PHƯƠNG PHÁP...7KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐÓI xử LIÊN QUAN ĐẾN HIV/AIDS...9 HIV/AIDS là gì?...9 Tình hình HIV/AIDS tại các nước đang phát triên...10 Quyền lợi của người nhiễm HIV/AIDS...10 Kỳ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỌNG
NGUYỀN MINH HOÀNG
TỐNG QUAN TÀI LIỆU VÈ KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI xử LIÊN QUANĐÉN HIV/AIDS TẠI cơ SỞ Y TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP cừ NHÂN
Hướng dẫn khoa học:
Tiến sĩ HÒ THỊ HIÊN
HÀ NỘI, 2008
Trang 2giáo viên đã trực tiếp hướng dần, hỗ trợ và đóng góp những ý kiến một cách nhiệttình và chu đáo trong suốt quá trình tôi thực hiện bài khóa luận Tôi cũng xin cám onban giám hiệu trường đại học Y Tê Cộng Cộng cũng như các cán bộ phòng đào tạo
đã hết sức tạo điều kiện cho sinh viên năm cuối được thực hiện khóa luận tốt nghiệprất thiết thực và bổ ích Tôi cũng hy vọng trong những năm sắp tới nhả trường sẽ tiếptục để sinh viên được thực hiện khóa luận với điều kiện tốt hơn nừa nhằm nâng caochất lượng đào tạo và uy tín của trường đại học Y Te Công Cộng
Tôi cũng xin cảm ơn những người dưới đây đã cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiếnquý báu cho bài khóa luận này:
• Bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh (Viện nghiên cứu phát triển xã hội)
• Nguyễn Thị Vịnh, cựu sinh viên KI trường đại học Y Tế Công Cộng (hiệnđang công tác tại Công ty Tư Vân Đâu Tư Y Tê)
• Nguyễn Vân Trang, cựu sinh viên K2 trường đại học Y Te Công Cộng (hiệnđang công tác tại bộ Y Tế)
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
«
CDC Trung tâm kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ
CSYT Cơ sở y tế
FHI Tổ chức Gia Đinh Thế Giới
ICRW Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nừ
INSP Học viện quốc gia về Y Te Công Cộng Mê-hi-cô
ISDS Viện nghiên cứu phát triển xã hội Việt Nam NACO Cơ quan kiểm soát AIDS quốc gia Án Độ UNAIDS Tổ chức của Liên Họp Quốc về HIV/AIDS UNFPA Quỳ dân sổ Liên Họp Quốc WHO Tổ chức Y Tế Thể Giới
Trang 4PHƯƠNG PHÁP 7
KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐÓI xử LIÊN QUAN ĐẾN HIV/AIDS 9
HIV/AIDS là gì? 9
Tình hình HIV/AIDS tại các nước đang phát triên 10
Quyền lợi của người nhiễm HIV/AIDS 10
Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS 11
Hậu quả của việc kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS 13
KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐÓI xử VỚI LIÊN QUAN ĐÉN HIV/AIDS TẠI CO SO V TẾ Ỏ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 15
Hình thức và mức độ kỳ thị 15
Các vấn đề liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/A1DS tại cở sở y tế 20
CÁC CAN THIỆP NHẰM GIẢM KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI xử VỚI BỆNH NHÂN HIV/AIDS TẠI co so Y TÉ 24
Thông tin chung về các can thiệp đã được tiến hành 24
Các can thiệp thực hiện nhàm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử 25
Kết quả và ý nghĩa của các can thiệp 29
Trang 5PHỤ LỤC 36
Phụ lục 1 Uớc tính số người trưởng thành và trẻ em đang sống với HIV năm 2007 36Phụ lục 2 Ước tính số người trưởng thành và trẻ em tử vong liên quan đến HIV nãm 2007 37
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7phân biệt đối xừ với những người không may mắc phải càn bệnh này Sự kỳ thị nàythường bắt nguồn từ sự kỳ thị đổi với mại dâm và tiêm chích ma túy - hai nhân tố lâytruyền HIV chủ yếu Đi cùng với đó là sự sợ hãi của cộng đồng với một căn bệnhchưa có phương pháp chữa trị hiệu quả Kỳ thị và phân biệt đối xử chính là một trongnhững rào cản lớn nhất đối với những nồ lực của cộng đồng nhằm ngăn chặn sự lâylan của đại dịch (Malcom và cộng sự 1998).
Theo báo cáo của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) và tổ chức Liên Hợp Quốc về HIV/A1DS (UNAIDS) năm 2007 hiện mồi ngày có khoảng 6.800 người bị nhiễm , 1
~ o Á HIV và trên 5.700 người tử vong vì AIDS, chủ yêu là do không được tiêp cận đây đủvới dịch vụ dự phòng và điêu trị HIV Nguyên nhân sâu xa cũng bat nguồn từ sự kỳthị và phân biệt đối xử từ nhiều phía đối với người có liên quan đến HIV/AỈDS Họ bị
-kỳ thị ở mọi nơi, ngay tại gia đình, cộng đồng dân cư cho đến nơi làm việc và ngay cả
Trang 8thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử Điều đó đã khiến cho các cá nhân ngần ngại khôngmuốn biết tình trạng HIV của minh (Kalichman và cộng sự 2006, Madan và cộng sự2006), không muốn tiếp cận các dịch vụ y tế và tuân thủ điều trị (Campell và cộng sự
2005, Mills 2006) cũng như thực hiện các biện pháp dự phòng (Kalichman và cộng sự2006) Các yếu tố này sẽ góp phần làm gia tăng tỷ lệ người nhiễm HIV vấn đề nàycàng nghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triến do bản thân ở các nước này sốngười mắc HIV/A1DS đã rất lớn, nhất là ở các nước châu Phi, châu A và Mỹ La tinh(Phụ lục 1 và 2), điều kiện chăm sóc và điều trị ở cơ sở y tế cũng như kiến thức vềHIV/AIDS của cán bộ y tế cũng như của người dân nói chung vẫn còn nhiều hạn chế(UNAIDS 2008) Một vấn đề nữa liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử với cácbệnh nhân HIV/AIDS ở các nước đang phát triến đó là
Trang 9Mục tiêu của bài viết này nhằm trình bày tổng quan những vấn đề liến quan đến sự kỳthị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại cơ sở y tế ở một số nước đangphát triến, đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa gây nên sự kỳ thị và phânbiệt đối xử đó Việc tác giả chỉ tập trung vào cơ sở y tế cũng nhằm mục đích đưa rađược cái nhìn sâu hơn và cặn kẽ hơn về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đen HIV/AIDS, vốn đang là một trong những rào cản lớn nhất trong việc hạn chê lây lan củađại dịch này Mục tiêu thứ hai của bài viết là nhằm tìm hiểu thành công và hạn chế củanhững can thiệp đã được triển khai nhàm giảm kỳ thị và phân biệt đổi xử vớiHĨV/AĨDS tại cơ sở y te của các nước đang phát triển Từ đó đề xuất những khuyếnnghị nhàm giải quyết tốt hơn vẩn đề này trong tương lai.
Trang 10PHƯƠNG PHÁP
Mục đích của bài viết là trình bày một cái nhìn tổng quan về vấn đề kỳ thị và phânbiệt đôi xử liên quan đến HIV/AIDS tại cơ sở y tế tài Tài liệu được sử dụng cho bàiviết sẽ là các tài liệu trong nước và quốc tế Các tài liệu được tìm kiếm trên các CO'
sở dữ liệu như POPLINE, MEDLINE, A1DSLINE với các từ khóa quan trọng sau:
Kỳ thị (stigma), phân biệt đối xử (discrimnation), thái độ và nhận thức với HIV/AIDS(attitude(s)/perception toward to HIV/AIDS), người hiện nhiễm HIV/A1DS (peopleliving with HIV/A1DS), cơ sở y tế (healthcare setting/hospital), cán bộ y tế(healthcare staff/workers), quản lý, chăm sóc và điều trị (management, care andtreatment), can thiệp (intervention), các nước đang phát triển (developing countries),tong quan (review) Một nguồn tài liệu khác cũng được sử dụng đó là các tài liệu củacác viện nghiên cứu, các trường đại học cũng như tài liệu của các tố chức phi chínhphủ như UNAIDS, FHI, POPULATION COUNCIL, HORIZONS, ICRW có liênquan đển vấn kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm H1V
Sau khi tìm được các tài liệu từ hai nguồn trên, tác giả lại tiếp tục tìm kiếm các tàiliệu nằm trong phần trong tham khảo của các tại liệu phù hợp đã được lựa chọn để cóthể mở rộng và tìm hiểu sâu về kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV/A1DS
Tiêu chuân chọn tài liệu:
Trang 11• Nội dung tập trung vào vấn để kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đenHIV/AIDS tại cơ sở y tế.
• Trinh bày được các đáp ứng/can thiệp để chống lại kỳ thị và phân biệt đối xữliên quan đến HIV/AIDS tại cơ sở y tế Ưu tiên các can thiệp có đánh giá cảtrước và sau can thiệp
• Uu tiên các tài liệu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS ở cácnước đang phát triến thuộc khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Châu Phi, Mỹ LaTinh
Trang 12• ưu tiên các tài liệu có bản đầy đù (full text), trong trường hợp cần thiết mới sửdụng các tài liệu chỉ có phần tóm tat (abstract) Tập trung các tài liệu liên quanđến tổng quan (review).
• Có nguôn gôc rõ ràng, đã được xuất bản, ưu tiên các tài liệu từ các cơ sở dữliệu, tô chức, các chuyên gia uy tín liên quan đến vấn đề
• Không lựa chọn các tài liệu là các bài báo trích dẫn trên các trang web, forum,chỉ lấy đó làm căn cứ để tìm kiếm các tài liệu liên quan
Ket quả tìm kiếm cho thấy số lượng tài liệu tập trung chú yếu ở các nước châu Phi(U-gan-da, Ni-giê-ri-a, Nam Phi, Tan-za-ni-a, Zam-bi-a), châu Á (chủ yếu là cácnước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Phi-líp-pin hay Nam Á như Ân Độ), Mỹ
La Tinh (Bra-xin, Mê-hi-cô) Có nhiều tài liệu là các báo cáo nghiên cứu đánh giá vàcác nghiên cứu can thiệp Sô còn lại là các bài tông quan, các tài liệu hội thào, cácbáo cáo hàng năm về kỳ thị và phân biệt đối xử tại các nước và một sổ luật và cáchướng dẫn thực hiện luật liên quan đến HIV/AIDS
Trang 13KỲ THỊ VÀ PHẤN BIỆT ĐỐI xử LIÊN QUAN ĐÉN
HIV/AIDS
HIV/A1DS là gì?
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" có nghĩa
là vi rút gây suy giảm miễm dịch ở người Vi rút này làm cho cơ thê suy giàm khánãng chống lại các tác nhân gây bệnh (UNAIDS 2003)
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome"
là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiệnthông qua các nhiễm trùng cơ hội, ung thư và có the dẫn đến tử vong (UNAIDS2003)
HIV có thể ỉây truyền qua những đường sau:
• Qua đường máu hoặc dịch cơ thể: Sử dụng chung dụng cụ tiêm chích hoặcdụng cụ tiêm chích xuyên qua da, ví dụ người nghiện chích ma túy sử dụngchung bơm kim tiêm Truyền máu hoặc các sản phẩm thương mại từ máu màkhông sàng lọc nhiễm HỈV
• Quan hệ tình dụng không an toàn với người nhiễm HIV, ví dụ quan hệ tình dụckhông an toàn với người có hành vi nguy cơ cao như phụ nữ mại dâm, ngườitình dục đồng giới nam
• Mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con từ trong bào thai, trong khi sinh nở và chocon bú
Trang 14Một lưu ý rằng HIV không lan truyền dễ dàng Trên thực tể loại virus này không tồntại được lâu khi tiếp xúc với không khí hoặc nước Phương thức lây truyền được mô
tả thông qua trao đoi máu hoặc dịch cơ the thường dễ bị hiếu nham nhất là ở các quốcgia đang phát triển (Busza 1999, ISDS 2004) Theo trung tâm kiểm soát bệnh dịchHoa Kỳ (CDC), việc lây truyền qua đường máu, dịch cơ thể trên thực tế có
Trang 15nghĩa ỉà HIV có thể lan truyền trong dùng chung bơm kim tiêm (chủ yếu ởđối tượng nghiện chích ma túy) với một người bị nhiễm hoặc ít phố biếnhơn là (hiện nay còn rất ít ở nhũng nước đã sàng lọc máu để tìm khángthể HIV) thông qua việc truyền máu hoặc nhũng yếu tố đông máu.
Tình hình HIV/AIDS tại các nước đang phát triển
Theo báo cáo của UNAIDS tháng 12 năm 2007, HIV/AIDS ở các quốc gia đang pháttriển vẫn đang là một vẩn đề đáng lo ngại và đòi hỏi cần có nỗ lực không chỉ củachính các quốc gia đó mà còn cần sự đáng kể hỗ trợ từ phía các tổ chức quốc tế và cácquốc gia khác trên thế giới Cận Sa-ha-ra Châu Phi vẫn là khu vực chịu ánh hưởngnặng nề nhất, với AIDS là nguyên nhân chính gây tử vong ỏ' khu vực này Tỷ lệ tửvong của khu vực này chiếm đến 76% tỷ lệ từ vong do AIDS trên toàn thể giới Mặc
dù tỷ lệ nhiễm HIV không biến động, việc tiếp tục xuất hiện những ca nhiễm mới vẫnkhiến số người ước tính đang sống với HIV ở đây lên đến khoảng 33,2 triệu Hơn 2/3người lớn (68%) và 90% trẻ em tại đây hiện nhiễm HIV Với khư vực Nam Phi, tổng
số các ca mới nhiễm và tử vong vì AIDS chiếm tới 32% so với toàn cầu Khu vựcNam Á và Đông Nam Á, tỷ lệ ước tính số người đang sống với HIV cũng lên đếnkhoảng 4 triệu, sổ tử vong do AIDS là khoảng 270.000 người (bao gồm cẳ người lớn
và trẻ em), ở khu vực Mỳ - La Tinh mặc dù tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV tăng với tốc độchậm song số người ước tính sống chung với HIV tại đây vẫn ở mức 1,6 triệu người
và so tử vong vào khoảng 58.000 người (UNAỈDS 2008)
Quyền lọi của người nhiễm HIV/AIDS
Theo qui định của pháp luật các quốc gia hiện nay, những người không may bị nhiễmHIV/AIDS, không phải là những người bị hạn chế hoặc bị tước quyền công dân, họ cóđầy đủ các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Ví dụ, theo luật phòng chong virút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người HIV/AIDS của chính phủ Việt Namhướng dẫn thi hành Pháp lệnh, người bị nhiễm H1V/AIDS có
Trang 16các quyên và nghĩa vụ như sau: Quyền được khám chữa bệnh, quyềnđược giữ bí mật; quyền không bị phân biệt đối xử; quyền tự quyết định xétnghiệm HIV/AIDS đồng thời phải có nghĩa vụ phòng ngừa, không lâytruyền bệnh tật cho cộng đồng Như vậy có thể thấy, theo luật định, đượcchăm sóc, điều trị, hỗ trợ vẫn luôn là quyền lợi chính đáng của người bịnhiễm HIV/AIDS Ngoài ra, không bị kỳ thị và phân biệt đối xử cũng là mộttrong những quyền lợi của những bệnh nhân HIV/AIDS Ớ Thái Lan, chống
kỳ thị và phân biệt đối xử là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầucủa chính phủ nhằm hạn chế sự lây lan của HIV và giám bớt những gì mànhững bệnh nhân AIDS phải chịu đựng do bệnh tật và kỳ thị từ phía cộngđồng (Chitwarakom, Tantisak 2002) Chính phủ các nước ở Châu Phi nhưNam Phi, U-gan-da, Zim-ba-bu-ê đã đưa ra khẩu hiệu trong chiến lượcphòng chống HIV/AIDS ở nước mình, đó là “Tất cả mọi người đều bìnhđẳng” Điều này có nghĩa là chống kỳ thị và phân biệt đối xử là việc tấtyếu trong việc phòng chống đại dịch HIV/AIDS đế đảm bảo quyền lợi của
không chỉ của người bệnh mà còn của cả cộng đồng (AIDS Law Project
2006)
Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS
Trước khi đi vào vẩn đề kỳ thị và phân biệt đối xửu liên quan đến HIV/A1DS thìchúng ta cần hiểu the nào là kỳ thị và phân biệt đối xử? Kỳ thị là một hình thức kiểmsoát xã hội bàng cách tách biệt những người bị coi là khác biệt so với “chúng ta”(những người “bình thường”) Thông thường sự khác biệt này có liên quan đen một sốhành vi hoặc đặc điếm về thể của một nhóm trong xã hội bị coi là “sai trái” hoặc “phiđạo đức” (Goffman 1963) Kỳ thị cũng có thể hiếu là coi người khác thấp kém honmình, cho là họ đã làm gi đó xấu hoặc sai trái Hành động kỳ thị là phán xét, cho rằng
họ đã vi phạm các chuẩn mực xã hội và đáng bị lên án, miệt thị, cô lập người đó vàcho ràng người đó nguy hiểm Nó được coi như là sự “mất thể diện đáng kể”, của một
cá nhân trong con mắt những người khác Kỳ thị dẫn đến phân biệt đôi xử - đối xửkhông công bằng với người bị coi là thấp kém hơn hoặc không đáng được tôn trọng.Phân biệt đối xử thường được coi là sự kỳ thị thể hiện bằng
Trang 17hành động - tức là hành vi xuất phát từ sự kỳ thị (Link & Phelan 2001).Ngoài ra, khi nói đến kỳ thị một số nhà nghiên cứu còn đề cập tới vấn đề
tự kỳ thị Tự kỳ thị là cũng là một dạng kỳ thị mà trong đó từ việc mộtngười bị cộng đồng kỳ thị, xa lánh đã dẫn đến việc tự bản thân cá nhân đóghét bỏ chính bản thân mình (Gerhard Falk 2001)
Có nhiều cách định nghĩa về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đển HIV/AIDS.Theo một số nhà nghiên cứu, kỳ thị được dùng trong HIV/A1DS gắn liền với việc gáncho một số cá nhân hoặc nhóm nào đó nhiễm HIV/A1DS mang “đặc tính không đángtin cậy” và do đó dẫn đến sự “dán nhàn” về mặt xã hội như là sự khác biệt hoặc lệchlạc (Link & Phelan 2001) Gần đây các học giả còn khuyến khích đặt kỳ thị và phânbiệt đối xử liên quan đến HỈV trong một khung vãn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế đểthấy rõ hơn được các nguyên nhân dẫn đển kỳ thị và phân biệt đối xử (Parker &Aggleton 2003)
Theo UNAIDS, một tổ chức hoạt động về HIV/AIDS rất uy tín của liên hợp quốc, kỳthị liên quan tới HIV/AIDS có thể được miêu tả là một “quá trình hạ thấp giá trị”(devaluation) của những người hoặc là có HIV/AĨDS hoặc là có mối quan hệ vớiHIV/AIDS Sự kỳ thị này thường bắt nguồn từ việc nhấn mạnh sự kỳ thị đối với mạidâm và tiêm chích ma túy - hai nhân tổ lây truyền HIV chủ yếu Phân biệt đoi xử tiếpnối sự kỳ thị và là sự đối xử không đúng và bất công đối với một cá nhân bị nhiễmHIV hoặc coi là bị nhiễm HIV (UNAĨDS 2001) Ở các nước nước như Nam Phi, TháiLan, Việt Nam, luật phòng chống HIV/AIDS đã đưa ra định nghĩa kỳ thị với ngườinhiễm H1V là thái độ khinh thường hay thiểu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghingờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIVhoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xalánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền củangười khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIVhoặc bị nghi ngờ nhiễm HĨV (Herek, Capitanio 1998; UNAIDS 2006)
Trang 18Như vậy có thể thấy phần lớn quan điểm của các nhà nghiên cứu đã định nghĩa rõràng và chỉ ra mối quan hệ không tách rời giữa kỳ thị với phân biệt đối xử trong vòngquay của HIV/A1DS Những người có HIV/AIDS hoặc liên quan đến sẽ là những đốitượng bị kỳ thị và phân biệt đối xử được hiểu như là “hình thức” hay “biêu hiện” của
sự kỳ thị Quan điếm này đong nhất với quan điểm được the hiện trong khái niệm về
kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS của UNAIDS Vì tác giả viết bàitổng quan này sử dụng khái niệm đó đế làm cơ sở phân tích các vấn đề liên quan
Hậu quả của việc kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS
Kỳ thị và phân biệt đối xử là một trong nhũng nguyên nhân chính dẫn đến sự lây lannhanh của vi rút HIV trong cộng đồng Kỳ thị và phân biệt đối xử sẽ làm cho ngườiHIV mặc cảm và che giấu tình trạng bệnh tật của mình, không dám tiếp xúc với cộngđồng Do đó những người nhiễm HIV/AIDS sẽ không thể tiếp nhận được các thôngtin, kiến thức và kỹ năng phòng bệnh cũng như sự giúp đờ, cảm thông cúa cộng đồng.Như vậy, họ sẽ không họp tác với chương trình phòng chong HIV/AIDS thậm chí còn
có những hành vi tiêu cực gây hại cho gia đình, xã hội và bản thân (UNAIDS 2001)
Hậu quả tiêp theo đỏ là việc khó tiểp cận, quản lý và dự báo số người nhiễmHIV/AIDS Những đối tượng có nguy cơ cao sẽ không tiến hành xét nghiệm do họ sợ
bị kỳ thị nếu bị phát hiện bị nhiễm HIV Tuy nhiên những đối tượng có nguy CO’ caonhư những đối tượng tiêm chích ma túy và hành nghề mại dâm cũng là đối tượng lâylan nhanh nhất (Hien Ho 2006) Như vậy việc thu thập sổ liệu sẽ trở nên khó khăn vàkhông phục vụ hiệu quả cho mục tiêu phòng chống HIV/AIDS, không những gây lãngphí về mặt tài chính và sức lực mà còn gây ra hậu quá lớn nhất đó là không ngăn chặnđược sự lây lan của đại dịch HIV (Chitwarakom, Tantisak 2002)
Trang 19Kỳ thị và phân biệt đối xử còn làm giảm vai trò cúa gia đình, cộng đồng trong việcphòng chống HIV/AIDS bởi người bệnh nếu không được các đối tượng này chăm sóc,động viên, hỗ trợ mà xa lánh, hắt hủi sẽ làm cho họ mat het niềm tin và be tắc (ICRW2002) Điều này lại một lần nữa góp phần hạn chế hiệu quả của những nỗ lực nhămngăn chặn bệnh dịch nguy hiêm này (Tanzania Stigma Indicators Filed Testing Group2005)
Trang 20NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Hình thức và mức độ kỳ thị
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy cho đến hiện nay tinh trạng kỳ thị và phân biệt đối xử vớibệnh nhân HIV/AIDS tại các cơ sở y tế vẫn đang diễn ra với nhiều hình thức, mức độ, ởnhiều khâu và liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau Sự biểu hiện của nó có thê mang tính
hệ thống hoặc cá nhân với mức độ nhiều hay ít, bộc lộ “kín đáo” hay “mở” Kỳ thị “kínđáo” thường liên quan đến việc yêu cầu bệnh nhân xét nghiệm theo cảm tính của cán bộ y tểhoặc xử lý riêng đồ dùng của bệnh nhân HIV mà không cho họ biết Kỳ thị “mở” thường làviệc thể hiện rõ sự kỳ thị đối với bệnh nhân như việc xếp nằm riêng giường bệnh hoặc đánhdấu hồ sơ (Hải Oanh, Đức Mục, Ross Kidd 2008)
Bảng 1 kỉ' dụ về kỳ thị “mở” và “kín đáo ” theo mức độ hệ thống và cả nhãn
Trang 21I Xác của bệnh nhân có HIVphải cho vào 2 lần túi nylon vàdán nhãn
Trang 22- Miệt thị bệnh nhân - Xét nghiêm HIV không có sự
- Bàn tán sau lưng bệnh nhân
Nguồn: Tìm hiếu sự kỳ thị và phản biệt đổi xử liên quan đến HIV/AIDS
(Khuất Thu Hồng, Nguyễn Vân Anh & Jessica Ogden 2004)
Trong các khâu chăm sóc và điều trị bệnh nhân HIV/AIDS thì việc kỳ thị và phân biệt đôi
xử thế hiện trước hết ở việc giữ không giữ bí mật kết hay tiết lộ quả xét nghiệm hoặc tìnhtrạng bệnh của người đó khi chưa được sự đồng ý của họ Ở trang bên là mô hình của sự kỳthị và phân biệt đối xử trong các khâu xét nghiệm; chăm sóc điều trị và phòng ngừa phổ cậpcho bệnh nhân HIV/AIDS tại cơ sở y tế theo các nghiên cứu ở các nước đang phát triển Đó
là kết quả nghiên cứu của Joanna Busza năm 1999 vê vân đê kỳ thị và phân biệt đổi xử vớiHIV/AIDS tại các nước Đông Nam Á
Trang 23Nguồn: Kỳ thị và phân biệt đổi xử với HIV/AIDS tại các nước Đông Nam Ả
Trang 24bí mật về kết quả xét nghiệm của những người nhiễm HIV đồng thời họ cũng nhận được sự
tư vấn không đáng kể kể cả trước và sau quá trình xét nghiệm (Thi, Giang, Dolby, Bain &Mandle 2001) Kết quà nghiên cứu cùa Emma Conners ở Zambia một nước có tỷ lệ nhiễmHIV khá cao ở Châu Phi, trên đối tượng là các phụ nữ mang thai, cho thấy nhiều đối tượngnghiên cứu rất sợ xét nghiệm HIV vì kết quả xét nghiệm thường không được giữ kín(Conners 2006) Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ mà còn ảnhhưởng đến những đứa trẻ nếu mẹ nhiễm HIV của chúng không được tư vấn và chăm sócđúng cách Không nhũng vậy, có trường họp các cán bộ y tế do nghi ngờ bệnh nhân có thểnhiễm HIV theo ý kiến chủ quan của bản thân đã lấy máu của bệnh nhân đó đi xét nghiệm
và không hề tư vấn cho họ Các cán bộ y tế chỉ nói rằng họ lấy máu để xét nghiệm viêm gan
B chứ không phải là xét nghiệm HIV Điều này vừa trái với quy định của bộ y tế các nước làchỉ bãt buộc xét nghiệm với những trường hợp có hành vỉ nguy cơ cao và phải được tư vấntrước xét nghiệm (Jessica Ogden & Laura Nyblade 2005, Phạm Trí Dũng 2007)
Việc không giữ bí mật cho bệnh nhân còn thể hiện ở việc đánh dấu hồ sơ, bệnh án hay sốgiường hoặc quần áo của bệnh nhân (Khuất Thu Hồng và cộng sự 2004, Banteyerga và cộng
sự 2005) Các nghiên cứu ở Việt Nam, Nam Phi và Mê-hi-cô cũng chỉ ra rang kỳ thị và phânbiệt đối ở việc sử dụng quá mức và không hợp lý các phương tiện bảo hộ lao động như găngtay, khẩu trang và kính bảo hộ của nhân viên y tê trong khi tiếp xúc với bệnh nhân HIV(Kalichman và cộng sự 2005, Hải Oanh và cộng sự 2008) Ket quả nghiên cứu cho thấytrong số những người thừa nhận nỗi sợ lây nhiễm có ảnh hưởng đến cách tiếp xúc cúa họvới bệnh nhân, 42% trong số này đã được xác nhận là sử dụng quá mức cần thiết cácphương tiện bão hộ (luôn mang nhiều găng tay, khẩu trang hoặc kính bảo hộ khi tiếp xúcvới bệnh nhân có HIV) Đồng thời, tỷ lệ bệnh nhân HIV bị đánh dấu giường bệnh lên đếngần 50% trong nghiên cứu cũng cho thấy đây là một hành động kỳ thị và phân biệt đối xửthường diễn ra ở các bệnh viện Một nghiên cứu ở Ấn Độ thì lại cho thay việc phân
Trang 25biệt loại hồ sơ bệnh án, đồ vải của bệnh nhân là khá phố biến với 69% nhân viên y tè trongnghiên cứu này đã trả lời rằng họ thường xuyên làm như vậy đối với các bệnh nhân HIV.Việc phân loại được biện luận là “bảo vệ” các nhân viên và bệnh nhân khác khỏi bị lâynhiễm, mặc dù đây là cách khiến cho bệnh nhân biết về tình trạng HIV của mình và củangười khác Điều này sẽ tạo ra tâm lý ỉo sợ và kỳ thị đối với người có HIV không những củacác nhân viên y tế mà của của cả các bệnh nhân khác (Vaishali và cộng sự 2006) Một dấuhiệu nữa liên quan đến kỳ thị và phân biệt đôi xử với bệnh nhân HĨV là việc một vài cơ sở y
tế xêp họ vào khoa riêng, phòng riêng Điều này sẽ làm cho các cán bộ y tế cũng như bệnhnhân khác biết được tình trạng nhiễm HIV của họ Ket hợp với việc sợ hãi và thiểu kiênthức vê H1V và cách úng xừ cùa cán bộ y tể, điều này một lần nữa lại làm gia tăng kỳ thị vàphân biệt đối xử với bệnh nhân HIV Hải Oanh và cộng sự 2008)
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy dấu hiệu nữa trong kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV ở cơ
sở y tế đó là việc các cán bộ và nhân viên y tế lảng tránh hoặc từ chối tiếp XÚC, chăm sóc
và điều trị cho bệnh nhân (Banteyegra và cộng sự 2005, ICRW 2006) Trong phần lớnnghiên cứu các tác giả đã chỉ ra rang bệnh nhân HIV thường cảm thay bị kỳ thị và phân biệtđối xử nhất là vào lần đầu khi họ mới bị phát hiện nhiễm HIV Thái độ của một số nhân viên
y tế thường thay đối và có ý gì đó “không muốn tiếp xúc”, tỏ ra “lạnh nhạt” với họ hoặc một
số cán bộ y tế còn tìm cách chuyến bệnh nhân HIV cơ sở y tế khác Điều này diễn ra khithông tin về tình trạng nhiễm HỈV của bệnh nhân không được giữ kín và đặc biệt càng dễxảy đến đối với các bệnh nhân là người nghiện chích ma túy hoặc mại dâm Việc kỳ thịtrong trường họp này liên quan chủ yếu đển quan niệm, sự phán xét tiêu cực của các nhânviên y tế về mặt đạo đức của các bệnh nhân HIV Nghiên cứu ở Bốt-swa-na còn chỉ ra một
sô trường họp các nhân viên y tế không chăm sóc mà đe cho người nhà bệnh nhân HIVchăm sóc họ (Askarian, Hashemi, Jaafari, Assadian 2003), Hiện tượng này cũng được báocáo ở một số nghiên cứu ở Mê-hi-cô (Luna, Morrison 2004), Ni-giê- ri-a (Odimegwu 2003),một số nước Đông Nam Á (Busza 1999)
Trang 26Ngoài ra các dấu hiệu khác trong kỳ thị và phân biệt đối xử với bệnh nhân HIV còn thê hiện
ở việc từ chối chi trả thuốc điều trị HIV và được điều trị theo chế độ bào hiểm y tế Ờ một
số nước như Việt Nam, Thái Lan luật phòng chống HIV của các nước này đã có quy định vềviệc sử dụng bẳo hiểm y tế chi trả một phần cho việc điêu trị của bệnh nhân HIV Việckhông thực hiện quy định này của các cơ sở y tê là trái luật và vi phạm quyền lợi của bệnhnhân HIV (UNAIDS 2006)
Các vân đê liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đen HIV/AIDS tại cở sỏ’
y tế
Kiên thức vê phòng chông HỈV và CU’ xử với bệnh nhãn
Theo nghiên cứu của Khuất Thu Hồng và cộng sự thực hiện năm 2004, vấn đề nối lên hàngđầu của sự kỳ thị và phân biệt đối xử tại cơ sở y tế đó là nỗi lo sợ bị lây nhiễm qua tiếp xúcthông thường do thiếu hiểu biết hoặc đôi khi do biết những thông tin không đầy đủ về cáchlây truyền Sự lo sợ dạng này khá phố biến trong cộng đồng và trong hệ thống y tế Tương
tự, các nghiên cứu ở Ni-giê-ri-a (Odimegwu 2003) và ở Mê-hi-cô (Luna, Morrison 2004)đều cho thấy thái độ sợ lây nhiễm trong đội ngũ các cán bộ y tế tồn tại ở mức độ cao Nhữngthái độ này chủ yếu bắt nguồn từ sự thiếu kiến thức về cách thức lây truyền HIV và thựchành trong phòng ngừa phổ cập Kiến thức ở đây được nói đến là cả kiến thức và chuyênmôn y tể cũng như kiến thức về ứng xử, bảo mật thông tin cho bệnh nhân, về chuyên môn,không phải tất cả các nhân viên y tế trong các cơ sở điều trị HIV đều hiên biết đầy đủ về cănbệnh này Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số nhân viên y tế quá sợ lây nhiễm HIV màkhông biết rằng nguy cơ lây H1V qua các dụng cụ y tế như việc bị kim tiêm đâm thấp hơnnhiều so với một số bệnh nguy hiểm và chưa có phương thức điểu trị hữu hiệu như viêm gan
B Tỷ lệ này ở HỈV 0,3% trong khi đó ở viêm gan B là 22 - 40% (Hải Oanh, Đức Mục2008) về kiến thức về ứng xử, bảo mật thông tin cho bệnh nhân, các nhân viên y tế thườngkhông được đào tạo hoặc tập huấn về ứng xử và tiếp xúc với bệnh nhân Các nhân viên y tếthường cảm thấy không thoải mái khi điêu trị và chăm sóc bệnh nhân HIV Hầu như chỉ cócán bộ
Trang 27quản lý là được tập huân vê mặt này trong khi các y tá hay điêu dưỡng viênmới là người trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân HIV (ICRW 2002) Điều này là mộtmâu thuẫn cần sớm có thay đổi và điều chỉnh để đẩy lùi kỳ thị và phân biệt đối
xử ở cơ sở y tê Trong một nghiên cún thực hiện tại U-gan-đa , hơn một nửa(54%) y tá được hỏi đã có nhận định không chính xác rằng HIV có thể lâytruyền qua tiếp xúc với nước bọt và 51% cho rang tiểp xúc thông thường vớinhững người có HIV có thể khiển họ có thể lây nhiễm HIV (Kerry, Margie 1996).Các nghiên cứu ở Ni-giê- ri-a và Việt Nam đã chỉ ra ràng các cán bộ y tế cảmthấy họ có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV cao hơn so với người khác và bệnhkhác do phải tiếp xúc nhiều với bệnh nhân và bệnh phẩm của họ (Hải Oanh vàcộng sự 2008, Odimegwu 2003)
Thải độ liên quan đến quan niệm xã hội
Một vấn đề khác đáng nói là việc gắn HIV với tiêm chích ma túy và mại dâm Những hành
vi này được coi là các “tệ nạn xã hội” và bị coi là phi đạo đức trong xã hội Nghiên cứu củaMwambu thực hiện năm 1998 ở Tan-zani-a trên đổi tượng là các nữ y tá và cán bộ ký thuậtphòng xét nghiệm cho thấy 35% số này nhận định rằng những bệnh nhân H1V đáng bị bịtrừng phạt như vậy vì những hành vi sai trái của họ Còn ở Mê-hi-cô, khoảng 3/4 số cán bộ
y tế được khảo sát có suy nghĩ rằng những người có HIV phải tự chịu trách nhiệm (“có tội”)
vì đã có HIV (INSP 2004) Tại Việt Nam, nghiên cứu của Khuất Thị Hải Oanh tiến hànhtrên các bệnh viện điều trị HIV/AIDS ở Quảng Ninh, Hải Phòng và cần thơ cũng chỉ ra ràng
có hơn 90% nhân viên bệnh viện đồng ý với nhận định “Chính đàn ông chơi bời lãng nhăng,gái mại dâm và người sứ dụng ma túy là nguyên nhân chính làm lây truyền HIV ra cộngđồng” Có 34% trong số họ cho rằng sẽ cảm thấy xấu hổ nếu bị nhiễm HIV và gần một nửa(46%) sẽ cảm thấy xấu hổ nếu có người trong gia đình bị nhiễm HIV Điều này cho thấy cómối liên quan chặt chẽ giữa HIV/AIDS, nghiện chích ma túy, mại dâm và tệ nạn xã hộitrong suy nghĩ của mọi người, chứ không chỉ của cán bộ y tế Điều này đã được Mehrdad vàcộng sự khẳng định trong nghiên cứu của họ tiến hành tại I-ran năm 2003 khi tác giả phântích rang đó là một tam
Trang 28giác kỳ thị đã tồn tại nhiều năm ngay từ khi đại dịch HIV xuất hiện Thực tế lànhững người nghiện chích ma túy và hành nghề mại dâm là những nhóm cónguy cơ cao mắc phải căn bệnh này, tuy nhiên đó không phải là lý do đe ketluận là họ “có tội” hay “đáng bị trừng phạt” (Khuất Thị Thu Hồng và cộng sự
2004, Hien Ho 2006) Điều này cũng được đề cập đến trong một nghiên cứutồng hợp về tình hình kỳ thị và phân biệt đối xử tại 3 nước châu Phi Theo đó,những đối tượng là nghiên chích ma túy, hành nghề mại dâm thường bị kỳ thịgay gắt hơn hay nói cách khác là khó được cảm thông hơn so với nhũng ngườicũng nhiễm HĨV/AIDS nếu là phụ nữ, trẻ em hay cán bộ y tể (ICRW 2002)
Quy chê bệnh viện phòng chống HIV/AIDS
Bên cạnh đó, việc không xây dựng quy ước Cơ sở Y tế An toàn và Thân thiện cũng làm giatăng kỳ thị và phân biệt đối xử với bệnh nhân HIV Ọuy ước này là do chính các nhân viên
và cán bộ bệnh viện xây dựng nhằm tập hợp kiến thức và kỹ năng về HIV, phòng ngừa phocập cũng như việc ngăn chặn kỳ thị và phân biệt đổi xử tại cơ sở y tế (UNAIDS 2001) Theonghiên círu của Joana Busza ở các nước Đông Nam Á năm 1999, việc thiếu các quy ước nàyxuất phát từ khả năng quán lý của các bệnh viện, đồng thời việc triển khai các quy định từtrên xuống còn nhiều khâu vướng mắc nên càng gây khó khăn cho quá trinh thực hiện côngviệc này Các nhà nghiên cứu cho răng nêu có được quy ước Cơ sở Y te An toàn và Thânthiện sẽ góp phan thúc đấy chất lượng chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân HIV(Aggleton, Parker, Mirima, Maluwa 2003; Odimegwu 2003) Quy ước đó sẽ giúp cho việccác cán bộ y tế cũng như bệnh nhân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ cùa mình Từ đó
họ sẽ cùng nhau hợp tác để nâng cao công tác chăm sóc và điều trị H1V Điều đó đôngnghĩa với việc đây lùi sự kỳ thị và phân biệt đối xử và xa hơn nữa là việc ngăn chặn sự lâylan của đại dịch HỈV/A1DS (UNAIDS 2001)