1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tổng quan tài liệu thực trạng bạo hành với nhân viên y tế và một số tác động của bạo hành nơi làm việc đối với nhân viên y tế

50 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Tài Liệu Thực Trạng Bạo Hành Với Nhân Viên Y Tế Và Một Số Tác Động Của Bạo Hành Nơi Làm Việc Đối Với Nhân Viên Y Tế
Tác giả Trần Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS.BS Nguyễn Ngọc Bích
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 277,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

số liệu của Cục Thống kê Lao độngHoa Kỳ, số vụ bạo hành đổi với nhân viên y tế NVYT tại nơi làm việc chiếm khoảng10,2% tổng số vụ bạo hành tại nơi làm việc và có xu hướng ngày càng gia t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG

TRÂN THỊ THANH HUYÊN

Tông quan tài liệu

THỰC TRẠNG BẠO HÀNH VỚI NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SÓ TÁC ĐỘNG CỦA BẠO HÀNH NƠI LÀM VIỆC ĐÓI VỚI NHÂN

VIÊN Y TẾTIẺƯ LUẬN TÓT NGHIỆP củ NHÂN Y TÉ CÔNG CỘNG

Hướng dẫn khoa học: TS.BS.Nguyễn Ngọc Bích

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

Lòi cảm Oil

Lời đầu tiên em xin được cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô trường Đại học

Y tế công cộng đã mang đến cho các thế hệ sinh viên chúng em một môi trường họctập thật tuyệt vời - một ngôi trường lành mạnh và vô cùng thân thiện Em rất tự hàomình được là sinh viên của trường trong suốt 4 năm học qua

Trong quá trình học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Y tế công cộng,

em đã được học hỏi và biết thêm nhiều kiển thức về lĩnh vực y tế công cộng cũng nhưcác kiến thức xã hội khác Em rất biết ơn các thầy cô trong trường đặc biệt là các thầy

cô trong track Sức khỏe Môi trường - Nghề nghiệp đã giảng dạy rất nhiệt tình chochúng em không chỉ là những bài học lý thuyết trên lóp mà còn chia sẻ kinh nghiệmthực tiễn, hướng dẫn chúng em bài học thực địa tại cộng đồng

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn của em - TS.BSNguyễn Ngọc Bích Cô đã giúp đỡ và động viên em rất nhiều để em hoàn thành khóaluận tốt nghiệp của mình Sự chỉ bảo tận tình và những góp ý của cô cho bài tổngquan đã giúp em hiểu sâu hơn kiến thức về vấn đề sức khỏe này

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đỉnh, bạn bè đã luôn ở bên, ủng hộ

và giúp đỡ em trong suốt chặng đường học tập của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Trần Thị Thanh Huyền

Trang 3

MỤC LỤC:

Lòi cảm ơn i

Danh mục từ viết tắt iv

ĐẶT VÁN ĐÈ 1

MỤC TIÊU 2

TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2

1 Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu: 2

• • • 2 Phưong pháp thu thập tài liệu 3

3 Kết quả thu thập - Quản lý tài liệu 3

KÉT QUẢ 4

1 Một số khái niệm 4

1.1 Bạo hành và bạo hành tại noi làm việc 4

* • • • 1.2 Môi trường lao động và điều kiện làm việc của nhân viên y tế 5

1.3 Tính chất công việc của nhân viên y te 6

2 Thực trạng của vấn đề bạo hành ở nhân viên y tế 7

2.1 Thực trạng bạo hành với NVYT tại nơi làm việc ở một số quốc gia 7

2.1.1 Tỷ lệ bạo hành với NVYT tại nơi làm việc 7

2.1.2 Các loại bạo hành với NVYT tại nơi làm việc 9

2.1.3 Đặc điếm của đối tưọng bạo hành 11

2.2. Thực trạng bạo hành với NVYT ờ Việt Nam 12

3 Các yếu to liên quan đến bạo hành tại cơ sở y tể 14

3.1 Yeu tố cá nhân 14

3.1.1 Nhóm đối tượng gây bạo hành 14

3.1.2 Nhóm nhân viên y tế 16

3.2 Yeu tố môi trường làm việc 18

3.3 Yeu tố liên quan đến cơ sở y tế 20

3.4 Yếu tố xã hội 22

3.5 Các yếu tố khác 24

Trang 4

4 Các tác động của bạo hành 24

4.1 ĐốivớiNVYT 25

4.1.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe thế chất 25

4.1.2 Ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần 25

4.1.3 Ảnh hưởng đến năng suất lao động 27

4.2 Đoi vói người bệnh 27

4.3 Ảnh hưởng khác 29

KÉT QUẢ VÀ KHUYÊN NGHỊ 31

Trang 5

Danh mục từ viết tắt

NISOH Viện Sức khỏe và an toàn Nghề nghiệp Hoa Kỳ

SWE Hướng dẫn sức khỏe và an toàn nghề nghiệp của Thụy Sĩ

OSHA Quản lý sức khỏe và an toàn lao động Hoa Kỳ

CAL Hướng dẫn đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng của Bộ

an toàn và sức khỏe nghề nghiệp CaliforniaACT Hướng dẫn về bạo hành tại nơi làm việc của úc

Trang 6

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các loại bạo hành tại 4 khu vực (Anglo, Châu Á, Châu 9 Âu và Trung Đông)

Bảng 1: Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng 10 dẫn của ILO,ICN, WHO và PSI

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐÈ

Bạo hành tại nơi làm việc là một vấn đề đáng chủ ý trong lĩnh vực chăm sócsức khỏe đối với các quốc gia trên toàn thế giớỉ số liệu của Cục Thống kê Lao độngHoa Kỳ, số vụ bạo hành đổi với nhân viên y tế (NVYT) tại nơi làm việc chiếm khoảng10,2% tổng số vụ bạo hành tại nơi làm việc và có xu hướng ngày càng gia tăng [75].Các sự cố bạo hành khiển NVYT có khả năng bị thương và cần thời gian nghỉ việc gấpgần 4 lần so với những nhân viên thuộc khối ngành tư nhân khác [44], NVYT là đốitượng có nguy cơ cao bị bạo hành tại nơi làm việc

Tình trạng bạo hành NVYT tại nơi làm việc được báo cáo khác nhau giữa cácquốc gia Tùy thuộc vào loại bạo hành cự thể được đo lường, nơi làm việc, quốc gia

mà nghiên cứu được tiến hành, ước tính tỷ lệ NVYT bị bạo hành tại nơi làm việc có sựchênh lệch giữa các nghiên cửu Hiệp hội Y khoa Ấn Độ (IMA) báo cáo rằng 75% cácbác sĩ nước này phải đối mặt với bạo hành thể chất hoặc lời nói trong suốt cuộc đờicủa họ và nạn bạo hành NVYT đang gia tàng ở quốc gia này [80] Một khảo sát ởTrung Quốc năm 2017 cho kết quả 595 trong số 886 điều dưỡng tham gia khảo sát(67,2%) tiếp xúc với các mức độ bạo hành khác nhau Các sự việc bạo hành có mốitương quan với các hậu quả như sự lo lắng và trầm cảm (P <0,01) của các nhân viên[41], Tại Việt Nam, từ năm 2017 đến nay các vụ tấn công NVYT liên tiếp xảy ra được

Trang 8

công luận đưa tin đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đe dọa đến tínhmạng của các thầy thuốc.

Bạo hành nơi làm việc cũng như nạn bạo hành nói chung đã đe lại nhiều hậuquả về thể chất cũng như sức khỏe tinh thần đổi với các nạn nhân Nhiều nghiên cứutrên thế giới đã chỉ ra rằng hậu quả cùa bạo hành nơi làm việc không chỉ ảnh hưởngđến cá nhân NVYT mà còn tác động đến các tổ chức và xã hội [72] Vì vậy, mục tiêucủa bài tổng quan này này nhằm xem xét các tài liệu trong và ngoài nước để tìm hiểu

về vấn đề sức khỏe nghề nghiệp của người lao động, cụ thể là bạo hành với NVYT tạinơi làm việc

Trang 9

MỤC TIÊU

1 Mô tả thực trạng bạo hành đối với nhân viên y tế tại nơi làm việc

2 Xác định một số yếu tố liên quan tới bạo hành với nhân viên y tế tại nơi làm

việc

3 Mô tả một số tác động của bạo hành tại nơi làm việc đối với nhân viên y tế

TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Các tài liệu được sử dụng trong báo cáo tổng quan này được lựa chọn và tổng hợp,

- Nội dung:

Các tài liệu có đề cập đến một trong các vấn đề sau: thực trạng bạo hành nhân viên y

tế tại bệnh viện, các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế; các yếu tố liên quan đến bạo hành;chủ đề bạo hành tại nơi làm việc; sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế

- Lựa chọn nguồn của tài liệu:

- Chỉ sử dụng các tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy như báo cáo của các

tổ chức quốc tế uy tín, bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nghiên cứu của cánhân/tổ chức đã được công bố/xuất bản

- Nguồn tài liệu Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt

- Các báo cáo nghiên cứu khoa học, tài liệu đăng báo/tạp chí, ưu tiên sử dụng cáctài liệu trong 10 năm trở lại đây (từ năm 2008 trở đi) Đối với các sách chuyên

Trang 10

- ngành, giáo trình, tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài thì khônggiới hạn thời điểm xuất bản.

2 Phương pháp thu thập tài liệu

- Tìm kiếm các tài liệu bằng các từ khóa:

- Tài liệu Tiếng Việt: bạo hành, nhân viên y tế, sức khỏe nghề nghiệp, thực trạng

bạo hành, yểu tố liên quan đến bạo hành

- Tài liệu Tiếng Anh: violence, workplace violence, violence against health

workers, guidelines for preventing violence

- Nguồn tài liệu:

- Tài liệu trực tuyến từ các cơ sở dữ liệu: Hinari, Pubmed Và một số trang web

do nhà xuất bản điều hành như ScienceDirect, BioMed Central

- Tham khảo thông tin từ các trang Web: WHO, Occupational Safety and Health

Administration (OSHA), International Labour Organization (ILO), U.S Bureau

of Labor Statistics (BLS)

- Các thông tin về thực trạng bạo hành ở Việt Nam được lấy từ nguồn: cổng

thông tin điện tử của Bộ Y tế, Cục quản lí môi trường y tế, cổng thông tin của

sở y tế, tỉnh

- Các nghiên cứu, bài báo, báo cáo tài liệu hội thảo trích dẫn từ các tạp chí

chuyên ngành

- Luận văn, luận án: nguồn thư viện Trường Đại học Y tế công cộng

3 Kết quả thu thập - Quản lý tài liệu

- Bài tổng quan tìm kiểm được tổng cộng 82 tài liệu trong và ngoài nước chủ yếu

là các tài liệu trực tuyến

- Các tài liệu sử dụng trong bài được quản lý bằng phần mềm Endnote X8

Trang 11

KẾT QUẢ

1 Một số khái niệm

í.í Bạo hành và bạo hành tại noi làm việc • • • •

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “Bạo hành” ỉà việc sử dụng sức mạnh thể chất có chủ ý nhằm đe dọa hoặc thực chất chống lại bản thân, những người xung quanh hay chống lại một nhóm người hoặc cộng đồng; có khả năng cao gây thương tích, thậm chí tử vong; gây tổn hại về mặt tâm lý, làm hạn chế sự phát triển hoặc bị tước đoạt [46]

Hiện nay, định nghĩa bạo hành tại nơi làm việc không được sử dụng nhất quán trong các tài liệu y văn bởi tình trạng bạo hành nơi làm việc khác nhau ở mỗi một quốcgia, với từng khía cạnh ngành nghề thì việc mô tả vẩn đề bạo hành là khác nhau “Bạo hành tại nơi làm việc” được Viện An toàn và Sức khỏe Nghề Nghiệp quốc gia Hoa Kỳ(N1OSH) xác định bởi những hành vi dùng từ ngôn ngữ xúc phạm

Trang 12

hoặc hành vi đe doạ tới tính mạng con người Nó bao gồm việc hành hung và đe dọa nhằm vào những người làm việc hoặc đang làm nhiệm vụ Bạo hành bao gồm: 1) Các mối đe dọa: Là biểu hiện của ý định gây hại, bao gồm các mối đe dọa qua lời nói, cử chỉ hành động hay đe dọa dưới hình thức văn bản; 2) Các cuộc bạo hành thế chất khác nhau: từ tát, đánh đập đến hãm hiếp, sử dụng vũ khí như sủng cầm tay, bom, hoặc dao thậmchí là giết người [33],

1.2 Môi trường lao động và điều kiện làm việc của nhân viên y tế

M.R Dal Poz và cộng sự thuộc Sở nhân lực Y tế (WHO) dựa trên cơ sở dữ liệu

mà họ thu thập được; ước tính có tổng cộng 59,2 triệu NVYT trên toàn thế giới Trong

đó ước khoảng 39,5 triệu NVYT cung cấp các dịch vụ y tế trực tiếp và hơn 19,5 triệungười bao gồm nhân viên quản lý và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Khu vực Canada vàHoa Kỳ chịu 10% gánh nặng bệnh tật toàn cầu nhưng có khoảng 37% NVYT trên thếgiới sống ở đó và hơn 50% nguồyn tài chính của thế giới để dành cho y tế Châu Âucũng có tỷ trọng không tương xứng về tài nguyên nhân lực và tài chính của thế giớiđối với y tế Ngược lại, khu vực châu Phi chịu hơn 24% gánh nặng bệnh tật toàn cầunhưng chỉ có 3% lực lượng NVYT trên thế giới ở đây và chi phí cho y tế chưa đến 1%nguồn tài chính của thế giới, ngay cả khi có khoản vay và viện trợ từ nước ngoài.Đông Nam Á có tỷ trọng gánh nặng bệnh tật lớn nhất trên thế giới (gần 30%, do đặcđiểm dân số) nhưng chỉ có 12% nhân lực y tể và hơn 1% ngân sách dành cho y tế [25],

Vì vậy sự phân bố nguồn lực y tế ở các quốc gia thì không đồng đều, gây bất bìnhđẳng

Nhân viên y tê (NVYT) là những người mà công việc của họ là chăm sóc và cảithiện sức khoẻ của cộng đồng Nhân viên y tế là dạng lao động đặc thù, mỗi chuyênngành có một đặc điểm riêng biệt về điều kiện lao động Các NVYT phải tiếp xúc vớicác yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động như: hóa chất, phóng xạ, máu, bệnhphẩm nguy cơ lây nhiễm cao và gặp các vấn đề về sức khỏe liên quan đến công việc[8]

Ngoài ra NVYT phải đối mặt với nhiều nguy cơ nghề nghiệp khác nhau Họphải làm việc trong một môi trường được xem là một trong những môi trường laođộng nguy hiểm nhất [71] [76] Các rủi ro liên quan đến phơi nhiễm yếu tố nguy cơ

Trang 13

gây bệnh nơi làm việc thông thường, nhân viên chăm sóc sức khoẻgặp phải nhiều mối nguy hiểm khác nhau do các hoạt động liên quan đếncông việc của họ như bao gồm không trang bị đầy đủ đồ bảo hộ, làm việcngoài giờ, chịu áp lực liên quan đến công việc, tại cơ sở ỵ tế và làm việctrong nhiều cơ sở [73].

Môi trường làm việc đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ

và năng suất làm việc của một nhân viên Tỉnh thần của nhân viên có thế bị ảnh hưởngtích cực hay tiêu cực do môi trường làm việc Các yểu tố quan trọng nhất của nơi làmviệc đối với hoạt động của NVYT bao gồm: sự hỗ trợ (hướng dẫn, đào tạo), mục tiêuđặt ra, hỗ trợ giám sát, sự khuyến khích công việc, phản hồi/đánh giá công việc, quytrình tổ chức, và các yếu tố vật lí (đảm bảo an toàn cho NVYT), yếu tổ xã hội (các mốiquan hệ) và yếu tố môi trường làm việc (nhiệt độ, ánh sáng ) [54]

Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng các yếu tố môi trường làm việc có liênquan tới vấn đề sức khỏe tâm thần của NVYT Tỷ lệ điều dưỡng và bác sĩ có nguy cơrối loạn tâm thần được báo cáo là khoảng từ 28% đến 35% Khối lượng công việc quátải, thiếu thời gian làm việc và sự căng thẳng là các yếu tố tạo sự không hài lòng trongmôi trường làm việc của NVYT [23] Bên cạnh đó các ảnh hưởng của tình trạng stressđối với NVYT có liên quan đến chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, đến sựkhông hài lòng của bệnh nhân [17]

1.3 Tính chất công việc của nhân viên y tế

Ngành y là một ngành đặc thù đòi hỏi nguồn nhân lực y tể quan trọng vì nó liênquan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe của nhân dân, chất lượng cuộcsống, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước [4].Đây là công việc đòi hỏi thái độ, sự tập trung trong công việc cực kỳ nghiêm túc trướcnhững khoảnh khắc giành giât sự sống cho bệnh nhân Chính vì vậy tính chất côngviệc của nhân viên y tế luôn đặt họ dưới áp lực rất lớn Việc cung ứng các dịch vụ y tếtheo từng người bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động Mỗi dịch vụ y tế ítnhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa NVYT và người bệnh hay cần cả một kíp(tập thể) NVYT với các thành phần khác nhau kèm theo hàng loạt các dịch vụ kỳthuật, chuyên môn khác nhau phối hợp chăm sóc

Trang 14

Bên cạnh việc phải làm việc trong một môi trường lao động độc hại với nguy cơphơi nhiễm bệnh tật cao (dịch bệnh, truyền nhiễm, phóng xạ ), nhân viên y tế cònphải đương đầu với nhiều khó khăn trong công việc Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻcần được cung cấp liên tục 24/7 bao gồm ca đêm, ngày nghỉ cuối tuần và ngày lễ Họthường phải làm việc với cường độ lớn; thời gian làm việc liên tục thay đôi, kéo dài(đứng hàng giờ đồng hồ để mổ, trực đêm, làm thêm giờ vì bệnh nhân quá tải đôi khiliên tục 24/24 giờ ) ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí tự nhiên của con người Ngoài

ra NVYT thường được yêu cầu làm thêm giờ vì sự thiếu hụt nhân lực, kéo dài thờigian ca làm việc và giảm thời gian nghỉ ngơi giữa các ca Một tỷ lệ đáng kể NVYT ở

cả các nước phát ưiển và đang phát triển cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở ngoàinhư công việc làm thêm (thường là bán thời gian) tại các phòng khám tư, khám dịch

vụ Kết quả là tổng số giờ làm việc kéo dài làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ, gâymệt mỏi kéo dài, làm mất sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của họ dẫn đếngiảm hiệu suất làm việc của cá nhân và tố chức [36],

2. Thực trạng của vấn đề bạo hành ở nhân viên y tế

2.2 Thực trạng bạo hành vói NVYT tại nơi làm việc ỏ’ một số quốc gia 2.1.1.

Tỷ lệ bạo hành vói NVYT tại noi làm việc

Lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ được thống kê là một trong số các ngành nghề bịgây áp lực nhiều nhất và nạn bạo hành NVYT hiện đang là một vấn đề nóng tại cácquốc gia trên thế giới Bạo hành NVYT xuất hiện ngày càng phố biến và tần suất xảy

ra nhiều hơn nhưng lại thường bị bỏ qua và không có báo cáo Nó xảy ra cả ở bệnhviện công lập và các cở sở y tế khác (phòng khám cho bệnh nhân ngoại trú, các dịch

vụ y tế khẩn cấp và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà ) nhưng đa phần bạo hành xảy

ra ở bệnh viện (có thể do ở các cơ sở y tể khác báo cáo về sự việc bạo hành NVYT íthơn) Cụ thể trong một cuộc khảo sát ở Mỹ hồi năm 2014 bạo hành thể chất đối vớinhân viên cấp cứu là 80%, nhưng chỉ 49% đã báo cáo vụ việc với cảnh sát Tỷ lệNVYT bị bạo hành tại nhà người bệnh báo cáo hàng năm là khoảng 61% Tại bệnhviện thì tỷ lệ bạo hành được cho là có sự tương quan với thời gian

Trang 15

tiếp XÚC bệnh nhân; điều dưỡng và bác sĩ là nhừng đối tượng bị bạohành nhiều hơn cả [79].

Theo báo cáo Cục Thống kê Lao động và tội phạm Quốc gia Hoa Kỳ bạo hànhtại nơi làm việc là mối đe dọa đối với nhân viên y tể, những người làm việc tại các cơ

sở chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội, Từ năm 2011 đến năm 2013, số vụ bạo hànhtại nơi làm việc dao động từ 23.540 và 25.630 vụ mồi năm trong đó 70% đến 74% xảy

ra trong các cơ sở y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội [75] Tỷ lệ bạo hành thể chất

và phi thể chất được báo cáo khác nhau giữa các quốc gia: Palestine (20,8%;59,6%)[62], Iran ( 27,6%; 87,4%) [28], Trung Quốc (14,4%; 68,9%) [78], Đài Loan (56%;51,6%) [65],

Kết quả của một báo cáo tổng họp dựa trên 136 bài báo cáo cung cấp dữ liệutrên 151.347 nhân viên điều dường tại 4 khu vực (Anglo, Châu Á, Châu Âu và TrungĐông) như sau: Khoảng 1/3 nhân viên tiếp xúc với bạo hành thể chất vả bị thương tích

do các cuộc tấn công thể chất, khoảng 2/3 nhân viên báo cáo bị bạo hành phi thể chất,

khoảng 1/4 bị quấy rối tinh dục và khoảng 1/3 nhân viên bị bắt nạt (Biếu đồ 1) Trong

đó, tỷ lệ bạo hành thể chất ở Anglo là cao nhất (43%), gần gâp đôi so với khu vựcTrung Đông (22,4%) Tỷ lệ bạo hành phi thể chất đều cao hơn 50% và hầu hết cao hơn

so với các loại bạo hành khác ở mỗi khu vực Nhân viên điều dưỡng bị bắt nạt có tỷ lệ

từ 8,8%- 86,5% (thấp nhất ở châu Âu và cao nhất ở Trung Đông) trong khi quấy rốitình dục cao nhất trong khu vực Anglo (38,7%), và thấp nhất ở châu Âu (16,2%) [32]

Trang 16

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các loại bạo hành tại 4 khu vực (Anglo, Châu Á, Châu Âu và

Trung Đông)

2.2.2 Các loại bạo hành vói NVYT tại noi làm việc

Theo báo cáo chung của ILO/ICN/WHO/PSI, luôn tồn tại loại bạo hành thể chất

và bạo hành tinh thần (một số tài liệu xếp vào loại bạo hành phi thể chất) tại nơi làmviệc Bạo hành thể chất và tinh thần thường xuất hiện cùng một lúc, đây cũng là cảntrở khó phân biệt các loại hình bạo hành Những danh từ/cụm từ thường được dùngliên quan đến bạo hành bao gồm [5 7]:

Hành hung/tấn công: cố tình gây ra thương tích thế chất hoặc chủ động tấn côngdẫn đến nguy hại thể chất Bao gồm đánh, đá, tát, đâm, băn, cắn, xâm hại tìnhdục, hiếp dâm

Đe doạ: hành động uy hiếp gây chấn thương hoặc tổn thương thể chất, tình dục,tinh thần hoặc những thiệt hại tiêu cực khác cho nạn nhân

Lạm dụng: Một hành động không xuất phát từ mục đích thoả đáng bao gồm sửdụng sức mạnh thể chất và tinh thần sai cách Hành động này bao gom quấy rối,bắt nạt và bắt nạt hội đồng

Quấy rối: Hành vi không được đồng ý - bằng lời nói, không bằng lời nói, hữuhình, tâm lý hay thể chất - đánh giá dựa trên tuổi tác, tình trạng khuyết tất,

Trang 17

tình trạng mắc HIV, hoàn cảnh gia đình, giới, xu hướng tình dục, chủng tộc,mày da, ngôn ngữ, vùng miền, tôn giáo, quan điểm chính trị, công đoàn hoặccác niềm tin khác, nguồn gốc/xã hội xuất xứ, quốc tịch, dân tộc, nhóm thiếu số,sinh đẻ hoặc các yểu tố khác gây ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm cách của ngườiđàn ông và phụ nữ ở nơi làm việc.

Quấy rối tình dục: Hành vi không được đồng ý thực hiện trên nạn nhân khi đặtđiều kiện tình dục lên công việc của họ, hoặc có thể thực hiện trên nạn nhânnhư một sự lăng mạ, xỉ nhục hoặc đe doạ mạng sống của họ

Bắt nạt/ bắt nạt tập thể: Một hình thức quấy rối tâm lý liên tiếp ngược đãi,hành hạ qua hành vi xấu xa, không khoan dung để xỉ nhục hoặc huỷ hoại một

cá nhân/một nhóm nhân viên, bao gồm những phê bình hoặc chỉ trích một cáchtiêu cực, không công bằng; kì thị, biệt lập một người khỏi xã hội và nói chuyệnphiến hoặc lan truyền những thông tin sai sự thật

Các loại bạo hành được phân ra [56]:

Từ ngữ sử dụng cho bạo hành thể chất Từ ngữ sử dụng cho bạo hành tinh thần

- Những sự cố gây thương tích, cần được

- Quấy rối (bao gồm dùng từ ngữ đe dọa,

đe dọa qua điện thoại (SWE, ACT) - Mốinguy hiểm về an toàn và sức khỏe, baogồm sợ bị hăm dọa

Bảng 1: Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng dẫn của

ILO, ICN, WHO và PSL

Trang 18

Nhân viên y tế đang phải đối mặt với nguy cơ bạo hành đáng kể tại nơi làmviệc [48], Các báo cáo về vẩn đề bạo hành tại nơi làm việc đều ghi nhận răng cácNVYT trải qua những hình thức bạo hành khác nhau bao gồm bạo hành thể chất vàbạo hành phi thể chất nhung chủ yếu là bạo hành phi thể chất (bằng lời nói) [22],Thực trạng bạo hành tại nơi làm việc đối với 1899 NVYT ở Đông Bắc TrungQuốc cho kết quả như sau: Trong số các NVYT được hỏi, hơn 80% cho biết họ bị bạohành ở nơi làm việc và chủ yếu là bị bạo hành phi thể chất (hơn 60%) [78] Kết quảtương tự cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu tại phòng cấp cứu ở Ismailia AiCập ràng bạo hành bàng lời nói được báo cáo nhiều nhất (58,2%); cao hơn 3,5 lần sovới bạo hành thể chất (15,7%) [47].

Các hành vi bạo hành NVYT được báo cáo khác nhau giữa các nghiên cứu dophương pháp đánh giá về bạo hành nơi làm việc khác nhau giữa các quốc gia Khảosát sự phổ biến của bạo hành tại nơi làm việc và các yếu tố liên quan của nó đối vớiđiều dưỡng tại các cơ sở y te ở Đài Loan cho kết quả: 56% nhân viên báo cáo đã từng

bị bạo hành thể chất, 19,6% nhân viên báo cáo có bạo hành về tâm lý và đe dọa bànglời nói (51,6%) [65] Các loại bạo hành với NVYT được Zhe Li tìm thấy trong nghiêncứu của mình bao gồm: bạo hành thể chất (10,7%), bạo hành phi thể chất (lời nói 66%;

đe dọa 37,7%; quấy rối tình dục 0,8%) [42] Tại một bệnh viên ở Iran, loại bạo hànhphổ biến nhất đối với nhân viên điều dưỡng là bạo hành bằng lời nói (64%), tiếp theo

là hành động bắt nạt (29%) và bạo hành thể chất (12%) với hầu hết các mối đe dọa đen

từ người thân của bệnh nhân [81],

2.2.3 Đặc điểm của đói tượng bạo hành

Nhận định ràng bệnh nhân là nhóm đối tượng có nguy cơ cao gây bạo hành đốivới NVYT được tìm thấy trong kết quả của một số nghiên cứu sau Tại một bệnh viện

ở Đài Loan, 62% điều dưỡng đã trải qua sự bạo hành bằng lời nói và thể chất từ cácđối tượng sau với tỷ lệ: từ bệnh nhân (38,3%; 10,7%); gia đình bệnh nhân (29,6%;1,9%); bác sĩ và đồng nghiệp (19,9%; 1%) [66] NVYT bị bạo hành chủ yêu bởi bệnhnhân cũng là kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện công ở Palestine Tỷ lệ bạo hành thểchất và phi thể chất đối với NVYT của các đối tượng được báo cáo như sau: từ bệnhnhân/người đến khám( 38%, 21%); người thân/

Trang 19

người đến thăm (48%, 42%); đồng nghiệp (14%, 37%) [62] Bệnhnhân vẫn là đối tượng gây bạo hành cao nhất và chủ yếu gây bạo hànhbằng lời nói.

ỏ Hàn Quốc, có 99,5% điều dưỡng (tổng số 200 người) báo cáo rằng họ đã từng

bị bạo hành từ bệnh nhân và 67,5% người khác (gia đình hoặc người thân của ngườibệnh) Họ bị bạo hành bằng lời nói nhiều hơn những hành vi bạo hành thế chất Kếtquả điều dưỡng là nạn nhân chính của bạo hành thể chất (78%); bệnh nhân là thủphạm chính của vụ bạo hành (56%) cũng được ghi nhận trong nghiên cứu tại Iran [70],Các nhóm đối tượng có hành vi bạo hành NVYT quan trọng nhất tìm thấy trong cácnghiên cứu này bao gồm bệnh nhân, gia đình bệnh nhân / người thân

Một nghiên cửu khác ở Iran cho kết quả khác với nghiên cứu ở Đài Loan, trong

đó, đối tượng gây bạo hành cao nhất là những người thân hoặc bạn bè của bệnh nhân(chiếm khoảng 60%), tiếp theo là bệnh nhân và các nhóm đổi tượng khác [28] Hầu hếtcác lời nói và bạo hành thể chất xảy ra ở khu vực hoặc phòng của bệnh nhân trong khicác điều dưỡng đang thực hiện công việc chăm sóc của họ Các NVYT này có tiếp xúcgần gũi với bệnh nhân và người thân quen của bệnh nhân Đối với các bệnh viện Nhi,đổi tượng có nguy cơ gây bạo hành cao sẽ là những người thân của bệnh nhân Điềunày được giải thích bởi việc điều trị cho trẻ nhỏ là vô cùng khó khăn, chúng thườngphản ứng một cách nhanh chóng làm tăng sự khó khăn trong chẩn đoán và điều trị Chỉcần một lỗi do NVYT gây ra sẽ có khoảng cách giữa kỳ vọng của gia đình bệnh nhân

và thực tế điều trị, dẫn đến gia đình bệnh nhân hiểu nhầm NVYT và thậm chí dẫn đếncác cuộc bạo hành [42]

2.3 Thực trạng bạo hành vói NVYT ở Việt Nam

Tình trạng bạo hành NVYT tại các cơ sở y tế đang là vấn đề nóng của ngành y tếhiện nay Trong những năm gần đây, các hành vi bạo hành NVYT ở nước ta đangngày càng trở nên phố biển với các mức độ khác nhau

Năm 2016, các hoạt động đánh giá thực trạng bạo hành đối với nhân viên y tể tạicác bệnh viện công lập được Viện Chiến lược và Chính sách Y tế phối hợp với Côngđoàn Y tể Việt Nam và Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Y tế triển khai Kết quả nhận thấykhông chỉ các bệnh viện tuyến trung ương tại Hà Nội mà các bệnh viên công lập tạicác địa phương khác, tình trạng bạo hành tại nơi làm việc đối với NVYT tại

Trang 20

các bệnh viện có dấu hiệu gia tăng về số vụ và mức độ nghiêm trọngcủa các vụ việc gây ảnh hường lớn đến thầy thuốc và các cơ sở y tế Bêncạnh các vụ bạo hành thể chất, tình trạng bạo hành về tinh thần như cáchành vi đe dọa, lăng mạ, sỉ nhục, gây sức ép, can thiệp vào chuyên môn đối với NVYT ở nhiều mức độ khác nhau diễn ra tương đối phổ biến ở các

cơ sở y tế [7]

Theo số liệu từ Cục Quản lý khám chừa bệnh nãm 2017, những vụ bạo hànhnhân viên y tế gây mất trật tự, an ninh tại các cơ sở khám chữ bệnh đang ngày càng giatăng Đối tượng bị tấn công chủ yểu là bác sĩ (70%) và điều dưỡng (15%) Trong đó90% số vụ việc xảy ra trong khuôn viên bệnh viện, trong khi thầy thuốc đang cấp cứu,chăm sóc cho người bệnh (chiếm tới 60%) và 30% số vụ việc xảy ra khi thầy thuốcđang giải thích cho người bệnh, người nhà người bệnh [6] Nghiên cứu “Thực trạngbạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh việnNhi trung ương năm 2017” là một trong số ít những nghiên cứu về tình trạng bạo hànhNVYT tại Việt Nam hiện nay Ket quả nghiên cứu như sau: Gần 73% điều dưỡng bịbạo hành trong vòng 12 tháng qua, trong đó 63,7% nhân viên bị bạo hành bàng lời nói;30,7% nhân viên bị bạo hành thể chất [3],

Thực tế NVYT phải đối mặt với các hành vi bạo hành mỗi ngày, thậm chí đe dọađến tính mạng con người Trong số đó phải kể đến vụ việc bạo hành rất nghiêm trọng,

sự việc bác sĩ Phạm Đức Giàu (Bệnh viện huyện Vũ Thư, Thái Bình) bị người nhàbệnh nhân đâm chết ngay trong ca trực ngày 15/8/2011 Tính đến năm 2017, các vụbạo hành NVYT tại các bệnh viện xảy ra liên tiếp đe dọa sự an toàn, tính mạng củaNVYT Trường hợp bác sĩ Lê Quang Dương (Phó khoa hồi sức cấp cứu, Bệnh viên

ĐK Thạch Thất) ngày 16/04/2017 trong lúc đang xem hồ sơ bệnh án của bệnh nhi thì

bị người nhà dùng cốc thủy tinh đập vào đầu khiến bác sĩ bất tỉnh; sau đó còn dùng lờinói đe dọa sẽ giết các NVYT Vào lúc 4 giờ sáng ngày 7/5 tại khoa cấp cứu bệnh việnĐại học Y Hà Nội tiếp nhận một trường hợp nam thanh niên bị thương ở đầu do đánhnhau trong quán karaoke Trong khi các bác sĩ đang cấp cứu cho bệnh nhân thì mộtnhóm người đã lao vào khoa cấp cứu, khống chế bác sĩ và tiếp tục chém người bệnh[6], Gần đây nhất là vụ hai bác sĩ của Bệnh viện Sản Nhi Yên Bái sau ca phẫu thuậtlấy thai cho bệnh nhân thì bị người thân sản phụ và

Trang 21

một nhóm người hành hung dẫn đến gây thương tích nặng cho 2 bác

sĩ vào ngày 20/2/2018 và vụ bác sĩ bệnh viện Xanh Pôn bị người nhà bệnhnhi hành hung đêm ngày 13/4/2018 [1] [2] Đây chỉ là một vài thống kêcác vụ bạo hành nghiêm trọng mà báo chí đưa tin được dư luận biết tới.Thực tể thì tình trạng bạo hành NVYT vẫn diễn ra hàng ngày mà chưa đượcbáo cáo Đây là vấn đề đáng báo động, nó ảnh hưởng trực tiếp đến cácNVYT, iàm mẩt an toàn môi trường làm việc Vì vậy các ban ngành khôngriêng ngành y tế cần phải vào cuộc tìm ra những giải pháp để đảm bảo antoàn cho NVYT khiến họ an tâm thực hiện công việc chăm sóc sức khỏenhân dân

3 Các yếu tố liên quan đến bạo hành tại CO' sở y tế

Trong một cuộc khảo sát nhóm nhân viên an ninh và nhóm các nạn nhân bị bạohành tại bệnh viên dựa trên hai phương pháp định lượng và định tính, kết quả cho thấycác tình huống bạo hành đổi với NVYT bùng phát được cho là có sự tác động của cácyếu tố sau: hành vi của NVYT, hành vi của bệnh nhân, môi trường bệnh viện, sựchuyên nghiệp và thời gian chờ đợi [29] Cùng kết hợp với các tài liệu y văn thu thậpđược, phần tổng quan phân tích các yếu tố liên quan dưới đây sẽ chia ra thành cácnhóm yếu tố sau:

3.2 Yếu tố cá nhân

3.2.2 Nhóm đối tuong gây bạo hành

Trang 22

Bệnh nhân tới các cơ sở y tế để chăm sóc sức khỏe là nhóm đối tượng có khảnăng gây ra các hành vi bạo hành cao nhất Phần lớn các sự cố bạo hành được báo cáo

là do bệnh nhân (80%) vào năm 2013 Những bệnh nhân này có thể do ảnh hưởng củarượu bia, ma túy, lạm dụng chất gây nghiện hay là gặp các vấn đề sức khỏe như sa súttrí tuệ, suy giảm nhận thức và cần đến sự chăm sóc sức khỏe tâm thần mà gây ra cáchành vi tiêu cực đổi với NVYT Chính vì vậy mà bạo hành xảy ra thường xuyên nhất ởcác bệnh viện tâm thần, phòng cấp cứu, phòng chờ và viện dưỡng lão [48]

Đã có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu về những hành vi kích động gây hấn củabệnh nhân tâm thần [37] [35] Đa số mọi người cho ràng những người mắc bệnh tâmthần là đổi tượng đặc biệt nguy hiểm vì họ có những hành vi gây hại cho bản thân vàcho người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội Điều này khiến mọi người xa lánh kìthị những bệnh nhân tâm thần trong xã hội Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây báo cáorằng nguy cơ bạo hành liên quan đến các bệnh tâm thần chủ yếu liên quan đến các yếu

tố như tiền sử bệnh nhân bị bạo hành trong quá khử, đột ngột gặp các vấn đề gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến tâm lí, đặc biệt là sự lạm dụng chất gây nghiện Bạo hành cóthế xảy ra dễ dàng hơn khi họ lạm dụng chất gây nghiện, rượu, rối loạn liên quan đến

sự không tuân thủ điều trị làm tăng nguy cơ bạo hành ở bệnh nhân ngoại trú bị bệnhtâm thần nặng [37]

Bạo hành cũng được tìm thấy ở bệnh nhân lớn tuổi, khi họ bị sa sút trí tuệ và cáchành vi bạo hành được cho là hệ quả của chứng bệnh mất trí nhớ Tuy nhiên tỷ lệ bạohành ở đối tượng này chưa được xác định rõ ràng bởi một phần vì các định nghĩa bạohành khác nhau và có sự thay đổi, nhưng phần lớn do nguyên nhân có ít thời gian đếtheo dõi bệnh nhân Một trong số ít các nghiên cứu dài hạn (10 năm) cho kết quả có tới96% bệnh nhân mắc chửng mất trí biểu hiện các hành vi bạo hành trong suốt quá trìnhbệnh tật của họ [15] Hơn nữa, số bệnh nhân này ngày càng gia tăng ở các cơ sở chàmsóc người cao tuổi, đây cũng có thể là lý do gia tăng tình trạng bạo hành cho NVYT tạicác viện dưỡng lão [27]

Trang 23

Trong khi đó, nạn nhân của các vụ bạo hành ở Trung Quốc tin rằng các cuộc tấncông xảy ra chủ yếu là do trình độ giáo dục của đối tượng thấp, các yêu câu không họp

lý từ gia đình bệnh nhân bị từ chối [42]

Một nghiên cứu cắt ngang mô tả tại một bệnh viện đa khoa tại Ý cho thấy tỷ lệbạo hành NVYT tại nơi làm việc có sự chênh lệch trong các môi trường làm việc khácnhau giữa đổi tượng nhân viên y tế khác nhau Cụ thể các tỷ lệ bạo hành ở nhómNVYT lần lượt là: điều dưỡng (67%), phụ tá (18%) và bác sĩ (12%) Các nghiên cứukhác tại Ý cũng chỉ ra rằng sự xuất hiện bạo hành thường xuyên hơn đối với nhân viênđiều dưỡng so với các bác sĩ [77] ở Trung Quốc tỷ lệ nhân viên điều dưỡng trong cácnghiên cứu được báo cáo bị bạo hành the chất và phi the chất khoảng 6,3%-7,8%;49%-71,9% [53] [20]

Các nghiên cứu cho thấy điều dưỡng thường xuyên tiếp xúc với vấn đề bạohành tại nơi làm việc, phổ biến là loại bạo hành phi thể chất dẫn tới các ảnh hưởng sứckhỏe tinh thần như gây lo lắng, trầm cảm (P<0,01) [53] Điều này có thể được lý giải

do nhân viên điều dưỡng là đối tượng tương tác nhiều nhất với các bệnh nhân và ngườinhà của họ, dường như đổi tượng này có nguy cơ bị bạo hành tại nơi làm việc cao hơn

so với các nhân viên y tế khác bởi sự tiếp xúc của họ nhiều hơn [40] Tỷ lệ bạo hànhtrong nhân viên điều dưỡng được báo cáo là cao so với các đối tượng còn lại và nhómnhân viên trẻ tuổi (<30) có nguy cơ bị bạo hành cao hơn so với các đồng nghiệp khác[78] [27]

Nghiên cửu của Peihang Sun và các cộng sự năm 2017 đã tìm thấy mối liênquan giữa bạo hành thể chất và một số yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, sự thayđổi công việc, mức độ lo lắng và nghề nghiệp (p <0,05) [78] Các yểu tố như tuổi, giớitính, trình độ học vấn, thâm niên công việc và tình trạng chuyển đổi công

Trang 24

việc được báo cáo là có liên quan mật thiết với bạo hành NVYT tạinơi làm việc trong một nghiên cứu ở Đài Loan [65],

Theo quan điểm của các nhà quản lý bệnh viện "yểu tố NVYT" là yếu tố chínhgây ra các hành vi bạo hành tại bệnh viện Yếu tố này xét trên thái độ, kĩ năng giaotiếp với bệnh nhân của NVYT bao gồm: Kỹ năng giao tiếp kém, thái độ của NVYTchưa đúng mực, NVYT không cung cấp đủ thông tin về dịch vụ y tế, năng lực củaNVYT còn hạn chế Nghiên cứu còn phân tích các kỹ năng giao tiếp của bác sĩ khitương tác với bệnh nhân dưạ trên những quan điểm của bệnh nhân Những lôi giao tiếp

mà bệnh nhân phàn nàn nhiều nhất bao gồm: giao tiếp không lời (mắt, nét mặt ), lờinói chưa phù hợp, thông tin cung cấp cho bệnh nhân chưa đầy đủ và có thái độ thiếutôn trọng, đồng cảm [43]

Sự không hài lòng và khiếu nại của bệnh nhân về kĩ năng giao tiếp cúa NVYT

là nguyên nhân gây ra ảnh hưởng của mối quan hệ giữa bệnh nhân với NVYT [61].Một cuộc điều tra của WHO đã phát hiện rằng trong khi bệnh nhân than phiền bệnh tậtcủa mình, trung bình 18 giây họ bị một bác sĩ cắt ngang Điều này sẽ làm cho bệnhnhân cảm thấy rằng các bác sĩ không cho phép họ nói chuyện hoặc không quan tâmđến họ và có thể dẫn đến sự căng thẳng giữa bác sĩ và bệnh nhân Bởi vì khi bệnh nhângặp các vấn đề về sức khỏe, bệnh tật đe dọa tính mạng họ thường có những phản ứngcảm xúc tiêu cực như căng thẳng, tuyệt vọng, sợ hãi nên họ rất mong đợi sự đồngcảm từ phía NVYT Bệnh nhân sẽ rất tức giận khi phải đoi mặt thái độ chưa đúng từNVYT hoặc có thể có xung đột giữa các bác sĩ và bệnh nhân khi việc điêu trị khôngdứt điếm [43]

Ngoài ra những NVYT luân phiên ca làm việc được cho là có nguy cơ cao hơntiếp xúc với bạo hành, bị đe dọa bằng lời nói, và bị bắt nạt so với những nhân viên làmnhiệm vụ thường ngày Ví dụ một sổ cơ sở y tế thiểu NVYT khiến thời gian chờ đợicủa bệnh nhân lâu gây hiểu nhầm về sự thiếu chăm sóc của NVYT, sự kích động khinhu cầu của bệnh nhân và người nhà không được đáp ứng nhanh chóng Hay là một sốNVYT thay thế sẽ tiếp xúc với bệnh nhân với khoảng thời gian ngắn trong quá trìnhphục hồi, trị liệu; bệnh nhân nhận thấy nhóm NVYT này

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y ĩế CÔNG CÔNG

Trang 25

ít phù hợp với nhu cầu của họ hoặc sự thất vọng về sự chăm sóc đã được hình thành từNVYT chăm sóc thường xuyên trước đó [9].

3.3 Yếu tố môi trường làm việc

Tình trạng bạo hành NVYT và môi trường làm việc được báo cáo là có mốiliên quan với nhau trong các vụ bạo hành NVYT [43]

Các nhân viên y tế làm tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế như dịch vụ chămsóc sức khoẻ, viện dưỡng lão và các trung tâm chăm sóc người khuyết tật là nhómNVYT dễ có nguy cơ bị bạo hành hơn bởi các đối tượng mà họ chăm sóc gặp các vấn

đề về trí tuệ và sa sút về tinh thần Một nghiên cứu cắt ngang được triển khai ở Đức tại

4 cơ sở y tế trong đó có 2 viện dưỡng lão, 1 phòng khám tâm thần và 1 trung tâm dànhcho người khuyết tật Kết quả cho thấy trong vòng một năm qua tỷ lệ NVYT bị bạohành tại nơi làm việc trong nghiên cứu này khá cao; 70,7% người được hỏi từng bị bạohành về thể chất và 89,4% bị đe dọa bằng lời nói Sự bạo hành thể chất thường xảy ra

ở các nhà dưỡng lão (83,9%) trong khi sự đe dọa bằng miệng thì phổ biến hơn tại cácbệnh viện tâm thần (96,7%) và tỷ lệ NVYT bị bạo hành tại trung tâm dành cho ngườikhuyết tật thấp hơn (lần lượt là 41,9% và 77,4%)[31] Mặc dù cỡ mẫu của nghiên cứunày không cao, chỉ có 123 NVYT tham gia nghiên cứu nhưng kết quả của nghiên cứunhằm nhẩn mạnh đến nguy cơ bạo hành đối với NVYT ở các cơ sở y tế khác nhau trênnhững đối tượng yếu thế trong xã hội như người cao tuổi, người mắc bệnh tâm thần,người khuyết tật

Thực tế, NVYT thường xuyên phải đối mặt với những hành vi bạo hành từbệnh nhân trong khoa/viện tâm thần Trong vòng 12 tháng, các NVYT tại 1 bệnh việntâm thần ở Đức báo cáo rằng họ bị bệnh nhân đe dọa chủ yếu bằng lời nói (96,7%), cóhành vi bạo hành thể chất (78,7%) Một cuộc điều tra ở London đã sử dụng thang đonhận biết về mức độ hành vi bạo hành của bệnh nhân tâm thần “Perceptions ofPrevalence Of Aggression Scale” (POPAS) Các nhân viên y tá hầu hết bị đe dọa bằnglời nói (chiếm 80%-90%); đe dọa hoặc quấy rối tình dục (68%), bạo hành thể chất(16%) [74], Tuy nhiên một nghiên cứu ở Nigeria sử dụng kết họp thang đo (POPAS)với thang đo thái độ của NVYT với hành vi bạo hành của bệnh nhân tâm thần (theAttitudes toward Aggression Scale - ATAS) lập luận về hành vi

Ngày đăng: 01/12/2023, 14:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng 10 dẫn của ILO, ICN, WHO và PSI. - Luận văn tổng quan tài liệu thực trạng bạo hành với nhân viên y tế và một số tác động của bạo hành nơi làm việc đối với nhân viên y tế
Bảng 1 Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng 10 dẫn của ILO, ICN, WHO và PSI (Trang 6)
Bảng 1: Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng dẫn của - Luận văn tổng quan tài liệu thực trạng bạo hành với nhân viên y tế và một số tác động của bạo hành nơi làm việc đối với nhân viên y tế
Bảng 1 Các từ ngữ được sử dụng cho các loại bạo hành trong hướng dẫn của (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w