Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc ÁnhTÓM TẢT ĐÈ CƯƠNG Trong những năm gần đây, chăm sóc sức khỏe sinh sàn CSSKSS cho nữ công nhân di cư CNDC đang trở thành một vấn đề thu hút sự quan tâ
Trang 1Bộ GTẢO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÒNG CỘNG
ĐẶNG THỊ NGỌC ÁNH
Thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân độ tuổi 15-49 tại khu công nghiệp Sài Đồng By Long Biên, Hà Nội năm 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP củ NHẲN
Hưóng dẫn khoa học:
ThS Lê Thị Kim Ánh
HÀ NỘI, 06/2011
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
I ĐẶT VÁN ĐÈ 1
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
1. Mục tiêu chung 5
2 Mục tiêu cụ thể 5
III. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1 Một số khái niệm liên quan đến di cư và SKSS 6
2 Di cư nông thôn - thành thị và khuynh hưó’ng nữ di cư 10
3 Nữ lao động di cư - nhóm đối tượng dễ bị tổn thưong 11
4 Các can thiệp đã có nhằm tăng cưòng dịch vụ CSSKSS cho NCN di cư 17 IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
1 Đối tưọng nghiên cứu 21
2 Thòi gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 22
3 Thiết kế nghiên cứu 22
4 Chọn mẫu và cỡ mẫu 22
5 Phuong pháp thu thập số liệu 23
6 Nội dung thu thập thông tin 24
7 Phuong pháp phân tích số liệu 26
8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 26
9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục 26
V KẾ HOẠCH NGHIÊN cứu VÀ KÌNH PHÍ 27
1 Kế hoạch nghiên cứu 27
2 Dự trù kinh phí 33
VI.KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
1 Ket quả nghiên cứu 35
2 Bànluận và khuyến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu 40
1 Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu phó giám đốc phụ trách nhânsụ nhà máy 40
2 Bộ câu hỏi phóng vấn sâu trưởng phòng y tế doanh nghiệp 41
3 Bộ câu hòi phỏng vấn Chủ tịch Hội Phụ nữ tại nhà máy 44
4 Bộ câu hỏi phồng vấn Bí thư Đoàn Thanh niên 47
5 Bộ câu hỏi phòng vấn Trạm trưởng trạm y tế phường 50
6 Bộ câu hỏi phỏng vấn cán bộ phụ trách chương trình CSSKSS tại trạm y 7 phường 51
PHỤ LỤC 2: Bản đồng thuận tham gia nghiên cứu 52
PHỤ LỤC 3: Bản hướng dẫn thảo luận nhóm trọng tâm 53
Trang 4Khóa luận tót nghiệp Đặng Thị Ngọc Ánh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẤT
Công nhân
Công nhân di cưChăm sóc sức khỏe sinh sảnKhu công nghiệp Kế hoạch hóa gia Sức khỏe sinh
Trang 5Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ánh
TÓM TẢT ĐÈ CƯƠNG
Trong những năm gần đây, chăm sóc sức khỏe sinh sàn (CSSKSS) cho nữ công nhân
di cư (CNDC) đang trở thành một vấn đề thu hút sự quan tâm từ phía các cẩp chính quyền vàcộng đồng, đặc biệt khi xu hướng nữ lao động tìm việc tại các thành phố lớn, các khu côngnghiệp (KCN) đang trở nên hết sức phổ biến Nữ di cư chiếm tới trên 50% trong tổng sốngười di cư và chù yếu đang trong độ tuổi sinh sản
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nữ CNDC là nhóm nguy cơ cao đối với vấn đề sứckhỏe sinh sản (SKSS) Tỳ lệ nhiễm HIV/AĨDS cao, các nhiễm khuẩn đường sinh sản, mangthai ngoài ỷ muốn, nạo phá thai không an toàn và lạm dụng về tình dục đang là những vấn đềnổi cộm tại các K.CN hiện nay Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là sự hạnchế trong tiếp cận với các dịch vụ CSSKSS và kể hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) của nữCNDC Lý giải cho thực trạng này, bên các rào cản như khó khăn về mặt tài chính, thời gianlàm việc kéo dài, thiếu kiến thức kĩ năng, tâm lý e ngại, một vần đề không thể bỏ qua là chấtlượng và khả năng tiếp cận với các dịch vụ CSSKSS sẵn có Với nữ công nhân (CN) làmviệc tại các KCN, các loại hình dịch vụ CSSKSS có thể kẻ đến là phòng y tế đật tại chính cácdoanh nghiệp, trạm y te phường trên địa bàn khu công nghiệp, bệnh viện nhà nước, bệnhviên tư nhân, các nhà thuốc bán lẻ Tuy nhiên, với đặc thù thời gian làm việc và mức thunhập thấp, hai loại hình dịch vụ được đánh giá phù hợp và dễ tiếp cận đối với nữ CN làphòng y tế cơ quan và các trạm y tế phường Vậy thực sự dịch vụ CSSKSS mà nữ CN nhậnđược từ hai loại hình dịch này là gì và được cung cấp như thé nào, vai trò của chúng trongthực tế, cũng như doanh nghiệp đã thực hiện những hoạt động gì nhàm đăm bảo và nâng caoSKSS cho nữ CN là những câu hỏi được đặt ra Các nghiên cứu gần đây đã đề cập tới nhiềukhía cạnh khác nhau của vấn đề CSSKSS cho nữ CN như kiến thức, thái độ, thực hành đối
với CSSKSS và các hành vi nguy cơ của iv
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ánh
họ, tác động của di cư tới SKSS Tuy nhiên, các nghiên cứu tiếp cận từ chính cácdoanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ còn rất hạn chế
Trong bối cành đó, nghiên cứu “Thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân độ tuổi 15-49 tại khu công nghiệp Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội năm 201 r nhằm mục đích đưa ra một bức tranh đầy đủ về dịch vụ
CSSKSS cho nữ CN tại KCN Sài Đồng B, cũng như các các KCN nói chung tại HàNội Nghiên cứu dự kiến được tiến hành vào tháng 04- 09/2011 tại KCN Sài Đồng B,Long Biên, Hà Nội Đây sẽ là một nền tảng để từ đó có the thiết ke các can thiệp nhămtăng cường việc cung câp các dịch vụ CSSKSS phù hợp và toàn diện trong tương lai,góp phần bảo vệ và nâng cao SK.SS cho nữ lao động
Thông tin phục vụ cho nghiên cứu được thu thập trên cơ sở phỏng vân sâu kếthợp với thảo luận nhóm trọng tâm
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Những năm gần đây, với sự phát triển cùa nền kinh te thị trường, Việt Nam đangchứng kiến một xu hướng mạnh mẽ người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị để tìmkiếm các cơ hội việc làm, mà chù yếu là tại các KCN, khu chể xuất Nếu như trước đây, đaphần người lao động di cư là nam giới thì hiện nay, tỷ lệ nữ lao động di cư đang tăng lên vớitốc độ nhanh chóng [2],
Kểt quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn 2004-2009,Việt Nam có 6,6 triệu người di cư nội tỉnh và liên tình, tăng 2,1 triệu người so với giai đoạn1994-1999 Trong tổng số lao động di cư, lao động nữ chiếm tới trên 50% trong hầu hết cácloại hình di cư [1] Một tỷ lệ lớn lao động nữ di cư đang ở trong độ tuổi sinh sản và chưa lậpgia đình, với độ tuổi trung bình là 27,1 tuổi và tỷ lệ độc thân là 42% [2],
Lao động di cư, đặc biệt là nhóm nữ di cư, được xác định là nhóm đối tượng dễ bị tổnthương so các nhóm dân cư khác Điều tra di cư Việt Nam 2004 cho thấy, tỷ lệ người di cư bị
ốm phải nghi việc nhiều hơn người không di cư và sức khoẻ của phụ nữ có biểu hiện xấu đi
rõ rệt sau khi di cư Tỷ lệ nữ di cư cho rằng sức khỏe của mình “xấu đi” so với thời điểmtrước khi di cư là 13,4% [4]
Nữ lao động di cư được đánh giá là nhóm có nguy cơ cao đối với vấn đề SK.SS nhưcác bệnh lây truyền qua đường dục, bao gồm cả HIV/AĨDS, mang thai ngoài ý muốn, nạophá thai không an toàn, và bị lạm dụng về tình dục [5] Nhiều nghiên cứu đã cho thay nữ di
cư chưa có kiến thức đây đủ vê CSSKSS và phòng các bệnh lây truyền tình dục Nghiên cứutiến hành trên nữ di cư tại Hà Nội chi ra rằng trong tổng số các đối tượng được phỏng vẩn,19,6% chưa bao giờ nghe đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục, 25,5% không biết bất
kì một tên bệnh nào và 60% các đối tượng không biết đến bất kì dấu hiệu nào của bệnh [3]
Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai trong nhóm nữ di cư đã có gia đình thấp hơn so vớinhóm phụ nữ không di cư (65,8% so với 71,7%) Tỷ lệ nữ di cư trong độ tuổi 15-29 sử dụngbao cao su chỉ là
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ánh
0,2% [4] Tình trạng sống chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nữ CN cũng là mộtvấn đề cần được quan tâm Nghiên cứu trên nữ CN tại quận Tân Bình, thành phố Hồ ChíMinh cho thấy tình trạng sống chung với bạn tình ở nữ CN là khá phổ biến và nữ CN cũngđang dần chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân, cho rằng đây là một việc “bìnhthường” và ‘tất yếu” khi phải sống xa nhà [29] Chính những điều này đặt nữ công nhântrước nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cao Điều tra cho thấy 15% số phụ nữ di cư đã từngnạo hút thai, trong đó, 1/3 các trường hợp chưa có gia đình [28] Có thể nói, một trong nhữngnguyên nhân của thực trạng trên chính là sự hạn chế trong tiếp cận với thông tin và dịch vụCSSKSS Nói cách khác, dịch vụ CSSK.SS vẫn chưa thực sự đến được với người lao động di
cư [3],
Thực té cho thấy việc cung cấp dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ CSSKSS nói riêngcho nữ CNDC tại các KCN còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu của họ Nhìnchung, hoạt động cung cấp dịch vụ CSSKSS tại hầu hết các doanh nghiệp mới được thựchiện trên khuôn khổ hẹp, chưa thực sự quan tâm đến những nữ công nhân trẻ độc thân và cácnhu cầu CSSKSS của họ Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho nữ
công nhân về SKSS và phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS chưađược quan tâm [21]
Các trạm y tế phường cũng bộc lộ nhiều hạn chế trong cung cấp các dịch vụ CSSKSScho nữ công nhân Theo quy định, các trạm tể chỉ cung cấp dịch vụ CSSKSS thiết yếu chođối tượng phụ nữ đăng kí hộ khẩu hoặc tạm trú trên địa bàn phường Như vậy, với tình trạngkhông đăng kí tạm trú, nhiều nữ lao động di cư phải trà phí cho các dịch vụ này, hoặc quaytrở về địa phương cũ nơi họ đã đãng kí hộ khẩu Kết quả nghiên cứu di cư 2004 cho thấytrong số những người di cư bị ốm và điều trị tại các cơ sở y tế, 84% phải tự trả tiền và không
có đối tượng nào có bảo hiểm y tế để trang trải cho các chi phí điều trị [ I ]
Các nghiên cứu trước đây đã đi sâu mô tả các vân đê SKSS mà nữ CN phải đôi mặt,thực trạng đời sống, cũng như nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong tiếp cận với
Trang 9Khóa luận tôt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
các dịch vụ CSSK.SS của nữ lao động di cư Tuy nhiên, những nghiên
chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số lao động di cư còn rất hạn chế Thêmvào đó, chưa nhiều nghiên cứu tiếp cận vấn đề cung cấp dịch vụ CSSKSSdưới góc độ nhà cung cấp địch vụ - các doanh nghiệp và cơ sở y tế
Trong bối cảnh này, nghiên cứu “Thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân độ tuổi 15-49 tại khu công nghiệp Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội năm 2017” nhàm đưa ra một bức tranh khái quát về thực trạng cưng cấp dịch vụ
CSSKSS cho nữ CN làm việc tại KCN Sài Đồng B Nghiên cứu sẽ giúp trả lời cho câu hỏitrên thực tế, nữ CN làm việc tại các KCN được hưởng những dịch vụ CSSKSS nào, vai tròcủa những dịch vụ này và các doanh nghiệp đã có những hoạt động gì nhằm bảo vệ và nângcao SKSS cho nữ CN Thông tin thu thập được từ nghiên cứu sẽ tạo cơ sở cho các can thiệpnhăm cải thiện việc cung câp dịch vụ CSSKSS cho nữ lao động di cư tại các KCN trongtương lai
Trang 10ZLZttzur H/I L-JUftg 1 fit ; Zl/i/f
Khung lý thuyết
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp Đăng Thị Ngọc Ảnh
1 Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ CSSKSS tại các phòng y tê doanh
nghiệp trực thuộc KCN Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội năm 2011
2 Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ CSSKSS cho nữ lao động di cư tại trạm y
tế phường phường Thạch Bàn và Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội năm 2011
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
III TÓNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số khái niệm liên quan đen di cư và SKSS
Những năm gàn đây, di cư đã trở thành một xu thế tất yếu của quá trình phát triển Di
cư được định nghĩa là một hiện tượng kinh tê - xã hội mà một cá nhân hay một nhóm người thay đổi nơi thường trú của mình có thể là vĩnh viễn hoặc có thế là trong thời gian khá dài Đối với người di cư, di cư là một quá trình hướng tới sự thay đôi tình trạng kinh tế của họ và gia đình Đổi với xã hội, di cư đem lại tác động cả tới kinh tế và xã hội [27], Có thể phân loại
di cư theo nhiều hình thức khác nhau như di cư tự do và di cư có tổ chức, di cư dài hạn và di
cư mùa vụ, di cư liên tỉnh và di cư nội tỉnh Trên thực tế, hình thức di cư phổ biến nhất là di
cư nông thôn - thành thị Người di cư có xu hướng tìm đến các thành phố lớn, các khu đô thị
để tìm kiếm các cơ hội việc làm Trong nghiên cứu này, nữ lao động di cư làm việc tại KCNSài Đồng B được hiểu là những nữ CN hiện đang làm việc tại KCN, có đăng kí tạm trú hoặckhông đăng kí tạm trú trên địa bàn quận Long Biên và được xếp vào nhóm di cư liên tỉnh
Di cư mang đến cơ hội việc làm nữ lao động, góp phần cải thiện cuộc sống của bảnthân họ và tăng thu nhập cho gia đình Tuy nhiên, di cư cũng đặt ra nhiều thách thức đối vớisức khỏe của bản thân người nữ lao động di cư Nghiên cứu cũng cho thây rằng ban đầu, sứckhỏe của nhóm người di cư tốt hơn các nhóm khác nhưng dần dần sức khỏe của họ đã bị kém
đi nhanh chóng Sự khác biệt về sức khỏe giữa nam giới và nữ giới trong nhóm di cư rất rõnét Nữ lao động di cư, cho dù là loại hình di cư nào đều có xu hướng bị ốm nhiều hơn nam
giới và dễ bị tốn thương hơn so với nam giới khi xét đến vấn đề sức khỏe sinh sản [1]
Theo định nghĩa của Tố chức Y tế thế giới, sức khỏe sinh sàn được định nghĩa là tình
trạng thoải mải hoàn toàn vê thê chát, tinh thân và xã hội trong các vân đê có liên quan đến
bộ phận sinh sán và chức năng cùa nó chứ không đơn thuần chi là không có bệnh tật hay tàn
phế Trên thực tế, đa số người di cư là phụ nữ trẻ, do vậy, việc tiếp cận tới các dịch vụ chăm
sóc sức khõe sinh sản và tình dục là rất quan trọng CSSKSS
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
được định nghĩa là sự phôi hợp các biện pháp kĩ thuật, dịch vụ nhăm nâng cao chất lượng SKSS, làm cho các hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản được khóe mạnh hơn bao gồm cả sức khỏe tĩnh dục nhằm làm cho cuộc sông có chát lượng và hạnh phúc hơn bằng cách phòng ngừa
và giải quyết các vẩn để SKSS Nội dung của CSSKSS trong Chiến lược quốc gia về SKSS tại Việt Nam 2001-2010 bao gồm: Làm mẹ an toàn,
KHHGĐ, phá thai an toàn, giáo dục SKSS cho vị thành niên, phòng cácbệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, phòng các bệnh lây truyền qua đường
và giáo dục vê tình dục, thông tin, giáo dục truyền thông về sức khởe sinh
sản [26], Mục tiêu cụ thể cùa chiến lược bao gồm:
Ke hoạch hóa gia đình:
tuổi và con cuối cùng sau 35 tuổi
- Vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ
giảm tai biến sản khoa, đảm bào sức khỏe phụ nữ và nâng cao chất lượng cuộcsống
Phòng các bệnh nhiễm khuấn đường sinh sân:
- Vệ sinh thân thể hàng ngày
- Vệ sinh kinh nguyệt
- Vệ sinh thai nghén
- Vệ sinh sinh hoạt tình dục
- Vệ sinh sau đẻ, sấy, phá thai
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
- Phòng và điều trị các nhiễm khuẩn đường sinh sản cho cả nam và nữ
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Phòng các bệnh lây truyền qua đường tĩnh dục\
- Sống chung thủy một vợ, một chồng
- Cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là các đường lây truyền của các bệnh lây
truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS và hậu quả của các bệnh lâytruyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS
ngành, đoàn thể
Dịch vụ CSSKSS là một khái niệm rộng với nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên,với đối tượng nghiên cứu là nữ công nhân di cư trong độ tuổi sinh sản (15-49 tuổi) đang làmviệc tại KCN Sài Đồng B, nghiên cứu tập trung vào 03 vấn đề sau:
- Kế hoạch hóa gia đình bao gồm bao cao su và thuốc tránh thai
- Thông tin, giáo dục, truyền thông về các bệnh lây truyền qua đường tĩnh dục, bao gồm H IV/AIDS
Ke hoạch hóa gia đình: Là những nỗ lực của các cặp vợ chồng hay của cá nhân nham
mục đích chủ động sinh đẻ về sổ con và duy trì khoảng cách sinh theo ý muon bằng việc ápdụng các biện pháp tránh thụ thai một cách có hiệu quả [26]
Biện pháp tránh thai: Là các biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngàncản việc thụ thai ở người phụ nữ Các biện pháp tránh thai thường áp dụng là thuốc, hóa chất,thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cát đứt đương đi ngăn cản tinh trùng gặptrứng hoặc các nỗ lực của các nhân nhằm tránh thụ thai Biện pháp tránh thai giúp cá nhân vàcác cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ [26],
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Một số các biện pháp tránh thai phố biến:
Dụng cụ tử cung' Là loại phương tiện tránh thai được đặt vào trong buồng tử cưng của
người phụ nữ Phụ nữ đã có gia đình được đặt vòng tránh thai miễn phí tại các trạm y tếxã/phường
Thuốc tránh thai bằng nội tiết tố tông hợp' Là loại thuốc sử dụng các chất tống hợp có
tác dụng giống nội tiểt tổ sinh dục nữ là estrogen và progesterone
Bao cao su nam' Là loại dụng cụ bàng cao su hoặc nhựa latex hình túi được dùng để
bao bên ngoài dương vật trong quá trình giao hợp Tinh dịch sau khi được xuất ra chứa trongbao nên không có khả năng gặp noãn để thụ tinh Hiện nay tại Việt Nam, bao cao su đượcphát miễn
Nhiễm khuẩn đường sinh sản: Là bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt tại các
nước đang phát triền Nhiễm khuẩn đường sinh sàn bao gồm ba loại nhiễm khuẩn: các bệnhlây truyền qua đường tình dục (lậu, giang mai, hạ cam, HIV/AĨDS ), nhiễm khuẩn nội sinh(viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm hộ do nấm men) và nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không
vô khuẩn sau sảy, đẻ, nạo hút thai không an toàn [26]
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục: Là những bệnh lây truyền chủ yếu bằng
cách tiếp xúc trực tiếp thân thể, đặc biệt là qua sinh hoạt tình dục Bệnh có thể lây truyền giữanam với nam và nữ với nữ, nhưng chủ yếu và thường gặp ở những người quan hệ tình dụckhác giới Vì vậy nguyên tắc điều trị là phải điều trị cho cả người vợ và chồng hoặc bạn tình[26],
AIDS (Hội chúng suy giảm miễn dịch mặc phải): Là bệnh do virus HĨV gây ra Khi
xâm nhập vào cơ thế, virus HIV phả hủy tế bào lympho T4 và các tế bào thuộc hệ thần kinhtrung ương, gây nên suy giảm miễn dịch tế bào, là phát sinh u bướu và nhiễm trùng cơ hội.H1V/AIDS là bệnh lây truyên qua đường tình dục [26]
Ba khía cạnh được đề cập trên được coi là dịch vụ CSSKSS ban đầu và là những ưutiên hàng đầu việc chăm sóc và nâng cao SKSS cho nũ’ lao động di cư Do vậy, mô tả thựctrạng cung cấp dịch vụ CSSKSS trong nghiên cứu này đi sâu mô tả việc triển
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Anh
Ỉ
khai ba hoạt động trên tại các xí nghiệp của KCN Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội Nhà cungcấp dịch vụ chính được đề cập đến trong phạm vi của nghiên cứu này bao gồm phòng y tế đặttại các doanh nghiệp và trạm y tế xã phường trên địa bàn có KCN
2 Di CU' nông thôn — thành thị và khuynh hướng nữ di cư
Giống như nhiều quốc gia khác khi trải qua quá trình phát triển kinh tê xã hội nhanhchóng, trong vòng 20 nãm trở lại đây Việt Nam đã chứng kiến sự tăng theo cấp số nhân của
dòng người di cư trong nước Quá trình phát triển kinh tế xã hội từ thời kỳ Đổi Mới vào năm
1986 chính là điều kiện thuận lợi đê dòng di cư trong nước gia tăng Kết quả Tổng điều tradân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn 2004-2009, có 6,6 triệu người di cư giữatrong và ngoài tỉnh của Việt Nam, tăng đáng kể so với con số 4,5 triệu người di cư trong nướcghi nhận từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 [9] Số liệu điều tra cũng cho thấy phần lớnngười di cư không đi chuyển cùng gia đình và hầu hết di cư là vì ỉý do kinh tế bao gồm tìmviệc làm, tăng thêm thu nhập và nâng cao điều kiện sống [1] Di cư trong nước ở Việt Nambao gồm di cư lâu dài, di cư ngắn hạn hay di cư mùa vụ Tuy nhiên hầu hết các số liệu cấpquốc gia và các dữ liệu có quy mô lớn về di cư trong nước ở Việt Nam chưa thống kê đượcđầy đủ ve hai xu thế di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ này Xét trong Tổng điều tra dân số,người di cư được định nghĩa là người thay đổi nơi thực tế thường trú qua ranh giới lãnh thổhành chính trong thời kỳ 5 năm trước thời điểm Tổng điều tra [9] Như vậy, có thể kết luậnrằng, trên thực tể số lượng người di cư còn lớn hơn những con số được ghi nhận ở trên nhiêulân
Người di cư chủ yếu tìm đến các KCN, khu chế xuất tại các thành phố lớn số lượngcác KCN và các khu chế xuất đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng trong một vài thập kỷ gânđây và chúng được coi là nên tảng trong chiên lược phát triên công nghiệp Việt Nam [17] Sựgia tăng liên tục số dân theo các khu vực địa lý được thế hiện qua quyết định gần đây củaChính phủ tiếp tục thành lập 117 KCN trên phạm vi cả nước tính đến năm 2015 và đồng thờitiếp tục mở rộng 27 KCN hiện tại [18] Người di cư chiếm một tỷ lệ lớn trong sổ người laođộng làm việc tại các khu vực công nghiệp này
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp Dặng Thị Ngọc Ảnh
chiếm hơn một nửa tổng số di CU' trong nước của Việt Nam với 53%, trong đó 27% di cư từ
các khu vực nông thôn ra thành thị và 26% di cư giữa các khu vực thành thị [12] Đối vớinhững người di cư từ nông thôn ra thành thị, các nơi đến phổ biển nhất là các thành phố lớnnhư Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nang Trong trường hợp thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội, số dân di cư làm tăng gấp đôi dân số ở hai thành phố này [4], Chínhđiều này dẫn tới sự tăng dân số ở khu vực thành thị với tỷ lệ tăng dân số hàng năm lên tới3,4% so với mức tăng dân số ở khu vực nông thôn là 0,4% nẫm 2009 [1] Người di cư tới cácthành phố lớn đóng một vài trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động
cư cũng thúc đẩy sự phát triển kinh tế và trao đổi thông tin giữa thành thị và nông thôn, tăngcường lưu chuyến hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và quan trọng hơn, giảm đói nghèo tại các khuvực nông thôn [3]
Một điếm nối bật của di cư nông thôn thành thị là phụ nữ chiếm một một tỷ lệ lớntrong tổng số người di cư và có chiếu hướng gia tăng [2, 10] Trong số những người dân di cư
chóng Những ngành sản xuất như may mặc, da giầy, chế biến thực phẩm tuyến dụng một số
lượng lớn nữ CN [3]
3 Nữ lao động di cư - nhóm đối tượng dễ bị tôn thưong
Điều kiện sống và làm việc, thu nhập
là một trong những vấn đề mà họ không hài lòng nhất, đặc biệt số phụ nữ trả lời
Trang 19Khóa luận lot nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Ỉ
không hài lòng về nơi ở cao hơn nam giới [15] Người dân di cư sổng trong những nơi không
có đủ nhà ở và không được tiếp cận đầy đủ nước sạch và vệ sinh dẫn tới các hậu quả tiêu cựcđối về sức khỏe của người di cư [19] Nhiều người mới di cư đến các thành phố phải sốngtrong những căn nhà trọ xây tạm và ở những khu vực mà cơ sở hạ tầng nghèo nàn hoặc không
có cơ sở hạ tầng; điện, hệ thống thoát nước và hệ thống giao thông công cộng nghèo nàn hoặckhông tồn tại [20] Theo Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá chính sách di dân tới đô thịnăm 2005 của ủy ban các vẩn để xã hội của Quốc hội khoá XI, tại Đồng Nai, đa số CN ngoạitỉnh vẫn phải thuê nhà với mức tối thiểu 50.000 đồng/người/tháng, với diện tích bình quân4,4m2/người Mỗi phòng không dưới 4 -5 người Chất lượng nhà cho thuê, điều kiện vệ sinh,nước, điện chưa đảm bảo yêu cầu [22],
Các nghiên cứu được thực hiện liên quan tới vấn đề nhà ở tại các KCN và các khu chếxuất còn rất hạn chế về số lượng nhưng vấn đề này đã nhận được sự chú ý đáng kể của cáccấp chính quyền và phương tiện truyền thông đại chúng Do lao động nhập cư làm việc tại cácKCN tăng mạnh về số lượng, dẫn tói nhu cầu nhà ở tăng cao, trong khi hầu hết chính quyềnđịa phương và các chủ đầu tư hạ tầng KCN và các doanh nghiệp đều chưa chú trọng tới việcxây dựng nhà ở cho CN thuê với giá thấp Ước tính 50% lực lượng lao động tại các KCN vàkhu chế xuất tại miền Bắc và 65,8% lao động tại các khu vực miền Nam đang có nhu cầu cầnnơi ở và chỉ có 3-6,5% số nhu cầu về nơi ở đó được đáp ứng Tỉnh Bình Dương mới chỉ đảmbảo nhà cho 15% số lao động, con số này ở Đồng Nai là 6,5% và 4% tại thành pho Hổ ChíMinh [22],
Người di cư gặp bất lợi hơn so với người không di cư về việc kiểm sống Điều tra di
cư năm 2004 cho thấy mặc dù có thêm thu nhập sau khi di cư, mức thu nhập trung bình củangười di cư vẫn thấp hơn nhiều so người không di cư tại nơi họ đến [4] Trong số nhữngngười di cư, nữ di cư và người di cư đến từ các dân tộc thiểu số gặp nhiều thiệt thòi hơn vềthu nhập, trung bình họ kiếm được ít tiền hơn so với nữ không di cư và ít hơn thu nhập củanam giới ở cả hai nhóm (di cư và không di cư) [13]
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng, điều kiện sống và làm việc có ảnh hưởng Xấu tớisức khỏe của nữ lao động di cư Chuyển tới một địa điểm làm việc mới, phụ nữ di cư gặp khókhãn trong việc tìm kiếm, cũng như sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do họ không hiểu
về hệ thống chăm sóc sức khỏe tại đây và không thông thuộc địa bàn [6] Nhiều người trong
số họ không có hợp đồng lao động và phải làm việc nhiều giờ liền dưới áp lực cao Đe tăngcường sản lượng đầu ra, các doanh nghiệp thường mở rộng thời gian làm việc Nghiên cứu tạicác KCN cũng chỉ ra rằng, người lao động phải làm việc trung bình khoảng 12 tiếng/ngày vàdành toàn bộ thời gian rỗi để ngủ bởi họ quá mệt mỏi với công việc [7] Trong nhiều trườnghợp, nữ CN bị rơi vào tình trạng “tự bóc lột bản thân mình” với lời biện hộ rang họ “nghiệnlàm việc” Thực tế, họ mong muốn có thêm thu nhập để nuôi sống chính bàn thân họ và giađình, Nghiên cứu trên đối tượng nữ lao động di cư tại Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội cho thấyhầu hểt các đổi tượng làm việc trên 8 tiếng một ngày Thời gian làm việc trung bình là 11,5tiếng, đặc biệt trên 25% số đối tượng cho biết họ làm việc trên 14 tiếng một ngày Mặc dùvậy, thu nhập hàng tháng của nừ di cư chỉ khoảng 800.000VND [3]
Thiếu kiến thức
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đa số phụ nữ di cư thiếu kĩ năng sổng cần thiết đế tự chămsóc và phòng tránh các hành vi nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Điều tra di cư ViệtNam 2004 ghi nhận rằng, người di cư thường tự điều trị khi ốm (tỷ lệ này ở nam và nữ lầnlượt là 76% và 70%), một phàn là do thiếu kiến thức và sự hạn chế trong tiếp cận với thôngtin và dịch vụ CSSK [4]
Nghiên cứu của Trương Hiền Anh chỉ ra phụ nữ di cư đặc biệt thiếu kiến thức về cácbệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS 83,6% đối tượng được hỏi trong nghiêncứu đã từng nghe về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tuy nhiên, 22,5% không biết bất
kỉ một tên bệnh nào, 59,9% không kể được triệu chứng bệnh và 23,3% không biết cách phòngtránh Thêm vào đó, chỉ có 49% đối tượng trong nghiên
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
cứu biểt rằng bao cao su có thế ngăn ngừa các bệnh lây truyên quađường tình dục và chỉ 26% cho ràng những bệnh này có thể ngăn ngừabàng cách giữ vệ sinh [3]
Mặc dù 98% phụ nữ cho biết đã từng nghe về HĨV/AIDS, 8% cho rằng muỗi và côntrùng cắn có thể làm lây nhiễm HIV Đối với các biện pháp tránh thai, tỷ lệ đối tượng biết đếnvòng tránh thai là 77,5% và đối với bao cao su là 67% Một điểm đáng chú ý là 100% phụ nữtrong nghiên cứu chưa từng biết đến thuốc tránh thai khấn cấp và 35% cho rằng phá thai làmột biện pháp KHHGĐ và họ cũng không hiểu đầy đủ về hậu quả của việc nạo phá thai Vớiviệc mua bao cao su, 44% phụ nữ di cư cho rằng việc một người phụ nữ mua bao cao su làkhông binh thường và 54% sợ phải đi mua bao cao su [3]
Rào cản CO' cấu hành chính, khung pháp lý
Di cư trong nước đã được đề cập rõ trong Chiến lược Phát triển Kinh tể xã hội giai
đoạn 2001-2010 đồng thời cũng được đưa vào các Chương trình phát triển kinh tế xã hội tương ứng trong giai đoạn 2001-2010 [11] Tuy vậy, các chính sách, đặc biệt ỉà chính sách y
tế cho người lao động di cư chưa được quan tâm đúng mức Chiến lược Sức khỏe Sinh sảngiai đoạn 2001-2010 cũng chưa đe cập tới “nhóm dân di cư” Tương tự, Kế hoạch tống thểQuốc gia về Bảo vệ, Chăm sóc sức khoẻ của thanh niên hoặc Luật Thanh niên cũng chưa chú
ý tới nhóm đổi tượng này CSSKSS ban đầu tại các trạm y tế trên địa bàn có KCN cũngkhông bao phủ nhóm đối tượng phụ nữ di cư Có rất ít chương trình sức khỏe sinh sản và tìnhdục coi người di cư là một nhóm riêng biệt và thiết kế các chương trình dịch vụ của họ đểdành cho nhóm dễ bị tổn thương này Lao động di cư thường có ít kiến thức về iây truyền quađường tình dục và HIV/AIDS [3] và thường tự chữa trị chứ không tìm sự giúp đỡ tại một cơ
sở y tế [4], Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai trong số những phụ nữ di cư đã kết hôn hiệnnay cũng thấp hơn so với những người phụ nữ đã kết hôn không di cư [4], Các hoạt độngphòng ngừa HIV, như thông qua truyền thông đại chúng, truyền thông thay đổi hành vi và cáchoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông đặc biệt không có hiệu quả đối với người di cư và
Trang 22Khóa luận íôt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
nhóm dân số di động, những người làm việc tại các khu vực phi chính thức, thường có thờigian làm việc không theo giờ hành chính, và tại nơi làm việc không có các dịch vụ phù hợphoặc thích hợp Ngôn ngữ có thể cũng là một rào cản đối với người di cư dân tộc thiểu sốchuyển tới khu vực thành thị [7],
Hệ thống đăng ký hộ khẩu là một cản trở đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho laođộng di cư vì ngân sách địa phương và các dịch vụ của chính phủ được thiết kể đựa trên sổngười dân của tỉnh, và các dự án thí điểm dựa trên các quận chỉ hỗ trợ người dân ở đãng kí hộkhẩu trên địa bàn quận [16] Không có ngân sách địa phương cho các can thiệp nhằm vàongười di cư, các dịch vụ phòng ngừa CSSKSS và HIV phù hợp mà người di cư cỏ thể tiếp cậntiếp tục phụ thuộc vào các quỹ của các nhà tài trợ
Hợp đồng lao động cũng là một vấn đề được đặt ra hiện nay Hợp đồng lao động, đặcbiệt đói với cho người di cư và những người di cư tạm thời, là cơ sở mà người lao động có thểtiếp cận tới bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tể và bảo hiểm thất nghiệp Theo ủy ban Các vấn đề
xã hội của Quốc hội, ở những nơi không có hợp đồng lao động, người sử dụng lao độngthường không cảm thấy có nghĩa vụ phải cung cấp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tể chonhững người được tuyển dụng [14] Tỷ lệ người di cư làm việc theo hợp đồng lao động chínhthức cũng khác nhau rất nhiều trên cả nước và trong các nghiên cứu khác nhau Theo cuộcđiều tra di cư của Việt Nam năm 2004, 58% nam di cư ở thành phố Hồ Chí Minh có hợp đồnglao động Tỷ lệ nữ di cư trong cùng lĩnh vực có hợp đồng lao động cao hơn (80%), và nam nữ
di cư ở Hà Nội cũng có tỳ lệ làm việc có hợp đồng cao hơn (83%) [4], Tuy nhiên, nghiên cứuvới quy mô nhỏ năm 2003 được thực hiện tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, và Đà Nangtập trung vào người di cư có hoặc không có đãng ký tạm trú cho thấy chi có 36% người di cư
có hợp đồng lao động Ngoài ra, 38% người di cư có việc làm không nhận được sự trợ giúpnào từ ngườỉ sử dụng lao động, và chỉ có 12% người di cư được phép nghỉ khi cần và 99%người di cư được phỏng vấn trong cuộc điều tra cho biết không có bảo hiểm xã hội hay bảohiểm tai nạn lao động [8]
Trang 23Khóa luận íôt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Chế độ chính sách dành riêng cho lao động nữ được quy định trọng Bộ luật lao động[23] hiện đang bị vi phạm tại nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động nữ Khảo sát xung quanhthực hiện chính sách đối với lao động nữ tại 34 doanh nghiệp ở 10 tỉnh cảu Ban Nữ côngTổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy nữ CN thường có mức lưong thấp, cuộc sốngbấp bênh, và chịu nhiều thiệt thòi trong công việc Khào sát này còn cho thấy hiện nay một sốdoanh nghiệp đang áp dụng một số quy định không phù hợp như quy định muốn thôi việc đểtrông con nhỏ thì phải báo trước từ 30-45 ngày, nếu không sẽ bị đuổi việc hay lao động nữ khi
đi khám thai phải làm giấy xin phép và thời gian nghỉ đi khám thai trừ vào tiền thưởngchuyên cần Trong ngành xây dựng, da giày, may mặc, việc tăng ca, tăng giờ quá quy định rấtphổ biến Đặc biệt, theo Tống Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện có tới 2/3 đon vị trong đợtkhảo sát thừa nhận họ không biết đến các ưu đãi dành cho doanh nghiệp sử dụng nhiều laođộng nữ [24]
Hiện tại, phòng y tế tại các cơ quan, xí nghiệp chưa thực sự phát huy hiệu quà trongCSSKSS cho nữ CN Nhiều nữ lao động cho biết họ không muốn tới phòng y tế cơ quan bởitại đây họ nhận được rất ít sự trợ giúp từ các cán bộ y tế [7] Nhìn chung, hoạt động cung cấpdịch vụ CSSKSS tại hầu hết các doanh nghiệp mới được thực hiện trên khuôn khổ hẹp, chỉdừng lại ở các chương trình KHHGĐ cho NCN đâ có gia đình, mà chưa thực sự quan tâm đếnnhững nữ công nhân trẻ độc thân và các nhu cầu của họ Các hoạt động tuyên truyền, giáodục, nâng cao nhận thức cho NCN về các vấn đề liên quan tới SKSS, phòng tránh bệnh lâytruyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và bình đang giới chưa được quan tâm [21]
Mạng lu'ó'i xã hội và sự kì thị xã hội
Nữ CNDC ở độ tuổi trẻ và chưa lập gia đình phải đối mặt với các áp lực của gia đình
và xã hội về việc kết hôn, nhưng họ không có thời gian cho các giao tiếp xã hội sau những giờlàm việc kéo dài trong môi trường làm việc nhà máy với nữ giới chiêm đa số Việc bị cô lậpkhởi xã hội trong một môi trường mới lạ có thể dẫn tới sự thiếu tự tin trong việc kết bạn
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Sự kỳ thị xã hội đối với người di cư cũng khiến họ bị cô ỉập vì người di cư thường bịngười bản xứ coi là không đáng tin cậy và phiền toái Họ bị phân biệt và bị coi là gốc rễ cửanhững “tệ nạn xã hội” ảnh hưởng tới xã hội như tội phạm, cờ bạc và mại dâm Điều này, đãdẫn đến việc họ tiếp tục bị tách ra bên lề xã hội và bị chia tách hơn về xã hội, góp phần làmtăng rủi ro bạo [ực và lạm dụng [15]
Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tiếp cận với dịch vụ CSSKSS ở nữ CNDC còn rất hạn chế Do các trạm y tế phườngtrên địa bàn khu công nghiệp không bao phủ nhóm phụ nữ di cư, khi sử dụng các dịch vụCSSKSS ban đầu tại đây, NCN không đăng kí tạm trú phải trả phí Thêm vào đó, với đặc thù
về cường độ làm việc cao, NCN gặp khó khăn khi sử dụng các dịch vụ y tế nhà nước bởi các
cơ sở này chỉ hoạt động vào giờ hành chính, cũng là thời gian họ phải làm việc Họ buộc phảilựa chọn phòng khám tư hoặc các bệnh viện tư nhân với chi phí khám bệnh cao hơn nhiều lần[7] Lao động di cư tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho biết chi phí khám và điều trịgần gấp đôi thu thập của họ [4]
4 Các can thiệp đã có nhằm tăng cường dịch vụ CSSKSS cho NCN di cư
Dự án “Cải thiện sức khoe sinh sản và sức khỏe tình dục cho công nhân làm việc tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn Adidas tại thành phố HỒ Chí Minh
và tỉnh Bình Dương”
Đơn vị tài trợ: Vãn phòng khu vực Châu Á - Tập đoàn Adidas Salomon Thời gian
Hướng tiếp cận\ Dự án nâng cao nhận thức của CN lao động nhập cư vể vấn đề SKSS
bao gồm phòng chống HIV/AIDS và hỗ trợ những CN này dịch vụ SKSS và sức khỏe tìnhdục ngay tại các nhà máy cung ứng sản phẩm cho tập đoàn Adidas thông qua hoạt động lưuđộng và tại trung tâm sức khỏe sinh sản MSI ở Bình Dương Dự án cũng chú trọng vào việctăng cường năng lực cho đội ngũ nhân viên y tế của nhà máy thông qua các khóa đào tạo như
tư vấn về SKSS và các biện pháp tránh thai, để họ có the tư vấn lại cho CN nhà máy củamình Chương trình đào tạo đồng đẳng viên là một hợp
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
phần quan trọng của dự án, theo đó, các bạn CN trẻ tuổi sẽ đượcđào tạo để trở thành những Giáo dục viên đồng đẳng ngay tại nhà máy Mạng lưới chuyểntuyến cũng sẽ được thiết lập với sự tham gia của các nhà thuốc, các cơ sở y tể Nhà nước và tưnhân nhàm tăng cường tính sẵn có của dịch vụ cũng như thông tin về SKSS và sức khỏe tìnhdục cho CN nhà máy thuộc địa bàn thực hiện dự án [25]
Dự án "Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho công nhân nhập CU' tại các CO' sỏ' y tế tu' nhân đuọ'c nhượng quyền xã hội và dịch vụ lưu động tại TP HỒ Chí Minh và tỉnh Bình Duong"
Nhà tài trợ: Ngân hàng Thế giới
Thời gian triển /chai: 12 tháng (01/2010 - 12/2010)
Hướng tiếp cận: Mục tiêu của Dự án là duy trì và củng cô một sô kêt quả chính đã đạt
được của Sáng kiến "Cải thiện sức khỏe tình dục và SKSS cho CN làm việc tại các nhà máycung ứng sản phẩm cho tập đoàn Adidas tại TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương" doAdidas tài trợ và MSIVN cùng đoi tác địa phương - VNCRH - đồng thực hiện từ năm 2005đến năm 2009 Cụ thể là nâng cao sự sẵn có và khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ KHHGD
và phá thai an toàn cho CN nhập cư trẻ tại một số nhà máy, đồng thời thí điểm cơ chế chi trảdịch vụ y tế dựa trên kết quả sử dụng dịch vụ thực tế theo hình thức "thẻ dịch vụ" nhằm rút rabài học kinh nghiệm trong việc tăng cường dịch vụ CSSKSS và KHHGD cho nhóm thanhniên nhập cư có thu nhập thấp trên địa bàn dự án [25]
Dự án “Photovoice - dự án phát triến có sự tham gia của cộng đồng nhắm cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cúa nhóm lao động nhập cư tại
Hà Nội, Việt Nam”.
Nhà tài trợ: Ngân hàng the giới
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Thời gian triển khai: 12 tháng (04/2005 — 06/2006)
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Tiếp cận: Dự án nhằm góp phần làm tăng khẳ năng nhận thức và hiểu biết, từ đó giúp
cải thiện tình trạng SKSS và sức khỏe tình dục cho lao động nhập cư ở Hà Nội Photovoice là
dự án đánh giá tình trạng đói nghèo có sự tham gia cùa cộng đồng và công cụ nghiên cứu là
đề chính bản thân lao động nhập cư trực tiếp tiếp cận với nhiếp ảnh và các hoạt động xã hội[25]
Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe sinh sàn cho mạng lưới y tế xã/phiròng tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long.”
Nhà tài trợ: ATLANTIC Philanthropies
Thời gian triển khai: 42 tháng (12/2008 - 06/2012)
Tiếp cận: Dự án nham cải thiện việc sử dụng dịch SKSS ở tuyên xà phường bàng cách
thiết lập mạng lưới nhượng quyền xã hội và phát triển thương hiệu dịch vụ CSSKSS Mụctiêu của các hoạt động nhượng quyền và phát triển thương hiệu là nhằm nâng cao nhận thứccủa cộng đồng về các dịch vụ CSSKSS ở các trạm y tế xã phường tại Thái Nguyên, ThừaThiên Huế, vầ Vĩnh Long Dự án sẽ áp dụng các kinh nghiệm và bài học từ dự án Nhượngquyền Xã hội đã được thực hiện hành công ở Đà Nang và Khánh Hòa [25],
Những can thiệp trên đây đã và đang được thực hiện với mục đích nhằm bảo vệ vànâng cao SKSS cho người lao động đặc biệt là nữ lao động di cư Một số can thiệp đã đượcchứng minh đem lại những kết quả tích cực đổi với sức khỏe người lao động và được hưởngứng mạnh mẽ từ phía các doanh nghiệp Tuy nhiên một van đề được đặt ra là những can thiệpnày còn ngắn hạn và chưa đánh giá được tính sẵn có của dịch vụ CSSKSS tại cơ sờ sử dụnglao động và hệ thống y tế địa phương mà quan trọng nhất là các trạm y te phường Đánh giáđược các dịch vụ sẵn có sẽ tạo điều kiện đế can thiệp có tính bền vững trong tương lai, tiếtkiệm nguồn lực và đem lại hiệu quả tốt nhất trong việc đảm bảo SKSS cho nữ CN Hình thứctiếp cận của những can thiệp này cần được xem xét và đánh giá để phù hợp với điều kiện tạiKCN Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội trên cơ sở các kết quả của nghiên cứu nhằm thiết kểchương
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
trình can thiệp phù hợp và toàn diện, góp phần cải thiện và nângcao SKSS cho nữ CN đang làm việc tại nhà máy Đây sẽ là tiền đề để xâydựng một mô hình can thiêp, từ đó có thể nhân rộng ra đối với các KCNkhác trên địa bàn quận Long Biên nói riêng và trên địa bàn thành phổ HàNội nói chung
Khái quát về địa bàn nghiên cửu
Nghiên cứu tiến hành tại KCN Sài Đồng B đóng trên địa bàn quận Long Biên, HàNội, chủ yếu là phường Thạch Bàn Quận Long Biên thuộc thành phố Hà Nội được thành lậptheo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP, ngày 6/11/2003 cùa Chính phũ về việc điều chỉnh địagiới hành chính Quận Long Biên có Sông Hồng là giới hạn với quận Hoàn Kiếm, Thanh Trì,Tây Hồ, Hai Bà Trưng; sông Đuống là giới hạn với Huyện Gia Lâm, Đông Anh Phía Đônggiáp huyện Gia Lâm, phía Tây giáp quận Hoàn Kiếm, phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phíaBắc giáp huyện Gia Lâm, Đông Anh Quận Long Biên có vị trí chiến lược quan trọng vớinhiều tuyển đường giao thông như đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường không nổi liềnvới các tỉnh phía bắc, đông bắc Quận Long Biên được xem là một khu vực mới và đang đilên với toe độ nhanh chóng Trên địa bàn quận Long Biên, có nhiều KCN quy mô lớn nhưKCN Sài Đồng B, KCN Đài Tư và KCN Đức Giang và một số lượng lớn các nhà máy, doanhnghiệp trong và ngoài nước Kinh tế phát triển, cùng với lợi thế vị trí cửa ngõ của Hà Nội,Long Biên đã tạo cơ hội việc làm cho nhiều thanh niên của địa phương, cũng như thu hútlượng lớn người lao động di cư ngoại tỉnh Quận Long Biên có diện tích 6.038,24 ha với 14đơn vị hành chính trực thuộc với 306 tổ dân phố Tính đến năm 2010, dân sổ của quận LongBiên lên tới 234.259 nhân khẩu với 62.293 hộ gia đình, số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinhsẳn 15-49 là 54.212 người Theo số liệu từ công an Quận Long Biên, đến thời điểm ngày20/9/2010, số người đăng kí hộ khấu KT3 và KT4 trên địa bàn quận là 18.585 người
Trang 29Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
Nghiên cứu được tiến hành tại KCN Sài Đồng B, quận Long Biên, Hà Nội KCN SàiĐồng B có tổng diện tích là 384.743,50 m2, nằm chủ yếu trên địa bàn phường Thạch Bàn vàSài Đồng KCN Sài Đồng B nằm gần Quốc lộ 5, nổi Hà Nội với Hải Phòng, cách trung tâmthành phố Hà Nội 8 km, gần sân bay nội địa Gia Lâm và sân bay Quốc té Nội Bài và cách Hảiphòng có 94 km Với vị trí thuận lợi, KCN Sài Đồng B thu hút một số lượng lớn người laođộng di cư Theo số liệu từ Công an Quận Long Biên, đến thời điểm ngày 20/9/2010, sốngười đăng kí hộ khẩu KT3 và KT4 trên địa bàn phường Thạch Bàn và Sài Đồng lần lượt là2.037 và 936 người
Tính đến tháng 01/2011, có 22 công ty đang hoạt động tại KCN, trong đó 10 công ty
có vốn đầu tư nước ngoài, 7 công ty liên doanh và 5 công ty có vốn đầu tư trong nước Cáclĩnh vực hoạt động chính bao gồm sản xuất và lắp ráp thiết bị điện tứ, thiết bị quang học, cácmặt hàng xốp nhựa và thực phấm và may mặc Trong đó, ngành sản xuất thu hút nhiều nừ laođộng nhất là sản xuất lắp ráp thiết bị quang học, may mặc và sản xuất bánh kẹo Hiện nay, 22
các thủ tục chuyên tuyên cho người lao động làm viêc tại nhà máy
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ
1 Đối tượng nghiên CÚ'U
Tại cơ sở sử dụng lao động - các nhà máy trực thuộc KCN Sài Đồng B:
• Phó giám đốc phụ trách nhân sự
• Cán bộ phòng y tế tại các nhà máy
• Chủ tịch Hội Phụ nữ
• Bí thư Đoàn Thanh niên
• Nữ công nhân hiện đang làm việc tại nhà máy độ tuổi 15-49
Tại trạm y tế phường Thạch Bàn và Sài Đồng
• Trạm trưởng trạm y tế phường Thạch Bàn và Sài Đồng
• Cán bộ phụ trách chương trình CSSKSS
Trang 30Khóa luận tốt nghiệp Đặng Thị Ngọc Ảnh
2 Thòi gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
Thời gian: Tháng 01/04/2011 - 30/09/2011
Địa điểm: KCN Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội và trạm y tế phường Thạch Bàn vàSài Đồng
3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kể nghiên cứu định tính với 2 phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhómtrọng tâm
• 02 công ty liên doanh: Công ty liên doanh trách nhiễm hữu hạn MSA- HAPRO
và Công ty trách nhiệm hữu hạn WICTOR VINATại mỗi công ty, chọn chủ đích:
• Phó giám đốc phụ trách nhân sự
• Trường phòng y tế
• Chủ tịch hội phụ nữ
• Bí thư Đoàn Thanh niên (Chọn đối tượng là phụ nữ)
Tại trạm y tế phường Thạch Bàn và phường Sài Đồng, chọn chủ đích:
• Trạm trưởng trạm y tế phường
• Cán bộ phụ trách chương trình CSSKSS
Nữ công nhân làm việc tại nhà máy: Chọn 06 nữ công nhân độ tuổi 15-49 cùng làmviệc ca sảng (hoặc cùng làm việc ca chiều) tại mỗi nhà máy đã lựa chọn ở trên Tiến hành 01cuộc thảo luận nhóm trọng tâm tại mỗi nhà máy
Trang 31Khọa luận tôi nghiệp Đặng Thị Ngọc Ánh
Vậy thông tin trong nghiên cứu sẽ được thu thập dựa trên 28 phỏng vấn sâu và 06 thảoluận nhóm trọng tâm (mỗi thảo luận nhóm trọng tâm gồm 06 đối tượng)
Cỡ mẫu của nghiên cứu: N = 28 + 6*6 = 64 đối tượng
5 Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vẩn sâu: Phỏng vấn sâu bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc (Phụ lục ỉ) và ghi âm nội
dung cùa cuộc phỏng vấn
• Tiến hành phỏng vấn sâu:
Bước ỉ: Nghiên cứu viên giới thiệu tên và mục đích của nghiên cứuBước 2: Đe nghị đoi tượng được phỏng vẩn ký vảo Bản đong thuận tham gianghiên cứu (Phụ lục 2)
Bước 3: Tiển hành phỏng vấn và ghi âmBước 4: Gỡ băng
Thảo luận nhóm trọng tâm: Sử dụng bản hướng dẫn thảo luận nhóm trọng tâm (Phụlục 3), ghi âm và ghi chép chi tiết nội dung của cuộc thảo luận nhóm
• Tiến hành thảo luận nhóm trọng tâm:
Bước I: Chọn 06 nữ công nhân tại từng nhà máy đã lựa chọn để tham gia thảoluận nhóm
Bước 3: Phân công nhiệm vụ giữa nghiên cứu viên điều hành buổi thảo luậnnhóm và thư kí
Bước 4: Giới thiệu rõ mục đích của buồi thảo luận nhómBước 5: Tiến hành thảo luận nhóm
Bước 6: Gỡ bãng