LÒI CÁM ƠNBáo cáo tổng quan tài liệu về thực trạng phá thai và phá thai không an toàn ở cácnước đang phát triển được viết với mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hìnhphá thai và
Trang 1LÒI CÁM ƠN
Báo cáo tổng quan tài liệu về thực trạng phá thai và phá thai không an toàn ở cácnước đang phát triển được viết với mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hìnhphá thai và phá thai không an toàn ở khu vực các nước đang phát triển Đồng thời, mô tảđược một số chính sách đã thực hiện thành công ở một số nước đang phát triển nhằmgiảm tỷ lệ phá thai không an toàn và cải thiện sức khỏe của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.Việt Nam cũng là một thành viên của khu vực các nước đang phát triển và là quốc gia có
tỷ lệ phá thai đứng ở vị trí cao nhất thế giới và tình trạng phá thai không an toàn diễnbiến phức tạp và khó kiểm soát Tôi hy vọng bài tổng quan này có thể cung cấp một sốgiải pháp có thể được xem xét để áp dụng vào Việt Nam nhàm giải quyết vấn đề phá thai
và phá thai không an toàn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy, cán bộ Thư viện, cán bộphòng Đào tạo Đại học, cán bộ phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên trường Đạihọc Y tế công cộng đã giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong quá trình tôi thực hiện bài khóaluận này
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Bùi Thị Thu Hà là người đã theo sáthướng dẫn tôi từ khi hình thành ý tưởng đe tài cho đến những ngày cuối cùng giúp tôihoàn thành khóa luận này Đồng thời, tôi xin cảm ơn các cán bộ thư viện
Quốc Gia, các cán bộ thư viện trường Đại Học Y tế công cộng đã cung câp cho tôi rấtnhiều tài liệu mà tôi sử dụng cho khỏa luận này
Với sự trợ giúp trên, tôi dã hoàn thành dược khóa luận tốt nghiệp của mình
Sinh viênNguyễn Thanh Hà
Trang 2MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẨN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
1 Mục tiêu chung: 3
2 Mục tiêu cụ thể: 3
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 4
1 Định nghĩa các thuật ngữ 4
2 Phương pháp thu thập số liệu 4
KÉT QUẢ 7
1. THỰC TRẠNG PHÁ THAI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIÉN 7
1.1 Thực trạng phá thai ở các nước đang phát triển theo khu vực địa lý 7
1.1.1 Thực trạng phá thai theo khu vực địa lý 7
1.1.2 Thực trạng phá thai không an toàn theo khu vực địa lý 8
1.2 Thực trạng phá thai ở các nước đang phát triển theo độ tuổi 11
2 HẬU QUẢ CỦA PHÁ THAI KHÔNG AN TOÀN 13
2.1 Các bệnh thường gặp do phá thai không an toàn 14
2.2 Tình trạng tử vong do phá thai không an toàn 15
2.3 Gánh nặng kinh tế do phá thai không an toàn 18
3. MỘT SỐ YÉU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG PHÁ THAI KHÔNG 19 AN TOÀN ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIẺN
3.1 Yếu tố pháp luật 20
Trang 33.2 Các yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội 23
3.2.1 Các yểu tố về kinh tế 23
3.2.2 Các yếu tố văn hóa - xã hội 23
3.3 Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình 25
3.3.1 Thiếu tiếp cận với các biện pháp tránh thai 25
3.3.2 Không sử dụng các biện pháp tránh thai 26
3.3.3 Thiếu thông tin truyền thông, giáo dục sức khỏe vê kê hoạch hóa gia 27 đình 3.3.4 Hiệu quả của các biện pháp tránh thai 27
3.3.5 Chất lượng của dịch vụ phá thai 27
3.4 Kiến thức, thái độ, thực hành của người đi phá thai 28
4. CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP Ở MỘT SỔ NƯỚC ĐANG PHÁT 29 TRIỂN
4.1 Chính sách - luật pháp 29
4.2 Tăng cường tiếp cận với các biện pháp tránh thai hiện đại 36
4.2.1 Tăng cường tiếp cận với các biện pháp tránh thai hiện đại: 36
4.2.2 Tăng cường chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, bao gồm truyền 37 thông thông tin, giáo dục sức khỏe
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 4ICPD Hội nghị Dân số và phát triển
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
PAC Dịch vụ chàm sóc sau phá thai
PID Bệnh viêm xương chậu
Trang 5Trong vài thập kỷ trở lại đây, phá thai dang là một vấn đề ngày càng dược quantâm của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước thuộc khu vực đang phát triển (DPT).Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 210 triệu phụ nữ mang thai nhưng gần 80 triệungười bị đẻ non, sảy thai hoặc phá thai Theo ước tính của Tố chức Y tê thê giới(WHO) có khoảng 42 triệu ca phá thai xảy ra năm 2003 (Gilda Sedgh, 2007) Trong
đó, 35 triệu ca diễn ra ở các nước DPT (Gilda Sedgh, 2007)
Năm 2003, có khoảng 48% (20 triệu ca) các ca phá thai trên thê giới là phá thaikhông an toàn (KAT) và hơn 97% trong số này xảy ra ở các nước DPT (Gilda Sedgh2007) Tỷ lệ phá thai ở các nước đang phát triển nói chung là 29/1000 phụ nữ tuổi từ15-44 (AGỈ, 2007) Trong số các nước cho phép phá thai, Bỉ và Hà Lan là hai quốcgia có tỷ lệ phá thai thấp nhất thế giới (7/1000), trong khi đó, Việt Nam được báo cáo
là quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất là 83/1000 (1995) (WHO, 2007) Theo thông tin
từ cuộc Hội thảo “Sức khỏe sinh sản và phòng chống HIV/AIDS” do ủy ban các vấn
đề xã hội tổ chức 11/2007: trung bình mỗi năm Việt Nam có hơn 500 000 ca phá thai,tức là cử 2 ca đẻ có một ca phá thai Tuy nhiên, trên thực tế, con số này còn có thểcao hơn gấp 3 lần Hiện nay ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức nào về tình trạngphá thai KAT Tỷ lệ phá thai KAT chung của thế giới là 14/1000 ca phá thai nhưng tỷ
lệ này khác nhau rất xa ở khu vực các nước phát triển (2/1000) và các nước DPT(16/1000) Phá thai KAT gây ra nhiều bệnh tật và tử vong cho phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ
Phá thai không an toàn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinhthần của người phụ nữ Hậu quà thường gặp nhất do phá thai KAT là các bệnh viêmnhiễm đường sinh sản, chảy máu, sót rau, thủng tử cung, và biên chứng nặng có thểdẫn đến vô sinh thứ phát hoặc tử vong Hàng năm có gần 70 000 phụ nữ tử vong dophá thai, chiếm 13% các nguyên nhân tử vong liên quan đen thai nghén (WHO,1994) Trong đó, khoảng 99% các phụ nừ này sống ở các nước DPT, nơi mà luậtpháp thường không cho phép phá thai và thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ(Bcrer, 2004) Nguy cơ tử vong do phá thai KAT ở các nước đang phát triển là 1/250(cao nhất là châu Phi 1/150 và thấp nhất ở châu Mỹ Latin và Caribe 1/900)
Trang 6trong khi ở các nước phát triển thấp hơn gần 15 lần là 1/3700 Ngoài ra, mỗi năm cònkhoảng 5 triệu phụ nữ (chiếm 20% - 25%) phải nhập viện do các biến chứng của pháthai không an toàn (AGI, 2007) Trong đó, hơn 3 triệu người mắc các bệnh viêmnhiễm đường sinh sản (RTI), 1,7 triệu phát triển thành vô sinh thứ phát Tuy nhiên,đây vẫn là một vấn đề sức khoe bị xem nhẹ ở các nước DPT.
Mỗi năm, các nước đang phát triển tiêu tốn 1,7 tỷ USD để điều trị các biếnchứng của phá thai KAT và 2 tỷ USD để điều trị vô sinh thứ phát do phá thai KAT(Singh, 2006) Trong đó 56% chi cho các nước đang phát triển: châu Á và châu Phi42%, châu Mỹ Latin và vùng Caribe 14%
Chính vì vậy, vấn đề phá thai không an toàn được Tổ chức Y tế thế giới đặc biệtquan tâm Ngay từ năm 1967, Hội nghị Y tể thế giới đã thông qua Nghị quyếtWHA20.41 khẳng định: “phá thai là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở nhiều quốcgia” và yêu cầu Tổng giám đốc WHO “tiếp tục phát triển các hoạt động của WHOtrong lĩnh vực chàm sóc sức khỏe sinh sản con người” Hội nghị Dân so và Phát triển(ICPD) ở Cairo 1994 cũng xác định phá thai không an toàn là một vấn đề sức khỏecộng đồng cần được quan tâm và kêu gọi các chính phủ cùng hành động đê giải quyếtvấn đề này Năm năm sau đó, Hội nghị the giới vể Dân số và Phát triên (1999, NewYork, Mỹ) khẳng định lại “trong bối cảnh tại các quốc gia luật pháp không cho phépphá thai, hệ thống Y tế cần đào tạo và trang bị cho những người cung cấp dịch vụ pháthai những kĩ năng cần thiết và nên kiểm tra, đánh giá để đảm bảo rang phá thai đượcthực hiện an toàn và dê tiêp cận”
Muốn thực hiện được các mục tiêu này, các nhà hoạch định chỉnh sách cần cónhững thông tin về sự sẵn có của chất lượng các dịch vụ KHHGĐ và những tác độngcủa tình trạng phá thai và phá thai không an toàn đối với sức khỏe của phụ nữ
Do vậy, tôi lựa chọn chủ đề “Tổng quan về thực trạng phá thai và những chínhsách, giải pháp ở các nước đang phát triển” nham cung cấp những số liệu tống quátnhất về tình hình phá thai ở các nước đang phát triển và những chính sách, giải pháp
đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia đang phát triển có tỷ lệ phá thai thấp
Trang 7II MỤC TIÊU:
1 Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng phá thai ở các nước đang phát triên và
những chính sách, giải pháp hiệu quả đe giải quyết vấn đề này
2 Mục tiêu cụ thể:
- Mồ tả thực trạng phá thai ở các nước đang phát triến
- Mô tả hậu quả của phá thai không an toàn đối với súc khỏe của phụ nữ
- Liệt kê một số yếu tố liên quan đến tình trạng phá thai ở các nước đang pháttriển
- Liệt kê các chính sách, giải pháp để giải quyết vấn đề phá thai không an toàn
đã được thực hiện ở một sô nước DPT
Trang 8- Tỷ lệ phá thai: là số ca phá thai hàng năm trên 1000 phụ nữ tuổi 15 đến44.
- Tỷ lệ phá thai không an toàn: là số ca phá thai không an toàn hàng năm trên
1000 phụ nữ tuổi 15 đển 44 Tỷ lệ này miêu tả mức độ phá thai không an toàn trongquần thể dân số
- Tỷ suất phá thai không an toàn: là số ca phá thai không an toàn trên 100 trẻsinh ra Tỷ suất này xác định khả năng một ca mang thai sẽ kết thúc bang phá thaikhông an toàn chứ không phải là sinh nở
- Tỷ suất tử vong mẹ do phá thai không an toàn: số ca tử vong mẹ do phá thaikhông an toàn trên 100 000 trẻ sống Tỷ suất này là một tập con của tỷ suất tử vong mẹ
và đo lường nguy cơ một phụ nữ chêt vì phá thai không an toàn với sô trẻ sinh ra
- Tỷ lệ (%) tử vong mẹ do phá thai không an toàn: số tử vong do phá thai trên
100 ca tử vong mẹ
- DALYs là chỉ số kết hợp những năm sống bị mất do tử vong và số năm sốngvới bệnh tật của một người nào đó, cho phép đánh giá tong sô năm sông khỏe mạnh bịmất đi do các vẩn đề sức khỏe khác nhau Một DALY mất đi có thể hiểu là một nămsống khỏe mạnh bị mat
Trang 92 Phuong pháp thu thập số liệu:
Tông quan tài liệu một cách hệ thong cung cấp dữ liệu về tình trạng phá thai ởcác nước đang phát triển, bệnh tật và tử vong mẹ, các chính sách của các quốc gia, củacác tổ chức quốc tế, đặc biệt là WHO đe giải quyết vấn đề này Tài liệu sử dụng để viếtbài tổng quan này có thể sử dụng nhiều thứ ngôn ngữ (tiểng Anh, tiếng Việt), trong đó
có các cơ sở dữ liệu điện tử như Medline, Popline, PubMed, BioMed Centre, các dữ liệu
từ trang web chính thức của Tổ chức Y tế the giới (http://who.int) và các nguồn dữ liệuđiện tử khác như các trang web của các bộ Y tể, các tạp chí Y học trong và ngoài nước.Các tài liệu nghiên cứu được lựa chọn đều được xuất bản trong vòng 20 năm trở lạiđây (1988 - 2008) Các từ khóa được dùng để tìm tài liệu gồm có: abortion (phá thai),unsafe abortion (phá thai không an toàn), developing countries (các nước đang pháttriển), maternal mortality (tử vong mẹ), abortion policy (chính sách về phá thai),abortion law (luật về phá thai) Các từ khóa trên có the được sử dụng kết hợp với nhautrong quá trình tìm kiêm Ví dụ: “unsafe abortion” and “developing countries” Nhiềubài báo được thu thập trên các báo, tạp chí có uy tín như The Lancet, International
Family Planning Perspective,
Tiêu chuấn chọn tài liệu:
■ Nội dung tập trung vào vấn đề phá thai và phá thai không an toàn ở các nướcđang phát triển
■ Trình bày được các yếu tố liên quan đến tình trạng phá thai và phá thai không
an toàn ở các nước DPT Đồng thời, mô tả được các chính sách/đảp ứng/canthiệp để giảm tỷ lệ phá thai KAT, từ đó giảm hậu quả do phá thai KAT đem lại
■ Ưu tiên các tài liệu có bản đầy đủ (full text), trong trường hợp cần thiết mới sửdụng các tài liệu chỉ có phần tóm tat (abstract) Tập trung các tài liệu liên quanđến tổng quan (review)
■ Có nguồn gốc rõ ràng, đã được xuất bản, ưu tiên các tài liệu từ các cơ sở dữliệu, tổ chức, các chuyên gia uy tín liên quan đen vấn đề
Trang 10■Tài liệu đó không cung cấp được sổ liệu/thông tin cập nhật bằng các tài liệu khác
đã sử dụng
■ Các thông tin có sự trùng lặp với các tài liệu đã được lựa chọn
■ Các thông tin/số liệu trong tài liệu không cần thiết cho bài viêt này
Trang 11IV KÉT QUẢ:
1 THỰC TRẠNG PHÁ THAI Ỡ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIẺN:
1.1 Thực trạng phá thai ỏ’ các nước đang phát triển theo khu vực địa lý:
Ị 1.1 Thực trạng phá thai phân theo khu vực địa lý:
Nhìn chung, từ năm 1995 đen năm 2003, xu hướng phá thai giảm ở cả các nướcphát triển và các nước đang phát triển, sổ lượng các ca phá thai trên thế giới giảm từ gần
46 triệu ca xuống còn khoảng 42 triệu ca (AG1, 2007) Tuy nhiên, sổ ca phá thai chỉgiảm rất nhẹ (0,5 triệu ca) ở các nước đang phát triển Tỷ lệ phá thai chung của thé giớigiảm từ 35/1000 xuống còn 29/1000 Trong đó, tỷ lệ này giảm 13%0 ở các nước pháttriển và giảm 5%o ở các nước đang phát triển Như vậy, qua 8 năm, tình trạng phá thaitrên thế giới đã giảm nhưng mức giảm ở các nước đang phát triển còn hạn chế
Bảng 1: Tỷ lệ phá thai trên th
Khu vực ế giới theo khu vực địa lý năm 1995 và 2003Số ca phá thai
(triệu)
19952003
35,0
Trang 12giảm nhiều nhất (6%o) nhưng tỷ lệ này vẫn giữ ở mức cao nhất thế giới(31/1000) Tỷ lệ phá thai ở châu Á, châu Phi đều giảm từ 33/1000 xuống29/1000 Châu Đại Dương có tỹ lệ phá thai thấp nhất trong khu vực cácnước DPT 17/1000 (2003) Tóm lại, số ca phá thai và tỷ lệ phá thai ở cácnước đang phát triến có xu hướng giảm dần trong khoảng một thập kỷ qua.
ỉ 1.2 Thực trạng phả thai không an toàn phần theo khu vực địa lý:
Từ năm 1995 đển 2003, mỗi năm trên thế giới xảy ra khoảng 20 triệu ca phá thaikhông an toàn (WHO, 1994), chiếm khoảng 48% các ca phá thai Tỷ lệ phá thai KATchung của cả thế giới là 14/1000 Mặc dù dân số của khu vực các nước phát triển chiếm20% dân sổ thế giới nhưng số ca phá thai không an toàn của các nước này chỉ chiếmhơn 2% tổng các ca phá thai không an toàn của cả thê giới Hơn 97% các ca phá thaikhông an toàn còn lại diễn ra ở khu vực các nước đang phát triển Trong đó gần 50% ởchâu Á, 24% ở châu Phi và hơn 20% ở châu Mỹ Latin và Caribe, châu Đại Dươngchiếm không đáng kể Hơn thế nữa, qua bảng 1 và bảng 2 có thể thấy ràng năm 2003, ởkhu vực các nước đang phát triển xảy ra 19,2 triệu ca phá thai không an toàn, chiếm57% các ca phá thai Tỷ lệ này cao gap 7 lần ở khu vực các nước phát triển (8%) Ngoài
ra, tỷ lệ phá thai ở các nước DPT là 16/1000, cao gấp 8 lần so với các nước phát triển.Qua đó có the thấy rang tỷ lệ phá thai không an toàn ở các nước đang phát triển cao hơnnhiều lần so với tỷ lệ này ở các nước phát triển
Trang 13Bảng 2: Tình trạng phá thai không an toàn và tỷ lệ tử vong liên quan đến
phá thai không an toàn ở các vùng trên thế giới năm 2003
Phá thai không an toàn Tủ’ vong do phá thai không
Trang 14Ở châu Á, hơn một phẩn ba các ca phá thai là KAT (9,8 triệu/25,9 triệu) Trong đó,hai phần ba các ca phá thai KAT tập trung ở Trung Nam Á và Tây Á chiếm ít nhất - 400
000 ca Tuy nhiên, Đông Nam Á lại là khu vực có tỷ lệ phá thai KAT cao nhất ở đây(23/1000) - cao gấp đôi so với tỷ lệ chung của châu Á (11/1000)
ở châu Phi, số ca phá thai KAT chiếm gần 90% các ca phá thai (5 triệu/5,6 triệu).Trong đó, gần một nửa các ca phá thai KAT xảy ra ở Đông Phi (2,3 triệu ca) Đây đồngthời là khu vực có tỷ lệ phá thai KAT cao nhất của châu lục này (39/1000), Một nửa các
ca phá thai KAT còn lại ở Bắc Phi (1,5 triệu ca) và Tây Phi (1 triệu ca) Nam Phi có số
ca phá thai KAT thấp nhất lục địa đen (200 000 ca) và tỷ lệ phá thai KAT cũng thấpnhất là 18/1000
ở châu Mỹ Latin và Caribe, tình trạng phá thai KAT là cao nhất thế giới (gần94%) Trong đó phẩn lởn các ca phá thai xảy ra ở Nam Mỹ - 2,9 triệu ca, chiếm 75% số
ca phá thai KAT của khu vực này Tỷ lệ phá thai KAT chung là 29/1000 nhưng tỷ lệ nàycao hơn ở Nam Mỹ (33/1000) và thấp nhất ở Caribe (16/1000)
Châu Đại Dương vẫn là châu lục có số ca phá thai KAT thấp nhất trong khu vựccác nước DPT - chỉ có 20 000 ca Tỷ lệ phá thai KAT của châu lục này cũng ở mức thấp
11/1000
Tóm lại, châu Á là châu lục có số ca phá thai KAT cao nhất nhưng lại có tỷ lệ pháthai KAT chung thấp nhất trong khu vực các nước DPT (bằng tỷ lệ này ở châu ĐạiDương), trong đó thấp nhất ở Tây Á (8/1000) Châu Phi, châu Mỹ Latin và Caribe có tỷ
lệ phá thai KAT chung cao gấp 2 lần so với tỷ lệ chung của thế giới, trong đó, cao nhất
ở Đông Phi (39/1000)
Trang 15Nguồn: WHO (Mundỉgo and Indriso, 2003).
Biểu đồ 1: Tỷ lệ phá thai không an toàn/1 000 phụ nữ tuổi 15 — 44 năm 2000 và 2003.
Biểu đồ 1 miêu tả tỷ lệ phá thai nãm 2000 và 2003 theo khu vực Những nghiêncứu gần đây cho thấy ở châu Phi và Caribe, tỷ lệ phá thai không an toàn nãm 2003 caohơn năm 2000 Tuy nhiên, rõ ràng là tỷ lệ này tăng có thể liên quan đến chất lượng thuthập số liệu của các nghiên cứu mới là tốt hơn Dù sao thì số liệu năm 2003 cùng phảnánh đúng hơn tình hình phá thai không an toàn ở hai châu lục này
Ước tính số liệu của Trung Nam Á phản ánh sự cải thiện cung cấp dịch vụ y tếtrong những năm vừa qua Tỷ lệ ở Đông Nam Á có ít thay đổi trong khi xu hướng ở Tây
Á là không rõ ràng
Đối với châu Mỹ Latin, tỷ lệ phá thai không an toàn ở Nam Mỹ khá ổn định trongkhi vùng Caribe có tăng Điều này có thể là do việc giảm nhanh tổng tỷ suất sinh ở vùngCaribe nơi mà có tổng tỷ suất sinh thấp nhất trong khu vực các nước đang phát triển.Tổng tỷ suất sinh ở Trung Mỹ giảm 0,8 trong vòng 10 năm trở lại đây và giảm 0,3 trongvòng 5 năm trở lại đây - giảm mạnh nhất ở khu vực Mỹ Latin Do đó việc tăng tỷ lệ pháthai không an toàn có thể chỉ là tạm thời
1.2 Thực trạng phá thai ở các nưó’c đang phát triển theo độ tuổi:
Trang 16Ở các nước đang phát triển nói chung, 2/3 các ca phá thai không an toàn xảy ra ở
độ tuổi 15-30 (Mundigo and Indriso, 2003), 14% (tương đương 2-4 triệu ca) là nhómtuổi 15-19 (WHO, 2003) Tuy nhiên, lứa tuổi phá thai có khác nhau giữa các châu lục ởchâu Phi, tuổi phá thai chủ yếu là ở nhóm tuổi vị thành niên, trong khi ở châu Á là nhómtuổi từ 25 đến 29 Biểu đồ 2 minh họa tỷ lệ phá thai không an toàn phân theo nhóm tuổi
Caribe
Nguồn: WHO, 2007.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ phá thai không an toàn theo nhóm tuổi ở khu vực đang phát triển, 2003
Qua biểu đồ trên có thể thấy:
Tỷ lệ trẻ vị thành niên phá thai không an toàn cao nhất ở châu Phi (chiếm hơn 40%của cả thế giới), ở châu lục này, 26% các ca phá thai không an toàn xảy ra ở lứa tuổi vịthành niên Hon nữa, 68% các biến chửng của phá thai phải nhập viện là ở lứa tuổi này.Đây là châu lục có tỷ lệ phá thai KAT ở nhóm tuổi 20 - 24 cao nhất trong khu vực cácnước DPT (chiếm 33%), 60% ở nhóm tuổi dưới 25 và 80% ở nhóm tuổi dưới 30 Nhómtuổi 30 - 34 và trên 35 tuổi có tỷ lệ phá thai KAT thâp nhất trong khu vực các nướcDPT, lần lượt là 11% và 10%
Trái lại, ở châu Á, 30% các ca phả thai không an toàn ở nhóm tuổi dưới 25 và 60%
ở nhóm tuổi dưới 30 Nhóm tuổi phá thai không an toàn nhiều nhất là 25 - 29
Trang 17tuổi, chiếm 28% Các nhóm tuổi khác (20 - 24 tuổi, 30 — 4 tuổi và 35
-44 tuổi) có tỷ lệ phá thai tương đương nhau là 20% - 22% Châu Á là châulục có tỷ lệ phá thai ở tuổi vị thành niên thấp nhất (8%) nhưng lại có tỷ lệphá thai ở nhóm tuổi cao (trên 35 tuổi) là cao nhất trong khu vực các nướcđang phát triển
ở châu Mỹ Latin và Caribe, hơn một nửa các ca phá thai xảy ra ở nhóm tuổi 20
-29 và 70% ở nhóm tuổi dưới 30 Trong đó, nhiều nhất là nhóm tuổi 20 - 24 chiếm -29%,tiếp đến là nhóm tuổi 25 - 29 chiếm 26%, các nhóm tuổi còn lại đều chiếm 15%
Tóm lại, những phụ nừ trẻ dưới 25 tuổi ở châu Phi, những người trên 25 tuổi ởchâu Á và nhóm phụ nữ 20 - 35 tuổi ở châu Mỳ Latin và Caribe là những đối tượng cónhu cầu lớn nhất ngăn chặn phá thai không an toàn và cung cấp các dịch vụ chăm sócsau phá thai có chất lượng tốt (Mundigo và Indriso, 2003)
2 HẬU QUẢ CỦA PHÁ THAI KHÔNG AN TOÀN Ở CÁC NƯỚC ĐANGPHÁT TRIỂN:
Phá thai không an toàn gây ra nhiều hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
và tính mạng của người phụ nữ Bên cạnh đó, phá thai KAT còn là gánh nặng kinh tếlớn của ngành Y tế ở nhiều nước DPT Nguy cơ bệnh tật và tử vong liên quan đến pháthai không an toàn phụ thuộc vào cơ sở y tế, kĩ nâng của người cung cấp dịch vụ pháthai, phương pháp phá thai, thể trạng của người phụ nữ và giai đoạn mang thai
Một báo cáo tổng quát về gánh nặng bệnh tật và tử vong do phá thai không an toànước tính ràng mỗi năm có từ 65 000 đến 70 000 phụ nữ tử vong, chiếm 13% nguyênnhân dẫn đến tử vong mẹ, tương đương cứ 8 phút lại có một người phụ nữ ở các nướcđang phát triển chết vì các biến chứng của phá thai không an toàn và 5 triệu người gánhchịu những vấn đề sức khỏe tạm thời hoặc vĩnh viễn do phá thai không an toàn(Malhotra A, 2003) Trong đó, hơn 3 triệu người mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinhsản (RTIs), 1,7 triệu phát triển thành vô sinh thứ phát Phá thai không an toàn chiếm20% gánh nặng bệnh tật và tử vong do thai nghén và sinh đẻ
Trang 18được đo băng chỉ sô DALYs (Salter, 1997) Cận Sahara, châu Phi là khuvực mà gánh nặng bệnh tật và tử vong (đo bằng DALYs) trên 1000 ca pháthai không an toàn là cao nhất, cao gấp rưỡi so với châu Á và cao gấp 6 lầnchâu Mỹ Latin Những phụ nữ đi phá thai KAT thường là những người có khókhăn ve kinh te hoặc không thể tiếp cận với các dịch vụ phá thai an toàn.Phá thai không an toàn có thể được xem là nguy cơ tử vong hàng đẩu màcác phụ nữ trẻ phải đôi mặt ở các nước đang phát triển (P Thành Nam,2006) Đồng thời, phá thai không an toàn là nguyên nhân dẫn đến tử vong,bệnh tật cho phụ nừ và là gánh nặng cùa gia đình, hệ thống y tế và xã hội.
Phá thai không an toàn thường gây ra những biến chứng đối với sức khỏe thể chất
và tinh thần của phụ nữ và gia đình họ Ước tính khoảng 6 triệu đến 10 triệu người điphá thai KAT mồi năm gặp phải các tai biến nhưng chỉ gần một nửa trong số đó đượcđiều trị Các điều tra Quốc gia cho thấy tỷ lệ phải nhập viện có thể thấp từ dưới 3/1000phụ nữ/năm (ở Bangladesh - nơi mà hút điều hòa kinh nguyệt được pháp luật cho phép)cao đến 15/1000 ở Ai Cập và Uganda (NCPFPc, 2003) Tỷ lệ này chung của các nướcDPT là 5,7/1000, cũng tức là cứ 5 người PN thì có 1 người đã từng nhập viện vì phá thaiKAT ở một thời điểm nào đó trong đời Tỷ lệ này cao nhất ở châu Phi là 8,8/1000 (tổng
số là 1,7 triệu PN), tiếp theo là châu Mỹ Latin và Caribe với 7,7/1000 (tổng là 1 triệu),châu Á có tỷ lệ thấp hơn là 4,1/1000 (tổng là 2,3 triệu) (Mundigo và Indriso, 2003) Cácbiến chứng của phá thai không an toàn là chảy máu, sót rau, nhiễm khuẩn, thủng tửcung, rách cổ tử cung, tổn thương vùng bụng và bộ phận sinh sản, nhiễm trùng trongvùng bụng và tai biến gây mê, gây tê Các biển chứng lâu dài cỏ thể gặp là các bệnhviêm nhiễm đường sinh sản (RTIs) và bệnh viêm xương chậu (PID) dẫn đến những tổnthương mạn tính hoặc vô sinh: 20 -30% các ca phá thai không an toàn dẫn đến RTI và
20 - 40% dẫn đến PID hoặc vô sinh
WHO ước tính có 2% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bị vô sinh thứ phát do hậu quảcủa phá thai không an toàn và 5% bị các bệnh viêm đường sinh sản mạn tính
Trang 19(UNDP và cộng sự, 2000) Các biến chửng muộn có thể gặp là tăng nguy cơ chửa ngoài
tử cung, sảy thai và đẻ non trong những lần mang thai tiếp theo
Tóm lại, các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản là biến chứng phổ biến nhất của pháthai không an toàn Đồng thời, phá thai KAT là nguyên nhân dẫn đến vô sinh thứ phát ởnhiều phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
2.2 Tình trạng tử vong do phá thai không an toàn:
Phá thai không an toàn không chỉ gây ra bệnh tật cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
mà còn có thể khiến họ tử vong Từ năm 1990 đến 2005, mặc dù tỷ lệ tử vong mẹ đãgiảm dưới 1%/ năm nhưng mức giảm đó còn thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu giảm5,5%/năm để đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ về giảm số ca tử vong mẹ dothai nghén và sinh nở đến năm 2015 (ƯN, 2005)
Những phụ nữ phá thai KAT có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe caohơn những người phá thai an toàn 20 - 25% ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do phá thai là 0,6/100
000 (mức độ an toàn tương đương với tiêm penicillin) (UNDP và cộng sự, 2000) Tráilại, ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này có thể cao hơn hàng trăm lần
Năm 2003 có 68 000 ca tử vong mẹ do phá thai không an toàn xảy ra ở các nướcDPT: châu Á 34 000 (chiếm 50%), châu Phi 30 000 (chiếm 44%), châu Mỹ Latin vàCaribe 4 000 Tử vong do phá thai không an toàn ở châu Phi cao hơn ở châu Á và châu
Mỹ Latin Ở châu Phi, 650 phụ nữ tử vong/100 000 ca phá thai không an toàn so với
324 ở châu Á và 100 ở châu Mỹ Latin và chỉ 10 ở khu vực các nước đang phát triển.Gần một nửa các ca tử vong do phá thai không an toàn xảy ra ở châu Phi mặc dù châuPhi chỉ chiếm 13% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của các nước dang phát triển Tử vongliên quan đển phá thai không an toàn cũng khiển cho 220 000 trẻ em trên thế giới mất
mẹ mỗi năm (UNDP và cộng sự, 2000) Phá thai không an toàn dẫn đen gần 30 000 ca
tử vong mẹ, tương đương 12% ở châu A và 17% ở châu Phi năm 2003
Ở khu vực các nước dang phát triển nói chung, tỷ lệ tử vong mẹ do phá thai không
an toàn vẫn duy trì ở mức 13% trong thời gian qua mặc dù tỷ lệ này rất khác nhau tuỳtheo khu vực (từ 8% ở Tây Á lên 26% ở Nam Mỹ) Bảng dưới chỉ ra nguy
Trang 20cơ tử vong do các biến chứng của phá thai không an toàn ở các nướcđang phát triển phân theo khu vực.
Trang 21Báng 3: Tỷ lệ tử vong trên 100 000 ca phá thai không an toàn năm 2003
SỐ ca tử vong do phá thai không an toàn/ 100 000 ca phá thai
Nguôn : WHO, 2003.
Bảng 3 chỉ ra rằng tỷ ỉệ tử vong do phá thai không an toàn trên thế giới nói chung là300/100 000 Tỷ lệ này cao nhất là 750/100 000 ở khu vực cận Sahara, châu Phi và thấpnhất là 10/100 000 ở khu vực các nước phát triển, trung bình là 350/100 000 ở khu vựccác nước đang phát triển Do đó, tỷ lệ tử vong do phá thai không an toàn của the giới caogấp 550 lần so với tỷ lệ tử vong do phá thai không an toàn hợp pháp ở Mỹ (0,6/100 000ca) Ở cận Sahara, tỷ lệ này cao hơn gấp hơn 1000 lần Thậm chí ở các nước đang pháttriển, tỷ lệ tử vong do phá thai không an toàn/số ca phá thai không an toàn cũng cao hơn
Trang 22gấp 20 lần so với phá thai hợp pháp.
Tỷ suẩt tử vong do phá thai không an toàn (số ca tử vong do phá thai KAT/100 000trẻ sinh ra) khác nhau tùy từng khu vực Đổi với khu vực dang phát triển, tỷ suất này là 60năm 2000 Tuy nhiên, tỷ suất này cao hơn ở Đông, Tây và Trung Phi (90 - 140) và thấphơn ở Bắc và Nam Phi Tây Á và Đông Nam Á, châu Mỹ Latin và Caribe (10 - 40) Pháthai không an toàn chiếm 17% nguyên nhân tử vong mẹ ở châu Mỹ Latin và 19% ở ĐôngNam Á
Trang 23Bảng 4 : số ca tử vong do phá thai không an toàn phân theo nhôm tuổi năm 2003.
Khu vực
Nhóm tuổi Tất cả
các lứa tuổi
11 800 (18%)
18
500 (28%
)
15 600 (23%)
11 000 (17%)
6 700 (10%)
2
900 (4% )
300
600
Bảng 4 và biểu đồ 3 cho biết số ca tử vong do phá thai không an toàn theo
nhóm tuổi ở các nước đang phát triển Qua đó có thể thấy ràng tỷ lệ tử vong do phá thaiKAT khác nhau tùy theo nhóm tuối
Mỗi năm ở các nước đang phát triển nói chung có gần 12 000 ca tử vong do pháthai KAT xảy ra ở lứa tuổi vị thành niên Trong đó, châu Phi có số ca tử vong do phá thaikhông an toàn ở lứa tuổi vị thành niên nhiều nhất (chiếm 76% của khu vực các nước đangphát triển)
Nhóm tuổi 20 - 24 là nhóm tuổi có nguy cơ tử vong do phá thai KAT cao nhất(chiếm 28%) Châu Phi tiếp tục giữ vị trí đứng đầu về số ca tử vong ở nhóm tuổi này với
11 500 ca, gần gấp đòi châu Á với 6 400 ca Đối với châu Mỹ Latin và Caribe, đây cũng lànhóm tuổi chiếm 35% các ca tử vong do phá thai không an toàn
Số ca tử vong ở các nhóm tuổi tiếp theo có xu hướng giảm dần ở châu Phi, nhưng ởchâu Á thì nhóm tuổi 25 - 29 mới là nhóm có nguy cơ tử vong do phá thai không an toàncao nhất, chiếm hơn 30% so với tất cả các nhóm tuổi Châu Á cũng là châu lục có sổ ca tửvong do phá thai KAT nhiều nhất so với các châu lục khác ở các nhóm tuổi từ 30 trở lên
Trang 24Biểu đồ 3: Phân bổ tỷ lệ tử vong do phá thai không an toàn ở các nước đang phát triển nói chung, 2003.
Tóm lại, qua bảng 4 và biểu đồ 3 có thể thấy rằng nhóm tuổi 20 - 29 có nguy cơ tửvong do phá thai không an toàn cao nhất ở các nước đang phát triển Châu Phi có tỷ lệ tửvong ở nhóm tuổi vị thành niên nhiều nhất so với các châu lục khác Ở châu Á, tỷ lệ tửvong do phá thai không an toàn ở các nhóm tuổi từ 25 trở lên chiếm phân lớn vả cỏ sốlượng nhiêu hơn bât kỳ châu lục nào
1.3 Gánh nặng kinh tế do phá thai không an toàn :
Điều trị các biến chứng do phá thai không an toàn đang là một gánh nặng của hệthống Y tế ở các nước đang phát triển Ỏ những nước có thu nhập thẩp và trung bình, chiphí điều trị cho các biến chứng do phá thai không an toàn chiếm đến 50% chi phí của bệnhviện dành cho sản khoa và phụ khoa (Mundigo và Indriso, 2003) Thống kê Y tế ở 569bệnh viện công ở Ai Cập trong 1 tháng cho thấy 20% các bệnh sản phụ khoa là điều trịphá thai hoặc sảy thai (AGI, 1999)
Các chi phí trực tiểp phải trả cho việc điều trị biến chứng của phá thai là: thuốc men,máu, trang thiết bị và trực đêm Chi phí cho mỗi phụ nữ đối với hệ thống Y te đế điều trịbiến chứng của phá thai ở Tanzania cao hơn 7 lan ngân quỳ mà bộ Y tế chi cho một đầungười (AGI, 1999)
Nghiên cứu ở Nam Phi, 1997 cho thấy tổng chi phí cho điều trị các bệnh tật do pháthai không an toàn ở khu vực các bệnh viện công là 1,4 triệu USD (Gilda
17%
4%
23%
Trang 25Sedgh, 2007) Còn nghiên cứu ở Nigieria thì lên tới 11,7 triệu USD năm
2002 và 17 triệu USD năm 2005 (Gilda Sedgh, 2007)
Như vậy, phá thai KAT đang là gánh nặng kinh te cho nhiều nước đang phát triển Mỗi năm tiêu tốn hàng chục triệu USD dể điều trị các biến chứng liên quan đến phá thai không an toàn ở mỗi nước DPT
3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG PHÁ THAI KHÔNG ANTOÀN Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN :