CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị Chương 3: Quy hoạch tổng thể cải tạo và xây dựng đô thị Chương 4: Quy hoạch chi tiết đô thị Chương 5: Khu dân cư nông thôn Chương 6: Xu thế phát triển khu dân cư nông thôn Chương 7: Quy hoạch chi tiết khu dân cư nông thôn
Trang 1BÀI GIẢNG QUY HOẠCH ĐẤT Ở ĐÔ THỊ VÀ KHU
DÂN CƯ NÔNG THÔN
Trang 2Quy hoạch sử dụng đất đô thị và khu dân cư nông thôn là lĩnh vực khoa học đang trở nên cấp thiết hiện nay, đây là môn khoa học bao gồm nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, xã hội, nhân văn địa lý, tự nhiên, kỹ thuật… Nó thực chất là môn học tổ chức sắp xếp hệ thống các đối tượng sử dụng đất trong một trật tự không gian.
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
- Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
- Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
- Chương 3: Quy hoạch tổng thể cải tạo và xây dựng đô thị
- Chương 4: Quy hoạch chi tiết đô thị
- Chương 5: Khu dân cư nông thôn
- Chương 6: Xu thế phát triển khu dân cư nông thôn
- Chương 7: Quy hoạch chi tiết khu dân cư nông thôn
Trang 3Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.1 Khái niệm chung về đô thị
1.1.2 Ở Việt Nam
Đô thị ở Việt Nam: Là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nuớc, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng nào đó trong huyện.
Trang 4Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.1 Khái niệm chung về đô thị
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người ( vùng núi có thể thấp hơn)
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp > 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển
- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
- Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị, phù hợp với đặc điểm từng vùng
Trang 5Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.1 Khái niệm chung về đô thị
- ô th có th là nh ng trung tâm t ng h p khi chúng có vai trò và ch c ể là những trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức ững trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức ổng hợp khi chúng có vai trò và chức ợp khi chúng có vai trò và chức ức
n ng nhi u m t v chính tr , kinh t , v n hóa, xã h i ăng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ế, văn hóa, xã hội… ăng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ội… …
- ô th có th là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò ch c n ng ể là những trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức ức ăng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
ch y u v m t m t nào ó nh công nghi p, du l ch, ngh ng i, ế, văn hóa, xã hội… ều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… ội… ặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ư công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ỉ ngơi, đầu mối… ơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ầu mối… u m i ối… …
Vi c xác ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… nh trung tâm t ng h p hay chuyên ngành thì ph i d a vào v ổng hợp khi chúng có vai trò và chức ợp khi chúng có vai trò và chức ải dựa vào vị ựa vào vị trí ô th ó trong m t vùng lãnh th nh t nh đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ội… ổng hợp khi chúng có vai trò và chức ất định đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….
ể là những trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức xác nh là ô th hay không thì th đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ư công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ớc đo chính là: đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… c o chính là:
- T l lao ỷ lệ lao động phi nông nghiệp ( tính trong nội thị) ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ội… ng phi nông nghi p ( tính trong n i th ) ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ội…
- C s h t ng hay m c ơi, đầu mối… ầu mối… ức đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ội… phát tri n và ti n nghi sinh ho t c a ng ể là những trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ư công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ời dân i dân
ô th theo l i s ng ô th
đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ối… ối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….
- M t đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ội… dân c , là ch tiêu ph n ánh m c ư công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… ỉ ngơi, đầu mối… ải dựa vào vị ức đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….ội… t p trung dân c c a ô th ư công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… đó như công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối… (quy mô trong n i th / di n tích) ội… ệp, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối….
Trang 6Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
1.1 Khái niệm chung về đô thị
Quá trình đô thị hóa ở VN hiện đang rất nhanh Theo đánh giá của WB, tốc
độ đô thị hóa ở VN cao nhất Đông Nam Á Mỗi nước có một điều kiện khác nhau đặt ra trong bối cảnh đô thị hóa
Hiện nay Việt Nam đang chứng kiến một quá trình đô thị hoá tốc độ cao chưa từng có trong lịch sử phát triển của mình Lượng dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc, và mỗi năm khoảng 1 triệu dân tiếp tục tham gia vào đại gia đình đô thị này Toàn quốc hiện nay có trên 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ, với 93 thành phố cấp tỉnh thành Trong khi đó, ở một nước láng giềng đang phát triển với tốc độ nhanh nhất thế giới là Trung Quốc, với số dân trên một tỷ người, đến năm 2001 cũng mới chỉ có trên dưới 660 đô thị (với 4 đô thị thuộc Trung ương, 15 đô thị cấp tỉnh)
Phải chăng, ta cũng nên dừng lại về mặt số lượng các đô thị, để xây dựng đô thị của chúng ta cho “ra tấm, ra món” hơn Và trước mắt, nên để đất đẻ ra các mùa màng bội thu bằng chuyên canh, thâm canh, tăng năng suất Cùng với số đất bị thu hồi, tình trạng nông dân không có việc làm trở nên bức xúc hơn bao giờ hết Bình quân mỗi năm có khoảng 13-15 nghìn lao động không có việc, phần lớn lại chưa qua đào tạo nghề
Trang 7Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
1.2 Phân loại đô thị
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như xác định
cơ cấu và định hướng phát triển đô thị thì phải phân chia thành nhiều loại với quy mô khác nhau.
Việc phân loại đô thị thường dựa vào tính chất và vị trí của nó trong mạng lưới đô thị quốc gia, hay phân loại theo tính chất dựa vào yếu tố sản xuất chính
và những hoạt động nổi trội của đô thị đó.
VD: - Thành phố công nghiệp ( lấy yếu tố công nghiệp, theo từng đặc trưng)
- Thành phố du lịch
- Thành phố hành chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật
Mỗi thành phố (đô thị) đều có một chức năng đặc biệt, bên cạnh đó nó cũng
sẽ tồn tại nhiều chức năng hoạt động khác hỗ trợ
Trang 8Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
1.2 Phân loại đô thị
Hiện đô thị nước ta được phân thành 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V Tùy thuộc vào cấp quản lý đô thị và phạm vi ảnh hưởng của từng loại đô thị mà chia ra: đô thị trung tâm cấp quốc gia; đô thị trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị trung tâm cấp tỉnh; đô thị trung tâm cấp huyện; đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)
1.2.1 Đô thị loại đặc biệt
Là đô thị rất lớn, có vai trò quan trọng đặc biệt về kinh tế, văn hóa chính trị của đất nước Là trung tâm đầu mối của quốc gia, có vai trò thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước Dân số đô thị có trên 1 triệu người, tỷ lệ phi nông nghiệp >90% tổng lao động.
Nước ta có 2 đô thị loại này đó là:Hà nội và TPHCM
Trang 9
Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
1.2 Phân loại đô thị
1.2.2 Đô thị loại 1 ( Trung tâm cấp quốc gia)
Là đô thị rất lớn, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch dịch vụ, đầu mối giao thông vận tải, giao dịch quốc tế có vai thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước Dân số đô thị có trên 1 triệu người, tỷ lệ phi nông nghiệp >90% tổng lao động Mật độ dân cư bình quân trên 15.000 người/km.Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới công trình công cộng xây dựng đồng bộ
1.2.3.Đô thị loại 2 ( Trung tâm cấp vùng)
Là đô thị lớn, là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội, sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ.
Trang 10Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.2 Phân loại đô thị
1.2.4 Đô thị loại 3 ( Trung tâm cấp tỉnh)
Là đô thị trung bình, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, là nơi sản xuất công nghiệp, thủ công tập trung, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy phát triển của một tỉnh hoặc từng lĩnh vực đối với vùng lãnh thổ Dân số có từ 100.000 - 350.000, tỷ lệ phi nông nghiệp >80% tổng lao động Mật độ dân cư bình quân trên 10.000 người/km Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt
1.2.5.Đô thị loại 4 ( Trung tâm cấp tỉnh)
Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế văn hóa xã hội, hoặc trung tâm chuyên nghành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh Dân cư có từ 30.000- 100.000, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >70% Mật độ dân cư trên 8000 người/km Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng từng phần hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng
Trang 11Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị
1.2 Phân loại đô thị
1.2.6 Đô thị loại 5 ( Trung tâm cấp huyện)
Là những đô thị nhỏ, là trung tâm kinh tế, xã hội, hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện Dân số có từ 4000 -30.000, tỷ lệ phi nông nghiệp >60% tổng lao động Mật độ dân cư bình quân trên 6.000 người/km Cơ
sở hạ tầng đang bắt đầu được xây dựng
Với việc phân loại như trên, định hướng phát triển đến năm 2010, dân số đô thị chiếm 33%, đến năm 2020 chiếm 45% dân số cả nước Phát triển 6 thành phố trực thuộc Trung ương; 68 thành phố, thị xã tỉnh lỵ; 25 thị xã; xây dựng 30
đô thị mới thuộc tỉnh; 100 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; 2.000 thị trấn thuộc huyện Hình thành 6 đô thị loại đặc biệt và loại I (trung tâm cấp quốc gia); 11 đô thị loại II (trung tâm cấp vùng); 73 đô thị loại III và IV (trung tâm cấp tỉnh) Xây dựng trung tâm khu vực gồm 25 thị xã hiện có và 30 đô thị mới; xây dựng hệ thống các thị trấn làm trung tâm huyện và các thị trấn, thị tứ làm trung tâm xã, cụm xã
Trang 12Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.2 Phân loại đô thị
Việc xác định vai trò, chức năng và quy mô đô thị cần dựa vào tình hình, hiện trạng và phân bố phát triển lực lượng sản xuất, sơ đồ quy hoạch vùng.
Mỗi đô thị sẽ có không gian và địa giới riêng bao gồm nội thị và ngoại thị Do tính chất ảnh hưởng của địa giới khác nhau mà nhiều đô thị không thể đáp ứng nhu cầu phát triển nên phải được điều chỉnh Việc điều chỉnh phải căn cứ vào đặc điểm hiện trạng và tương lai phát triển theo dự kiến quy hoạch của nhà nước.
Ngoài ra để mở rộng đô thị thì cần phải xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị đó trong phạm vi địa giới nội thị
Tóm lại việc xếp loại, phân cấp đô thị được căn cứ vào 3 tiêu chuẩn cơ bản
đó là: Vai trò chức năng, quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong
đô thị đó
Trang 13Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.3 Phân cấp quản lý đô thị
Việc phân loại đô thị nhằm phục vụ cho công tác phân cấp, quản lý đô thị về mặt hành chính nhà nước, nó được cụ thể hóa như sau:
- Thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại 1 và loại 2 do trung ương quản lý
- Thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã ( đa số thuộc loại 3 và 4) do tỉnh quản lý
- Thị trấn tương đương cấp xã thuộc đô thị loại 5, chủ yếu do huyện quản lý Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì một số đô thị được phân cấp quản lý cao hơn hay thấp hơn một bậc so với quy định Điều đó xảy ra khi đô thị
đó có vai trò, tính chất thế nào đối với vùng lãnh thổ xung quanh nó.
Phân cấp đô thị ở nước ta thường dùng 3 thuật ngữ đó là: Thành phố, thị xã
và thị trấn Còn thị tứ không phải là điểm dân cư đô thị, nó không được thừa nhận là một đơn vị quản lý mà nó chỉ được hiểu đó là trung tâm của một đơn vị cấp xã hoặc liên xã.
Trang 14Chương 1: Khái niệm và phân loại đô thị1.3 Phân cấp quản lý đô thị
Thị tứ là một điểm dân cư tập trung nhiều loại công trình phục vụ công cộng
về kinh tế và văn hóa xã hội mang tính chất đô thị phục vụ cho đời sống người dân nông thôn Là bộ mặt của làng xã, điểm dân cư có màu sắc đô thị lẫn nông thôn nhưng vẫn mang đặc tính nông thôn là chính Đây là một hình thức đô thị hóa tại chỗ, sẽ là mầm mống cho các điểm đô thị hóa nông thôn trong tương lai Việc nâng cấp và quản lý đô thị cũng như việc thành lập các đô thị mới phải được tiến hành trên cơ sở lập hồ sơ và trình xin phép nhà nước phê duyệt và phải đủ tiêu chuẩn, căn cứ và nằm trong định hướng quy hoạch chung cấp quốc gia.
Trang 15Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.1 Đô thị hóa (Urbanization)
Là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống.
Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa hóa đất nước nên đô thị hóa thường được coi là sự công nghiệp hóa.
Quá trình đô thị hóa là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị.
- Khái niệm đô thị hoá là khái niệm phức tạp và có những sự biến đổi theo sự thay đổi của các bối cảnh lịch sử kinh tế xã hội
- Trong giai đoạn hậu văn minh công nghiệp, đô thị hoá không chỉ đơn thuần
là quá trình dịch cư từ nông thôn ra thành thị và dịch cư nghề nghiệp mà còn bao hàm các quá trình dịch cư khác, đa chiều, đa cấp độ
- Đô thị hoá không chỉ diễn ra trong một vùng, một quốc gia mà ảnh hưởng của nó tới phạm vi toàn cầu
Trang 16Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
Từ đó cho thấy rằng mức độ đô thị hóa được tính bằng tỷ lệ phần trăm số dân
đô thị/ tổng số dân trong vùng Tỷ lệ số dân đô thị được coi là thước đo về đô thị hóa để so sánh mức độ đô thị hóa giữa các quốc gia với nhau hay giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia.
Tuy nhiên tỷ lệ đô thị lại không phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa.
* Đặc điểm của đô thị hóa Quá trình đô thị hoá thể hiện ở ba đặc điểm chính:
- Xu hướng tăng nhanh dân số thành thị
- Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Số lượng các thành phố có số dân trên 1 triệu người ngày càng nhiều Hiện nay, toàn thế giới có hơn 270 thành phố từ 1 triệu dân trở lên, 50 thành phố có
số dân vượt quá 5 triệu người.
Trang 17Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị2.1 Đô thị hóa
- Lối sống thành thị phổ biến rộng rãi
Cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, lối sống thành thị được phổ biến rộng rãi và có ảnh hưởng đến lối sống của dân cư nông thôn về nhiều mặt.
* Ảnh hưởng của đô thị hoá đến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
- Ảnh hưởng tích cực: Đô thị hoá không những góp phần đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động mà còn làm thay đổi sự phân bố dân cư và lao động, thay đổi các quá trình sinh, tử và hôn nhân ở các đô thị…
- Ảnh hưởng tiêu cực: Đô thị hoá nếu không xuất phát từ công nghiệp hoá,
không phù hợp, cân đối với quá trình công nghiệp hoá, thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực Trong khi đó thì nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội.
Trang 18Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2 Quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Ở đó trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội
Quá trình đô thị hóa là một quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội, văn hóa và không gian kiến trúc, nó gắn liền với tiến bộ KHKT và sự phát triển của nghành nghề mới.
Quá trình đô thị hóa được chia thành 3 thời kỳ:
1- Thời kỳ tiền công nghiệp ( trước thế kỷ 18)
Lúc này đô thị hóa phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp, các đô thị phân tán, quy mô nhỏ lẻ, phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 19
Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
2- Thời kỳ công nghiệp ( từ thế kỷ 18- đầu thế kỷ 20)
Lúc này các đô thị phát triển mạnh, song song với quá trình CN hóa CM công nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chón, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo ra những đô thị cực lớn, tập trung nhiều dân cư.
Đô thị đã phát triển và tạo cơ cấu phức tạp với nhiều thành phố có chức năng khác nhau, làm cho sự kiểm soát phát triển các đô thị khó khăn.
3- Thời kỳ hậu công nghiệp
Sự phát triển của công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu, trình độ sản xuất và phương thức sinh hoạt trong các đô thị Lúc này không gian đô thị có cơ cấu phức tạp, quy mô lớn, hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo kiểu cụm, chuỗi
Để thấy được bức tranh toàn cảnh quá trình phát triển đô thị ở trên thế giới và việt nam chúng ta có thể thấy như sau:
Trang 20Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
* Trên thế giới:
- Sự vận động của quá trình đô thị hoá là rất phức tạp, đa dạng và khác biệt Tuy
có những quy luật chung về biểu hiện theo các lý thuyết đã tổng kết như sự chuyển đổi nghề nghiệp, tăng dân cư, phát triển kinh tế, mở rộng đô thị nhưng những sự khác biệt theo bối cảnh ở từng khu vực kinh tế, văn hoá, địa lý là rất rõ nét.
- Qua các giai đoạn đô thị hoá, vai trò của lý luận đối với thực tiễn có khác nhau Trong thời kỳ văn minh công nghiệp nhiều thành phố lớn châu Âu đã phải trả giá về các vấn đề xã hội, môi trường do chưa thấy rõ những biến đổi có tính quy luật của
đô thị hoá
- Các nước đang phát triển tại châu Mỹ La Tinh, Châu á gặp rất nhiều khó khăn
do chưa kiểm soát được quá trình đô thị hoá Quy luật của sự tập trung dân cư vào
đô thị lớn, tốc độ đô thị hoá quá nhanh trong khi khả năng xây dựng hạ tầng có hạn tạo nên nhiều hậu quả xấu phải khắc phục rất lâu dài Các vấn đề về xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hoá cũng chưa được dự báo trước và có các chính sách phù hợp Giai đoạn 1945- 1980 là điển hình của quá trình đô thị hoá có nhiều mâu thuẫn.
Trang 21Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
* Trên thế giới:
- Gần đây với sự nỗ lực của các chính sách đô thị,quá trình đô thị hoá ở nhiều nước
đã có xu hướng phát triển bền vững Nhiều dự báo tiêu cực về các đô thị khổng lồ ở châu á, Mỹ La Tinh đã không thành hiện thực (thành phố Mexico) Với tốc độ phát triển kinh tế tốt, hạ tầng kỹ thuật cải thiện, khả năng kiểm soát phát triển đô thị của các quốc gia ngày càng tốt hơn
- Những lý luận về các dòng đô thị hoá mới như "hiện tượng đảo cực", "phi đô thị hoá"
"đô thị hoá khác biệt“ đến nay ở một số nước phát triển đã sớm được đúc kết từ những phát hiện trong thực tiễn đóng góp cho công tác quy hoạch và phát triển đô thị
- Gần đây cho thấy quá trình đô thị hoá của các đô thị thủ đô hiện nay chịu tác động mạnh của 3 yếu tố mới đó là: Toàn cầu hoá - Công nghệ cao- Văn hoá Hình thành thành phố thế giới, thành phố công nghệ cao, chú trọng khía cạnh sinh thái là những xu thế phát triển của các đô thị lớn
Tuy nhiên mỗi một nước cũng đang có những nhận thức khác nhau ở từng góc độ Hệ thống lý luận còn chưa được cụ thể hoá nên mỗi quốc gia cần phải nắm bắt được quy luật để xây dựng các chiến lược phù hợp tạo nên sự phát triển mang tính bền vững cao.
Trang 22Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
* Ở Việt Nam:
- Dân số, lượng người nhập cư vào các đô thị lớn tăng cao trong đó lượng người nhập cư vì lý do kinh tế chiếm tỷ lệ lớn Điều này cũng khẳng định tính tích cực của quá trình đô thị hoá, sự tăng tốc độ đô thị hoá đi liền với tăng trưởng kinh tế, hạn chế được hiện tượng đô thị hoá giả tạo.
- Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ của các thành phố đã tác động đến vùng ven một cách mạnh mẽ, làm thay đổi nhanh chóng nhiều mặt của vùng ven đô thị, đồng thời trong quá trình phát triển cũng đã hình thành nên các khu đô thị mới vùng ven.
- Với các tính chất tạo thị khác như kinh tế công nghiệp, thương mại, du lịch, văn hoá cũng tác động đến quá trình đô thị hoá Sức hút của các nhân tố công nghiệp hiện đang là chủ đạo thể hiện đặc trưng của giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, tuy nhiên sức hút của các yếu tố khác như thương mại , dịch vụ, văn hoá đang ngày càng tăng.
Trang 23Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2.1 Sự phát triển đô thị hóa
* Ở Việt Nam:
- Quá trình đô thị hoá do đó cũng đang nảy sinh nhiều yếu tố bất cập:
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố phát triển không tương ứng với những yêu cầu, những biến đổi nhanh chóng của quá trình đô thị hóa + Môi trường trong toàn thành phố bị ô nhiễm, trong đó có nhiều điểm ô nhiễm nghiêm trọng.
+ Nhà ở cho người dân không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Tình trạng xây dựng nhiều những giá nhà vẫn cao do yếu tố đầu cơ làm người cần thực sự không thể tiếp cận.
+ Sự thay đổi trong sinh hoạt văn hóa - xã hội của người dân, xuất hiện nhiều những mặt trái của cuộc sống đô thị, tệ nạn xã hội tăng mà chưa có dấu hiệu suy giảm và được ngăn chặn.
Trang 24Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2 Quá trình phát triển đô thị
2.2.2 Sự gia tăng dân số đô thị
Đặc trưng của thế giới từ hơn một thế kỷ gần đây là hiện tượng gia tăng dân
số một cách nhanh chóng, nổi bật là hiện tượng tập trung dân cư vào đô thị Hiện tượng này còn được gọi là bùng nổ dân số.
- Năm 1800 thế giới có 1,7% dân số sinh sống trong các vùng đô thị lớn
- Năm 1900, dân số đô thị đã tăng lên 5,6%
- Năm 1950, tỷ lệ này là 16,9%
- Năm 2000, dân số đô thị trên thế giới đã tăng lên đạt 51%
- Năm 2008, dân số đô thị đã đạt 3,3 tỷ người chiếm 56,7%
Trang 25
Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2 Quá trình phát triển đô thị
2.2.2 Sự gia tăng dân số đô thị
Ở Việt Nam tốc độ đô thị hóa quá nhanh
Từ 1990 đô thị Việt Nam mới bắt đầu phát triển Từ đó đến nay, đặc biệt là vài năm trở lại đây tốc độ đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng Những năm đầu
1990 tỷ lệ đô thị hóa hàng năm chỉ đạt khoảng 17-18% nhưng nay mức độ đô thị hóa đã tăng lên 27%/năm Đến 2007 cả nước đang có 729 đô thị
Trong nền kinh tế, các đô thị đóng góp 2/3 giá trị của tổng thu nhập và chiếm 30% tổng số dân Ngày nay sự thay đổi của nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các đô thị phát triển mạnh mẽ
Bộ Xây dựng dự báo tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40% tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân
Trang 26Chương 2: Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
2.2 Quá trình phát triển đô thị
2.2.3 Sự thay đổi cơ cấu lao động trong quá trình đô thị hóa
Hệ quả cơ bản của quá trình đô thị hóa là sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế
và lực lượng sản xuất ( sự biến đổi, chuyển giao lao động từ hoạt động kinh tế này sang hoạt động kinh tế khác).
Sự biến đổi của các khu vực lao động trong các giai đoạn đô thị hóa gắn liền với phát triển xã hội được chia thành 3 khu vực:
- Lao động khu vực I (Sector 1)
Thành phần lao động sản xuất chủ yếu là nông, lâm, ngư nghiệp Tỷ lệ này chiếm cao ở thời kỳ tiền công nghiệp và giảm dần ở các giai đoạn tiếp sau đó.
- Lao động khu vực II (Sector 2)
Thành phần chính là lực lượng lao động sản xuất công nghiệp Tỷ lệ đối tượng này phát triển rất nhanh ở giai đoạn CN hóa Đến giai đoạn hậu công nghiệp thì tỷ
lệ này cao nhất, sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động bằng tự động hóa.
- Lao động khu vực III (Sector 3)
Thành phần chủ yếu là lao động khoa học và dịch vụ Tỷ lệ thành phần này chiếm thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp và tăng dần vào các giai đoạn tiếp theo Đến thời kỳ hậu công nghiệp (văn minh KHKT) thì tỷ lệ này cao nhất.
Trang 35Chương 3: Quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị
QHTT xây dựng đô thị được gọi là quy hoạch chung xây dựng đô thị, nó nhằm xác định phương hướng, nhiệm vụ cải tạo và xây dựng đô thị về phát triển không gian, cơ sở hạ tầng và môi trường sống
3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị
* Bảo đảm sự cân đối và thống nhất giữa các chức năng hoạt động trong
Trang 36Quy hoạch xây dựng đô thị nhằm nghiên cứu các hình thức tổ chức cuộc sống và
cơ cấu chức năng hoạt động của các bộ phận trong đô thị, nhằm tạo điều kiện cho con người có nhiều thuận lợi nhất trong cuộc sống ngày càng cao ở đô thị.
Trang 37- Luận chứng và xác định tính chất, quy mô dân số, đất đai phát triển đô thị
- Định hướng phát triển không gian đô thị
- Quy hoạch xây dựng đợt đầu 5- 10 năm
- Xác lập các căn cứ pháp lý để quản lý xây dựng đô thị
- Hình thành các cơ sở để lập các đồ án quy hoạch chi tiết, các dự án đầu tư
Trang 38Chương 3: Quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị
3.2 Xác định tính chất đô thị
3.2.1 Ý nghĩa của vấn đề xác định tính chất đô thị
Đô thị được hình thành và phát triển do nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau do vậy mỗi đô thị đều có tính chất riêng và phụ thuộc vào sự phát triển của thành phố hay các khu vực xung quanh.
Do đó: Tính chất đô thị nói lên vai trò và nhiệm vụ của đô thị với các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của bản thân đô thị đó
Tính chất đô thị có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu nhân khẩu, bố cục đất đai, tổ chức hệ thống giao thông và công trình phục vụ công cộng Nó còn ảnh hưởng tới hướng phát triển của thành phố.
Việc xác định đúng tính chất đô thị sẽ tạo điều kiện xác định đúng phương hướng phát triển cần có của đô thị, làm nền tảng cho việc quy hoạch xây dựng phù hợp với nhu cầu hoạt động của đô thị trước mắt và lâu dài.
Trang 39Chương 3: Quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị3.2 Xác định tính chất đô thị
3.2.2 Cơ sở để xác định tính chất đô thị
Để xác định tính chất của đô thị, cần tiến hành phân tích các yếu tố:
* Phương hướng phát triển kinh tế của Nhà nước
Bao hàm toàn bộ những yêu cầu và chỉ tiêu đặt ra cho từng vùng chức năng trong phạm vi cả nước dựa trên số liệu cơ bản và chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia nhằm cân đối hài hòa và tận dụng tối đa tiềm năng sức LĐ cả nước Trong đó: Tính chất, quy mô, hướng phát triển của đô thị trong vùng đã được xác
định và dự báo một cách cụ thể.
* Vị trí của đô thị trong quy hoạch vùng lãnh thổ
QH vùng lãnh thổ xác định mối quan hệ qua lại giữa các đô thị và vùng lân cận (kinh tế, sản xuất, văn hóa xã hội sẽ xác định vai trò của đô thị với vùng)
Nếu chưa có QH vùng ổn định thì việc xác định tính chất đô thị phải dựa trên các
số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên, các điều kiện khác trong khu vực và vùng lân cận Thông qua đó thấy rõ MQH và nhiệm vụ của đô thị với các điểm kinh tế, chính trị khác của vùng Tùy theo quy mô, vị trí, chức năng mà xác định tính chất đô thị.
Trang 40Chương 3: Quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị
3.2.2 Cơ sở để xác định tính chất đô thị
* Điều kiện tự nhiên
Trên cơ sở đánh giá những khả năng về TNTN, địa lý phong cảnh Có thể xác định những yếu tố thuận lợi nhất ảnh hưởng đến phương hướng hoạt động về mọi mặt của đô thị Thế mạnh về điều kiện tự nhiên là một trong những điều kiện cơ bản hình thành và phát triển đô thị.
- Căn cứ đặc điểm tình hình và khả năng phát triển đô thị mà mỗi đô thị sẽ có tính
chất riêng phản ánh vị trí, vai trò về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và môi trường Trên cơ sở đó phân chia thành các loại đô thị khác nhau.
Mỗi đô thị ngoài tính chất, chức năng riêng của nó còn có các chức năng hoạt động khác mang tính chất phù trợ cho quá trình phát triển của đô thị.
Một thành phố và đô thị chỉ có thể phát triển tốt và hiệu quả trong tổ chức sản xuất và đời sống khi mọi chức năng hoạt động khác được tổ chức hợp lý và phối hợp có hiệu quả với hoạt động chủ yếu của đô thị đó.