1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới

69 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Tổng Quan Về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Bệnh Bụi Phổi Silic Tại Việt Nam Và Trên Thế Giới
Tác giả Trần Thị Hải
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thúy Quỳnh
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Cử Nhân Y Tế Công Cộng
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 697 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC HÌNH VẼHình 2 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic tiến triển 8 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic mạn tính đơn thuần và xơ hóa Hình 3 , , ,8 khối tiến triến Người phun cát mài mòn là

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO - BỘ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CÔNG

TÔNG QUAN VẺ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐỂN BỆNH BỤI PHÓI

-SILIC TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THÉ GIỚI

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP cử NHÂN Y TỂ CÔNG CỘNG

Giảng viên hướng dẫn:

ThS Nguyễn Thúy Quỳnh

Chữ ký

HÀ NỘI, 5/2010

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Y học lao động và Vệ sinh mói trường, Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Cục Y tế dự phòng và Môi trường -Bộ Y tế, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học y tế Công cộng, đã tạo điều kiện tổt nhất cho tôi trong quá trình tìm kiếm và thu thập tài liệu liên quan tới luận văn tốt nghiệp.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các phòng ban trong trường Đại học y tế Câng cộng đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và nghiên cứu.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thần yêu trong gia đình, những người bạn thân thiết đã giúp đỡ tôi, chia sẻ cùng tôi nhừng khó khăn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tôi, cũng như giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý giá nhất.

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010

Trần Thị Hải

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

DANH MỤC PHỤ LỤC iv

PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI 1

PHẦN 2: MỤC TIÊU 3

PHÀN 3: PHƯƠNG PHÁP THƯ THẬP SỐ LIỆU 4

PHẦN 4: NÔI DƯNG TỎNG QUAN 7

4.1 Một số thuật ngữ 7

4.2 Một sổ ngành nghề có nguy cơ cao mắc bệnh BP-silic.£ & 11

4.3 Ảnh hưởng của bệnh BP-silic tới sức khỏe người lao động 18

4.4 Những can thiệp phòng chống ảnh hường của bệnh BP-silic tới sức khỏe người lao động 20 PHẦN 5: KẾT LUẬN 27

PHÀN 6: KHUYẾN NGHỊ 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC 38

Phụ lục 1: Bảng phân loại quốc tế các bệnh bụi phổi của tổ chức ILO 1980 39

Phụ lục 2: Hướng dẫn sử dụng và giới hạn của Hoa Kỳ trong phơi nhiễm nghề nghiệp với tinh thể silic 44

Phụ lục 3: Cơ chế bệnh sinh bệnh BP-silic 45

Phụ lục 4: Những biến chứng khác cùa bệnh BP-silic 49

Phụ lục 5: Quy định bệnh BP-silic được bảo hiểm tại Việt Nam 53

Phụ lục 6: Tiêu chuẩn bụi silic cùa Việt Nam 54

Phụ lục 7: Những hoạt động và ngành công nghiệp chínhtrên thế giới có phơi nhiễm với silỉc dioxyt, đã được báo cáo 55

Phụ lục 8: Các công việc chủ yếu có tiếp xúc với bụi silic tự do ở Việt Nam 58 Phụ lục 9: Thống kê kết quả kiểm tra môi trường lao động và tình hình bệnh BP-silic giai

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẤT

ACGIH Hiệp hội của chính phủ Mỹ về vệ sinh công nghiệp (American Conference of

Governmental Industrial Hygienists)

CDC Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật của Mỹ (Centers for Disease

Control and Prevention)

FEV|

Thể tích thở ra tối đa/giây (Forced expiratory volume in one second)

IARC Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư (International Agency for Research on

TLVs Ngưỡng giá trị giới hạn (Threshold Limit Values)

TWA Trung bình trọng thời gian (Time weighted average)

WELs Giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp (Workplace Exposure Limit values)

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic tiến triển 8

Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic mạn tính đơn thuần và xơ hóa Hình 3 , , ,8

khối tiến triến

Người phun cát mài mòn làm việc trong không khí đầy hạt bụi

cát silic dioxyt

Công nhân khoan lỗ ở mặt đường bê tông trong quá trình sửa Hình 6 x '

16chữa đường cao tốc

Một cơ sở khai thác than ờ Trung Quổc áp dụng biện pháp phun

Trang 6

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng phân loại quốc tế các bệnh bụi phổi cùa tổ chức ILO 39 1980

Phụ lục 2 Hướng dẫn sử dụng và giới hạn của Hoa Kỳ trong phơi nhiễm 44 nghề nghiệp với

tinh thế silic

Phụ lục 4 Những biến chứng khác của bệnh BP-silic 49Phụ lục 5 Quy định bệnh BP-silic được bảo hiểm tại Việt Nam 53

Phụ lục 7 Những hoạt động và ngành công nghiệp chính trên thế giới có 55

phơi nhiễm với silic dioxyt đã được báo cáo

Phụ lục 8 Các công việc chủ yểu có tiếp xúc với bụi silic tự do ờ Việt 58

Nam

Phụ lục 9 Thống kê kết quả hoạt động kiểm tra môi trường lao động và 59

tình hình bệnh BP-silic ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008

Trang 7

PHÀN 1 GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI

Ngay từ năm 1930, một loạt các cuộc hội thảo đã được mở ra tại Johannesburg, Nam Phitập trung vào vấn đề bệnh bụi phổi-silic (bệnh BP-silic) Tại hội nghị này, các nhà khoa học đãđưa ra thống nhất về định nghĩa và bảng phân loại bệnh BP-silic đầu tiên Bệnh BP-silic được coi

là bệnh khá phổ biến, hoàn toàn nguyên nhân do nghề nghiệp và thực sự là mối quan tâm củanhiều quốc gia Và ngày nay, con người luôn không ngừng tìm mọi biện pháp để phòng chống vàthanh toán nó [20; 64]

Bệnh BP-silic là bệnh phổi xơ hóa lan tỏa, bệnh phát triển và không hồi phục, thậm chí cảsau khi ngừng tiếp xúc Nguyên nhân gây bệnh BP-silic là do silic tự do (S1O2), tuy nhiên nguy

cơ mắc bệnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Trong khi sự nguy hại của bụi tinh thể silic hôhấp được biết đến rộng rãi trên khắp thế giới, sự tiếp xúc bụi silic vẫn thường gặp ở mọi nơi trênphạm vi rộng, thuộc các ngành công nghiệp hàng đầu như ngành xây dựng và khai mỏ Vì vậy rấtnhiều công nhân thuộc rất nhiều ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh BP-silic, cả trên thế giới vàViệt Nam Những ngành nghề đặc biệt nguy cơ cao tiếp xúc với bụi silic như khai thác mỏ, khaithác đá, đào hầm, đánh bóng bằng cát và nghề đúc trong đó đa số là các ngành nghề khá phổ biến

ở nước ta [9; 12; 20; 66]

Bệnh BP-silic là một trong các bệnh nghề nghiệp đầu tiên dược đưa vào danh sách bệnhnghề nghiệp được bảo hiểm của nước ta bởi những tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe người laođộng của nó [8; 31], Bệnh BP-silic mạn tính ban đầu chỉ lẳng lặng khó thở khi gắng sức tăng dầnhoặc ho Sau đó bệnh có thể tiến triển thành loại xơ hóa khối tiến triển cà sau khi ngừng tiếp xúcvới bụi chứa silic hô hấp Bệnh biến chứng gây tràn khí màng phổi rất nguy hiểm Giai đoạn cuốicủa bệnh thường là suy hô hấp, giảm oxy máu với tâm phế mãn [66] Ở Việt Nam, bệnh BP-silicthường phát triển ở những công nhân có tuổi , , ’ „ ' 7, , , 1

nghê trên 5 năm, làm việc trong điều kiện không khí có nhiêu bụi chứa silic dioxit tự do và thườngphải lao động thể lực nặng Tuy nhiên bệnh có thề xuất hiện ở một số người mới chỉ có 3 năm tuổinghề [9]

Với tính chất nghiêm trọng như vậy của bệnh, trong nhiều năm qua, Tổ chức Lao độngQuốc tế (ILO) và WHO đã đặc biệt quan tâm tới dự phòng bệnh BP-silic trong sự hợp tác với các

tổ chức quốc tể khác, đặc biệt là Viện Y học Lao động Hoa Kỳ (NIOSH) và Tổ chức Sức khỏeNghề nghiệp Quốc tể (ICOH) Điều này cũng được cả các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ,Canada, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, hay các nước đang phát triển

Trang 8

số người mắc bệnh nghề nghiệp là 26.726 người, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là bệnh BP-silic(75,7%) [6].

Như vậy, bất chấp các nỗ lực phòng chống và thanh toán, bệnh BP-silic vẫn đang tiếp tục

là vấn đề sức khỏe nói chung, vấn đề sức khỏe nghề nghiệp nói riêng đặc biệt nghiêm trọng ở ViệtNam Có thể thấy việc có cái nhìn tổng quan về bệnh BP-silic cùng như các chương trình phòngchống đà được tiến hành ở các nước trên thế giới và Việt Nam là điều vô cùng cần thiết để giúpViệt Nam cải thiện công tác phòng ngừa và tiến tới mục tiêu thanh toán bệnh BP-silic trên toànquốc

Trang 9

3

-PHÀN 2 MỤC TIÊU

1 Mô tà một số ngành nghề có nguy cơ cao mắc bệnh bụi phổi-silic

2 Mô tả những ảnh hưởng của bệnh bụi phổi-silic đối với sức khỏe người lao động

3 Trình bày các biện pháp phòng chổng bệnh bụi phổi-silic cho người lao động trên thế giới

và tại Việt Nam

4 Đưa ra khuyến nghị cho các nghiên cứu và chương trình can thiệp đê góp phần phòng chống bệnh bụi phổi-silic tại Việt Nam trong giai đoạn tới

Trang 10

4

-PHÀN3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

3.1 Phạm vi tài liệu tham khảo

Tiêu chuẩn chọn tài liệu tham khảo:

+ Tài liệu phải viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh

+ Các tài liệu có nội dung đề cập đến bệnh BP-silic: định nghĩa về bệnh, nguyên nhân

và các yếu tố nguy cơ của bệnh, tình hình diễn biến của bệnh, các biện pháp phòng chổngbệnh

+ Các báo cáo, luận vãn phải được xuất bản, công bố từ những viện khoa học hàn lâmnhư Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, ViệnNghiên cứu khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, các trường đại học

+ Các bài báo khoa học chuyên ngành phải được lấy từ các tạp chí chuyên ngành và tácgià là các nhà khoa học tại Việt Nam và trên thế giới

+ Không giới hạn thời điểm xuất bản của sách chuyên ngành được sử dụng trong báocáo Các tài liệu khác ưu tiên có thời gian cập nhật, công bố từ năm 2000 đến nay

+ Tiêu chuẩn loại trừ tài liệu tham khảo

+ Các tài liệu viết bằng các ngôn ngữ không phải là tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 11

-5-+ Các tài liệu không có thông tin liên quan tới bệnh BP-silic

+ Các từ khóa (key words) đã dùng đề tìm tài liệu:

+ Tiếng Anh: Pneumoconiosis, silicosis, definition of silicosis,

+ Tiếng Việt: Bệnh bụi phổi nghề nghiệp, bệnh bụi phổi-silic, giải pháp phòng chổngbệnh bụi phổi-silic

+ Nguồn thu thập các tài liệu tham khảo:

+ Hệ thống HINAR1/PUBMED

+ Website của các tổ chức như: WHO, ILO, NIOSH, CDC

+ Trung tâm thư viện trường Đại học Y Tế Công Cộng, Đại học Y Hà Nội; trung tâmthư viện Quốc gia, trung tâm thư viện của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường,Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động

Trang 12

6

-3.2 Phưong pháp thu thập số liệu

Lập bản đồ thu thập tài liệu gồm những địa chỉ có các tài liệu liên quan tới đe tài nhưdanh sách các viện nghiên cứu, các trường đại học, trung tâm thư viện, cần liên hệ để tiếnhành bố trí thời gian, xin giấy giới thiệu và tìm tài liệu

Sử dụng hệ thống internet truy cập vào các website trong tiêu chuẩn chấp nhận tài liệu đểtìm tài liệu Một số website đã sử dụng là HINARI/PUBMED, ILO, WHO, CDC,N1OSH

Thu thập các tài liệu trên thế giới thông qua hình thức khác là gửi email tới các tác giả.Khái quát nhừng vấn đề cần quan tâm trong các nghiên cứu thông qua các tóm tắt nghiêncứu (Abstract)

- Tìm các thông tin nghiên cứu, báo cáo khoa học liên quan đến vấn đề BBP-silic tại các cơ

sở như trung tâm thư viện Quốc gia, các thư viện cùa Viện Y học lao động và Vệ sinhmôi trường, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đạihọc Y Tế Công Cộng, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật Bào hộ lao động bằng hìnhthức liên hệ trực tiếp thông qua giấy giới thiệu

3.3 Phương pháp tổng họ - p thông tin và quản lý số liệu

Đọc tóm tat (Abstract) của các bài báo viết về vấn đề như bệnh BP-silic ở công nhân thợ

mỏ, bệnh BP-silic ở các quốc gia, các giãi pháp hay các chương trình can thiệp phòngchổng bệnh BP-silic

- Đối với các sách và tạp chí có liên quan đến chù đề bệnh BP-silic đọc lướt phần nội dung

đề cập đến vấn đề và đánh dẩu những thông tin, số liệu cần cho quá trình viết tổng quan.Các tài liệu được chia làm hai nhóm lớn là tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh Sau đó cácthông tin được chia theo chủ đề viết bao gồm các thông tin chung về bệnh BP- silic, bệnhBP-silic trong các ngành nghề, ảnh hưởng sức khỏe cùa bệnh BP-silic, can thiệp phòngtránh bụi silic Một số bản bao gồm nhiều thông tin kết hợp sẽ được lưu riêng để sử dụngđược triệt để thông tin Thông tin được tổng họp và phân loại sao cho dễ tìm thấy trongquá trình viết tổng quan và đảm bào yêu cầu tổng hợp tài liệu tham khảo như sau:

Trang 13

+ Đối với tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, trong một cuốn sách , cũng sưu tầm

và photo lại, cần ghi những thông tin sau: Tên tác giả, năm công bố, tên báo cáo, tên tạpchí, tập, (số) và số các trang sử dụng

- Các tiêu chuẩn như: Tên tác già, tên tiêu đề, năm công bố hay xuất bản, tạp chí công bốhay đăng tin của tài liệu tham khảo được quản lý bằng phần mềm Quản lý tài liệu thamkhảo ENDNOTE phiên bản 9.0 để quản lý và thực hiện trích dẫn tài liệu tham khảo

- Cuối cùng đọc lại toàn bộ các thông tin liên quan từ tài liệu tham khảo đế bổ sung nhữngthông tin số liệu còn thiếu hoặc chưa chính xác Sau đó sử dụng những thông tin, số liệu đócho phần viết tổng quan

3.4 Thông số về tài liệu tham khảo

Tài liệu tham khảo thu thập được gom 3 loại chính: sách, bài báo và các tạp chí về bệnhbụi phổi nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp có đề cập đến bệnh BP-silic, bệnh BP-silic

- Số lượng tài liệu thu thập được là 81 tài liệu tham khảo, trong đó:

+ 46 tài liệu bằng tiếng Anh và 35 tài liệu bằng tiếng Việt

+ 52 tài liệu được xuất bản trong vòng 10 năm trờ lại đây và 29 tài liệu được xuất bàn trên

10 năm về trước

Trang 14

8

-PHÀN4 KÉT QUẢ Một số thuật ngữ

4.1.1 Bệnh bụi phổi-silic (bệnh BP-silic)

a Định nghĩa: Ngay từ năm 1930, bệnh BP-silic đã được định nghĩa là tình trạng

bệnh lý ở phổi do thở hít silic dioxyt [49; 59] (SÌO2) hoặc silic tự do Đặc điểm của bệnh về mặtgiải phẫu là xơ hóa và phát triển các hạt ở hai phổi, về mặt lâm sàng là khó thở và về mặt X quang

là phổi có hình ảnh tổn thương đặc biệt

Ngày nay, người ta thống nhất đặc điểm của bệnh BP-silic là bệnh phổi xơ hóa lan tòa,bệnh phát triển và không hồi phục, thậm chí cả sau khi ngừng tiếp xúc, là một trong các bệnh bụiphổi nặng nhất, có nhiều biến chứng làm giâm khả năng lao động và tuổi thọ của bệnh nhân [20]

Nguyên nhân gây bệnh BP-silic là do silic tự do (SÌO2) với cơ chế bệnh sinh khá phức

tạp (phụ lục 3J[9; 20] Tuy nhiên nguy cơ mắc bệnh BP-silic phụ thuộc vào ba yếu tố chính:

- Yeu tố tiếp xúc nghề nghiệp: nghề nghiệp tiếp xúc với bụi silic thời gian càng dài, khảnăng mắc bệnh càng lớn [19],

- Nông độ bụi trong không khí nơi làm việc vượt quá mức quy định cho phép [20], nồng

độ bụi càng cao, nguy hiểm càng nhiều, đặc biệt là khi có nhiều hạt “bụi hô hấp”, là hạt bụi cókích thước nhỏ từ 0,2 - 5 micromet [20; 66]

- Tỉ lệ silic tự do trong bụi cao sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là bệnh BP-silic cấptính [11]

Ngoài 3 yếu tố nguy cơ trên còn phải kể đến yếu tố cá nhân bởi vi trong thực tế nhiềungười cùng tiếp xúc như nhau nhưng lại có tình trạng bệnh khác

nhau Để đánh giá nguy cơ mắc bệnh BP-silic cần dựa vào ba yếu tố

kể trên, nhưng về kỹ thuật cần chú ý tới yếu tố bụi hô hấp và hàm

lượng silic tự do [20],

c Các thể bệnh BP-silic: Hiện có nhiều cách chia các

thề bệnh BP-silic Hiện nay trên thế giới, bệnh BP- thế bệnh BP-silic cấp tínhHình 1: Phim chụp phốiNguồn: ILO

Trang 15

9

-silic thường được chia thành ba thể là thể mạn tính, thể tiến triển và thể cấp tính Bệnh BP- -siliccấp tính (Acute silicosis) có thể xuất hiện sau thời gian ngắn (vài tháng đến 2 năm)

tiếp xúc quá mức với lượng lớn bụi hô hấp có chứa hàm lượng

silic cao Các phát hiện trên phim chụp phổi về sự tràn khí màng

phổi không giống như thấy ở thể bệnh BP-silic mạn tính (Hình 1).

Bệnh BP-silic tiến triển (Accelerated silicosis) thường xuất

hiện sau những tiếp xúc quá mức trong thời gian dài hơn (5-10

năm) (Hình 2) Các phát hiện trên phim chụp phổi giống như thấy

ở thể bệnh BP-silic mạn tính Tuy nhiên thể bệnh

này tiến triển bệnh nhanh hơn

Thể bệnh BP-silic mạn tính (Chronic or

classic silicosis) thường xảy đến sau tiếp xúc với

bụi hô hấp có chứa thạch anh 10 năm hoặc lâu hơn

(Hỉnh 3) Thể bệnh này có biểu hiện trên hình ảnh

X quang không bình thường với các hình mờ

tròn, nhỏ (<10mm), chủ yếu ở các thùy phổi trên

Thể bệnh này có thể tiến triển thành loại xơ hỏa

khối tiến triển (Progressive massive fibrosis) cả sau khi ngừng tiếp xúc với bụi silic [65; 66; 67;74; 80]

d Chẩn đoán bệnh BP-silic: Có nhiều tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh BP-silic, trong

đó quan trọng nhất là hình ành X quang phổi, tiếp tới là các triệu chứng lâm sàng và kết quả kiềmtra chức năng hô hấp (CNHH) Các tiêu chuẩn chần đoán căn cứu vào đổi tượng chấn đoán vàthời gian tiếp xúc Đối tượng chẩn đoán phải là người lao động có nghề hoặc công việc cỏ nguy

cơ mắc bệnh do tiếp xúc trực tiểp với bụi có nồng độ, sổ lượng và kích thước hạt, hàm lượng silic

tự do vượt quá giới hạn cho phép được quy định rõ trong tiêu chuẩn vệ sinh lao động [2] về thờigian tiếp xúc, ở Việt Nam quy định, người lao động thuộc đối tượng kể trên phải có thời gian tiếpxúc với bụi ít nhất 3 năm đối với khám phát hiện lần đầu bệnh nghề nghiệp (BNN), và thời giankhám định kỳ là 12 tháng đối với đối tượng đã được giám định BNN [3],

Hình 2: Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic tiến triển

Trang 16

-9-Chụp Xquang phổi' -9-Chụp X quang phổi cho phép chẩn đoán sớm và chẩn đoán xác định

bệnh Phải chụp phim chuẩn, phim lớn, chụp đúng kỹ thuật Hình ảnh tôn thương trên phim X

quang phổi được quy định rõ trong bàng phân loại quôc tê 1980 của ILO (Phụ ỉục ỉ)m.

Triệu chímg ỉám sàng: Bệnh nhân mắc bệnh BP-silic biểu hiện nhiều triệu chứng lâm

sàng, trong đó triệu chứng cơ bản là khó thở khi gắng sức Khó thở gắng sức xuất hiện muộn saucác hình ành X quang Ho và khạc đờm là triệu chứng viêm phế quản mạn tính, thường phối hợpvới bệnh BP-silic Ở giai đoạn sớm, bệnh BP-silic ít gây viêm phe quản Khi bệnh phát triên và cóbiên chứng sẽ thây xuât hiện nhiêu triệu chứng lâm sàng khác Đặc biệt xét tới bệnh BP-silic cấptính với các triệu chứng lâm sàng đặc hiệu như: Khó thở bẳt đầu đột ngột, tiến triển nhanh, tửvong có thể nhanh (trong vài tháng) với bệnh cảnh lâm sàng: mệt, sút cân, ho, khạc đờm, đau ngực

và suy hô hấp cấp Tuy nhiên, bệnh BP- silic cần chẩn đoán phân biệt vì có trên 40 bệnh có hìnhảnh X quang tương tự và không có một phim X quang nào có đầy đủ giá trị để xác định bệnh Đểchẩn đoán phân biệt cần bổ sung thêm các yếu tố tiếp xúc, bệnh sử, kết quả khám lâm sàng [9; 20;21],

Kiếm tra CNHH: Kiểm tra CNHH cũng là một trong các khâu quan trọng cùa chẩn đoán

bệnh BP-silic Ở bệnh nhân bệnh BP-silic, tối thiểu là phải đo dung tích sống để đánh giá hộichứng hạn chế và đo thể tích thờ ra tối đa/giây để đánh giá hội chứng tấc nghèn [20]

Đo dung tích sống' Bình thường ở người lớn thường là 3,5 lít đối với nam và 2,5 lít đối

với nữ Ờ người mắc bệnh BP-silic dung tích sống thường giảm Trong thực tể, người ta thường sokết quả dung tích sống đo được với dung tích sống lý thuyết, tính theo tỉ lệ %

Tính chi so Tiffeneau : Chỉ số này được tính bằng tỉ lệ phần trăm giữa thể tích khí thở ra

tối đa sau 1 giây, 2 giây và 3 giây so với dung tích sống Thể tích thở ra tối đa/giây (FEV]I forcedexpiratory volume in one second) là the tích khí thu được trong một giây đầu tiên ờ động tác thởmạnh, đơn vị lít/giây Mở rộng khái niệm 1 giây thành các thời điểm khác nhau 0,5 giây, 0,75giây lần lượt ta có FEVo,5, FEVũ,75 Ở người bình thường, chỉ số Tiffeneau này sau giây đầu

là 83%, sau giây thứ hai là 96%, sau giây thứ ba là 99% Ờ người chức năng phổi kém, các ti lệtrên bị giảm sút nhiều [9],

4.1.2 Các khái niệm liên quan đến bệnh BP-silỉc

a Giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp WELs (Workplace Exposure Limit values)', là

giới hạn nồng độ các chất độc hại trong không khí, trong một khoảng thời gian

Trang 17

10

-trung bình nhất định gọi là -trung bình trọng thời gian (TWA - Time weighted average) Hai khoảng thời gian được sử dụng là dài kỳ (8 giờ đồng hồ) và ngắn kỳ (15 phút) [58] Quy định giới hạn WEL đối với tinh thể silic kích thước hô hấp được trình bày trong bảng

bố năm 2001, quy định ngưỡng hàm lượng giới hạn của silic dioxyt kích thước hô hấp và thạchanh là 0,05 mg/m3 (phụ lục 2J[48].

4.1.3 Bệnh nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm

Bệnh nghề nghiệp (BNN): Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại

của nghề nghiệp tác động đến người lao động [1; 10]

Bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm (BNNĐBH)' BNNĐBH thực chất là BNN được đền bù

(Compensated Occupational Disease) và được quy định bởi mỗi quốc gia Người lao động bị mắcBNN sẽ được Hội đồng giám định y khoa xếp hạng tỷ lệ mất khả năng lao động và được hưởngchế độ đền bù trên cơ sở xếp hạng đó Hiện nay có 25 BNN đã được đưa vào danh mục BNNĐBH

ờ Việt Nam [4; 8] và bệnh BP-silic là một trong những BNNĐBH sớm nhất trong danh sách cácBNNĐBH ở Việt Nam [8; 31]

Trang 18

-11-4.2 Một số ngành nghề có nguy cơ cao mắc bệnh BP-silic

Trong khi sự nguy hại cùa bụi tinh thể silic hô hấp được biét đến rộng rãi trên khắp thế giới,

sự tiếp xúc bụi silic vẫn thường gặp ở mọi nơi trên phạm vi rộng, thuộc các ngành công nghiệphàng đầu cũng như trong ngành xây dựng và khai mỏ

Đã có nhiều quốc gia công nghiệp phát trien đạt được thành công to lớn trong việc ngăn chặnbệnh BP-silic Trong khi những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp,đặc biệt ngành công nghiệp mỏ và khai thác khoáng chất ở châu Á, châu Phi và châu Mỳ đã làmtăng số công nhân có nguy cơ mắc bệnh BP-silic [68],

Nguy cơ mắc bệnh BP-siiic phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong ngành nghề, trong đó có thờigian tiếp xúc với bụi có chứa silic tự do và ti lệ silic tự do trong không khí hít thở Một nghiên cứucho thấy, nếu một người lao dộng tiếp xúc với nồng độ bụi silic dưới O,5mg/m3 trong thời giandưới 30 năm thì nguy cơ mắc bệnh BP-silic là 1,1%; nguy cơ này sẽ tăng lên tới 3,7% nếu tiếp xúcvới bụi silic ờ nồng độ trên 0,5mg/m3và trong thời gian trên 30 năm [63] Sự phơi nhiễm với bụisilic trong các ngành nghề lao động trên thế giới đã được minh họa bằng một thống kê thực hiệnvào năm 2002 (phụ lục 7) [47].

Việt Nam cũng đã thống kê những công việc chủ yếu có tiếp xúc với bụi silic tự do, có thể gâybệnh cho người lao động (phụ lục ỜJ[8] Nghiên cứu 615 cơ sở sản xuất nguy cơ cao thuộc 45tinh thành trên cả nước gồm 138.974 đối tượng, số công nhân phải tiếp xúc trực tiếp với bụi silicchiếm 48,18% tổng sổ công nhân được thống kê, cho thấy nguy cơ bệnh BP-silic ở Việt Nam làrất lớn [73]:

Bảng 2: Tổng hợp số liệu công nhân tiếp xúc theo ngành

TT Loại ngành nghề Số công nhân Tỷ lệ %

1 Khai thác, chế biến khoáng sản 25.300 38,65

2 Sản xuất vật liệu xây dựng 19.804 30,26

5 Sản xuất gốm, sứ, thủy tinh 2.416 3,69

Trang 19

12

-4.2.1 Khai thác chế biến khoáng sản:

Ở bất cứ loại mỏ quặng nào cũng có thể gây bệnh BP-silic vì giữa các via quặng có các lớp đất

đá có ti lệ silic tự do cao

Ngay từ những năm 40 trở đi, ở các nước công nghiệp, tì lệ tứ vong do bệnh BP-silic cũngnhư tình trạng ô nhiễm bụi ờ các cơ sờ khai thác che biên khoáng sản đẵ giảm đáng kể Hoa Kỳ,một trong những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thể giới, kể từ năm 1968, báo cáo tỉ lệ tửvong do bệnh BP-silic đã giảm Năm 1968, tổng sổ tử vong do bệnh BP-silic trên toàn Hoa Kỳ là1.157 trường hợp; nhưng tới năm 1996, con số này chỉ còn 212 trường hợp [53] Ngành khai tháckim loại có số tử vong do bệnh BP-silic cao nhất trong số các ngành (chiếm 39,2% tổng số ca tửvong do bệnh BP-silic) [40] Một điển hình khác là Anh, với sự kiện cuộc cách mạng công nghiệp

nổ ra đầu tiên vào cuối thế kỷ 18, nền công nghiệp khai mỏ ở Anh rất phát triến Kéo theo hệ quả

là cuôi thập niên 1960 - 1970, cả hai tỳ lệ: tỳ lệ thạch anh trong bụi hô hấp và mật độ của thạchanh trong bụi hô hấp ở các mỏ khai thác vẫn cao (hàm lượng lên tới trên 20 - 30%, mật độ thạchanh lên tới trên 2,3 hoặc 4 mg/m3 đôi khi có thể cao hơn) Nhtmg hiện nay, hầu hết các mỏ ở Anhđều giữ hàm lượng silic dioxyt ổn định ở dưới 10% [39],

Bên cạnh đó vẫn còn một vài địa điểm nhỏ ở một vài quốc gia công nghiệp, người lao độngvẫn phải tiếp xúc với bụi hàm lượng silĩc còn cao ở Scotland, một nghiên cứu tiến hành theo dõisức khỏe từ mùa đông 1990 đến 1991 ờ những công nhân mỏ than cho thây, trung bình nhũngngười công nhân ở đây đã phải tiếp xúc với thạch anh gần 8.000 giờ trong điều kiện không khímật độ thạch anh o.lmg/m3 [44],

Mặc dù tiếp xúc có hại có thể xảy ra ở mọi nơi, nhưng tình hình đặc biệt nghiêm trọng ở cácnước đang phát triển Một nghiên cứu mang tầm quốc gia ở Nam Phi, tiến hành thu thập dữ liệucủa tất cả những thợ mỏ vàng đã làm việc trên 1 năm và cả những người đã từ vong, từ năm 1975tới 2007, cho thấy có 1.695 trường hợp mắc bệnh BP-silic, chiếm 8,9% [56] Trong khu vựcMererani ở phía bac Tanzania (châu Phí), có tới gần 15.000 thợ mỏ khai thác đá phiến ở độ sâu500m dưới lòng đất làm việc liên tục trong môi trường làm việc nguy hại, với tỉ lệ trung bình tinhthể silic dioxyt là 14,2% Khi khoan, nổ mìn và xúc được thực hiện, các phép đo tiếp xúc cho thấymật độ trung bình của silic dioxyt vượt mức cho phép (2,4mg/mJ) [70] Ờ Brazin, theo báo cáoquốc gia thuộc Chương trình Quốc gia thanh toán bệnh bụi phổi-silic, hiện có hơn 30.000 trườnghợp mắc bệnh BP-silic Tỉ lệ này

Trang 20

13

-ở ngành khai thác mỏ vàng là rất cao (21,3%), ờ ngành

khai thác đá là 16,5% Hiện quốc gia này có 86.995

người lao động trong ngành khai mỏ đang phải phơi

nhiễm với bụi silic ở nơi làm việc, chiếm 4,41% tổng số

người lao động có nguy cơ [55] Ở Ấn Độ, theo báo cáo

quốc gia, có tới 1.700.000 người lao động trong ngành

khai thác than và đá có nguy cơ mắc bệnh BP-silic,

chiếm 56,67% (tỉ lệ cao nhất) tổng số người lao động có

nguy cơ Ước tính, có tới 5 - 10% công nhân mỏ than mắc bệnh BP-silic [75] Trung Quốc, mộtquốc gia láng giềng cùa Việt Nam, đến cuối năm 2003, ngành khai thác đá và than cốc có tỉ lệmắc bệnh bụi phổi cao nhất cả nước, lên tới 54,5% [45]

Ở Việt Nam, ngay từ thập kỷ 60, 70 bệnh BP-silic đã xác định được những trường hợp đầutiên ở thợ mỏ Quảng Ninh và một số ngành nghề khác [18] Năm 1981, một nghiên cứu tiến hànhtrên công nhân khai thác than cho thấy, công nhân than Quảng Ninh thường xuyên phải lao độngtrong môi trường có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép 30 đển 100 lần, hàm lượng silic dioxyttrong bụi khoảng 20 đến 30%, tỉ lệ chung mắc bệnh BP-silic ở công nhân hầm mỏ là 2,6% [34].Đến năm 1990, môi trường của khu vực than Quảng Ninh vẫn chưa được cải thiện nên ô nhiễmmôi trường, đặc biệt là ô nhiễm bụi vẫn rất cao Chính vì vậy, qua khám cho 4.398 công nhân mỏtuổi nghề từ 10 năm trở lên, có 1.506 trường hợp mắc bệnh BP-silic, chiếm tì lệ 34,24%, trong đónghề chống lò chiếm tỉ lệ cao nhất là 69,4% (trong tổng số bệnh nhân) [25],

Tình hình hiện nay, tại Việt Nam, nguy cơ bệnh BP-silic trong ngành khai thác, chế biếnkhoáng sản là rất cao Ước tính có tới 38,65% (tỉ lệ cao nhất) số công nhân trực tiếp tiếp xúc vớibụi silic là thuộc ngành khai thác, chế biến khoáng sản [73], Bên cạnh đó, nguy cơ ô nhiễm môitrường ở các cơ sở thuộc nhóm ngành nghề khai thác, chế biến khoáng sản cũng rất cao Mộtnghiên cứu cho thấy tỉ lệ mẫu bụi vượt nồng độ tổi đa cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam(TCVN) ở nhóm ngành khai thác than và khai thác dá là lớn nhất (lẩn lượt là 83,3% và 59,7%).Công nhân khai thác mỏ than đá thường xuyên làm việc với cường độ cao, gánh nặng thể lực lớn

sẽ làm tăng nhịp thở, dẫn đến nguy cơ hít phải lượng bụi nhiều hơn, đặc biệt là bụi hô hấp Kéotheo đó, tỉ lệ mắc bệnh BP-silic trong

Hình 4: Một cư sở khai thác than ờ

Trung Quồc

Nguồn: ỈLO [45]

Trang 21

các cơ sở khai thác và chế biến đá cao đứng thứ hai trong bổn ngành, ti lệ này cao hơn ở các cơ sởkhai thác và xử lý than (lần lượt là 6,4% và 3,37%) [23].

4.2.2 Sản xuất vật liệu xây dựng

Trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, một số vật liệu sử dụng cần chất độn có si lie như vậtliệu chịu lừa, nhựa đường, sơn, chất dẻo Vì vậy trong quá trình sử dụng các vật liệu này, ngườilao động có nguy cơ mắc bệnh BP-silic [20]

Trong ngành vật liệu xây dựng ờ các nước công nghiệp có thể lấy dẫn chứng ở Hoa Kỳ, nơithành công trong công tác phòng ngừa bệnh, và Viên, Áo nơi tỉ lệ mắc bệnh BP- silic hay bệnhBP-silic - lao còn cao (10,39%) Ở Hoa Kỳ, trong một nghiên cứu kéo dài từ năm 1998 đến 2002,

ti lệ hiện mắc bệnh BP-silic trong ngành xây dựng là 0,8% [79] Theo dữ liệu quốc gia Hoa Kỳ, từnãm 1985 - 1999, số trường hợp tử vong do mắc bệnh BP- silic, làm việc trong ngành sàn xuất đấtsét dùng trong xây dựng chi có 30 trường hợp [40] Ở Viên, thù đô của Áo, công nhân ngành côngnghiệp sản xuất gạch và đá có tiếp xúc với bụi silic trong khoảng thời gian từ năm 1950 được thuthập và theo dõi, cho thây tỉ lệ măc bệnh BP-silic trong ngành là 7,1% [62]

Trong Chương trình Quốc gia thanh toán bệnh bụi phổi-silic của ILO, số liệu báo cáo chothấy: Tại Brazin, số công nhân phải tiếp xúc với bụi silic trong ngành xây dựng lên tới 1.447.898người, chiếm 73,44% (tỉ lệ cao nhất) số công nhân phơi nhiễm với bụi silic [55]; tại Thái Lan,theo báo cáo cho thấy, đến năm 2003, sổ công nhân làm việc trong các ngành sản xuất gạch, ximăng, bê tông, lên tới 82.249 người, chiếm 37,89% tổng số công nhân thuộc các ngành nguy cơcao [78]

Nguy Cơ bệnh BP-silic trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng ờ Việt Nam rất cao, chỉ đứngsau ngành khai thác, chế biến khoáng sản Nguy cơ ô nhiễm môi trường ờ các cơ sở thuộc nhómngành nghề sản xuất vật liệu chịu lửa cũng cao, chỉ đứng sau ngành khai thác than và khai thác đá(tì lệ mẫu bụi vượt nồng độ tối đa cho phép theo TCVN ở nhóm ngành này là 50,5%) [23] Năm

2001, tỉ lệ mắc bệnh BP-silic trong ngành này rất cao (39,9%) [29; 33] Một nghiên cứu kháctrong ngành, năm 2000 - 2002, tiến hành trên cả hai miền nam bắc, cho thấy, điều kiện vi khí hậukhông thuận lợi, tỉ lệ mắc bệnh BP-silic là 10,1%, tỉ lệ bất thường CNHH là 23,7% [22]

4.2.3 Đúc, cơ khí, luyện kim

Trong ngành này phải kể đến nghề dúc, những người phá dỡ khuôn đúc, làm khuôn, làm sạch,nhất là phun cát làm sạch Bên cạnh đó, những người sửa chừa, phá dõ lò cao,

Trang 22

-

15-luyện kim cũng dễ mắc bệnh BP-silic vì bụi gạch chịu lửa có hàm lượng silic tự do cao [20],

Tương tự như trong các ngành trên, Hoa Kỳ là một trong số các quốc gia công nghiệp thuđược thành tựu nhất định Theo số liệu thống kê tử vong

quốc gia Hoa Kỳ giai đoạn 1985 - 1999, tổng số trường

hợp tử vong do bệnh BP-silic, làm trong các

ngành đúc sắt thép, làm trong lò hơi, xưởng

Hình 5: Ngưòi phun cát mài mòn làm luyện

thép, sửa chừa máy xay nghiên, chỉ là việc trong không khí đầy hạt bụi cát SiO 2 175 trường hợp

Trong Chương trình Quốc gia thanh toán

bệnh bụi phổi-silic, số liệu báo cáo của Brazin cho thấy số công nhân trong ngành luyện kim phảiphơi nhiễm với bụi silic là 156.877 người, chiếm 7,96% tổng số công nhân nguy cơ [55], Tại TháiLan, năm 2003, sổ công nhân trong các ngành nghề đúc, cơ khí, luyện kim là 30.396 người, chiếm14,0% tổng số công nhân thuộc các ngành nghề nguy cơ cao [78],

Hiện tại Việt Nam, nguy cơ bệnh BP-silic trong ngành đúc, cơ khí, luyện kim vẫn khá cao, chiđứng sau ngành khai thác, chế biến khoáng sản và sàn xuất vật liệu xây dựng Ước tính có tới15,78% số công nhân trực tiếp tiếp xúc với bụi silic là thuộc ngành này [73], Bên cạnh đó, nguy

cơ ô nhiễm môi trường ở các cơ sở thuộc nhóm ngành nghề luyện thép cũng rat cao Một nghiêncứu mang tầm cỡ quốc gia cho thấy, tỉ lệ mẫu bụi vượt nòng độ tối đa cho phép theo TCVN ởnhóm ngành này lên tới 48,7% (mặc dừ tỉ lệ này là thấp nhất trong bốn ngành khai thác than, đá

và sản xuất gạch chịu lửa) [23] Từ năm 1998, đà nhận thấy công nhân đúc ở các nhà máy cơ khí

có tỉ lệ mắc bệnh khá cao 8 — 10% [30], Năm 2000, một nghiên cứu trên 216 công nhân tiếp xúcvới bụi hỗn hợp sắt và silic dioxyt có tuổi nghề từ 5 năm trở lên đã nhận thấy tỉ lệ mắc bệnh lêntới 34,72% [12], Cho tới 2003, ở các nhà máy luyện gang, hầu hết các vị trí đo bụi đều vượtTCVN từ 2 đến 17 lần, đặc biệt ở phân xưởng đúc (nồng độ bụi hô hấp 64,2 - 94,2mg/m3, nồng độbụi toàn phần 138 - 238mg/m3) [28],

4.2.4 Giao thông, đóng tàu

Ngành giao thông, đóng tàu cũng là ngành có nguy cơ tiếp xúc với bụi silic tự do Tuy nhiênnghiên cứu về hiện trạng bệnh BP-silic trong các ngành nghề này chưa nhiều Một

Trang 23

-

16-nghiên cứu tiến hành ở ngành công nghiệp xây

dựng và sửa chữa đường cao tốc tại ba bang

của Hoa Kỳ Ket quà cho thấy, có 12 trường

hợp mắc bệnh BP-silic Trong đó, đáng lưu ý

có I trường hợp dã từng là công nhân làm việc

8 năm với búa khoan (mặc dù không có thông

tin về phơi nhiễm nghề

nghiệp đã xày ra); 2 trường hợp nghê Hình 6:

Công nhân khoan lỗ ỏ’mặt đường bê

nghiệp ghi trong giấy chứng tử là sửa tône trons 9uá trình sửa chữa đường cao tốc

chữa đường bộ (mặc dù không có thông Nguồn: NIOSH [49]

tin về năm bắt đẩu tiểp xúc và khoảng

thời gian tiếp xúc với bụi silic) và 2 trường hợp có thể là làm nghề thi công đường cao tốc (dữ liệukhông đầy đủ) Đặc biệt chú ý, nồng độ silic dioxyt được đo lường cho thấy, 88% mẫu của hoạtđộng có sử dựng búa khoan, 100% mẫu của hoạt động cưa bê tông, 67% mẫu cùa thu dọn bê tông,100% mẫu của khoan lỗ đóng chốt vượt ngưỡng giới hạn cho phép của giới hạn phơi nhiễm củaOSHA (hàm lượng bụi hồ hấp o,lmg/m3); tỉ lệ vượt ngưỡng TLV của ACGIH (O,O5mg/m3) củacác hoạt động lần lượt là 96%, 100%, 83% và 100% (hàm lượng silic dioxyt kích thước tinh thể làO,O5mg/m3) [42] Một nghiên cứu tiến hành trên công nhân khai thác và chế tác đá phiến ở Alta -một thị trấn của Na Uy cho thấy ti lệ hiện mắc bệnh BP-silic ờ đây từ 1,9 - 6,5% [59]

Tại Việt Nam, nguy cơ bệnh BP-silic trong ngành giao thông, đóng tàu cũng ở mức cao Ướctính có tới 9,59% số công nhân trực tiếp tiếp xúc với bụi silic là thuộc ngành này [73] Một nghiêncứu tiến hành đánh giá rối loạn CNHH ở công nhân tiếp xúc với bụi silic trong ngành giao thôngvận tải, tiến hành năm 2003, cho thấy, tỉ lệ rối loạn CNHH chung là 30,4%, trong đó tì lệ RLTKhạn chế, R.LTK tắc nghẽn, RLTK hỗn hợp làn lượt là 18.1%, 1,4% và 10,9% Hàm lượng silic tự

do (S1O2) trong bụi hô hấp là 38,7 ± 8,4 mg/m3 [14]

4.2.5 Sản xuất gốm, sứ, thủy tinh

Các ngành nghề này trong quy trình sản xuất công nghệ đều phải tiếp xúc với bụi silic Sành,

sứ gồm các vật liệu tạo hình, hoặc không tạo hình, gồm các thạch anh, feldspath (không tạo hình),kaolin và các loại đất sét (tạo hình) Men sứ được làm từ cát, sa thạch, có chứa thạch anh [20]

Trang 24

Tại các nước công nghiệp, theo dữ liệu thống kê từ vong Hoa Kỳ từ năm 1985 tới 1999, cótổng cộng 30 trường hợp tử vong do mắc bệnh BP-silic là làm việc trong ngành công nghiệp sảnxuất đồ gốm và các sàn phẩm liên quan [40] ở Viên, Áo, ti lệ mắc bệnh BP-silic ở công nhân trên

40 tuổi trong ngành công nghiệp làm đồ gồm và gương, kính là 8,6% [62],

Còn ở các nước đang phát triển, tỉ lệ mắc bệnh BP-silic trong ngành gốm sứ ở Brazin là 3,9%[55]; con số cùng giai đoạn, ở Án Độ là 15,1% [75] ở Thái Lan, số công nhân phải phơi nhiễmvới bụi silic trong ngành này, trong năm 2003, là 60.197 người, chiếm 27,73% tổng số công nhânphải tiếp xúc với bụi silic [78],

Tại Việt Nam, nguy cơ bệnh BP-silic trong ngành sản xuất gốm, sứ, thủy tinh thấp hơn so vớicác ngành nghề nêu trên Ước tính có 3,69% số công nhân trực tiếp tiếp xúc với bụi silic là thuộcngành này [73] Vào năm 1998, một số nhà máy sứ cũng phát hiện được tỉ lệ mắc bệnh BP-silickhoảng 10% trong tổng số công nhân có tiếp xúc với bụi [30]

Nhìn chung, tình hình mắc, tử vong do bệnh BP-silic hay phơi nhiễm với bụi silic ở các ngànhcòng nghiệp nguy cơ của các nước công nghiệp phát triển đều đã giảm từ lâu Tuy nhiên ở một sổđịa điểm nhỏ lè như một thị trấn, một thành phố tình hình còn đáng lưu ý nhưng cũng khôngnghiêm trọng như ở các nước đang phát triển

Ở Việt Nam, tỉ lệ tiếp xúc với bụi silic, ti lệ mắc bệnh BP-silic, hay thời gian tiếp xúc với silic

tự do, cũng như tì lệ silic tự do trong không khí môi trường làm việc ở mồi ngành có sự khác biệt.Một nghiên cứu tiến hành từ năm 2000 - 2002, cho thấy trong hai ngành luyện thép và khai thácthan, trong số công nhân được khám và phát hiện bệnh, có tuôi nghề dưới 10 năm chưa có trườnghợp bệnh nào, trong khi ngành khai thác đá, trên 5 năm đã có thể bị bệnh, thậm chí có trường hợpdưới 5 năm [23] Tỉ lệ mắc bệnh BP-silic (được quy định là những trường hợp được xác định làmắc bệnh BP-silic với các thể bệnh từ l/op trở lên) ở bốn ngành trong nghiên cứu như sau:

Bàng 3: Tình hình bệnh BP-silỉc ciía công nhân ở các cơ sỏ' [23]

Tên ngành Tổng số phim chụp Số lượng Tí lệ

N Sot" - II

Trang 25

-

18-Như vậy có thể thấy, ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh BP-silic ở các cơ sở thuộc nhóm ngành nghềluyện thép là cao nhất (8,0%) Đứng thứ hai là các cơ sở khai thác đá với tỉ lệ 6,4% Tuy các cơ sởkhai thác than có tỉ lệ thấp nhất trong bổn ngành nhưng đây đều là các ngành nguy cơ cao mắcbệnh BP-silic

Do những hạn chế trong các hệ thống báo cáo và thu thập số liệu, hiện không có các số liệuthống kê toàn cầu về tỷ lệ hiện mắc và mới mắc bệnh BP-silic trong giai đoạn này Tuy nhiên,nhiều nước có số liệu thống kê quốc gia về bệnh này bất chấp những hạn chể như không đượcchẩn đoán hay báo cáo không đầy dù

4.3 Ảnh hưởng cũa bệnh BP-silic tói sức khỏe người lao động

Bệnh BP-silic là một trong số các bệnh bụi phổi ác tính gây xơ hóa nhu mô phổi, làmgiảm chức năng hô hẩp, dễ nhiễm khuẩn và đặc biệt là nhiễm lao và ung thư phe quản Bệnh tiếntriển không hồi phục và hiện chưa có thuốc điều trị bệnh [20], hiện đang là mối lo ngại của nhiềunước đang phát triến

4.3.1 Các thương tổn bệnh lý ở phổi và các biến chứng liên quan:

a Các thương tổn bệnh lý ở phổi' Bệnh BP-silic gây nhiều thương tổn bệnh lý, bệnhtiến triển không hồi phục Tùy thuộc vào thể bệnh mà người bệnh có những tổn thương bệnh lý cụthể

Thể bệnh BP-siỉic mạn tính' Bệnh không hồi phục nhưng tiến triển rất khác nhau Nhiễm

khuẩn cấp tính gây bệnh viêm phổi, viêm phế quản thường làm bệnh nặng thêm Nhiều nghiêncứu cũng cho thấy rằng những bệnh nhân bệnh BP-silic đều có dâu hiệu lâm sàng như khó thở khigắng sức, ho, khạc đờm [15; 54; 57], Bệnh BP-silic giai đoạn muộn có thể thấy biểu hiện của tâmphế mãn xuất hiện với biểu hiện suy tim phải [15; 23; 57]

Thể bệnh BP-silic tiến triển' Các tổn thương gần giống như ở thể mạn tính, nhưng suy

giảm chức năng phổi nhanh hơn, có thể kết hợp bệnh truyền nhiễm [66]

Thề bệnh BP-silic cấp tinh' Đối với thể bệnh này, cả tài liệu trẽn thế giới và Việt Nam

đều cho thấy, thể bệnh này gây khó thở đột ngột, khó thở dữ dội, bệnh tiến triển nhanh kèm theo

ho, sốt, khạc đờm, đau tức ngực và dẫn tới suy hô hấp cấp, có the tử vong nhanh chóng trong vàitháng [15; 35; 66]

b Các biên chứng liên quan

Bệnh BP-silic có ba biến chứng chủ yếu đều là nguyên nhân gây tử vong: lao phổi, suy hôhấp và nhiễm khuẩn cấp tính phể quản - phổi Lao phổi là biến chứng phổ biến

Trang 26

-

19-nhất, ngoài ra là các biến chứng như suy hô hấp, nhiễm khuẩn cấp tính phế quản phổi thậm chí là cả ung thư phổi [20; 38; 61; 69] Người ta đã chúng minh ở đại thực bào đã nuốt các hạt bụi silic, vi khuẩn lao phát triển và tăng sinh mạnh hơn so với đại thực bào chưa ăn bụi [77] Bệnh BP-silic là bệnh bụi phổi duy nhất thuận lợi cho sự phát triển bệnh lao Viêm phế quản - phổi cấp tính là hậu quả của viêm phế quản mạn tính phối hợp với bệnh BP-silĩc ở giai đoạn phát triển [41],

Ngoài các biến chứng chính kể trên, các nghiên cứu cả trên thế giới và Việt Nam cho thấy

bệnh BP-silic còn gặp các biến chứng nghiêm trọng khác (phụ lục <)[37; 60; 69].

4.3.2 Gánh nặng cộng đồng

Ngay từ rất sớm, các nước công nghiệp phát triển đã thu được những thành tựu trong việcthanh toán bệnh BP-silic Ở Hoa Kỳ, giai đoạn 1968-2002, số người chết do bệnh BP-silic giảm từ1.157 người xuống còn 148 trường hợp (tương ứng với giảm 93%) [40] Số lượng các trường hợpbệnh mới mác giảm dần, cho đến hầu như bang không vào năm 1967 [49], Tại Thụy Sĩ, trong thậpniên 1970, sổ trường hợp mắc bệnh BP-silic/năm đã giảm khoảng 6 lần [81] ở Pháp, năm 1958,nguy cơ mắc lao của bệnh nhân BP-silic hay còn gọi là bệnh BP-silic - lao (silicotuberculosis) từ

20 - 25%, tỉ lệ tử vong do lao lớn hơn từ 3 - 6 lần so với nhân dân trong vùng [76]

Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, tình hình mắc bệnh BP-silic đặc biệt nghiêm trọng.Tại Nam Phi, từ năm 1975-2007, 8,9% những người thợ mỏ vàng mắc bệnh BP-silic (nhữngngười đã làm việc trên 1 năm và cả người đã tử vong) [56], Tính tới cuối năm 2003, 48,3% trườnghợp mắc bệnh bụi phổi ở Trung Quốc là bệnh BP-silic [45]

ờ Việt Nam, tình hỉnh bệnh BP-silic cùng rất nghiêm trọng Biểu đồ 1 cho thấy số

măc bệnh BP-silic tích lũy tăng theo từng năm,

không có chiều hướng giảm Tì lệ cộng tích lũy cùa

bệnh luôn ở mức trên 74% trong số các BNN, tức là

cứ 100 trường hợp mắc BNN thì có tới hơn 74

trường hợp là mắc bệnh BP-silic - một bệnh bụi phổi

ác tính [5; 7] Mặt khác, các trường hợp mắc bệnh

BP-silic thường được phát hiện muộn, khi đã có các

biến chứng kèm theo, khiến cho việc chữa trị khó

BP-silic theo năm

Trang 27

-20-Một nghiên cứu tiến hành trên 6 nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng cho thấy tỉ lệ mắcbệnh BP-silic - lao chỉ vào khoảng 4% [24] ở nhiều nước trên thế giới, các biến chứng lao và timđược chú ý tới, còn ở Việt Nam, cần lưu ý tới biến chứng nhiễm khuẩn cấp tính phế quản - phổi vìđây là nguyên nhân tử vong phổ biến ở bệnh BP-silic ở nước ta [20]

Bên cạnh đó, tì lệ bệnh BP-silic tăng theo tuổi nghề của công nhân; tuổi đời cùa côngnhân làm việc tại các cơ sở nguy cơ cao tập trung phần lớn là từ 31 - 40 tuổi (50,7%); trong khi

đó, tuổi nghề tập trung cao nhất ở lứa tuổi từ 11 - 20 năm (47,32%) [23] Điều này chứng tỏ điềukiện lao động không cho phép kéo dài tuổi lao động Mặt khác, nhóm có nguy cơ cao lại là nhỏmcông nhân trẻ - nhóm cung cấp nguồn lao động chính cho cả nước

4.4 Những can thiệp phòng chổng ảnh hưởng của bệnh BP-silic tói sức khỏe người lao động

Bệnh BP-silic chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy cách hiệu quả nhất hiện nay vẫn làphòng chống tiếp xúc với bụi silic ngay từ nguồn phát sinh Hiện tại, trên thế giới và Việt Namđều đang tiến hành những biện pháp can thiệp phòng chống ảnh hưởng của bụi sìlic tới sức khỏengười lao động, mà nổi bật nhất là Chương trình Quốc tể WHO/ILO thanh toán bệnh bụi phổi-silic trên toàn cầu

Chiến lược toàn cầu thanh toán bệnh bụi phổi-silìc Chương trình toàn cầu của WHO

trong việc xóa bỏ bệnh bụi phổi silic (GPES) được thành lập sau sự giới thiệu của kỳ họp thứ 12của Liên ủy ban ILO / WHO về sức khoẻ nghề nghiệp năm 1995 Kèm theo đó là Chương trìnhquốc gia thanh toán bệnh BP-silic đang được tiến hành, đặc biệt chú trọng vào các nước đang pháttriển Đến nay, Chương trình quốc gia thanh toán bệnh BP-silic đã được thiết lập ờ Brazil, Chile,Trung Quốc, Ắn Độ, Peru, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Việt Nam Nhiều quốc gia kháccũng đã tăng cường nỗ lực phòng ngừa vào các hoạt động của họ [64]

Đối với các BNN nói chung, đối với bệnh BP-silic nói riêng, các biện pháp dự phòng chủyếu bao gồm bốn phương diện: kỹ thuật, y tế, hành chính và truyền thông giáo dục sức khỏe.Trong bổn phương diện này, biện pháp dự phòng về kỹ thuật quan trọng nhất, là biện pháp cơ bản,

có tác dụng giải quyết tận gốc nguồn phát sinh bụi

Trang 28

21

-4.4.1 Biện pháp kỹ thuật

Biện pháp thay thế: Tránh sản xuất trong điều kiện bụi silic bằng cách thay thể, trong

phạm vi cho phép, những chất tạo bụi silic bằng những chất ít sinh bụi silic hơn Trên thế giới,nhiều quốc gia đã ban hành lệnh cấm sử dụng cát silic dioxyt hay các chất khác cỏ chứa nhiều hơn1% tinh thể silic như là một vật liệu phun mài mòn và thay thề bằng các vật liệu ít độc hại hơn.Viện Y học Lao dộng Hoa Kỳ từ năm 1974 đã đề nghị rằng cát silic dioxyt hay các chất khác cóchứa hơn 1% tinh thể siỉic bị cấm sử dụng cho mài mòn Một loạt các vật liệu khác nhưcorundum, bột thủy tinh, đá bọt, mùn cưa, xỉ, viên và đá mạt của thép có sẵn để thay thế làm vậtliệu mài mòn Tuy nhiên không có nghiên cứu đầy đủ để đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe ngườilao động của những vật liệu thay thế này, nên kiểm soát kỹ thuật và trang thiết bị bảo hộ cá nhânnên được sử dụng với bất kỳ chất mài mòn thay thế nào [50]

Tuy nhiên tại Việt Nam, chưa thấy có nghiên cứu nào ứng dụng nguyên liệu mới thay thếcho cát silic dùng trong các ngành như sản xuất vật liệu xây dựng (sản xuất vật liệu chịu lửa), sảnxuất đồ gốm, sứ, thủy tinh

Thay đổi dung cu sản xuât; cơ giới hóa, tự đỏng hóa để tránh tiếp xúc với bui silic: Thay

đổi dụng cụ sản xuất giúp giảm phát sinh bụi, cơ giới hóa sản xuất giúp giảm được số người tiếpxúc, tránh lao động gắng sức cao, hô hấp tăng, làm tăng nguy cơ bụi xâm nhập vào phổi

Đến cuối những năm 1930, nhiều biện pháp kiểm soát bụi được tiến hành trên toàn nước

Mỹ, đáng chú ý là hạn chế sử dụng công cụ khí nén dùng để cắt đá trong các ngành công nghiệp,

đã giúp cho số các trường hợp bệnh mới mắc giàm dần, cho đen hầu như bằng không vào năm

1967 [81], Bên cạnh đó, biện pháp tự động hóa

Trang 29

trong quy trình khoan đá, công nhân chì việc

làm đã cấm sử dụng máy phun cát mài mòn trên

toàn quốc, lệnh này có hiệu lực từ tháng 1/2005 [55]

Hình 9: Công nhân khoan đá làm việc bên

ngồi trong cabin và điều khiển cũng được áp

dụng [50] Tại Brazin, Bộ Lao động và Việc

giàn khoan di động mà không có sự bảo

vệ đường hô hấp

Nguồn: NIOSH [52]

Trang 30

22 Tại Việt Nam, trong ngành khai thác than, tuy hàm lượng bụi than không cao (<10%)nhưng trước khi đào tới lớp khoan, công nhân mỏ than phải khoan xuyên qua các lớp đất đá vàxúc chuyển đất đá đi Nhiều công đoạn còn mang tính thù công cao, chưa được cơ giới hóa(khoan, xúc, đào ), trong khi tất cả các thao tác hoạt động của công nhân trong hầm lò đều phátsinh bụi Tại các cơ sở khai thác và chế biến đá, công nghệ của Việt Nam vẫn còn lạc hậu (vẫncòn sử dụng máy nghiền đá của Liên Xô cũ hay của Mỹ có từ trước nãm 1975) [23].

-Biẽn pháp thông khí: Biện pháp này bao gồm việc đưa không khí sạch vào để hòa loãng

không khí bị ô nhiễm rồi sau đó hút không khí bị pha loãng đó ra bằng quạt hút; hoặc hút bụi bằngmột chụp hút rồi đẩy không khí có chứa bụi ra ngoài qua các ống dẫn bằng quạt đẩy Hoa Kỳ quyđịnh phòng phun vật liệu mài mòn phải được thông giỏ để giảm nồng độ bụi hô hấp Bên cạnhđó,nước này còn quy định tất cả các cấu trúc dạng phòng chứa kín đều phải được thông gió đểthông khí và ngăn chặn rò rỉ bụi ra bên ngoài Các bộ thu bụi được lắp đặt, tích lũy bụi và gỡ bỏ rangoài mà không làm ô nhiễm các vùng làm việc khác [50J Bên cạnh việc lắp đặt và sử dụng các

hệ thống này đúng kỹ thuật, thì việc bảo trì và sửa chữa thường kỳ cũng can thiết [43]

Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy, ở các cơ sở luyện thép, hầu hết các công đoạn hoặc bộ phậnsản xuất không có hệ thống xử lý bụi Đặc biệt khu vực lò luyện thép không có chụp hút và hệthống xử lý bụi, khói, gây ô nhiễm không khí Bên cạnh đó, ở các cơ sở sản xuất vật liệu chịu lửa,các thiết bị nghiền, sàng, sấy quay đều có cyclone xử lý bụi tại chỗ, nhưng để tiết kiệm nănglượng, công nhân không cho hệ thống xử lý bụi hoạt động Một số cơ sở, hệ thống xử lý bụi đã cũ,hỏng không hoạt động nữa Thậm chí, ở một số khâu như gầy năng vít tài, máy nghiền lãn, máynghiền hàm chưa có thiết bị xử lý bụi [23] Tại các cơ SỞ khai thác và chế biến đá, lượng bụi phátsinh nhiều nhưng chì có 28% nơi làm việc có hệ thống hút bụi [32] Tại các cơ sở này, các hệthống xử lý bụi tại chỗ thiếu hoặc đã hỏng, không hoạt động Hơn nữa khai thác và chế biến đáchủ yếu là làm việc ngoài trời, ô nhiêm bụi phụ thuộc rât nhiêu vào điêu kiện thời tièt nên các giảipháp kỹ thuật công nghệ rất khó áp dụng Ví dụ như tại công ty đá ốp lát xây dựng Bình Định(BISTOCO), trường Đại học Bách Khoa đã lắp đặt hệ thống cyclone xử lý bụi cho máy nghiền đáLiên Xô cũ, nhung sau một thời gian ngắn hệ thống này không hoạt động được [23]

Biên pháp cách ly: Những nguồn phát sinh nhiều bụi được che chắn, cách ly để hạn chế

bụi phát tán ra các công đoạn, bộ phận khác; hay công nhân nguy cơ được bảo hộ lao

Trang 31

23 động (BHLĐ), tránh tiếp xúc với bụi silic ờ nhiều quốc gia, bộ phận phun mài mòn làm sạch vật đúc được làm trong nhà kín, người điều khiển ở ngoài, tránh hoàn toàn với nguy cơ tiếp xúc bụi vật liệu và bụi vật đúc có hàm lượng silic tự do rất cao Điển hình là ở Hoa Kỳ, bất

-cứ khi nào thực hiện phun mài mòn, đều phải tiến hành bằng những máy móc làm phun mài mòn có rào chắn xung quanh hoặc được tiến hành trong một phòng riêng (cabin) Các thiết bị này cho phép người sử dụng chỉ phải đứng bên ngoài cabin, sử dụng các dòng vật liệu mài mòn bên trong với những bàn tay và cánh tay trong các bao găng kín [50],

ờ các nước, BHLĐ cũng được sử dụng nhằm giúp người lao động tránh tiếp xúc với bụisilic Mật nạ bảo vệ đường hô hấp hay các loại khẩu trang chống bụi, quần áo bảo vệ phù hợpđược sử dụng trong nhũng trường hợp công nhân bắt

buộc phải phơi nhiễm với bụi si lie

Bên cạnh đó, việc kiểm tra định kỳ khà năng lao động

của công nhân khi đeo khẩu trang, hay như kiểm tra,

làm sạch và bảo trì các thiết bị bảo vệ

đường hô hấp cũng được quan tâm [50; 51; 52],

Thiết bị mài mòn làm sạch di động: Mặc dù thiết

bị có sử dụng rèm để ngăn chặn tạm thời, giảm

bớt nguy hiểm cho công nhân và khu vực xung

quanh, tuy nhiên cấu trúc như vậy có thể bị rò rì và để một số lượng lớn mảnh vỡ bắn ra ngoài [50]

Tại Việt Nam, thiết bị điều khiển lò luyện thép khép kín đã được sử dụng ở một số cơ sở, nhưng chưa bao phủ được rộng Công nhân sử dụng thiết bị này được làm việc trong buồng kín, có máy điều hòa và chỉ ra ngoài vận hành lò khi cần thiết Một số hệ thống chưa được che chắn kín hoàn toàn nên bụi vẫn rò ri ra môi trường không khí như máy sàng rung,

máy nghiền lăn, máy nghiền bột xây dựng [23]

BHLĐ đặc trưng cho các ngành nguy cơ cao

(khai thác than, đá, sản xuất vật liệu chịu lửa ) bao

gồm cả khẩu trang và quần áo bảo hộ cũng được sử

dụng Tuy nhiên ờ nhiều cơ sở, công nhân không sử

dụng khẩu trang được phát hoặc sử dụng loại khấu trang

khác với lí do tiện dụng

Hình 8: Thiết bị mài mòn làm sạch di động

Nguồn: United States Department of Labour

Hình 10: Khẩu trang CT-2002 [23]

Trang 32

-24-hơn [23] Người lao động trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nếu sử dụng khẩu trang khôngthường xuyên, nguy cơ mắc bệnh BP-silic cao gấp 2,44 lần so với người thường xuyên sử dụng[17] Việc cung cấp phương tiện bảo hộ cá nhân cho người lao động không đủ về số lượng vàkhông đáp ứng được chất lượng, có cơ sở quy ra tiền hoặc tính trả vào sản phẩm để người laođộng tự trang bị [13] Gần đây phải kể đến nghiên cứu bệnh BP- silic trong công nhân khai thác

đá và thử nghiệm phòng chống bụi bằng khấu trang có hiệu suất lọc bụi cao của Nguyễn Duy Bảo

và cộng sự Từ kết quà nghiên cứu tại hiện trường đã tiến hành thử nghiệm đánh giá hiệu quả lọcbụi cùa khẩu trang mới CT-2002 tại Laba Ket quả, hiệu suất lọc bụi hô hấp của khẩu trang là 85 -87% lưu lượng 30 lít/phút và 44 - 46% ở lưu lượng 95 lít/phút, đáp ứng được yêu cầu lao động[27]

Biên pháp làm am: Những nơi bụi nhiều (bộ phận xay, nghiền, khoan ) được phun nước,

tưới ẩm Tại một mỏ khai khác than đá ở Trung Quốc, từ năm 1963, khi hoạt động phun ướt đượcthực hiện, đã không có trường hợp bệnh bụi phổi mắc mới nào [45]

Còn tại Việt Nam, các cơ sở sản xuất mới bước đầu tiến hành xử lý bụi bằng hình thức tướinước ở các khâu khai thác than, xay sàng đá Đặc điểm lao động trong các mò than hầm lò là nếukhai thác ướt, bụi tuy có giảm nhưng độ ẩm không khí trong hầm lò rất cao, nên cản trở quá trìnhtrao đổi nhiệt cùa cơ thể, công nhân nhanh chóng bị mệt mỏi Tại nhiều cơ sở sàn xuất đá, côngnhân không áp dụng biện pháp tưới nước vào đá vì đá cỏ lẫn rất nhiều đất cát, nếu tưới nước sẽlàm băng tải bị chét tẳc, rách băng tải, gây ngừng trệ dây chuyền sản xuất, làm hỏng máy; sànphẩm đá các loại bị chuyển sang màu đỏ khiến không the tiêu thụ được sản phàm, nhiêu nơi, nướccòn rất khan hiếm Điều này giải thích vì sao ở các cơ sờ khai thác đá, biện pháp phòng chống bụibằng khẩu trang nên được chú trọng đặc biệt [23]

Bên cạnh đó, tại Việt Nam hiện có một vài

nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào

công tác phòng ngừa bụi silic như nghiên

cứu ứng dụng phương pháp quang phổ hồng

ngoại biến đổi Fourier phân tích hàm lượng

silic tự do trong bụi hô hấp,

Hình 7: Một cơ sở khai thác than ở Trung Quốc

áp dụng biện pháp phun ướt trong quy trình

sản xuất

Nguồn: 1LO [45]

Trang 33

-25 - cho phép phân tích trên mẫu bụi hô hấp, phản ánh chính xác được hàm lượng sĩ lie tự do công nhân hít phải [26].

4.4.2 Biện phápy tế

Biện pháp y tế bao gồm các hoạt động tổ chức khám tuyển công nhân vào lao động trongnhững ngành nghề tiếp xúc với bụi silic nhiều để giảm nguy cơ mắc bệnh; hoạt động tổ chứckhám sửc khỏe định kỳ hàng năm và khám BNN - bệnh BP-silic theo đủng quy định giúp xếp loạisức khỏe, phát hiện sớm bệnh BP-silic và thực hiện chế độ đền bù cho công nhân mắc bệnh BP-silic

Bộ Y tế quy định rõ người lao động phải dược khám sức khỏe khi tuyển dụng Hàng năm,người lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề,tập nghề Người làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc BNN phải được khám BNN theo quyđịnh [1] Các bệnh chống chỉ định làm trong các ngành nghề nguy cơ như hầm lò, khai thácđá thường là các bệnh phổi và đường hô hấp trên, lao, dính màng phổi, khó thở, dị dạng lồngngực Phải tổ chức khám định kỳ hàng nâm hoặc 6 tháng một lần, đặc biệt đổi với công nhânphun cát đánh bóng, làm sạch, xay khoáng sản; và khám định kỳ BNN 12 tháng/lần đổi với cácđối tượng đã giám định bệnh BP-silic Đối vớỉ đối tượng khám phát hiện lần đầu BNN, thời gian

từ khi bắt đầu tiếp xúc đến khi khám tối thiểu là 36 tháng (thời gian toi thiếu 1 người có nguy cơmắc bệnh BP-silic)

4.4.3 Biện pháp hành chính

Biện pháp hành chính bao gồm hoạt động thường xuyên thanh tra, kiểm tra môi trườnglao động, các cơ sở sản xuất quy định bổ trí nơi làm việc gọn gàng, ngăn nắp, làm vệ sinh mặtbằng sản xuất thường xuyên

Trong hoạt động thanh tra, kiểm tra môi trường lao động, nhũng tiêu chuẩn liên quan tớibụi sỉlic là thiết yếu để giúp cho việc thống kê và đo lường nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động

Tổ chức ILO kết hợp với WHO liên tục ban hành các tiêu chuẩn liên quan tới bụi silic Năm

1992, hệ thống tiêu chuẩn MEL cho tinh thể silic kích thước hô hấp được giới thiệu và thay thểcho hệ thống OES trước đó Tiếp theo đó là hệ thống giá trị của WEL - giới hạn phơi nhiễm nơilàm việc (Workplace Exposure Limit) và được thông qua và thay thế [36],

Việt Nam cũng đã ban hành các tiêu chuẩn vệ sinh lao động về bụi siíic Tiêu chuẩn bụisilic được chia thành hai loại giá trị cần đo lường, đó là giá trị nồng độ tối đa cho phép bụi hạt và

giá trị nồng độ tối đa cho phép bụi trọng lượng (phụ lục 6)[2],

Trang 34

-26-Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, hệ thống giám sát chưa bao phùđược trên toàn quốc vì vậy báo cáo không đầy đủ về bệnh BP-silic là vấn đề hay gặp [55; 46; 73;75; 78], Tại Việt Nam, hoạt động này do trung tâm vệ sinh phòng dịch các tỉnh thành cũng nhưtrung tâm y tế các ngành tiến hành Theo quy định, các cơ sở sản xuât phải kiểm tra định kỳ vệsinh môi trường ít nhất 1 năm/1 lần [1] Theo số liệu báo cáo của các tỉnh và ngành đến hết tháng

12 năm 2008, tuy số cơ sở được giám sát kiểm tra có tăng (tăng gẩp 2 lần so với nãm 2007) nhưngcông tác này chưa bao phủ được tất cả các cơ sờ sản xuất nguy cơ trên toàn quốc dẫn tới báo cáo

về các vấn đề liên quan tới bệnh BP-silic là không đầy đủ Từ năm 2005 đến 2008, tỉ lệ số mẫuvượt tiêu chuẩn cho phép về bụi có giảm nhẹ, nhưng còn khá cao, sổ liệu cộng tích lũy cho thấy

bệnh BP-silic vẫn chiếm tỉ lệ cao trong các BNN (phụ ìục 9).

4.4.481 ện pháp truyền thông giảo dục sức khỏe

Truyền thông giáo đục sức khỏe cho người lao động và người sử dụng lao động (NSDLĐ) làbiện pháp không thể thiếu trong chương trình phòng chống bệnh BP-silic cho người lao động.Mục đích của truyền thông giúp cho người lao động và NSDLĐ nhận thức được các quy định về

an toàn vệ sinh lao động, nguy cơ mắc bệnh BP-silic khi người lao động làm việc trong môitrường cỏ bụi SiOí và các yểu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh, sử dụng BHLĐ trong quátrình làm việc và thực hiện đúng các nội quy, quy định khi làm việc, các nội dung liên quan đếnkhám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện BNN

Trên thế giới, tại Hoa Kỳ, hoạt động đào tạo, cung câp kiên thức vê các vân đê liên quan đenbệnh BP-silic cho người lao động được tiến hành song song với các nhỏm biện pháp phòng chổngkhác, như việc những người thợ phun cát mài mòn được hưởng dẫn rửa tay và mặt trước khi ăn,uống hoặc hút thuốc; không nên ăn, uống hoặc hút thuốc trong khu vực nổ mìn, tấm trước khi rờikhỏi nơi làm việc [50; 51; 52]

Tại Việt Nam, năm 2008, 5 viện trung ương và các địa phương đã tổ chức 70 lớp tập huấnnâng cao năng lực chẩn đoán, giám định BNN cho CBYTLĐ, an toàn vệ sính viên tại doanhnghiệp và CBYTLĐ tuyến tỉnh và tuyển huyện [7]

Bên cạnh đó, còn nhiều công nhân nhận thức chưa đầy đủ vể bệnh BP-silic, nhiều người còn

hi vọng bệnh này có thể chữa khỏi (19,13%) Nhiều cơ sở tự ý tắt hệ thống xử lý bụi để tiết kiệmnăng lượng; nhiều công nhân không đeo khẩu trang vì thấy vướng, khó lao động hay cho rằngkhông có tác dụng phòng chổng bụi [23],

Ngày đăng: 01/12/2023, 14:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Phim chụp phổi thế bệnh BP-silic mạn tính đơn thuần (ỉ) và xơ hóa khối tiến - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 3 Phim chụp phổi thế bệnh BP-silic mạn tính đơn thuần (ỉ) và xơ hóa khối tiến (Trang 15)
Bảng 2: Tổng hợp số liệu công nhân tiếp xúc theo ngành - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Bảng 2 Tổng hợp số liệu công nhân tiếp xúc theo ngành (Trang 18)
Hình 4: Một cư sở khai thác than ờ Trung Quồc - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 4 Một cư sở khai thác than ờ Trung Quồc (Trang 20)
Hình 5: Ngưòi phun cát mài mòn làm  luyện thép, sửa chừa máy xay nghiên, chỉ là việc trong không khí đầy hạt bụi cát SiO 2  175 trường hợp - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 5 Ngưòi phun cát mài mòn làm luyện thép, sửa chừa máy xay nghiên, chỉ là việc trong không khí đầy hạt bụi cát SiO 2 175 trường hợp (Trang 22)
Hình 9: Công nhân khoan đá làm việc bên - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 9 Công nhân khoan đá làm việc bên (Trang 29)
Hình 10: Khẩu trang CT-2002 [23] - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 10 Khẩu trang CT-2002 [23] (Trang 31)
Hình 8: Thiết bị mài mòn làm sạch di động - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 8 Thiết bị mài mòn làm sạch di động (Trang 31)
Hình 7: Một cơ sở khai thác than ở Trung Quốc áp dụng biện pháp phun ướt trong quy trình - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình 7 Một cơ sở khai thác than ở Trung Quốc áp dụng biện pháp phun ướt trong quy trình (Trang 32)
BẢNG PHÂN LOẠI QUểC TẾ CÁC BỆNH BỤI PHểI CỦA Tễ CHỨC ILO 1980 [72] - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
1980 [72] (Trang 47)
Hình mờ lởn - Luận văn tổng quan về các vấn đề liên quan đến bệnh bụi phổi silic tại việt nam và trên thế giới
Hình m ờ lởn (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w