả: Nguyễn Hải Nam
Năm: 2010
31. Nguyễn Mạnh Cường (2007), Mô tả thực trạng TĂĐP và yếu tố liên quan đến vệ sinh ATTP tại thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2007, Luận văn thạc sỹ Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả thực trạng TĂĐP và yếu tố liên quan đến vệ sinh ATTP tại thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2007
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w