Các chất thải rắn y tế đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh thành 3 nhóm là:chất thải lây nhiễm, chất thải thông thường và chất thải hóa học nguy hại.. Phân loại theo Quy chế Quản
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG _í -ĩ -1 -
PHAN THANH LAM
THỤC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHÁT THẢI RAN Y TÉ CỦA TRƯNG TÂM Y TÉ HUYỆN GIA LÂM, NĂM 2013
LUẬN VÀN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHŨYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2013
Trang 2Tôi xin chán thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, các phòng ban trường Đại học Y tế công cộng đã góp nhiều công sức trong đào tạo, giúp đỡ tôi trong quả trình học tập và nghiên cừu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc Trung tám Y tế huyện Gia Lâm cùng toàn thể nhân viên trong Trung tám đã động viên, khích lệ và tạo mọi điểu kiện tốt nhất cho tôi học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin chán thành cảm ơn các bạn bè lớp Cao học Quản lý bệnh viện 4 đã chia sè kinh nghiệm học tập, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm qua.
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sáu sắc tới gia đình tôi, những người đã cùng chia sẻ những khó khăn vất vả, những buồn vui, là nguồn động viên, nâng đỡ tôi trong suốt quả trình học tập
Hà Nội, ngày 23 thảng 9 năm 2013
Phan Thanh Lam
Trang 3■
-i MỤC LỤC ĐẬT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Thông tin cơ bản về chất thải y tế 4
1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới 11
1.3 Tinh hình quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 13
1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tế 20
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu 26
2.5 Phương pháp thu thập sổ liệu 27
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.7 Các biển số nghiên cứu 29
2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 38
Chương 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cứu 39
3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực trạm y tế xã thị trấn thuộc Trung tâm Y tể huyện Gia Lâm 39
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực trạm y te xã thị trấn thuộc TTYT huyện Gia Lâm 67
Chương 4 BÀN LUẬN 79
4.1 Thực ưạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại TTYT huyện Gia Lâm 79
4.2 Một sổ yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm 94
4.3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 96
Trang 4KÉT LUẬN 98
1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm 98
2 Một sổ yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 99
KHUYẾN NGHỊ 100
1 SỞYtếHà Nội 100
2 ủy ban nhân dân Huyện Gia Lâm 100
3 ủy ban nhân dân các xã, thị trấn 100
4 Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm 100
5 Các khoa, phòng khám, trạm y tế 100
TÀI LỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 106
Phụ lục 1: Khung lý thuyết 106
Phụ lục 2: Bảng kiểm đánh giá thực trạng quản lý CTRYT 107
Phụ lục 3: Phiếu điều tra kiến thức NVYT về quản lý CTRYT 114
Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo TTYT 121
Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vẩn sâu điều dưỡng trưởng TTYT 123
Phụ lục 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng phòng khám đa khoa khu vực 125
Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng PKĐKKV 126
Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu hộ lý phòng khám đa khoa khu vực 127
Phụ lục 9: Hướng dẫn phỏng vẩn sâu trưởng trạm y tế 128
Phụ lục 10: Hướng dần phỏng vấn sâu điều dưỡng, hộ sinh trạm y tế 129
Phụ lục 11: Hướng dần thảo luận nhóm ĐDT các khoa PKĐKK V TYT 130
Phụ lục 12: Bâng tổng hợp cỡ mẫu quan sát và phát vấn NVYT 131
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn 39
Bảng 3.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 41
Bảng 3.3 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế 42
Bảng 3.4 Kiến thức về vận chuyển chất thải ran y tế 43
Bảng 3.5 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế 44
Bảng 3.6 Kiến thức về xử lý chất thải rắn y tế 45
Bảng 3.7 Liên quan giữa kiến thức phân loại chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.8 Liên quan giữa kiến thức vận chuyển chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đổi tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.9 Liên quan giữa kiến thức lưu giữ chất thải rắn y tế với các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 50
Bảng 3.10 Liên quan giữa kiến thức xử lý chất thải ran y tế với các đặc điếm cá nhân của đổi tượng nghiên cứu 51
Bảng 3.11 Dụng cụ bao bì đựng, thu gom, vận chuyển 52
Bảng 3.12 Phân loại chất thải rắn y te 57
Bảng 3.13 Thu gom chất thải rắn y tế 60
Bảng 3.14 Vận chuyển chất thải rắn y tế 61
Bảng 3.15 Lưu giữ chất thải rán y tể 63
Bảng 3.16 Xử lý chất thải rắn y te 65
Bảng 3.17.Thực trạng chung về quản lý chất thải rắn y tế 67
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẲT
CBXH : Các bệnh xã hội
CTYT : Chất thải y tế CTRYT : Chất thải rắn y tể ĐDT : Điều dưỡng trưởng
ĐTNC : Đổi tượng nghiên cứu
NVYT : Nhân viên y tế PKĐK.KV : Phòng khám đa khoa khu vực PVS : Phỏng vấn sâu
TTYT : Trung tâm y tế
TTGDSK : Truyền thông giáo dục sức khỏe WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN cứu
Chất thải y tế (CTYT) bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường, phátsinh trong các cơ sở y tế từ các hoạt động khám chừa bệnh, phòng bệnh, đào tạo nghiêncứu và sản xuất thuốc Chất thải y tế đặc biệt là chất thải chứa mầm bệnh lây nhiễm nếukhông được xử lý đúng phương pháp sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏecon người Ngành y tế đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường nhằm hạn chế
ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe cho nhân viên y tế và cộng đồng Tuy nhiên côngtác quản lý chất thải y tế hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức
Với tính chất là tuyến y tế cơ sở, nhưng các chất thải từ các khoa, phòng khám, trạm
y tế cũng mang tính chất nguy hại như chất thải từ các bệnh viện Hiện nay, chưa có nhiềunghiên cứu trên quy mô toàn quốc cũng như tại Thành phố Hà Nội về tình hình quản lý chấtthải y tế tại tuyến y tế cơ sở Để trả lời cho câu hỏi thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tạicác khoa, phòng khám đa khoa khu vực (PK.ĐKK.V) trạm y tế (TYT) thuộc Trung tâm Y
tế (TTYT) huyện Gia Lâm như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lýchất thải rắn y tế của TTYT huyện Gia Lâm? Chủng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này vớithiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
Nghiên cứu tiến hành từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2013 trên các đổi tượng là hệthống cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải rắn y tế; Chất thải rắn y tế (CTRYT) tạicác khoa, phòng khám, trạm y tế; Các cán bộ y tế trực tiếp tham gia công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại TTYT huyện Gia Lâm
Ket quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nhân viên y te đạt kiến thức chung về quản lýchất thải rắn y tể chưa cao (29%) Kiến thức về phân loại đạt tỷ lệ thấp nhất (47,6%), kiếnthức về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải đều đạt tỷ lệ khá cao (trên 80%)
Trang 8Dụng cụ thu gom chất thải ran y tế đủ nhưng chưa đúng theo quy định của Bộ Y tế(BYT) Các chất thải rắn y tế đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh thành 3 nhóm là:chất thải lây nhiễm, chất thải thông thường và chất thải hóa học nguy hại Tỷ lệ thu gom.vận chuyển chất thải đạt tiêu chuẩn qui định là 59% và
Trang 949,2% Tất cả các đơn vị đều có khu vực lưu giữ riêng chất thải nhưng thời gian lưu giữ tạinơi tập trung dài, khu lưu giữ không đạt tiêu chuẩn Xử lý, tiêu hủy các chất thải chung đạt59.1% xử lý chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải sẳc nhọn và chất thải thôngthường thực hiện tốt
Các yếu tố có lợi tác động đến công tác quản lý chất thải rắn y te là: có sự chi đạocủa Sở Y tế Hà Nội; Hướng dần cụ thể của TTYT Gia Lâm; Sự ủng hộ và quan tâm của cáccấp chính quyền; Phương tiện, dụng cụ phục vụ cho công tác quản lý CTRYT được đầu tư.Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn như cơ sở hạ tầng; Kinh phí; Nguồn nhân lực; Ý thứccủa nhân viên y tế; Chế độ chính sách
Khuyến nghị cơ bản của nghiên cứu là: Công tác quản lý chất thải y tể cần có cáchướng dẫn cụ thế và phù hợp với mô hình hoạt động của tuyến y tế cơ sở Bổ sung cácphương tiện, dụng cụ đạt tiêu chuẩn, cần có thiết kế, quy hoạch khu vực lưu giữ và xử lýchất thải y tể khi xây dựng, cải tạo các phòng khám và các trạm y tế Tăng cường công tácđào tạo tập huấn, kiểm tra giám sát Tăng nguồn kinh phí cho công tác quản lý chất thải ytế
Trang 10tế Thế giới, lượng chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải phát sinh
từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe, ưong đó có khoảng 10% chất thải nhiễm khuấn và 5%chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác [47],[50]
Chất thải y tế nểu không được xử lý và quản lý tốt sẽ ưở thành nguồn lây nhiễmbệnh cho nhân viên y tế (NVYT) cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường ưầm ưọng Nhânviên y tế bệnh nhân, người xử lý chất thải, người nhặt rác và người dân trực tiếp tiếp xúcvới y tế có nhiều nguy cơ rủi ro từ các chất thải y tế Chất thải y tế sắc nhọn được coi là rấtnguy hiểm vì nó gây tổn thương kép như vừa gây tổn thương lại vừa có khả năng lây truyềncác bệnh truyền nhiễm Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một người bị chấn thương từmột kim tiêm đã sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ bị lây nhiễm HBV HCV và HIVtương ứng là 30%; 1.8% và 0.3% [50] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính ưong năm
2000 ưên toàn Thế giới có khoảng 21 triệu ca nhiễm virus viêm gan B 2 triệu ca nhiễmvirus viêm gan c và 260.000 ca nhiễm HIV do tiêm chích kim tiêm bấn Nhiều trường hợp
có thể đã được tránh khởi nếu bơm kim tiêm được thải bỏ một cách an toàn [51 ] Vì vậyquản lý chất thải y tế đang là mối quan tâm không chỉ riêng ngành y tế mà còn là mối quantâm chung của toàn xà hội
Trang 11Kết quả đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002 tại 22 nước đang pháttriển cho thấy: tỷ lệ các cơ sở y tế không sử dụng các phương pháp thích họp xử lý chất thảikhoảng từ 18% đến 64% [49]
Tại Việt Nam theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường, chỉ có khoảng 50% cácbệnh viện thực hiện phân loại, thu gom chất thải y tế đúng Quy chế Quản lý chất thải y tế[9] Hiện có khoảng 44% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế ưong đó có 76.5% bệnhviện trung ương; 53% bệnh viện tuyến tỉnh 37% bệnh viện tuyến huyện Tuy vậy hệ
Trang 12thống xử lý chất thải y tế ở nhiều bệnh viện đã xuống cấp [26] Chỉ
có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chấtthải rắn y tể, 30% trung tâm y tế dự phòng hợp đồng với bệnh viện ừênđịa bàn để xử lý Chất thải rắn y tế tại tuyến xã chưa được quan tâm vàthực hiện, hầu hết các trạm y tể xã chưa xử lý chất thải y tế trước khi xả
ra môi trường [9]
Công tác quản lý chất thải rắn y tế nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường bệnh viện, nếuthực hiện tốt sẽ đạt được những kết quả quan trọng như: Môi trường bệnh viện sạch đẹpmang lại những ấn tượng ban đầu tốt đẹp cho mọi người đến thăm và thể hiện nếp sống vănhóa, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý bệnh viện Làm tốt công tác quản lý chấtthải y tế tạo ra môi trường thuận lợi giúp người bệnh chóng bình phục và được thoải mái khinằm viện Mặt khác, quản lý chất thải rắn y tế tốt sẽ đảm bảo an toàn lao động nghề nghiệpcho nhân viên trong bệnh viện
Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm là tuyến y tế cơ sở có nhiệm vụ chính là phòngchống dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế, cấp cứu và khám chữa bệnh ban đầu.Trong quá trình hoạt động, mỗi năm thải ra trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm và nguy hạihại [37],[39] Cũng như nhiều trung tâm y tế tuyến huyện, cơ sở vật chất tại các phòngkhám, các trạm y tế mặc dù được xây mới cải tạo, sửa chữa nhưng hệ thống lưu giữ, xử lýchất thải y tế đều chưa được quy hoạch, thiết kế Kinh phí hoạt động nói chung và kinh phícho quản lý chất thải y tế nói riêng còn hạn chế Đe trả lời cho câu hỏi thực trạng quản lýchất thải rắn y te tại các khoa, phòng khám, trạm y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Gia Lâmnhư thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải rắn y tế? Nhamgóp phần giúp lãnh đạo và chính quyền địa phương nam rõ về thực trạng tình hình, đưa ranhững giải pháp phù hợp để công tác quản lý chất thải y tế được thực hiện tốt, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài 'Thực trạng công tác quán lý chất thải rắny tế của Trung tâm Y tể huyện Gia Lãm, năm 2013”.
Trang 13MỤC TIÊU
Mục tiêu cụ thể
1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa, phòng
khám đa khoa khu vực trạm y tế xã, thị trấn thuộc Trung tâm Y tế huyện GiaLâm, năm 2013
2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế / '
' Ạ ■ ' X ■ 'tại các khoa, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tê xã, thị trân thuộcTrung tâm Y tế huyện Gia Lâm, năm 2013
Trang 14Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thông tin cơ bản về chất thải y tế 1.1.1 Một
số khái niệm
Chất thải: Là vật chất ở thể rắn lòng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [28]
Chất thải y tế: Là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao
gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [7],
Chất thải y tế nguy hại: Là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và
môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc cóđặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [7]
Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tổ lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ [7]
Quản lý chất thải y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu thu
gom vận chuyển, lưu giữ giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý tiêu hủy chất thải y tế vàkiếm tra, giám sát việc thực hiện [7],
Thu gom chất thải tại noi phát sinh: Là quá trinh phân loại, tập hợp đóng gói vàlưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế [7]
Vận chuyển chất thải: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử
lý ban đầu, lưu giữ tiêu hủy [7],
Trang 15Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây
nhiễm cao tại nơi chất thài phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
Xử lý và tiêu hủy chất thải: Là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả
năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường [7]
7.x'., X
1.1.2 Phân loại chât thải y tê
1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới
Chất thải y tế được phân thành 8 loại [7]: Chất thải nhiễm trùng, chất thải sac nhọn,thuốc thải loại, chất thải có tính độc với tế bào hóa chất, chất thải chứa kim loại nặng độc.các bình chứa khí nén chất phóng xạ
Trang 161.1.2.2 Phân loại theo Quy chế Quản lý chất thải của Bộ Y tế
Chất thải trong các cơ sở y tế được chia thành 5 loại: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại chất thải phóng xạ bình chứa áp suất và chất thải thông thường Tuy
không phân thành 8 loại như WHO nhưng CTYT cũng đã bao gồm cả 8 loại trên [7], 1.1.3 Thành phần và khối lượng chất thải y tế
1.1.1.1 Thành phần chất thải y tế
Thành phần CTYT phát sinh từ các hoạt động chuyên môn của các cơ sở y tế rất đadạng, phụ thuộc vào mô hình hoạt động, chức năng chuyên môn quy mô hoạt động của cơ
sở y tế Các chất thải phát sinh từ các hoạt động y tế như [32]:
- Chất thải khoa điều trị: Bộ phận thay bông băng gồm gạc, bông băng dính máu
mủ, tổ chức hoại tử đã cắt lọc Bộ phận tiêm gồm kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc, thuốcthừa Ngoài ra còn có các loại dịch tiết, bệnh phẩm, túi đựng
- Chất thải phòng mổ: bông gạc nhiễm khuẩn, mủ tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏcủa cơ thể máu dịch, thuốc, hóa chất, kim tiêm, bơm tiêm
- Chất thải phòng khám: bệnh phẩm mủ các tổ chức hoại tử bông băng, gạc nhiễmkhuẩn, dụng cụ nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn
- Chất thải khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu hóa chất, chai lọ, kimtiêm
- Chất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hóa sinh: bệnh phẩm, phân, nước tiểu, máu,
mủ đờm hóa chất, môi trường nuôi cấy
- Chất thài phòng thí nghiệm: các xác động vật các bộ phận cắt bở của động vật,các chất thải của quá trình sán xuất vắc xin
- Chất thải sinh hoạt từ bệnh nhân, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân: đồ ăn.thức uống, vỏ thuốc, giấy loại, quần áo bẩn
Thành phần chất thải y tế rất đa dạng và phức tạp Các khảo sát cho thấy thành phầncủa chất thải y tế bao gồm một số loại chính: giấy các loại (3%); Kim loại, vỏ hộp (0.7%);Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm (3,2%); Bông băng, bột bó gãy xương(8.8%); Chai, túi nhựa các loại (10.1%); Bệnh phẩm (0.6%); Rác hữu cơ (52.57%); Đất đá
và các vật ran khác (21.03%) [ 16]
Trang 17Kết quả đánh giá tại 15 bệnh viện trong cả nước, thành phần chất thải rắn y tế tại cácbệnh viện bao gồm: Đồ nhựa, cao su chiếm tỷ lệ dưới 20%; Các loại chất thải khác khoảng30% [42],
Tại 172 bệnh viện của 5 thành phổ là Hà Nội Hải Phòng Huế Đà Nằng Hồ ChíMinh, chỉ có 0.38% là chất thải phóng xạ; 18.39% chất thải lây nhiễm; 2.67% chất thải nguyhại và 78.6% là chất thải thông thường [8]
Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, chất thải y tế là 26,79% trong đó chất thải sắcnhọn là 72,4%, chất thải hóa học là 0,61% [35]
1.1.1.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
Theo WHO, nguồn CTYT chính là các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh; Cáctrung tâm nghiên cứu thí nghiệm y khoa; Các trung tâm giải phẫu tử thi, nhà xác Tạinhững nước có thu nhập cao, bình quân cứ mỗi giường bệnh sẽ thải ra 0,5 kg chất thải y tếnguy hại mỗi ngày, ở những nước có thu nhập thấp thì sổ lượng đó là 0,2 kg [51],
Chất thải y tể phát sinh tại các cơ sở y tế thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa, phụthuộc các yếu tố: cơ cấu bệnh tật dịch bệnh, quy mô bệnh viện, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoạitrú phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc, sổlượng người nhà đen thăm bệnh nhân [21],
Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam khảo sát đánh giá hiệntrạng quản lý chất thải của bệnh viện ưong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắnphát sinh tại các tuyến bệnh viện như sau [21]:
- Bệnh viện tuyến Trung iroug:
o Chất thải y tế: 0,97 kg/giường bệnh/ngày
o Chất thải y tế nguy hại: 0,16 kg/giường bệnh/ngày
- Bệnh viện tuyến tỉnh:
o Chất thải y tế: 0,88 kg/giường bệnh/ngày
o Chất thải y tế nguy hại: 0,14 kg/giường bệnh/ngày
- Bệnh viện tuyến huyện:
o Chất thải y tế: 0.73 kg/giường bệnh/ngày
o Chất thải y tế nguy hại: 0,11 kg/giường bệnh/ngày
Trang 18Báo cáo tóm tắt thực trạng quản lý chất thải y tế và định hướng hoạt động trong thờigian tới [26] cho biết tổng lượng CTRYT phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 350 tấn/ngày.trong đó có 40.5 tấn là CTRYT nguy hại Ước tính số lượng CTRYT năm 2015 là 600tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày
Các bệnh viện có quy mô càng lớn thì lượng CTYT phát sinh càng nhiều và tỷ lệ cácCTYT nguy hại càng cao
Đối vói các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế: Tổng lượng
CTRYT phát sinh trong 1 ngày là 31.685 kg, lượng CTRYT nguy hại là 5.122 kg Ước tínhđến năm 2015 sẽ là 43.725 - 48.160 kg/ngày, trong đó khoảng 7 - 7,8 tấn là CTRYT nguyhại [17]
Đối vói hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở y tế: Tổng lượng chất thải
thông thường phát sinh trong 1 ngày là 104.227 kg Tổng lượng chất thải lây nhiễm cầnđược xử lý trong 1 ngày là 24.776 kg [17]
Đối với các cơ sở y tế dự phòng trên cả nưóc: Tổng lượng chất thải rắn trung bình
trong một ngày tại các TTYT dự phòng tuyến tỉnh khoảng 9.47kg/ngày, TTYT dự phòngtuyến quận huyện khoáng 16.42 kg/ngày [1]
Đối với các cơ sở sản xuất thuốc ở Việt Nam: Các cơ sở sản xuất thuốc có các loại
chất thải khác nhau như: bã dược liệu, chất thải chứa hoạt chất kháng sinh betalactam sốlượng ước tính khác nhau Các cơ sở này thường không có số liệu thống kê số lượng chấtthải rắn [14]
1.1.4 Tác động của chất thải y tế đối vói sức khỏe
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so vớicác loại chất thải rắn khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trướckhi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể [5]
CTYT được loại bỏ khỏi cơ sở y tế theo nhiều cách, chất thải rắn thông thường đượcđem chôn lấp thiêu đốt hoặc đổ ra các bãi rác chung Các chất thải này nếu không đượcquản lý, xử lý tốt sẽ tác động trực tiếp và gây ảnh hưởng đến cộng đồng Ngoài ra còn gâynhững tác động khác như: gây mùi xú uể khó chịu, nhiều ruồi muồi, côn trùng, mất mỹ quan
đô thị [11] Tất cả các cá nhân tiếp xúc với CTYT nguy hại là những người có nguy cơtiềm tàng, gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế người ở ngoài
Trang 19các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các CTYT và những ngườiưong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sótữong khâu quản lý chất thải [16],
Theo WHO CTYT có chứa các vi sinh vật có khả năng gây hại, chúng có thể gâynhiễm cho các bệnh nhân trong bệnh viện, nhân viên y tế và cộng đồng Chất thải và các sảnphẩm của nó có thế gây ra những tốn thương: Bỏng do phóng xạ, vết thương do vật sắcnhọn, ngộ độc và ô nhiễm do thải bỏ dược phấm [50]
1.1.4.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn
Trong thành phần CTYT có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gâybệnh truyền nhiễm Các tác nhân gây bệnh có thề thâm nhập vào cơ thể con người thông quacác cách thức như sau: qua da niêm mạc đường hô hấp đường tiêu hóa
Đối với những bệnh nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặcviêm gan c, các nhân viên y tế đặc biệt là các điều dưỡng là những đổi tượng có nguy cơnhiễm cao nhất, do họ phải thường xuyên tiếp xúc với nhũng chất thải bị nhiễm máu hoặcchất tiết của bệnh nhân gây nên Các nhân viên khác và những người vận hành quản lý, xử
lý chất thải bệnh viện hoặc những người bới nhặt rác cũng có nguy cơ đáng ke [16], 1.1.4.2 Nguy cơ của chất thải sắc nhọn
Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ đã phát hiện 39 trường hợp mac H1V/AIDSnghề nghiệp ưong một năm Tình trạng nhiễm virus viêm gan B có liên quan đến các tổnthương do vật sẳc nhọn gây ra: nhóm điều dưỡng bị nhiễm viêm gan B do tổn thương do vậtsắc nhọn là cao nhất (mỗi năm có 56 - 96 ca bị nhiễm viêm gan B trong số 17.700 - 22.000điều dường bị tổn thương do vật sắc nhọn) Nhóm nhân viên vệ sinh bị nhiễm viêm gan B
do tổn thương do vật sắc nhọn đứng thứ hai sau nhóm điều dưỡng (mồi năm có 23 - 91 ca bịnhiễm viêm gan B trong số 11.700 - 45.300 nhân viên vệ sinh bị tổn thương do vật sẳcnhọn) Các nhóm khác như bác sỳ nha sỹ, nhân viên xét nghiệm bị nhiễm viêm gan B dotổn thương do các vật sắc nhọn gây ra thấp hơn (dưới 15 người mồi năm) [23],
Tại các quốc gia đang phát triển, các cơ sở y tế chủ yếu phân loại các chất thải y tếnguy hại bang tay nên người phân loại chất thải đối diện với nhiều nguy cơ trước mắt nhưnhiễm khuấn nhiễm độc khi bị thương bởi kim tiêm [50]
Trang 20Báo cáo tại Hội thảo quốc gia về “Dựphòng tổn thưưng do các vật sắc nhọn cho nhân viên y tẽ' tại Hà Nội cho thây, trung bình môi ngày bệnh viện Bạch Mai thải ra 50 -
Trang 21ở cán bộ y tế chiếm tỷ lệ rất cao Tỷ lệ này ở bệnh viện Thanh Nhàn là 68,7%, Trung tâm Y
tế Đông Anh là 85,2% và bệnh viện Tràng An là 50% Công việc thu gom chất thải bị tổnthương do vật sắc nhọn chiếm 9,8 -10,8% [3]
1.1.4.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phàm
Trong y tế có nhiều loại hóa chất và dược phẩm độc dược, chất gây độc gen, chất ănmòn là những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người Các dược sỹ, bác sỹ gây mê, điềudưỡng, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có the mẳc các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da
do tiếp xúc với các loại hóa chất dạng lỏng bay hơi dạng phun sương và các dung dịchkhác Ví dụ như nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với các triệu chứngrun rẩy khó diễn đạt giảm sút trí nhớ, liệt, nghễnh ngãng, tử vong [10], [21],
Năm 2000 người ta xác định có 6 trẻ bị mac bệnh đậu mùa nhẹ sau khi chơi đùa vớicác vỏ ổng thủy tinh chứa vaccin đậu mùa nhặt từ bãi chôn rác tại thành phố Vladivostok(Nga) [51]
Tại Việt Nam hiện chưa có thống kê về mức độ phổ biến của bệnh tật gây ra do cácchất thải hóa học hoặc dược phẩm từ các cơ sở y tế đối với cộng đồng, nhưng đã có nhiềutrường hợp tổn thương hoặc ngộ độc liên quan đến việc xử lý các hóa chất và dược phẩmkhông đảm bảo trong các cơ sở y tế [ 10]
1.1.4.4 Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do có khả năng gâyảnh hưởng đến chất liệu di truyền Ngoài ra, còn gây ra một loạt các triệu chứng như đauđầu, hoa mắt chóng mặt và nôn nhiều Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính caonhư máy Xquang máy chụp CT scaner có thể gây ra một loạt các tổn thương như phá huỷcác mô từ đó phái phẫu thuật loại bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thê ngoài ra còn làm biến
Trang 221.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường
Đối với môi trưòiìg đất: Khi CTYT được chôn lấp không đúng thì các vi sinh vật
gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụngbãi chôn lấp gặp khó khăn
Đối vói môi trường không khí: Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối
cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thugom vận chuyến chúng phát tán bụi rác bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chấtvào không khí Ó khâu xử lý (đốt chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại như dioxin, furan từ
lò đốt và CH4, NH3, H2S từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý gâyảnh hưởng môi trường sống và tác động tới sức khỏe của cộng đồng [10],
Kết quả quan trắc môi trường tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc cho biết có4.8% vị trí quan trẳc gần khu bãi chứa rác có nồng độ bụi toàn phần cao hơn mức cho phép0.3 mg/m\ Chất lượng khí tại tất cả các vị trí thuộc khu vực lân cận bãi rác hoặc nhà tập kếtrác thải rắn của các bệnh viện chỉ đạt loại “Xấu” theo tiêu chuân Saíìr [2]
Đổi vói môi trường nước: Chất thải y tế chứa nhiều chất độc hại và tác nhân gây
bệnh có khả năng lây nhiêm cao như: Salmonella Coliform, tụ câu liên câu Nêu khôngđược xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thông thoát nước chung thì có thê gây ô nhiêm nghiêmtrọng nguồn nước Ở Việt Nam ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân gây nhiều bệnh nhưtiêu chảy, lỵ trực trùng, tả thương hàn, viêm gan A, giun sán Các bệnh này gây suy dinhdưỡng, thiếu máu thiếu sắt có thể dẫn tới tử vong, nhất là ở trẻ em [ 10]
Trang 231.1.6 Xử lý chất thải y tế
- Nguyên tắc tiêu hủy chất thải rắn y tế 171
- Yêu cầu xử lý CTYT: CTYT phải được xử lý theo quy định, mỗi loại chất thải có
những yêu cầu xử lý riêng nhưng toàn bộ CTYT nguy hại đều phải được quản lý và xử lýtriệt để CTYT thông thường xử lý như rác thải sinh hoạt
- Yêu cầu chung xử lý CTYT nguy hại: Không gây ô nhiễm thứ cấp, nằm trong
quy định chung về quản lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy định Luật bảo vệ môitrường
- Các mô hình xử lý CTRYT tại các bệnh viện ỏ’ Việt Nam 117|
- Xử lý tập trung: Áp dụng cho các bệnh viện ở Hà Nội và Thành phổ Hồ Chí
Minh chiếm 64% Mô hình thu gom và xử lý tập trung phát huy hiệu quả, tiết kiệm chi phíđầu tư và vận hành, giảm ô nhiễm môi trường do đã trang bị thiết bị làm sạch khí thải lò đốt
- Lò đốt rác theo cụm bệnh viện: Hiện có bệnh viện Trung ương cần Thơ, bệnh
viện đa khoa Trung ương Huế và bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí có lò đổt tạibệnh viện Ngoài chức năng xử lý CTRYT cho bệnh viện còn xử lý CTRYT cho các bệnhviện khác trên địa bàn
- Lò đốt tại chỗ: Trong số 36 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế chi có 5
bệnh viện có lò đốt để xử lý CTRYT
1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới
Theo WHO đế đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải nguy hại các cơ sở
y tế cần phải có những hoạt động cần thiết cơ bản như:
- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần)
- Đánh giá khá năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải
- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm
- Xây dựng các quy trình, quy định đe quàn lý chất thải (nơi lưu giữ màu sắc, đặcđiếm các túi thùng thu gom nhãn quy định )
- Nhân viên phải được tập huấn về quản lý chất thải và các phương tiện bảo hộ đảmbảo an toàn khi làm việc
- Các cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải
Trang 24xử lý cơ học, hoá/lý, sinh học, chôn lấp rất khác nhau ở mỗi quốc gia [33].
Hồng Kông: Công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hóa/lý đã xử lý được hầu hếtlượng chất thải ngay tại Hồng Kông Nhờ hệ thống nghiền nhỏ đề chôn lấp hệ thống kiểmsoát việc chôn lấp kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải, nhất làchất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý chất thải nói chung và chấtthải nguy hại nói riêng tại Hồng Kông [33]
Hà Lan: Chất thải nguy hại được xử lý bàng nhiều cách khác nhau, trong đó phầnlớn được thiêu hủy một phần được tái chế Công nghệ xử lý chất thải nguy hại chủ yếuđược áp dụng là thiêu hủy, nhiệt năng Các chất thải được phân loại ngay từ nguồn phát sinhnhất là đối với chất thải nguy hại Việc thiêu hủy chất thải nguy hại được tiến hành ở những
lò đốt hiện đại với kỳ thuật mới nhất [33],
Phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT chưa có khả năng phânloại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải
Zambia: Năm 2003, Bộ Y tế đã tiến hành đánh giá công tác quản lý CTYT cho thấy:công tác quản lý CTYT là thực sự tồi tệ và nghiêm trọng, nếu không có giải pháp và canthiệp thì đội ngũ nhân viên y tế người bệnh, nhân viên thu gom chất thài và cả cộng đồng sẽphải đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm HIV, HBV HCV rất cao [45]
Trung Quốc: Với công nghệ tái chế phát triên đã tận dụng lại một phần đảng kể
Trang 251.3 Tinh hình quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế
1.3.1.1 Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Công tác thu gom lưu trừ CTRYT đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đếnđịa phương, thế hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao
CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chừa bệnh trực thuộc Bộ Y tế phần lớn đượcthu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằmngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đãđược cấp phép Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do sở y tế quản lý, côngtác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTRYT chưa được chú trọng, đặc biệt công tác phânloại và lưu giữ chất thải tại nguồn [5],
Thống kê mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện cho kết quả: có95.6% bệnh viện đã thực hiện phân loại rác thải trong đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ táchriêng vật săc nhọn, vân còn hiện tượng phân loại nhâm chât thải, một sô loại chât thải thôngthường được đưa vào CTYT nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63.3% bệnh viện sửdụng túi nhựa làm bàng nhựa PE pp Chỉ có 29,3% bệnh viện sử dụng túi có thành dày theođúng quy chế CTRYT đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, chỉ có một
sổ ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng Quy chế chủ yếu là bệnh viện trung ương
và bệnh viện tỉnh Hầu hết các bệnh viện (90,9%) CTRYT được thu gom hàng ngày, một sốbệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn cho việc thiết ke lối đi riêng để vậnchuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTRYTnguy hại; 53.4% bệnh viện có mái che để lưu giữ chất thải ran, trong đỏ có 45.3% đạt yêu
cầu theo Quy chế quản lý CTYT (Nguồn: Ket quả khảo sát 834 bệnh viện của
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm 2006 và báo cáo cùa các Sở Y tế địa
phtỉơng từ năm 2007 — 2009).
Phương tiện thu gom chất thải thiểu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn Nguyênnhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiện thugom chất thải rắn đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Tại đa sổ các bệnh việncùa 5 thành phố là Hải Phòng Hà Nội Huế Đà Nằng và Hồ Chí Minh sử dụng thùng nhựa
có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác [5]
từ các
Trang 26Kết quả đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý CTRYT tại 22 bệnh việntuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc năm 2008 - 2009 cho biết: Chỉ có25% bệnh viện sử dụng túi đủng quy định về độ dầy và the tích 21% bệnh viện sử dụng túiđựng rác có vạch báo và biểu tượng Có 72,2% bệnh viện sử dụng thùng đựng rác làm bằngvật liệu theo quy định Chỉ có 50% bệnh viện sử dụng thùng rác có nắp đậy và 27,3% bệnhviện sử dụng thùng có chân đạp để mở nẳp Có rất ít bệnh viện sử dụng các thùng rác màuvàng và màu xanh Có 72,7% bệnh viện sử dụng hộp đựng chất thải sẳc nhọn đảm bảokhông rò ri và vật liệu thiêu đốt được
Số còn lại sử dụng dụng cụ tự tạo mà phổ biến là chai đựng dịch truyền và chai đựng nướcuống Chỉ có 22,7% bệnh viện sử dụng xe chuyên dùng để vận chuyển chất thải và cũng cócùng tỷ lệ này đối với xe có nắp đậy kín Các bệnh viện đều có nhà lưu giữ CTRYT và nằmriêng biệt, có diện tích phù hợp có mái che và có khoá cửa song hầu hết không đảm bảongăn ngừa loại gặm nhấm thâm nhập 50% bệnh viện có các buồng lưu giữ riêng chất thảinguy hại chất thải thông thường và chất thải tái chế trong đó tập trung chủ yếu ở bệnh việntuyến trung ương (100%) Có rất ít bệnh viện có buông lạnh hoặc nêu có thì cũng không sửdụng và chỉ một sô bệnh viện xây dựng hệ thống thoát nước riêng cho nhà lưu giữ CTRYT[2]
Theo báo cáo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường trên toàn bộcác cơ sở thuộc hệ y tế dự phòng tại 63 tỉnh, thành phố năm 2009 cho biết có 50% cơ sở y
tế có thùng thu gom chất thải lây nhiễm màu vàng và tỷ lệ rất thấp có biểu tượng chất thảisinh học và các hướng dẫn khác trên thùng Công tác phân loại thu gom vận chuyển và xử
lý CTRYT tại nhiều cơ sở y tế còn hạn chế trên 80% cơ sở y tế đã phân loại chất thải, vẫncòn đế lần chất thải thông thường với CTRYT nguy hại
Đa số các cơ sở chưa có đường vận chuyển chất thải riêng Chỉ có 50% cơ sở y tế có thờigian lưu giữ chất thải đúng quy định Nhà lưu giữ CTRYT còn để chung với nhà lưu giữchất thải sinh hoạt và vần chưa đáp ứng được yêu cầu của Quy chế quản lý chất thải ytế[ 1 ]
Nhìn chung, các phương tiện vận chuyển CTRYT còn thiếu, đặc biệt là các xechuyên dụng Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử
Trang 27lý, chôn lấp hầu hết do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảmbảo cho quá trình vận chuyển được an toàn
Đổi với các chất thải dược phấm đa số các cơ sở sản xuất thuốc đạt GMP có phân loại
và có nơi lưu giữ chất thải rắn từ phân xưởng sản xuất Chất thải ran thông thường được công tymôi trường vận chuyển đến bãi tập trung Chất thải ran nguy hại được ký hợp đồng để xử lý[14],
13.1.2 Thực trạng xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
CTRYT không nguy hại hầu hết do công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển vàđược xử lý tại các khu xử lý chât thải răn tập trung của địa phương
Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phátsinh CTRYT nguy hại ưên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn là 32%
Một số thành phổ lớn đã bố trí lò đốt CTRYT nguy hại tập trung tại khu xử lý chung.Năm 2006 đã có hơn 500 lò đôt được lăp đặt tại các cơ sở y tê tập trung chủ yêu ở các thànhphố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% sổ lò không được hoạt động do nhiều lý do khácnhau [5]
Theo " Báo cáo tóm tắt kết quá quan trắc môi trường y tể khu vực miền Trung - Tây nguyên giai đoạn 2006 - 2010" của Viện Pasteur Nha Trang cho biết năm 2006, chỉ có 8,3%bệnh viện có lò đốt CTRYT và 33,3% bệnh viện có phân loại CTRYT và vận chuyển CTRYTnguy hại đi đốt tại lò đốt chất thải y te Năm 2008, có 41,7% bệnh viện không có lò đổt CTRYThoặc lò đốt lạc hậu gây ô nhiễm 16,7% bệnh viện có nhà chứa chất thải y tế đạt chuấn Năm
2009 có 7/14 bệnh viện không có hệ thống xử lý chất thải y tế riêng và lò đốt của một sổ đơn vị
đã xuống cấp nhiều Năm 2010 chỉ có 9/16 bệnh viện là có lò đốt đang hoạt động [2]
Đối vói các bệnh viện, viện có giường bệnh: Có 33.9% bệnh viện xử lý CTRYT bàng
lò đốt; 39,2% bệnh viện họp đồng với công ty môi trường đô thị thuê xử lý; 26,9% bệnh viện xử
lý bàng thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện, chủ yếu ờ bệnh việntuyến huyện và một vài bệnh viện chuyên khoa tại các tỉnh miền núi [26]
Đối vói trạm y tế xã: Cả nước có 11.104 ưạm y tế xã [26], tuy nhiên vấn đề quản ■ lý
CTYT tại tuyến xã chưa được quan tâm và thực hiện Hầu hết các trạm y tế xã chưa thực hiện
xử lý CTYT trước khi thải bỏ Đa sổ các trạm y tế xã đều xử lý CTRYT bàng
Trang 28phương pháp thiêu đốt ngoài ứời hoặc trong các lò đốt thủ công đượcxây dựng tại đơn vị, các chất thải khó thiêu đốt thì thường xử lý theo rác đôthị hoặc chôn lấp sơ sài, không đảm bảo vệ sinh Dụng cụ thu gom còn thiếu
và chưa đúng quy định về màu sắc và chủng loại [9]
Đối vói hệ y tế dự phòng và các viện nghiên cửu: Hiện có 1.016 cơ sở y tế dự phòng
tuyến trung ương, tỉnh, huyện [26] Chỉ có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng lò đổt thủ công
để xử lý CTRYT và 30% hợp đồng với bệnh viện ưên địa bàn để xử lý [9]
Khối các trường đào tạo y, dưực: Tính đến năm 2009, cả nước có 77 cơ sở đào tạo y
dược tuyến trung ương và tuyến tỉnh [26] Hoạt động của các cơ sở đào tạo y, dược cũng làmphát sinh CTYT tuy nhiên các cơ sở mới chỉ thực hiện xử lý ban đầu hoặc chưa xử lý CTYT,hầu hết không có hệ thống xử lý CTYT [9],
Khối các CO’ sở sản xuất thuốc: Cả nước có 181 cơ sở sản xuất thuốc, trong đó có 91
cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP đều không có hệ thống xử lý chất thải, các cơ sở còn lại chưa có sốliệu thống kê báo cáo [9]
13.1.3 Quản lý chất thải y tế tại Thành phố Hà Nội
Hiện nay tại Hà Nội, khối lượng chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động y tế ngày cànggia tăng do tốc độ phát triển dịch vụ từ các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tớisức khỏe cộng đồng
Theo Sở Y tế Hà Nội, trên địa bàn có gần 100 bệnh viện từ Trung ương đến địa phương và
29 TTYT quận, huyện, thị xã Hàng ngày, các cơ sở y tế thải ra môi trường hàng trăm tấn rácthải, ưong đó có nhiều chất thải rắn nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quảkiểm tra của Chi cục Bảo vệ Môi trường tại trên 50 bệnh viện, cơ sở y tể cho thấy, tổng khốilượng CTRYT phát sinh 41,722 tấn/tháng [19]
Ước tính, lượng chất thải từ các bệnh viện tại Hà Nội chiếm 1.8% tống số chất thải củatoàn thành phố Trong đó bình quân mỗi ngày một giường bệnh thải ra khoảng 2,27 kg CTRYT,25% là CTRYT nguy hại Hà Nội là một trong 15 tỉnh có lượng chất thải y tể nguy hại lớn nhấttrong cả nước và chỉ đứng hàng thứ 2, sau thành phố Hồ Chí Minh [19]
Hiện có 92,5% bệnh viện, cơ sở y tế ký hợp đồng thu gom vận chuyển CTRYT với Công
ty Cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp Tuy nhiên, việc xử lý CTRYT trên địa bàn Hà
Trang 29Nội đang gặp nhiều khó khăn do một số cơ sở chưa thực hiện đúng quy định về quản lýCTRYT Kinh phí cho các hoạt động xử lý CTRYT còn hạn hẹp dẫn đen xử lý
Trang 30chậm Nhân lực làm công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng đượcyêu cầu, hầu hết là kiêm nhiệm Các phương tiện thu gom CTRYT nói chung.CTRYT nguy hại nói riêng như: Túi thùng dựng chất thải, xe đấy rác nhàchứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ Hoạt động vận chuyển CTRYT nguy hại
từ các bệnh viện, cơ sở y tế tới nơi xử lý không có các trang thiết bị chechắn, an toàn [19],
Sở Y tế Hà Nội đang thực hiện 5 dự án đầu tư cho hệ thống xử lý CTYT với tổng kinhphí 213 tỷ đồng Việc đầu tư xây dựng hệ thổng xử lý CTYT tại các đơn vị sẽ thay thế dần cácphương pháp xử lý chất thải thô sơ bàng những phương pháp công nghệ hiện đại đảm bảo tiêuchuẩn, yêu cầu cần thiết về vệ sinh môi trường [29],
13.1.4 Một sô thông tin vê công tác quản lý chât thải y tê tại Trung tâm Y tê huyện Gia Lâm
Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở phía Đông Bẳc của Thành phố Hà Nội.Diện tích là 114km2 dân số là 253.643 người Huyện gồm có 20 xã và 2 thị trấn
TTYT huyện Gia Lâm gôm: 2 phòng nghiệp vụ 5 khoa chuyên môn 3 phòng khám
đa khoa khu vực; 22 trạm y tế xã thị trấn Tổng sổ cán bộ của Trung tâm là 294 trong đó cỏ
34 bác sỹ, 69 y sỹ 98 điều dưỡng, 35 hộ sinh 8 kỹ thuật viên, 24 dược sỹ trung học 3 hộ lý
23 cán bộ khác [39]
Một số chúc năng, nhiệm vụ chính của Trung tâm Y tế Gia Lâm: Xây dựng kế
hoạch, triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về phòng chong dịch bệnh.HIV/AIDS phòng chống các bệnh xã hội tai nạn thương tích, sức khỏe lao động và bệnhnghề nghiệp, chăm sóc sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe môi trường, truyền thông giáo dục sứckhòe theo phân cấp và theo quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện cấp cứu khám chữabệnh ban đầu và khám chữa bệnh bảo hiềm y tế tại các phòng khám đa khoa khu vực và trạm
y tế xã thị trấn; Chỉ đạo hoạt động của trạm y tế xã, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ được giaotrên địa bàn quản lý [38],
Trang 31So' đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm
SỞ Y TÉ HÀ NỘI < - ► UBND HUYỆN GIA LÂM
TRUNG TÂM Y TÉ HUYỆN GIA LÂM
Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm
Khoa Chăm sóc súc khoẻ sinh sản
Khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/
AIDS &
CBXH
Khoa An toàn vệ sinh thục phẩm
Khoa Xét nghiệm
3 Phòng khám đa khoa khu vực
22 Trạm y
tế xã, thị trấn
Ghi chú: -► Chỉ đạo trực tiếp từ cấp trên
4 -► Phổi hợp chỉ đạoNăm 2012 Trung tâm đã đạt được một số kết quả nổi bật sau:
- Chương trình tiêm chùng mở rộng: trẻ em dưới 1 tuồi được tiêm chủng đầy đủ đạt:4.322/4.515 (94.68%) phụ nữ có thai tiêm phòng uốn ván: 4.591/4.800 (95,64%); phụ nữsinh năm 1997 được tiêm phòng uốn ván: 1.468/1.473 (99,7%); tiêm vác xin sởi bố sung cho
ưẻ em từ 1 - 6 tuổi: 4.299/4.555 (93,7%)
- Công tác khám chừa bệnh: Tổng số lượt khám bệnh: 212.988, chụp X quang:13.731 lượt; Siêu âm: 10.678 ca ; Điện tim: 2.570; Xét nghiệm máu nước tiểu: 117.585 tiêubản; Xét nghiệm đờm phát hiện lao mới: 1.700 lam; Xét nghiệm HIV: 1.950 ca trong
Trang 32- đó có 32 ca dương tính; Thu nhận, nhuộm soi: 520 lam kính sốtrét cấp cứu: 3.348 ca tai nạn thương tích; Nạo hút thai: 1.052 ca; Đỡ đẻtại các trạm y tế; 594 ca [36], [38].
Qua một sổ khảo sát ban đầu tại huyện Gia Lâm cho thấy: mỗi phòng khám đa khoakhu vực và các khoa trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 2kg chất thải lây nhiễm, mỗi trạm y
tế trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 0.5kg chất thải lây nhiễm Như vậy mồi năm thải rakhoảng trên 6.000 kg chất thải lây nhiễm Trung tâm Y tế đã có quy định về phân loại, thugom, vận chuyển và xử lý CTRYT tại các đơn vị và cũng đã ký hợp đồng với Công ty Ưrenco
10 từ năm 2005 để thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế đặc biệt là chất thải lây nhiễmtại 3 phòng khám, năm 2011 vận chuyển 1.634 kg, năm 2012 vận chuyển 2.046 kgCTRYT[37]
Từ năm 2007 đến nay, 3 phòng khám đa khoa khu vực đều được xây dựng khangtrang, đủ các máy móc và các trang thiết bị y tế nhưng không được thiết kế và xây dựng hệthống lưu giữ chất thải rẳn y tể 22 trạm y tế xã, thị trấn được xây mới sửa chữa, nâng cấp,cung ứng đủ các trang bị thiết bị thông thường và các máy móc phục vụ công tác khám chữabệnh như máy siêu âm doppler tim thai, xét nghiệm nước tiêu, sinh hóa máu và đều đượccông nhận Chuẩn Quốc gia về y tế từ năm 2006 năm 2012 đề nghị công nhận 5 xã đạt Bộ tiêuchí Quốc gia về y tế xã, nhưng hiện tại một số trạm y tế cơ sở hạ tầng đã xuống cấp Các trạm
y tế cũng đã được xây lò đốt rác bằng xi măng hoặc được cấp lò đốt rác bàng kim loại Tuynhiên, một số lò đốt rác cũng đã vỡ hỏng hoặc han gỉ công suất và hiệu quả sử dụng chưa đạtyêu cầu một số lò đốt rác được xây dựng hoặc lap đặt ở nhũng vị trí không thuận lợi nên việc
xử lý, thiêu huỷ chất thải y tế chưa đúng quy định Các dụng cụ thu gom chứa đựng rác doTrung tâm trang bị nhưng cũng chưa theo quy định của Quy chê Quản lý chất thải y tế của Bộ
Trang 33và sửa chữa, nâng cấp cơ sở hạ tầng Năm 2012, phòng khám Yên Viên và 3 trạm y tế đượcxây mới toàn bộ một số trạm y tế được cải tạo và sửa chữa Hiện tại 3
Trang 34phòng khám đa khoa khu vực đã được lắp đặt hệ thống xử lý chấtthải lỏng Năm 2012, việc thực hiện quy trình phân loại, thu gom và xử lýCTRYT được Sở Y tế Hà Nội đưa vào bảng điểm kiểm tra đánh giá công tác
y tế tại các trung tâm y tể [38], [37], [39], [40] Qua đó chứng tỏ công tácquản lý CTYT đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm và chủ trọngnên việc triển khai nghiên cứu về công tác quản lý CTYT sẽ nhận được sựquan tâm của các cấp chính quyền và kết quả nghiên cứu sẽ giúp Trungtâm Y tế huyện Gia Lâm có chiến lược phù hợp hơn để triển khai công tácquản lý CTYT trên địa bàn
1.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải y tế
1.4.1 Nghiên cứu về quản lý chất thải y tế trên Thế giói
Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là cácnước phát triển như: Anh Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâmđến nhiều lũih vực như quàn lý CTYT (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng,các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải), tác hạicủa CTYT đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của CTYT và phòng chống táchại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng [20] [23] [30] [31] Gần đây nghiên cứu vềCTYT được quan tâm ở nhiều khía cạnh:
- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn đối với sức khỏe cộng đồng
- Ảnh hưởng của CTYT đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoài bệnh viện
- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT
- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe
- Tồn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất thải,nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệsinh viên và cộng đồng
- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhàn viên y tế
Năm 2004, WHO đánh giá có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thảiđúng cách 50% số bệnh viện vận chuyển chất thải đi qua khu vực bệnh nhân và không đựngtrong xe thùng có nap đậy [47],
Trang 35Năm 2009 Birpinar và cộng sự phân tích hiện trạng quản lý CTYT theo Quy chếquản lý CTYT ở Istanbul Turkey cho biết chất thải tái chế được phân loại riêng đạt 83%.Phân loại CTRYT khác nhau luôn được thực hiện 25% các bệnh viện
Trang 36trang bị các phương tiện không phù hợp 63% các bệnh viện có kho lưu trữ tạm thời [43]
Cũng vào năm 2009 nghiên cứu của Yong và Guanxing Tao và Dawei ở Nam Kinh.Trung Quốc, cho thấy 73% bệnh viện thực hiện phân loại CTYT 93.3% bệnh viện có khu vựclưu trừ CTYT tạm thời Chỉ có 20% bệnh viện phô biến quy chế quản lý CTYT CTRYTđược xử lý bàng hệ thống xử lý tập trung đã được xây dựng dựa trên công nghệ đốt 77% sốNVYT cho ràng quản lý CTYT là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn các dịch vụ bệnhviện [52]
Năm 2010, Ferdowsi M Ferdosi A, Mechrani, Narenjkar p ở Tabriz Iran nghiên cứutầm quan trọng của vấn đề quản lý CTYT tại các bệnh viện của Istanbul để có thể kích thíchcho các hoạt động kiểm soát hệ thống xử lý CTYT Ket quả là hầu hết các bệnh viện không
xử lý CTYT Các bệnh viện thu gom CTYT và hợp đồng với các dịch vụ đô thị vận chuyểnchất thải hai ngày mỗi lần Các bệnh viện có hệ thống phân loại tại nguồn để tách các chấtthải lây nhiễm và chất thải không lây nhiễm Tuy nhiên, không thực hiện xử lý các CTYT màchôn trong một bãi rác ở Zainal gần Isfahan Chỉ có một lò đốt CTYT hoạt động trong bệnhviện Fatemeh Zahra Chất thải lây nhiễm được phân loại khỏi các chất thải khác ở tất cả cácbệnh viện Thùng đựng rác đều phù hợp đầy đủ và được lưu giữ tại các địa điểm thích hợp ởhầu hết các bệnh viện [44]
1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu gần đây về quản lý chất thải y tế ở Việt Nam
Nãm 2002 Trần Duy Tạo nghiên cứu ''Đánh giá thực trạng, quản lý và ảnh hưởng của chất thảiy tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên ntôi trường xung quanh” cho biết
quá trình thu gom, lưu giữ vận chuyển, xử lý CTRYT không hợp vệ sinh và chưa đúng quyđịnh của Bộ Y tế chỉ có 15,6% sổ NVYT có kiến thức phân loại đủng CTYT; 43.8% NVYTkhông biết về xử lý CTYT Chất thải phát sinh hàng ngày được thu gom nhưng chì có một sốkhoa phân loại ngay sau khi thu gom Vận chuyển bằng xách tay mỗi ngày 1 lần và phải điqua các khoa khác để đến nơi lưu giữ Nơi lưu giữ là hố đất đào ngay sau bệnh viện, khôngtách biệt với môi trường xung quanh, không có hàng rào bảo vệ Thời gian lưu giữ chung là 3ngày Xử lý chung với chất thải sinh hoạt và thiêu đốt ngay trong hố sau thiêu đốt khôngchôn lấp mà lại tiếp tục vận chuyển chất thải mới đến [31],
Trang 37Nghiên cứu về " Thực trạng quản lý chất thải y tế, kiến thức về quản lý chất thải y tế của nhân viên trạm y tế xã tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2004" ' của Vũ Quôc
Hải cho thây 100% các trạm y tê không có đủ dụng cụ đựng chất thải đạt tiêu chuẩn và có tới94.4% CTRYT không được phân loại đúng ngay khi phát sinh 26,7% NVYT hiểu biết khôngđúng về thu gom bảo quản, vận chuyển, xử lý CTRYT 50% NVYT chưa hiểu biết về tiêuchuẩn bao bì đựng chất thải 80% NVYT không biết cần lưu giữ riêng chất thải sinh hoạt vớichất thải y tế 41,9% NVYT không biết yêu cầu về nơi lưu giữ CTRYT 45.3% NVYT khôngbiết thời gian lưu giữ chất thải tại trạm 98.8% NVYT chưa được đào tạo về quản lýCTYT[13]
Năm 2007, kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phong "Mô tả thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản lý
chất thải y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế huyện', đưa ra nhiêu kêt luận vê thực trạng
quản lý CTYT tình hình ô nhiêm môi trường bệnh viện và các kết quả áp dụng mô hình quản
lý CTYT tại các bệnh viện tuyến huyện [24]
Năm 2007 kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm về: " Thực trạng quán lý, ,, ' '
Trang 38Nghiên cứu về " Đảnh giả nhận thức, thái độ của điều dường đối với việc thu gom, phân loại chất thải y tế tại 6 bệnh viện khu vực thành phố Nam Định" của Tống Vĩnh Phú
và cộng sự, kết quả: Tỷ lệ điều dường có kiến thức đúng về định nghĩa CTYT là 50,3%, điềudưỡng có kiến thức đúng về CTYT nguy hại là 81,5 %, điều dưỡng các bệnh viện trả lời đúng
về phân loại CTYT là 69,7%, thời gian lưu giữ CTYT đạt tỷ lệ 34,29%, kiến thức về thiêuhuỷ CTYT là 3.43% [27],
Năm 2008 - 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu "Thực trạng môi trường và hoạt động quàn lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tinh thuộc khu vực phía Bắc" , kết quả nghiên cứu đã chi ra rằng công tác quản lý xử lýCTRYT đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế Sai phạmphổ biến nhất là sử dụng các túi thùng đựng rác không đúng quy định 50% bệnh viện cóbuồng lưu giữ chất thải riêng, tập trung ở bệnh viện tuyến trung ương Tuy nhiên, còn phổbiến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế nguyên nhânchủ yếu được cho là thiếu nguồn cung cấp dụng cụ thiết bị chuyên dụng, vướng mẩc về kinhphí (thiếu nguồn kinh phí hoặc cơ chế sử dụng kinh phí chưa rõ ràng) Phương pháp thiêu đốtcòn nhiều bất cập về môi trường và kỹ thuật nhất là đối với bệnh viện tuyến huyện [2]
Năm 2009, Hoàng Thị Liên đã tiến hành " Nghiên cứu thực trạng và một sổ yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ưorng Thái Nguyên ” cho biếtCTYT được phân nhóm theo quy định của Bộ Y tế, đặc biệt đã phân loại chất thải sắc nhọntrong nhóm chất thải lây nhiễm Chất lượng hoạt động phân loại, thu gom vận chuyến, lưugiữ CTRYT đạt mức độ trung bình từ 51,9 - 63% Chất lượng hoạt động xử lý , , ' _ , ,
Z.X 1chât thải răn đạt kêt quả tôt (95.7%) 77.1% NVYT và vệ sinh viên được tập huân vê quy
Trang 39chế quản lý CTYT trong đó chỉ có 12% vệ sinh viên có kiến thức tốt vềphân loại chất thải; 99,6% NVYT và vệ sinh viên thực hành phân loại CTRYTtại nguồn phát sinh [18]
Nghiên cứu về '‘‘‘Thực trạng phát sinh chất thái, kiến thức và thực hành của nhân viên y tế về quản lý chất thủi rắn y tế tại bệnh viện Bạch Mai, năm 2010" của Nguyễn Việt
Hùng và Nguyễn Quốc Anh cho biết: Tỷ lệ các túi chất thái phân loại sai và thu gom sai là18,5% và 11,5% Tỷ lệ chất thải lây nhiễm bị phân loại sai là 41.6% Tỷ lệ chất thải sắc nhọnthu gom sai là 20,2% 58,2% không buộc kín miệng túi chất thải thông thường Với bộ câu hỏi
về kiến thức CTRYT, NVYT đạt 71,3 ±14,6 tổng điểm tối đa trong khi đó nhóm nhân viênthu gom, vận chuyển chất thải chi’ đạt 59,5 ± 66,7 điêm [ 15]
Mới đây, nghiên cứu của Hoàng Giang về " Thực trạng công tác quán lý chất thái rắn
y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2011" cho biết bệnh viện Việt Đức có đủ phương
tiện, dụng cụ thu gom, 87% túi, thùng đủ mã màu sắc theo quy định 100% không có hộpđựng chất thải sắc nhọn đúng quy định 2/15 khoa có số lượng chất thải thu gom quá quyđịnh 8/15 khoa không có đường vận chuyến chất thải riêng biệt 7/15 khoa xe vận chuyểnkhông đúng quy định 10/15 kho lưu giữ chất thải tạm thời tại các khoa không đạt tiêu chuẩn.60% NVYT đạt kiến thức về phân loại 64% NVYT biết phân loại đúng các chất thải thôngthường, lây nhiễm, tái chế Kiến thức của NVYT về lưu giữ khá tốt [12],
Nghiên cứu về “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của cán bộ các trạm y tế trên địa bàn Thành phố Việt Trì năm 2011“ của Đinh Quang Tuấn: chỉ
có 30.4% trạm y tế đạt yêu cầu quản lý CTRYT, các bước trong quy trình quản lý gồm: phânloại, thu gom vận chuyển, lưu giữ và xử lý có tỷ lệ đạt yêu cầu tương úng là: 39.1%; 43,5%;82,6%; 65.2% Chỉ có 43,5% sổ trạm y tế có đủ dụng cụ chứa đựng CTRYT đủng quy định.24.5% NVYT có kiến thức đầy đủ về quản lý CTRYT Tỷ lệ đạt các kiến thức về phân loại,thu gom vận chuyển - lưu giữ và xử lý chất thải lần lượt là 64%; 91,2%; 42,1%; 78.1% Tỷ lệcán bộ thực hành đúng quy trình chỉ đạt 10.5% [41 ]
Cũng vào năm 2011, nghiên cứu về " Thực trạng quản tý chất thải rắny tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh" của Hoàng Thị Thúy
cho thấy hầu hết các dụng cụ thu gom chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêuchuẩn của Bộ Y tế Tỷ lệ thu gom lẫn các chất thài còn cao (33.9%), vận chuyển chất thảibằng tay là chủ yếu Thời gian lưu giữ chất thái tại nơi tập trung dài (>48 giờ), điều
Trang 40kiện bảo quản không đúng quy định Tỷ lệ NVYT đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là86.8%, kiến thức chung về phân loại chất thải là 63,2% trong đó kiến thức về các nhóm chấtthải và chất thải lây nhiễm rất thấp, chỉ đạt 27.2% và 54.4% Kiến thức chung về thu gom.vận chuyển, lưu giữ lần lượt là 48.5%; 96.3%; 75.4% Thiếu kinh phí là yếu tố chính ảnhhưởng đến công tác quản lý CTR.YT [34]
Tóm lại các nghiên cứu về thực trạng quản lý CTRYT chủ yếu tập trung nghiên cứu ởcác bệnh viện, chỉ có rất ít nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn y tế thuộc hệ y tê dựphòng nói chung và tại tuyên y tê cơ sở nói riêng, nêu có cũng chỉ nghiên cứu tại các trạm y
tể chứ hiếm có nghiên cứu nào tiến hành một cách toàn diện tại tuyến y tế cơ sở gồm cáckhoa, các phòng khám đa khoa khu vực và các ưạm y tế