Trước tình hình đỏ, đề cương nghiên cứu “Thực trạng, các yêu tô ảnh hưởng đên việc sử dụng ma túy tông hợp và hành vi nguy cơ cao nhiêm HIV/AIDS trong nhóm phụ nữ mại dâm tại khu vực quậ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giảm hiệu, các thầy cô giáo trường đại học Y tế CôngCộng đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho sinh viênchúng em trong 4 năm học vừa qua để chúng em có thể trở thành những cử nhân Y tế Côngcộng góp phần cho việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến giảng viên hướng dẫn là TS Hồ Thị Hiền, người đãtận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin cảm ơn phòng Đào tạo đại học, Hội đồng khoa học, phòng Công tác chính Quản lý sinh viên trường đại học Y tế Công cộng đã tạo điều kiện cho em được tham gia làmkhóa luận, giúp em có cơ hội củng cổ kỹ năng viết báo cáo, nâng cao khả năng tư duy, phân tích
trị-và làm việc một cách độc lập để dễ dàng thích ứng được với công việc sau khi rời ghế nhàtrường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ phòng Lao động - Thương binh -Xã hội quậnHai Bà Trưng và thư viện Y học xã hội, trung tâm y tế quận Hai Bà Trưng đã nhiệt tình cungcấp thông tin giúp em hoàn thiện đê cương nghiên cứu này
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Phạm Vân Anh
Trang 2TÓM TẮT ĐÈ CƯƠNG NGHIÊN cứu V
ĐẶT VÁN ĐÈ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 3
CHƯƠNG I: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Ma túy tổng hợp 4
2 Phụ nữ mại dâm 9
3 Các nghiên cứu đã thực hiện 11
4 Ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cửu .21
KHUNG LÝ THUYÉT 23
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 23
1. Đoi tượng nghiên cứu 24
2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
3. Thiêt kê nghiên cửu: 24
4. Mầu và phương pháp chọn mẫu 24
5. Phương pháp thu thập số liệu 25
6. Các chủ đề của nghiên cửu 26
7. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 27
8. Phương pháp phân tích số liệu 28
9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28
10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục sai số 29
CHƯƠNG III: KÉ HOẠCH NGHIÊN cứu VÀ Dự TRÙ KINH PHÍ 30
1 Ke hoạch nghiên cứu 30
2 Nguồn kinh phí nghiên cứu 33
CHƯƠNG IV: DỤ KIẾN KÉT QUẢ NGHIÊN CỦƯ 34
CHƯƠNG V: KÉT LUẬN 36
CHƯƠNG VI: KHUYẾN NGHỊ 37
Trang 3DỤNG MTTH 41
PHỤ LỤC 2: HƯỚNG DÃN PHỎNG VÁN SÂU 42
PHỤ LỤC 3: HƯỞNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 46
PHỤ LỤC 4: Dự TRÙ KINH PHÍ 49
PHỤ LỤC 5: MỘT SÓ HÌNH ẢNH VÈ MTTH: 50
Bàng 1: ước tinh số người sử dụng ATS tuổi từ 15-64 theo khu vực và ở các tiểu khu vực thuộc châu Á năm 2008 5
Hình 2: Ánh hường cùa Meth đến cơ thể 7
Biểu đồ 3: Số lượng PNMD tại Hà Nội có hồ sơ quản lý 10
Bảng 4: Mục đích sừ dụng các chẩt gây nghiện: 13
Biểu đồ 5: Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm PNMD 18
Biếu đồ 6: Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm MDNH 18
Trang 4(Amphetamine Type Stimulants)
ĐH YTCC Đại học Y tế Công cộng
ƯNODC Cơ quan phòng chống tội phạm - ma túy Liên
hợp quốc (United Nations Office on Drug and Crime)
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN cứu
Mại dâm là tệ nạn xã hội cỏ liên quan mật thiết đến van đề HIV, ước tính tỷ lệ nhiễm H1Vtrong nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) tại Việt Nam là 4,5% năm 2010 [7] Sừ dụng ma túy làmcho tình hình nhiễm HIV/AIDS trên nhóm này càng trở nên phức tạp Đặc biệt, ma túy tổng hợp(MTTH) nhóm Amphctamin không chi gây nghiện mà còn gây ảo giác khiển người sử dụng khỏ
có thể kiểm soát hành vi của họ Điều này là cơ hội thuận lợi cho việc gia tăng hành vi nguy cơnhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Tại những thành phố lớn như Hà Nội, việc tập trung nhiều trung tâm dịch vụ vui chơi giảitrí là điều kiện thuận lợi phát triển tệ nạn ma túy, mại dâm Ước tính tỷ lệ phụ nữ mại dâm sửdụng các loại ma túy khác nhau tại Hà Nội là 17% [2] Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn chưa cónghiên cứu định tính tìm hiểu về vẩn đề sử dụng ma túy tổng hợp trong nhóm phụ nữ mại dâm tại
Hà Nội được công bố Đặc biệt, tại quận Hai Bà Trưng, một trong những địa bàn khá nhạy cảm
về tệ nạn ma túy, mại dâm như khu vực xóm liêu Thanh Nhàn, hay phố Vọng - nơi tập trungnhiều nhà nghỉ, quán karaoke, mát xa
Trước tình hình đỏ, đề cương nghiên cứu “Thực trạng, các yêu tô ảnh hưởng đên việc sử dụng ma túy tông hợp và hành vi nguy cơ cao nhiêm HIV/AIDS trong nhóm phụ nữ mại dâm tại khu vực quận Hai Bà Trưng, Hà Nôi năm 20ỉ ỉ ” được tiến hành với ba mục tiêu: (1) Mô tả thực
trạng phụ nữ mại dâm sử dụng ma túy tổng hợp, (2) Xác định các yểu tố ảnh hưởng đển việc sửdụng ma túy tổng hợp của phụ nữ mại dâm, (3) Mô tả hành vi nguy cơ cao nhiễm HĨV ở phụ nữmại dâm sử dụng ma túy tổng hợp
Nghiên cứu diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 4/2011 đến tháng 8/2012 tại quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội Do mang tính khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu được thiết kế định tính, thuthập số liệu thông qua phỏng vấn sâu (PVS) 30 người và thảo luận nhóm (TLN) với khoảng 12đối tượng được lựa chọn thông qua phương pháp hòn tuyết lãn Ngoài việc ghi chép, trong quátrinh thu thập thông tin sẽ được thu băng, sau đó gỡ băng, làm sạch số liệu, tổng hợp mẵ hóabang phần mềm Nvivo 8.0 và được xuất ra dưới dạng vãn bản để sử dụng cho viểt báo cáo
Trang 62008 trên toàn thế giới là 52.900.000 người [30] đứng thứ hai sau số người sử dụng cần sa.Tại Việt Nam, xu hướng sừ dụng MTTH đã tăng đáng kể từ năm 2003, đặc biệt ở nhữngkhu đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hài Phòng với đối tượng chính là thanhniên, lái xe, phụ nữ mại dâm (PNMD) Năm 2004, số lượng MTTH do các lực lượng chức năngthu giữ được là gần 50.000 viên, năm 2005 là 230.000 viên và đen năm 2008 thống kê cho thấy
số lượng này đã lên đến hơn một triệu viên [29] Với tốc độ gia tăng nhanh chóng như trên,MTTH đã, đang và sẽ là thách thức lớn đối với Việt Nam
Đi cùng với MTTH là những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe cùa một bộ phận dần cưtrong xã hội MTTH không chỉ gây nghiện, mà còn kích thích mạnh den than kinh trung ương,gây ảo giác, hưng phấn, tạo cảm giác bay bổng, dễ bị kích động Đồng thời, MTTH cũng khiếncho người sử dụng có nguy cơ cao nhiễm HIV do tiêm chích chung bơm kim tiêm (BKT) và quan
hệ tình dục (QHTD) không an toàn Điều này đặc biệt đáng lo ngại ở nhóm PNMD — nhóm đốitượng có nguy cơ cao lây nhiễm HIV.
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nồ lực trong việc giáo dục, truyền thông sứckhỏe nhằm nâng cao hiểu biết của người dân nói chung và cùa các nhóm dân cư có nguy cơ caonói riêng về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) Các chương trình này
đã góp phần đáng kể vào việc tăng tỳ lệ sử dụng BCS khi QHTD lần gần đây nhất với khách lạ ởPNMD trên 7 tỉnh trong chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI(IBBS) năm 2006 là hơn 90 % [2] Tuy nhiên, những thách
Trang 7thức mới do MTTH gây ra đòi hỏi sự đánh giá sâu sắc về vấn đề sử dụng
nó ở nhóm nguy cơ cao với HIV, trong đó phải kẻ đến là PNMD và nhóm sửdụng ma túy khác
Như đã đề cập ở trên, Hà Nội là một thành phố lớn với nhiều địa điếm vui chơi giải trí, nơiPNMD có thể hoạt động trá hình dưới nhiều hình thức như nhân viên gội đầu mát xa, phục vụtrong nhà hàng, quán bar, karaoke, ngoài đường phố số lượng PNMD ước tính lên tới 4500người [1] cao thứ hai cả nước sau TP Hồ Chí Minh, và có tới 17% PNMD sử dụng các loại matúy khác nhau [2] Trước sự xuất hiện của MTTH, Hà Nội cũng là một trong những thành phốphải phải chịu hậu quả tương đôi nặng ne Đặc biệt tại khu vực quận Hai Bà Trưng, nơi tập trungnhiều địa điểm vui chơi giải trí số lượng người nhiễm HIV trên toàn quận cao thứ hai của HàNội, đến ngày 25/2/2009 số người nhiễm HIV tích lũy của quận là 1637 người, đã từ vong 316người [12] Mặc dù, khó có thể ước lượng chính xác số lượng PNMD, tuy nhiên các cán bộphòng lao động thương binh xã hội quận Hai Bà Trưng cho biết trên địa bàn quận có khoảng 655các cơ sở kinh doanh dịch vụ với khoảng 300 - 400 tiếp viên [11] dễ bị lợi dụng để hoạt động mạidâm như các nhà hàng, quán karaoke, mát xa Với những đặc điểm trên, địa bàn quận Hai BàTrưng, Hà Nội được chọn là địa điểm thực hiện nghiên cứu
Mặc đù đã xuất hiện ở Việt Nam hơn một thập kỷ, tuy nhiên sổ lượng nghiên cứu về MTTH
ở Việt Nam rất hiếm, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề sử dụng MTTH trongnhóm PNMD được công bố Hơn nữa, MTTH không chỉ gây nghiện mà còn kích thích tình dục
do đó nó đặc biệt ảnh hưởng đến nhỏm đối tượng nguy cơ cao này Vỉ vậy, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng, yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng MTTH và các hành vi tỉnh dục nguy cơ do MTTHmang lại sẽ góp phần đáng kề vào việc tìm giải pháp giảm lây truyền HIV và nâng cao sức khỏe
ở PNMD Hà Nội nói chung và quận Hai Bà Trưng nói riêng Do vậy, đề cương nghiên cửu
“Thực trạng, các yếu tổ ảnh hưởng đên việc sử dụng ma tủy tống hợp và hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV do trong nhóm phụ nữ mại dâm tại khu vực quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 201 ỉ ”
được xây dựng
Trang 9CHƯƠNG I: TÓNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.2 Phân loại ma túy
Căn cứ vào nguồn gốc, ma túy được chia thành ba nhóm chính: Ma túy tự nhiên, ma túy bántổng hợp, nia túy tổng hợp
1.1.5 3 Ma túy tổng hợp:
MTTH được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các hóa chất banđầu (còn gọi là tiền chất), Một số loại MTTH điển hình như Amphetamine, Methamphetamie,Ecstasy Các chất MTTH có tác dụng mạnh, nhanh hơn ma túy bán tổng hợp [9]
Trong nghiên cứu nàỵ, thuật ngữ MTTH dược sử dụng cho các loai ma túy nhómAmphetamin - Amphetamine Type Stimulants (viết tắt là ATS) với ba dạng chính làamphetamine, methamphetamine (Meth) vả ecstasy, ờ Việt Nam thường gọi là hồng phiến, dá, vàthuốc lắc
Trang 101.2 Tình hình sử dụng MTTH
1.2.1 Thế giới
Bảo cáo về tình hình sử dụng ma túy trên thế giới 2010 của United Nations Office on Drugsand Crime (UNODC)[30] đã ước lượng số người trong độ tuổi từ 15-64 sử dụng ma tủy bất hợppháp ít nhất một lần trong năm 2008 khoảng 155 đến 250 triệu người (chiếm từ 3,5% đen 5,7%dân so trong độ tuổi từ 15-49) Trong đó, loại ma túy được sử dụng nhiều nhất là cần sa với 129-
190 triệu người; đứng thứ hai là MTTH dòng ATS với số người sử dụng dao động trong khoảng24,16 - 78,72 triệu người, xếp sau đỏ là chất dạng thuốc phiện và cocaine
Bảng 1: ước tỉnh số người sử dụng A TS tuổi từ 15-64 theo khu vực và ở các tiểu
khu vực thuộc châu  năm 2008
Ước tính số người sử dụng ATS
53.610.00027.530.000Không có báo cáoKhông có báo cáo
Ước tính sổ liệu toàn cầu 24.160.000 78.720.000
Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng ma túy thế giới (UNODC World Drug Report 2010)Cũng theo báo cáo này, khu vực châu Đại Dương, Đông và Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Tây vàTrung Châu Âu có tỷ lệ sử dụng MTTH cao trong dân số Đặc biệt tại khu vực Đông và ĐôngNam Á, nơi có đến gẩn 1/3 số người sử dụng MTTH trên thế giới (bảng 1),
Trang 11tệ nạn này vẫn đang có xu hướng gia tăng UNODC đã khẳng định tất cảcác nước trong khu vực Đông và Đông Nam Á đều đã ghi nhận sự xuất hiện vàgia tăng của việc sử dụng MTTH, đặc biệt là dạng ma túy tinh thể ở Việt Namthường gọi là “ma túy đá hay “đá” Bằng chứng là số lượng MTTH bị các lựclượng chức năng thu giữ ngày càng tăng Tại Thái Lan, một trong những thịtrường tiêu thụ MTTH methamphetamine lớn nhất thế giới, so lượng các vụbat giữ do sử dụng MTTH trong năm 2008 đã lên tới 120.000 vụ gấp 4 lần sovới năm 2004, và số lượng MTTH thu được là 22.000.000 viên - gap đôi so vớinăm 2007 [29].
1.2.2 Tình hình sử dụng MTTH tại Việt Nam
Trong năm 2009, số người nghiện ma túy trên cả nước đã lên đen 147.731 người[29], tăng15% so với cùng kỳ nãm trước đó Loại ma tủy được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay vẫn
là heroin, với 83% số người nghiện sử dụng[29] Xuất hiện ở Việt Nam vào giữa thập kỷ 90 củathế kỳ XX, sau gần 15 năm kể từ đó, MTTH đã trở thành loại ma túy được sử dụng phổ biến thứ 3tại Việt Nam, với khoảng 4% năm 2009 [16]
MTTH được sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là dòng Amphetamine Type Stimulants (ATS)với ba dạng chính là amphetamine, Meth và ecstasy dạng viên với cái tên thường gọi là thuốc lac.Ngoài dạng viên, hiện nay MTTH dạng tinh thè gọi là “ma túy đả” với tên khoa học là Crystallinemathamphetamine đã xuất hiện tại Việt Nam Đến 2009, Việt Nam đã phát hiện và thu giữ được3,9 kg ma túy này[29] UNODC cũng dự báo cả ba loại MTTH đang sừ dụng ở Việt Nam đều có
xu hướng gia tăng trong thời gian tới, đặc biệt ỉà ma tủy đá - thử mà rát được ưa chuông tronggiới trẻ ở những thành phổ lớn như Hà Nội và TP HỒ Chí Minh[29]
Mặc dù, hiện tại chưa có 3ố liệu thống kê cụ thể về tình hình sù dụng MTTH, tuy nhiêncũng như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội thường là đích đen của các tay buôn lậu ma túy Bằngchứng là trong tháng 7 năm 2008 cảnh sát đã bắt giừ Meth dạng viên với trọng lượng lên đến 53,9
kg đang được vận chuyển từ Lào vào Quảng Trị và thị trường cuối cùng được đưa đến là Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh[29]
Trang 121.3 Ảnh hưởng của MTTH đến sức khỏe
Tất cả các loại MTTH dòng ATS đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thầnngười sử đụng Khi được đưa vào ca thể, các loại MTTH thuộc dòng ATS sẽ tác dụng đến thầnkinh, hô hấp và tim mạch Tuy nhiên, đối với mỗi loại MTTH khác nhau sẽ gây ra những hậuquả không giống nhau cho người sử dụng
1.3.1 Ảnh hưởng của amphetamine và Meth đến sức khỏe
Amphetamine và Meth có mối liên quan chặt chẽ với nhau (methamphetamine là một dẫnxuất amin của amphetamine) Cả hai đều kích thích hệ thần kinh trung ương và gây ra ảo giáchưng phấn, tỉnh táo, giâm sự thèm ăn, tăng huyết áp, nhịp tim và chức năng sinh lý khác[17] Tuynhiên, Meth có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương mạnh hơn hai đến ba lần so vớiamphetamine[31] Trong quá trình sử dụng MTTH, cơ thể luôn ở trạng thái bị kích thích, do vậyngười dùng khó có thể kiểm soát các hành vi của bản thân, thường xuất hiện nhiều hành vi bạolực, gây đánh lộn, QHTD bừa bài Ngoài ra, meth/amphetamine cũng kích thích hệ thần kinhgiao cảm gây ức chế hoạt động của dạ dày và ruột làm giảm cảm giác thèm ăn Chính ào giáchưng phấn, hoạt động nhiều, không ăn, không ngủ trong khoảng thời gian dài do loại MTTH nàygây ra đã dẫn đến tình trạng kiệt sức, suy sụp cơ thể nhanh chóng ở người sử dụng, điển hình mà
Meth, có thể thấy ảnh hưởng của Meth đến cơ thể qua hĩnh 2 Thêm vào đó, sử dụng Meth ở liều
cao trong thời gian dài có thể gây tâm thần, triệu chứng tương tự như tâm thần phân liệt: hoangtưởng hình ảnh, hoang tưởng âm thanh, khứu giác [31 ]
Hình 2: Anh hưởng của Meth đên cơ thê
Trang 13Trước đây, Meth/amphetamine thường xuất hiện ở Việt Nam dưới dạng viên, được dùngvới hình thức cắn, nuốt Tuy nhiên, theo báo cáo của luật gia Đặng Minh Sự - cục phó cục phòngchống tệ nạn xã hội thành phố Hồ Chí Minh, dạng tinh thể của Meth (crytal Meth) được phát hiệnlần đầu tiên tại Hà Nội vào ngày 25/4/2006, người dân Việt Nam thường gọi là ma túy “đá”[4].
“Đá” là loại ma túy nguyên chất, có độ tinh khiết cao, có thể lên đến 99% [17], do vậy dân “đậpđá” thường chỉ phải sử dụng một lượng nhỏ hom rất nhiều so với các loại MTTH khác
Ma túy đá có thể được đưa vào cơ thể với nhiều hình thức như nghiền nhỏ để hít qua mũi,đun nóng chảy sau đó tiêm thẳng vào mạch máu, hoặc sử dụng qua đường miệng Trong các hìnhthức trên, sử dụng bằng cách tiêm tĩnh mạch có hiệu quả nhanh nhất, trong khi đó hình thức húthoặt cắn phải mất 10 -20 phút thuốc mới có tác dụng[4] Tuy nhiên, sử dụng qua đường tiêmchích sỗ tăng nguy cơ nhiễm HIV ở người nghiện gan liền với hành vi sử dụng chung BKT
Với dạng tinh thể, nguyên chat, ma túy đá kích thích mạnh thần kinh trung ương, gây ảogiác cho người sử dụng từ 2-3 ngày Trong thời gian này, người sử dụng có trạng thái sung mãn,
tự tin, có thể làm những điều mà khi tỉnh táo không dám làm như cởi bỏ quần áo, QHTD tập thể Nghiên cứu do Rotheram-Borus và cộng sự thực hiện 337 cuộc phỏng vấn với thanh niên nhiễmHIV tại thành 4 thành phố lớn của Mỹ [24] đã mô tả những người sử dụng ma túy đá có tác dụng2-4 ngày, trong thời gian đó, họ sẽ bị kích thích tình dục, thường quan hệ với nhiều bạn tình và ít
sử dụng BCS Mặc dù có tác dụng kích thích tình dục, tuy nhiên ma túy đá làm khô niêm mạc,làm giảm độ nhạy cảm của các khu vực hậu môn và bộ phận sinh dục Điều này góp phần làmhành vi QHTD trở nên thô bạo, làm thâm tím, rách niêm mạc và tăng khả năng nhiễm HIV[22]
Như đã phân tích ở trên, MTTH nói chung và ma túy đá nói riêng đang có xu hướng giatăng ờ Việt Nam và việc sử dụng ma túy đá làm tăng nguy cơ nhiễm HIV hành vi tiêm chích vàtình dục không an toàn Do vậy, để đưa ra các giài pháp ngăn chặn việc lây nhiễm HIV đòi hỏiphải có hiểu biết, thông tin sâu về việc sử dụng MTTH và các yểu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy
cơ lây nhiễm HIV trên nhóm đối tượng nguy cơ
Trang 141.3.2 Ảnh hưởng của ecstasy đến sức khỏe
Ecstasy hay còn gọi là “thuốc lắc” là một loại MTTH có tên khoa học là methylenedioxymethamphetamine (MDMA) Thuốc có thể điều chế với màu sắc bất ki, viên nén,viên nhộng có thể in nhiều ký hiệu khác nhau như hình con bướm, chim bồ câu, trái tim[28] Độtinh khiết và chẩt lượng của loại thuốc này rất khác nhau, không thể đoán trước được Do đó, mức
3-4-độ 3-4-độc hại cùa loại thuốc này cũng khác nhau đối với mỗi loại hỗn hợp (Một số hình ảnh về cácloại ma túy tổng xem phụ lục 5 trang 50)
Người sử dụng thuôc lăc sẽ xuât hiện khoái cảm với cảm giác thân thiện, huyết áp, thânnhiệt và mạch tăng nhanh, vã mồ hôi, giãn đồng tử, đỏ mặt Thuốc gây ảo giác về thính giác, thịgiác và làm người sử dụng cứ lắc và lắc mà không ý thức được minh đang làm gì [4] Do đó,thuốc lắc thường được sử dụng trong các quán bar, vũ trường, nơi đông người và có âm thanhmạnh mẽ, do vậy cá nhân sừ dụng bị kích thích, nhảy múa nhiều sẽ gày mất nước, dẫn đến cơ thểkhông thể duy trì nhiệt độ bỉnh thường và có thể tử vọng do vỡ các mạch máu trong não, suy timhoặc sốt cao [21],
Sử dụng thuốc lắc kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc và nghiện thuốc, buộcngười sử dụng phải tăng liều để tạo ra những cảm giác mà trước kia sử dụng với liều thấp gây ra.Chính sự tăng liều dẫn đến tình trạng ngộ độc cấp gây rối loạn chức năng tình dục, rối loạn cươngdương vật, mất ngủ có thể dẫn đến hôn mê Bên cạnh đỏ, thuốc lắc được chứng minh là gây độccho não Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học trường đại học Jonhs Hopkins, thuốc lẳc ảnhhưởng đến chức năng sinh serotonin của não, làm thay đôi đên trạng thái cảm xúc, giảm đau,giảm trí nhớ [18]
2 Phụ nữ mại dâm
2.1 Phụ nữ mại dâm ở Việt Nam
2.1.1 Bổi cảnh mại dâm
Mại dàm được hiểu là dùng các dịch vụ tình dục để trao đổi với tiền bạc hoặc vật chất, ởViệt Nam, mại dâm được xem là bất hợp pháp và được coi là “tệ nạn xã hội” Theo Bộ lao độngthương binh và xã hội, năm 2009 toàn quốc có 12.013 PNMD có hồ sơ quản lý [1] Tuy nhiên,đây chỉ là bề nổi của tảng băng, bởi lẽ theo ước tính, 70% PNMD ở Việt
Trang 15Nam làm việc trá hình tại các tụ điểm thư giãn, giải trí và cung cấp dịch
vụ tỉnh dục bên cạnh công việc đăng ký chính như tiếp viên karaoke, nhânviên mát xa hay tiếp viên nhà hàng [20] do đó rất khó để có con số thống kêchính xác về số lượng PNMD ở Việt Nam
Chính vì bất hợp pháp nên hoạt động mại dâm tại Việt Nam diễn ra dưới nhiều hình thức,tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến hai hỉnh thức chính là mại dâm đường phố(MDĐP) và mại dâm nhà hàng (MDNH) Hai nhóm trên khác nhau cơ bản về tình trạng kinh tế vànơi làm việc Những người PNMD làm việc hên đường phố thường là những người lớn tuổi vàđược coi là kém hấp dẫn hơn, bị coi là mại dâm tầng lớp thấp Thu nhập nhập trung bình của họchỉ vừa đủ cho các nhu cầu thiết yếu như thức ăn, quần áo và nơi ở Ngược lại, phụ nữ làm việctại các tụ điểm không gặp nhiều khó khăn về kinh tế Khách hàng của họ thường là những namgiới giàu có và trả từ 30 đến 60 đô la Mỹ cho mỗi lần QHTD, thu nhập trung bình hàng tháng cùa
họ khoảng từ 300 đến 1000 đô la Mỹ[6]
2.1.2 Phụ nữ mại dâm Hà Nội:
Hà Nội là một thành phố sàm uất Biểu đồ 3: số lượng PNMD tại Hà Nội với nhiều khudịch vụ vui chơi giải trí như nhà hàng, quán
bar, vũ trường, karaoke, mát xa Đây cũng
là điều kiện thuận lợi phát triển hoạt động
mại dâm Số lượng PNMD trên địa bàn Hà
Nội ngày một gia tăng, năm 2009 có tới gần
có hồ sơ quản lý
Trang 16đổi với PNMD Hà Nội là 5,6 người/ tuần[2] Cũng theo SBBI (2006), HàNội là một trong hai khu vực có tỳ lệ PNMD nghiện ma túy cao nhất trong 7khu vực điều tra với 17% quần thể nghiên cứu[2] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómPNMD tại Hà Nội là 22,6% trong nhóm MDĐP và 9,4 ở nhóm MDNH [2] số liệutrên phần nào đã phản ánh mức độ nhạy cảm và nguy cơ nhiễm HIV củanhóm đối tượng PNMD Hà Nội.
3 Các nghiên cứu đã thực hiện
là loại Meth dưới dạng viên và dạng tinh thề với giá rẻ Meth dạng tinh thể được mô tả là một “malực” giúp PNMD có thể phụ vụ khách nhiều giờ hơn Việc sử dụng ATS cũng phổ biến trongnhóm khách mua dâm, một sổ người còn cung cap MTTH cho PNMD và khuyến khích họ sửdụng nhằm dẫn đến hoạt động tình dục kéo dài Yêu cầu QHTD không được bảo vệ ở nhómkhách hàng sử dụng ATS cũng phổ biến hơn trong nhóm say rượu, và việc thương lượng để sửdụng bao cao su (BCS) cũng ít hiệu quả
3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng MTTH
Cũng như các loại ma tủy khác, MTTH dòng ATS đã thu hút sự quan tâm đáng kể của cácnhà nghiên cứu, đặc biệt ờ các quốc gia phát triển trên thế giới Các yếu tố ảnh hường đến việc sửdụng MTTH được các nghiên cứu đề cập đến bao gồm: (1) Các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu:tuổi, giới, tiền sử gia đình có người phạm tội hoặc sử dụng chất gây nghiên (2) Các yểu tổ liênquan đến nhận thức về tác dụng của MTTH (bảng 4); (3) Do ảnh hưởng của việc sử dụng các chấtgây nghiện khác như heroin, chất dạng thuốc phiện, thuốc lá, rượu, Cụ thể như sau:
Trang 17Nghiên cứu “Các yêu tô nguy cơ dẫn đến sứ dụng methamphetamine ở giới trẻ ” (Risk
factors for methamphetamine use in Youth) [25] được thực hiện bằng việc tổng quan 12 tài liệu
đặc săc được chọn ra từ 2376 tài liệu có liền quan qua hơn 40 cơ sờ dữ liệu nghiên cứu y học Kết
quả cho thấy trong số những thanh niên nguy cơ thấp (thanh niên chưa khai báo việc sử lạm dụngchất gây nghiên, phần lớn được tuyển chọn tại trường học), các yêu tô liên quan tới việc sử dụngMeth là tiền sử của việc sử dụng heroin, dạng thuốc phiện (OR=29,3; 95% CI: 9,8 - 87,8%); tiền
sử gia đình sử dụng ma túy (OR = 4,7; 95% CI: 2,8-7,9); hành vi tình dục nguy hiểm (OR = 2,79;95% CI: 2,25-3,46) và một số rối loạn tâm thần Ngoài ra, tiền sử sử dụng rượu và hút thuổc lácũng liên quan đáng kể tới việc sử dụng meth Đổi với nhóm thanh niên nguy cơ cao (nhóm đượctuyển chọn từ trại cai nghiện, đã có báo cáo về việc sử dụng ma túy bất hợp pháp), các yếu tố liênkết với việc sừ dụng meth là: tiền sử gia đình có người phạm tội (OR^2,0; 95% CI: 1,2-3,3); giađình có tiền sử sử dụng ma túy (OR=4,7; 95% CI: 2,8-7,9), gia đình có tiền sử lạm dụng rượu
(OR=3,2; 95% CI: 1,8-5,6), và điều trị tâm thần (OR=6,8; 95% CI: 3,6-12,9) Nữ giới cũng có ý
nghĩa thống kê với việc sử dụng meth
Nghiên cứu “Đặc diêm xã hội và hành vi tình dục nguy cơ của những phụ nữ sừ dụng methamphetamine ’’(Female methamphetamine users: social characteristics and sexual risk
behavior) [26] được thực hiện nhằm mục đích mờ rộng kiến thức về đặc điểm cá nhân, xã hội,động cơ sử dụng, mô hình sử dụng meth, các vấn đề y tế, xã hội liên quan đến việc sử dụng meth
và các mối quan hệ giữa việc sử dụng meth và hành vi tình dục nguy cơ cao Nghiên cứu đượcthực hiện trên 98 phụ nữ có HIV âm tính, có QHTD khác giới và sử dụng meth tại San Diego,California Ket quả về hoàn cảnh sử dụng meth của các phụ nữ này cho thấy, họ thường sử dụngchủ yếu với một người bạn (95%) hoặc một đổi tác tình dục (84%) Ngoài ra, người khác tham gia
sử dụng meth cùng họ bao gồm: người lạ mặt (33%), đồng nghiệp (18%), thành viên gia đình(16%).Nơi sử dụng là nhà đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) (45%), nhà một người bạn (33%) Phụ
nữ không thường xuyên sử dụng meth tại các địa điểm công cộng như công viên Lý do phổ biếnnhất dẫn đến việc sử dụng meth của họ bao gồm: để đạt được ảo giác sảng khoái (56%), tăng nănglượng (37%), đối phó với tầm trạng (34%), giảm cân (29%), dự tiệc (28%), để giải tỏa (27%).Bên cạnh
Trang 18đó, có 18% số người tham gia nghiên cứu cho rằng việc sừ dụng methcùa họ nhằm tăng cường khoái cảm tình dục Điều này phù hợp với việc 41%các phụ nữ này đã đi đến một địa điểm cụ thể để tìm đối tác tình dục khi họ bịtác dụng bởi meth Nơi họ tìm đối tác tình dục thường lả bữa tiệc tạì một nhàngười bạn (n=16), quán bar (n=10) một góc phô (n=7) Nơi QHTD dưới tácdụng của meth là tại nhà tiêng của họ (65%), tại nhà đối tác tình dục (51%),công viên (12%), nhà bạn (7%) và nhà sách dành cho người lớn (5%).
Nghiên cứu “Tìm hiếu lý do sử dụng ma túy trong giới trẻ ” (Understanding reasons for
drug use amongst young people) đã sử dụng một quan điểm chức năng để đánh giá những lý dongười trẻ tuổi sử dụng các chất gây nghiên Mẫu nghiên cứu gồm 364 người trẻ tuổi sử dụng matúy được lựa chọn thông qua phương pháp hòn tuyết lãn Ngoài việc tỉm ra cường độ, tần số vàhình thức sử dụng rượu, cần xa, cocaine, nghiên cứu cũng đề cập đen lý do sử dụngamphetamines và ecstasy
Bảng 4: Mục đích sử dụng các chất gây nghiện:
STT Mục đích sử dụng chát gây nghiện Amphetamines
(n=160)
Ecstasy (11=357)
1 Làm cơ thể cảm thấy tốt hơn khi bị trầm cảm
hoặc cảm thấy xuống đốc (cảm nhận tốt hơn)
2 Giúp ‘tiếp tục đi’ tronệ một đèm với bạn bè 95,6 91,1
8 Giúp tự tin hơn, nâng cao khả năng giao tiếp 53,1 42,0
9 Nâng cao hiệu quả các chất gây nghiện khác 37,5 27,4
10 Giúp dê chịu hơn sau ảnh hưởng của chât gây
16 Giúp tập trung vào việc học hoặc làm việc 29,4 3,2
17 Nâng cao hoạt động như nghe nhạc, chơi game,
hoặc thể thao
Trang 19Kết quả cụ thể cho thấy, trong 160 người thừa nhận đã từng sử dụng amphetamines có tớihơn 91,3% khẳng định việc sử dụng chất gây nghiện này nhằm giữ tĩnh táo; mục đích nâng caohoạt động chiếm 66,2% và giúp vui vẻ cùng bạn bè là 58,1% Bảy trong sổ 17 mục chức năng doamphetamines mang lại đã được thừa nhận bởi hơn một nửa những người tham gia sử dụng loạichất kích thích này vể giới tính không có sự khác biệt đáng kể trong hầu hết các lý do sử dụngamphetamines của cả hai giới Tuy nhiên, trong số 17 lý do trên, chi có duy nhất một lý do là phụ
nữ có nhiều khả năng sử dụng loại chất kích thích này để giúp giảm cân hơn so với nam giới (%2
= 21,67; p<0,001)
Đối với nhóm thuốc lắc (ecstacy) năm lý do sử dụng phổ biến nhất cũng tương tự như lý
do sử dụng amphetamines Thuôc được sử dụng với lý do “tiêp tục đi” trong đêm với bạn bèchiếm 91,1%, nâng cao hoạt động chiếm 79,6%, cảm thấy phấn chấn (77,7%), giúp tỉnh táo(72%) Bảy trong số 17 lí do tiếp tục sử dụng thuốc lắc được hơn một nửa sổ ĐTNC xác nhận Lý
do “giảm cân” cũng được nữ giới đưa ra nhiều hơn so với nam giới
3.1.3 Nguy cơ nhiễm HỈV do sử dụng MTTH
Nghiên cứu “Sừ dụng methamphetamine và hành vi quan hệ tĩnh dục khác giới nguy cơ’’ (Methamphetamine Use and Risky Sexual Behaviors During Heterosexual Encounters) [32]được thực hiện nhằm xem xét sự liên quan giừa việc sử dụng Meth và hành vi QHTD nguy cơ.Thông tin được thu thập bằng việc phòng vẩn 703 người tiêm chích ma túy ở Bắc Carolina Kếtquả cho thấy Meth được sử dụng trong 7% các lần quan hệ Một trong hai đối tác hoặc cả hai sử dụngmeth làm tăng khả năng giao hợp qua đường hậu môn (OR — 2,41; khoảng tin cậy 95%: 1,29 —4,53); giao hợp qua âm đạo và hậu môn (OR=2,41; 95% CI:l,09 - 3,61) và giao hợp với người là(OR=1,98%, CI 95%: 1,09 - 3,61) Ngoài những hành vi trên, việc với hai đối tác cùng sừ dụngMeth cỏ liên quan đáng kể đến hành vi QHTD không bào vệ đối với bạn tình mới (OR=5,2; 95%CI: 2,09 - 12,93); quan hệ không được bảo vệ qua đường hậu môn (OR = 4,63, 95% CI: 1,69 -12,7) Ket luận, việc sử dụng Meth trong QHTD khác giới sẽ làm gia tăng hành vi tình dục nguy
cơ cao, đặc biệt khi cà hai người cùng sử dụng nó
Trang 20Nghiên cứu “Hành vi nguy cơ nhiễm HIV trong những người sử dụng amphetamine ở Sydney, úc” (HIV risk-taking behaviour among amphetamine users in Sydney, Australia) được
thực hiện nhằm khảo sát hành vi sử dụng chung BKT và QHTD nguy cơ cao trong số 231 người
sử dụng amphetamine tại ức Kết quả cho thấy, một nửa trong số đó thường xuyên tiêm chích Tỳ
lệ sử dụng chung chung BKT và QHTD nguy cơ cao trong nghiên cứu này là tương tự với cácnghiên cứu gần đây tại úc Khoảng 1/3 sổ người đã từng tiêm chích dùng chung BKT Sừ dụngBCS với bạn tình thường xuyên và không thường xuyên đề thấp QHTD nguy cơ không liên quanđến viêc dùng chung BKT và sử dụng amphetamine Kết luận, mặc dù người sử dụngamphetamine và thuốc phiện ở úc đã giảm rủi ro lây truyền HIV, tuy nhiên vẫn còn đáng kểnhững người sử dụng hai loại ma túy trên có hành vi sử dụng chung BKT và tình dục không antoàn
“phân hạng”, “đang cấp” và thời gian hành nghề Thường khi mới vào nghề, còn trẻ, PNMD làmviệc dưới sự quản lý trong các nhà hàng, karaoke, cơ sở massage, nhà nghỉ, khách sạn; sau mộtthời gian xuống cấp, tàn tạ họ trở thành gái đứng đường hành nghề nơi công cộng Ngoài raPNMD cỏ tính di biến động cao (thường xuyên thay đổi nơi làm việc) làm tiềm ẩn nguy cơ nhiễmHIV
Trong nghiên cứu định tinh về ‘‘Đời song mại dâm ở Việt Nam”(2009)[6~\, thông qua
việc thu thập số liệu dựa trên 30 PVS và 4 TLN với 69 PNMD được lựa trọn qua kỹ thật hòn tuyếtlàn, tác giả đã cho chúng ta thấy mối quan hệ ràng buộc của PNMD với khách hàng, chủ chửa,những người bảo kê, môi giới tình dục và những PNMD khác
Trang 21Đó là những mối quan hệ phức tạp mà PNMD luôn là người yếu thế, là nạn nhân của việc lạmdụng, bóc lột, bạo hành tình dục, đồng thời hành vi QHTD của họ cũng bị chi phối nặng nề bởinhững mối quan hệ này.
Đối với mối quan hệ với khách hàng, PNMD thường yếu thế trong việc bảo vệ bản thân vìnghề của họ là bất hợp pháp và họ không mạnh mẽ như nam giới Phần lớn họ bị ngược đãi, lạmdụng và bóc lột tình dục bời các khách hàng bạo lực Các khách hàng thường yêu cầu nhiều độngtác tình dục khác nhau, nếu không thỏa mãn, PNMD có thể bị đánh hoặc không được trả tiên.Trong quan hệ với chủ chứa, những phụ nữ trẻ, hấp dẫn thường bị lợi dụng dưới nhiều hìnhthức: tù dụ dỗ đến sử dụng bạo lực, đôi khi còn bị chủ làm cho phụ thuộc vào ma túy đe dễ quản
lý Hơn thế nữa, các mối quan hệ của PNMĐ còn trở nên phức tạp hơn khi các chủ tụ điểm giải trítình dục còn thuê một số nam giới để quản lý PNMD Họ thường thể hiện quyền lực và quyền thế
mà người chủ trao cho họ, sử dụng bạo lực về thể chất hoặc bạo lực tình dục nhằm kiểm soátPNMD
Mối quan hệ giữa PNMD này với PNMD khác thường mang tính cạnh tranh đặc biệt là giữa những người nghiện ma túy Một nữ mại dâm trong nghiên cứu trên cho biết: “Trong nghề này, thỉnh thoảng có những vụ đánh nhau và ganh đua giữa các chị em nhằm chiếm được những kháchhàng hào phóng” Tác giả của nghiên cứu này cũng cho biết sự giao tiếp giữa cáo phụ nữ này rất hạn chế Họ không chia sẻ thông tin hoặc trao đối ý kiến về các vấn đề sức khỏe, các bệnh lây truyền qua đường tình dục
3.2.2 Sừ dụng ma túy trong nhóm PNMD
Hành vi sừ dụng ma túy trong nhóm PNMD là khá phổ biến Theo báo 2005 của cục y tể
dự phòng và phòng chống HIV/AỈDS, tỷ lệ PNMD nghiện ma túy này càng tăng, năm 2004 tỷ lệnày là 32.6% gấp gàn 2 lần so với năm 2001 [3] Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệnhiễm HĨV trong nhóm PNMD cao với him 10% PNMD đã nhiễm HIV tại 5 /7 tỉnh trong nghiêncứu IBBS năm 2006 [2] Mặc dù, đã xuất hiện ở Việt Nam gần hai thập kỷ và đang có xu hướnggia tăng đáng kể, tuy nhiên, só lượng các nghiên cứu về đề tài MTTH không nhiều, đặc biệt chưa
có nghiên cứu định tính nào về hành vi sử
Trang 22dụng MTTH trong nhóm PHMD ở Việt Nam được công bố Do vậy việctổng quan tài liệu dưới đây sẽ nhằm mô tả phần nào mối quan hệ phức tạpgiữa mại dâm và ma túy Ma túy làm cho mại dâm trở nên phức tạp hơn, buộcngười hành nghề mại dâm phải bán dâm nhiều hơn, đáp ứng nhiều hành vitình dục nguy cơ cao để đổi lấy ma túy.
Nghiên cứu định tinh về "Sừ dụng chất gáy nghiện và nguy cơ nhiêm HIV trong nhóm nam tình dục đồng giới, mại dám nam, và người chuyển giới tại Hà Nội và TP Hồ Chi
A/mA”[15] đã PVS 62 người sử dụng chất gây nghiện trong đó có MTTH (lắc, đá, ketamine, bồ
đá và keo) và tiến hành 4 cuộc TLN Kết quà cho thấy lý do chính bắt đầu sừ dụng chất gâynghiện gồm: Tìm khoái cảm; đối phó với cảm xúc; nhận thức về lợi ích sừ dụng chất gây nghiện:thuốc lac tăng độ vui vẻ, sảng khoái, sung sức hơn; đá giảm cân, gia tăng sự tự tin, tăng khả năngtình dục Thêm vào đó, mại dâm nam còn dùng chất gây nghiện để hỗ trợ công việc mại dâm của
họ: ‘‘‘‘không co thuốc (ma túy) sử dụng em cảm thấy người rát mệt mỏi, khách có kêu thỉ mình
cũng không thê phục vụ họ được Nhưng có thuốc vào rồi thì trong người cảm thấy thoải mải, tỉnh táo, khỏe mạnh hơn và lúc đó cỏ thê đi khách được Nếu trong một ngày mà em không có hai
cừ đê dùng thì em không thê đi khách được Cứ phải có ma túy vào thỉ em mới đi khách được, và
có khách thì mình mới lại có đù tiền để mua ma túy về sử dụng”.
Nghiên cửu "Người tiêm chích ma túy ở Việt Nam: Các động thái về nguy cơ mắc AIDS
và các mối quan hệ tình dục”[8] được thực hiện tại Hà Nội và Quảng Ninh Nghiên cứu kết hợp
mang tính khám phá và mô tả, sử dụng lý thuyết nghiên cửu nhận thức - biểu tượng để phân tíchcác quan điểm cùa người nghiện chích ma túy (NCMT) và bạn tình của họ Mầu nghiên cứu bao gồm
75 cá nhân (trong đó 53 người được PVS, 3 người thuộc nghiên cứu trường hợp và 19 người thamgia TLN tập trung) Tất cả các ĐTNC được lựa chọn theo phương pháp hòn tuyết lăn và xuất phát
đa điểm nhằm tối đa hóa các biến chủ ‘-i
thể Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự phân công lao động cùa nam đối tượng NCMT và bạn
tình của họ "tao đi ăn cap, mày đi làm phò ” Nhiều phụ nữ nghiện ma túy đã đi và con đường mại
dâm để trang trải tiền “thuốc” cho bản thân và cho bản tình của họ
3.2.3 Nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm PNMD
r ' ỞDKOCỌSB ;■
Trang 23Sử dung chung BK.T và tình dục không an toàn là hai hành vi có nguy cơ cao đến việc lâytruyền HIV ở Việt Nam Chính vì lẽ dó, ma túy và mại dâm là hai tệ nạn xã hội có ảnh hưởng trựctiếp đến việc lây nhiễm HIV Theo báo cáo trong phiên khai mạc hội nghị Khoa học Quốc giaphòng, chống HIV/AIDS lần thứ IV viện vệ sinh dịch tễ trung ương, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómNCMT năm 2010 là 17,5%, và trong PNMD là 4,5%[7] cao nhất trong giai đoạn 2006 — 2010(Biểu đồ 2) Cũng trong hội nghị, theo kết quả điều ưa IBBS vòng 2 năm 2009, tỷ lệ nhiễm HIVưong nhóm MDNH tại ba thành phố lơn là Hà Nội, Hài Phòng và TP Hồ Chí Minh có chiềuhướng tăng lên so với năm 2006[l0] (Biểu đồ 3).
Biểu đồ 5: Xu hướng nhiễm HỈV trong
Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã có khá
HIV ở PNMD:
Chương trình “giám sát kết hợp hành vi và các chi số sinh học HIV7STI (IBBS) tại Việt Nam 2ƠỠ5-2ỚỚỚ”[2] được triển khai tại Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nằng, TP Hồ Chí
Minh, An Giang và cần Thơ từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006 PNMD là một trong ba
Biểu đồ 6: Xu hướng nhiễm HIV trong
Trang 24nhóm đối tượng chính của nghiên cứu được ước lượng tỷ lệ hiện nhiễm HIV, các nhiễm trùng lâytruyền qua đường tỉnh dục, các hành vi nguy cơ và mức độ tiếp cận các chương trình can thiệp.Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu
Trang 25chùm để lựa chọn 3547 PNMD tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy,hơn 10% PNMD đã nhiễm HIV tại 5 trên 7 tỉnh nghiên cứu, tỷ lệ hiện nhiễmtrong nhóm MDĐP cao hơn MDNH Tỷ lệ nhiễm cao nhất được ghi nhận trongnhóm MDĐP tại cần Thơi (29%) và Hà Nội (23%) Nhiễm HIV trong nhómPNMD có liên quan chặt chẽ với hành vi tiêm chích ma túy, PNMD đã từngtiêm chích có nguy cơ nhiễm H1V cao hơn những PNMD không tiêm chích matúy từ 3,5 đến 31 lần.
Tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với khách hàng mà nhóm PNMD tự báo cáorất cao và mặc dù kết quả này tương tự như các nghiên cứu định lượng khác, song có thể bị ảnhhưởng bởi sai số báo cáo Tuy nhiên, tỷ lệ PNMD sử dụng BCS thường xuyên với khách hàngtrong 1 tháng trước cuộc điều tra thấp hơn rất nhiều, thay đôi từ 36% trong nhóm MDNH tạiQuảng Ninh tới 89% trong nhóm MDĐP tại cần Thơ
Nghiên cửu này cũng chi ra ràng nhiều PNMD đã từng sử dụng ma túy Tỷ lệ PNMD đãtừng tiêm chích ma túy cao nhất trong nhóm MDĐP tại Hà Nội và cần Thơ (17%) Như đã đề cập
ở phần trên, có mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi tiêm chích ma túy ởmức độ từng các nhân cũng như mức độ quần thể: tỉnh, thành phố có tỳ lệ PNMD tiêm chích matúy cao hơn, thì tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tỉnh thành phố đó cũng cao hơn Ket quảnghiên cứu cũng cho thấy hành vi dùng chung BKT rất phổ biển trong nhóm PNMD, với tỷ lệ sửdụng chung BKT cao hơn nhóm nam nghiện chích ma túy tại nhiều tỉnh, thành phố
Nghiên cứu vể "Tiêm chích ma tủy và nhân tô nguy cơ lây nhiêm HIV trong nhòm gái mại dâm tại TP Hồ Chỉ Minh ”[5] đã sử dụng phương pháp dựa vào đáp ứng người trả lời (RDS) Đe
tiếp cận với nhóm đối tượng nhạy cảm - PNMD, ban đầu nghiên cứu được thực hiện với việcphỏng vấn 20 “hạt nhân” là đổi tượng PNMD sau đó, mỗi đối tượng được phỏng vấn sẽ giới thiệu
3 đối tượng khác để tham gia điều tra Cứ như vậy, nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn và xétnghiệm nhanh HIV cho 413 đối tượng PNMD[14] Kết quả nghiên cứu cho thấy trong quần thềnghiên cứu, tỳ lệ PNMD nghiện chích ma túy chiếm 11%; tỷ lệ hiện nhiễm HIV xét nghiệm bằngOraQuick trong nhóm PNMD chung là 15% và trong PNMD có tiêm chích ma túy là 40% Tuổitrung bình tiêm chích là 21 tuổi,
Trang 26tuy nhiên có hơn 47% PNMD dưới 19 tuổi dã tiêm chích ma túy; số bạnchích chung của mỗi đối tượng trung bình là 2 người (cả biệt có một số đốitượng trả lời họ đã từng chích chung với 8 người) Ngoài ra, 21% PNMD đãtừng dùng chung BKT và 47% đã từng pha chung dung dịch ma túy.
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cho biết tuôi trung bình bán dâm lân đầu củaPNMD trong nghiên cứu là 24 tuổi; tuy nhiên có tới 33% bán dâm lần đầu trước 19 tuổi Sổ bạntình trung cùa mỗi PNMD trong 1 tháng trước khi nghiên cứu là 26 người Trong đó, 23% PNMDkhông thường xuyên sử BCS với bạn tình 1 lần và hom một nửa (58%) đã không bao giờ dùngBCS khi quan hệ với bạn tình cố định
Nghiên cứu: “Mại dâm ờ Việt Nam: các tác động tỏi dự phòng /Ỉ/VL4/ĐS”[14] tập
trung tim hiểu các yếu tố hoàn cảnh văn hóa - xã hội chi phổi việc PNMD và khách hàng của họthực hiện hành vi tình dục có nguy cơ Các phát hiện trình bày trong bài viết được trích từ mộtnghiên cứu nhân học đánh giá các hành vi xẵ hội liên quan đến dự phòng HIV/AIDS tại Cần Thơ.Bài viết gồm một loạt các cuộc PVS với 10 PNMD nghèo và 10 khách làng chơi Kết quả điều tracho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến PNMD nghèo thực hiện các hành vi QHTD không an toàn -
tình dục không dùng BCS là nỗi lo sợ bị bắt giữ trong thời gian diễn ra chiến dịch phòng chống
“Tệ nạn xã hội” Vì mại dâm có tính di biển động và trá hình, nên PNMD nghèo gặp khó khăn khitiếp cận và sử dụng BCS Khách hàng nam giới thường là người ra quyết định về việc sử dụngBCS trong QHTD , họ thường dựa trên sở thích, cảm tính và các niềm tin cá nhân về khoái cảmtình dục và tình dục “an toàn” để quyết định dùng hay không dùng BCS Nghiên cứu gợi ý cầntăng cường quảng bá rộng rãi cách tiếp cận theo hướng giảm thiểu nguy cơ và can thiệp dành chonam giới qua các chương trình thay đổi hành vi đối với PNMD nghèo và khách hàng của họ
Nghiên cứu đinh tính: Lẳng nghe những người mại dâm nữ tại Việt Nam: những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tĩnh dục an toàn của họ khi quan hệ với khách hàng và bạn h'»A[23]nhằm đánh giá kiến thức liên quan tới HIV/AỈDS, tần số sừ dụng và các yếu tố ảnh hường tới việc
sừ dụng BCS của PNMD tại tỉnh Khánh Hòa Trong giai đoạn đầu thực
Trang 27địa, nghiên cứu viên đề nghị một giáo dục viên đồng đẳng (GĐVĐĐ)
từ trung tâm phòng chống AIDS tinh Khánh Hòa giới thiệu một đối tượngphòng vấn tiềm năng để tham gia trả lời câu hỏi Sau đó, các nhà nghiên cứu
đã sử dụng phương pháp hòn tuyết lăn để tiếp cận những PNMD khác Kếtquả: Mặc dù phần lớn các ĐTNC đã được cung cấp thông tin đầy đủ về cơ chếlây truyền HIV/AIDS, nhưng khoảng 1/3 trong số họ có những niềm tin và suynghĩ không chính xác vê những người có HIV cũng như cơ chê lây truyên HIV
từ mẹ sang con Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy nhiều PNMD trực tiếp cho biết
họ sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng trong hầu het các lan QHTD,tuy nhiên, không ai trong số họ xử dụng BCS trong tất cả các lần Với nhữngkhách hàng thường xuyên, phần lớn những người tham gia nghiên cứu đềunói rằng họ không xử dụng BCS Khoảng 1/3 PNMD che dấu việc mại dâm củamình với những bạn tinh thường xuyên cùa họ, những người thường quyếtđịnh việc có sử dụng BCS hay không khi QHTD Những lý do giải thích việckhông dùng BCS với khách hàng được ĐTNC nhắc đến là khách hàng trả giácao hơn, khách đòi QHTD không sử dụng BCS, việc mang BCS trong người làbằng chứng của hoạt động mại dâm Đổi với bạn tình thường xuyên, PNMDcho răng việc không sử dụng BCS thường do: mức độ quen biết của hai người,việc sử dụng BCS phụ thuộc vào quyết định cùa bạn tình Nghiên cứu khôngcho thấy có mối quan hệ rõ ràng nào giữa kiến thức về HIV và thời gian hànhnghề với những hành vi tình dục an toàn
4 Ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu
a. Ỷ nghĩa nghiên cứu
Các nghiên cứu đã thực hiện trên nhóm đổi tương PNMD phần nào cho chúng ta thấy nguy
cơ nhiễm HIV cao qua hành vi tình dục và tiêm chích chung BKT trong nhóm phụ nữ nhạy cảmnày Tuy nhiên đối với MTTH dạng ATS, PNMD sẽ phải đối mặt với nguy cơ nhiễm HIV caohơn nữa, đặc biệt là việc QHTD không sử dụng BCS, quần hôn - tình dục tập thề Bời lẽ, dạng
ma túy này không những ảnh hường trực tiếp đến hệ thần kinh khiển người sử dụng không ý thứcđược hành vi cùa bàn thân mà còn có tác dụng kích thích tình dục Mặc dù vậy, sau hơn 15 nămxuất hiện ờ Việt Nam đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc sử dụng MTTH trongnhóm PNMD và nguy cơ nhiễm HIV từ hành vi này Do vậy, mô tả các hành vi nguy cơ dẫn đếnnhiễm HIV do sử dụng MTTH trong nhỏm PNMD là một trong những mục tiêu quan trọng củanghiên cứu Việc
Trang 28mô tả này giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn sâu sắc hơn về mức độ ảnh hường cùa MTTH đốivới nhóm PNMD, và thiết kế các chương trình nâng cao sức khỏe phù hợp cho nhóm de bị tổnthương này.
Ngoài ra, tài liệu hướng dẫn tư vấn cai nghiện ma túy do UNAIDS phối hợp với FHỈ xâydựng[27] xếp MTTH nhóm ATS là loại chất gây nghiện hướng thần, do vậy nó thường được sừdụng với các hình thái sau: Dùng thử -» Dùng có mục đích -> Dùng nhiều Nghiện[27] Mỗi hìnhthái khác nhau sè có những yếu tố ảnh hưởng không giống nhau lên việc sử dụng MTTH Vì thế,việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng MTTH ở những hình thái đầu tiên sẽ gópphan đưa ra các giải pháp nhăm giảm thiêu việc tiêp tục sử dụng và nghiện MTTH trong nhómPNMD Đó cũng là lý do nghiên cứu "Thực trạng, các yếu tổ ảnh hưởng đẻn việc sử dụng ma túy tổng hợp và hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mại dám ” được thiết kể ở cấpquận Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ không phân tích sâu vào các yếu tố sinh họcảnh hưởng đến nghiện MTTH (do gen, do cơ chế hoạt động cùa não)
b Địa điêm nghiên cứu
Quận Hai Bà Trưng được chọn là khu vực thực hiện nghiên cửu bời nhiêu lý do thuận lợi sau:Thứ nhất, Hai Bà Trưng là khu vực đáng chú ý về sổ người nhiễm HIV với 1637 người năm 2009đứng thứ 2 toàn thành phố Thứ hai, đây cũng là khu vực tập trung nhiều khu vui chơi giải trí vớikhoảng 655 cơ sở có nghi hoạt động mại dâm số lượng PNMD do trung tâm y tể ước tính trênđịa bàn quận khoảng 300 - 400 người Đặc biệt, trung tâm y tế quận cũng rất quan tâm đến việcthực hiện nghiên cứu và sẵn sàng giúp đỡ, giới thiệu hệ thống giáo dục viên đồng đẳng cho nhómđoi tượng PNMD trên địa bàn quận nhằm hỗ trợ việc thực hiện nghiên cứu Đội ngũ giáo dụcviên đồng đang tại địa bàn quận lên tởi 10 thành viên sẽ là cơ sờ thuận lợi để giúp nghiên cứu cóthể tiếp cận các PNMD đang sừ dụng MTTH trên địa bàn quận để thực hiện điều tra Với những
lý do trên, nghiên cứu đã tru tiên việc thực hiện, triển khai trên địa bàn quận Hai Bà Trưng,