Báo cáo lần thứ 4 về tình hìnhdinh dưỡng toàn cầu năm 2000 [13] của Uỷ ban thường trực dinh dưỡng Liên hợp quốc vàViện nghiên cứu chính sách lương thực quôc tê ACC/SCN/IFPRI cho thấy có
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắctới hai giáo viên hướng dẫn của tôi, là thạc sỹ Lê Thị Kim Ánh và thạc sỹ Nguyễn Thanh Hà.Không nhũng các cô đã hỗ trợ tôi những tài liệu cân thiết, mà cũng đã rất nhiệt tình hướng dẫn
và đóng góp những ý kiến chuyên môn quý báu cho bài luận của tôi
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ Phòng Đào tạo Đại học và cáccán bộ Thư viện Trường Đại học Y tế công cộng, đặc biệt là chị Bùi Thị Ngọc Oanh, đã rấtnhiệt tình giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệuhoàn thành luận văn
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới những người bạn đồng khoá đã cung cấp cho tôicác tài liệu và thông tin bổ ích liên quan đến đề tài khoá luận tốt nghiệp của tôi
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẲT
ACC/SCN ưỷ ban thường trực Dinh dưỡng Liên hợp quốc
BINP Dự án lồng ghép chăm sóc dinh dưỡng của Bangladesh.CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ.DALYs Số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật
ICDS Chương trình Các dịch vụ lồng ghép phát triển trẻ
IFPRI Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế
OFFP Chương trình đổi dầu lấy lương thực
TNP Chương trình mục tiêu dinh dưỡng
UNCEF Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc
VAC Mô hình Vườn - Ao- Chuồng
VDD Viện dinh dưỡng quốc gia (Việt Nam)
WB Ngân hàng thế giới
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LÒÌ CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TƯ VIÉT TÁT PHÀN 1: ĐẶT VẤN ĐÈ 1
PHẦN 2: MỤC TIÊU 3
PHÀN 3: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 4
I Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu 4
II. Nguồn thu thập các tài liệu tham khảo 4
III Quy trình tống họp tài liệu tham khảo 5
IV Thông số về tài liệu tham khảo 5
PHẦN IV- NỘI DUNG TỎNG QUAN 6
1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề suy dinh dưỡng trẻ dưói 5 tuổi 6
/ Định nghĩa 6
2 Phân loại 6
II Tổng quan thực trạng SDD trẻ dưỏi 5 tuổi tại các nưóc đang phát triển và Việt Nam 8
1 Tại các nước đang phát triển 8
2 Tại Việt Nam 13
3 Mồ hình nguyên nhân - hậu quả của SDD trẻ dưới 5 tuôi 16
III Một số biện pháp trong can thiệp và phòng chống SDD trẻ dưó’i 5 tuổi.20 1 Một số biện pháp được triển khai tại các nướcđang phát triển 20
2 Một số biện pháp được triển khai tại Việt Nam 23
IV Kết luận 288
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 35
Trang 4PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù đã có nhiều biến chuyển tích cực trong những năm gần đây, tình hình SDD ởtrẻ em dưới 5 tuổi hiện vẫn đang là một vẩn đề y tế công cộng rất phổ biến tại các quốc giađang phát triển, trong đó có Việt Nam [1], [18], [46], [51] Báo cáo lần thứ 4 về tình hìnhdinh dưỡng toàn cầu năm 2000 [13] của Uỷ ban thường trực dinh dưỡng Liên hợp quốc vàViện nghiên cứu chính sách lương thực quôc tê (ACC/SCN/IFPRI) cho thấy có khoảng 30triệu trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng bởi hậu quả của SDD bào thai và có khoảng 185 triệu trẻ dưới
5 tuổi (34%) bị SDD (thể thấp còi- stunting) tại các quốc gia đang phát triển, cao nhât tạikhu vực Tây Phi (48%) và Trung Nam Ả (44%) Qua từng năm, mặc dù các số liệu đã chỉ ratình hình SDD có giảm, nhưng vẫn là một vấn đe đáng quan ngại Cụ the, theo báo cáo củaWHO và UNICEF [52], [56], năm 2002 vẫn còn khoảng 182 triệu trẻ bị SDD (chiều caotheo tuổi) Theo ACC/SCN/IFPRI, trong Báo cáo lần thứ 5 về tình hình dinh dưỡng toàn càunăm 2005 [14], còn khoảng 178 triệu trẻ dưới 5 tuôi (32%) bị SDD (thể thấp còi) tại cácquốc gia đang phát triển Hậu quả của SDD để lại là rất nặng nề [1], [5], [36] SDD lànguyên nhân gây ra 2,1 triệu ca tử vong của trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 21% tỷ lệ tử vong trẻdưới 5 tuổi trên toàn cầu) và 91 triệu DALYs (chiếm 21% DALYs trẻ dưới 5 tuổi toàn cầu)[46] SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, khả năng học hành của trẻ, khả nàng laođộng đến tuổi trưởng thành cũng như nguy cơ mắc một số bệnh mạn tính ở tuổi trưởngthành, như bệnh tim mạch, đái tháo đường [1], [36] Những trẻ bị SDD sẽ kéo theo nguy cơcao mắc các bệnh tiêu cháy, viêm phoi, và tăng nguy cơ tử vong [5], [46]
Ở nước ta, tỷ lệ SDD đang có xu hướng giảm nhanh Mặc dù vậy, tình trạng SDDcủa trẻ với những hậu quả xã hội to lớn vẫn đang là vấn đề hết sức cấp bách cần giải quyết.Năm 2000, theo số liệu của cuộc tổng điều tra dinh dưỡng điều tra (Tổng cục thống kê vàViện Dinh dưỡng) [2], tỷ lệ SDD toàn quốc là 33,8%; giảm xuống còn dưới 30% tính đếnnăm 2002 Năm 2008, tỷ lệ SDD tính chung chỉ còn 20%, nhưng SDD thể thấp còi vẫn cònrất cao: 32,6% [58] [59] Những nguyên nhân dẫn đến SDD rất đa dạng [1], [35] Cácnguyên nhân trực tiếp là: SDD bào thai, khẩu phàn ăn của trẻ, tình trạng nhiễm khuẩn.Nguyên nhân sâu xa bao gôm sự
Trang 5bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, các vấn đề về nướcsạch, vệ sinh môi trường, nhà ở Và một nguyên nhân gốc rễ không thểkhông nhắc đến, đó là tình trạng đói nghèo, ỉạc hậu về các mặt phát triênnói chung, bao gôm cả sự mât bình đẳng về kinh tế [1], [5], [21],
Mục tiêu của bài viết này tập trung trình bày tổng quan thực trạng SDD tại Việt Nam
và các quốc gia đang phát triển, đồng thời trình bày mô hình nguyên nhân - hậu quả củaSDD trẻ dưới 5 tuổi SDD gồm 2 loại: SDD prôtêin - năng lượng (Protein-EnergyMalnutrition: PEM) và SDD do thiếu vi chất Trong 2 loại, SDD prôtêin - năng lượng chiếmchủ yếu trong các trường hợp SDD hiện nay [35], [56] và dể lại nhiều hậu quả nặng nề cho
cá nhân và xã hội Vì vậy tổng quan này tập trung chủ yếu vào SDD prôtêin - năng lượng.Bên cạnh đó, bài viết cũng trình bày một số chương trình can thiệp phòng chống SDDprôtêin - năng lượng cho trẻ dưới 5 tuổi đã được triển khai tại các nước đang phát triển vàViệt Nam
Trang 6PHẦN 2: MỤC TIÊU
1 Trình bày tổng quan thực trạng SDD prôtêin - năng lượng trẻ em dưới 5 tuổi tại cácnước đang phát triển và Việt Nam, giai đoạn năm 2000-2008
2 Trình bày tổng quan mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD prôtêin - năng lượng
ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển và Việt Nam
3 Trình bày một số giải pháp can thiệp phòng chổng SDD prôtêin - năng lượng cho trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước dang phát triển và Việt Nam
Trang 7PHẦN 3: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
I TIÊU CHUẨN LỤA CHỌN TÀI LIỆU
Các tài liệu được sử dụng cho bài viết tổng quan này chủ yếu là những nghiên cứu vàcác báo cáo có nội dung tập trung vào thực trạng và/hoặc các giải pháp can thiệp phòngchống SDD của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang phát triên Các tài liệu có thêđược xuât bản trong nước và quôc tê, được công bô trong khoảng thời gian từ năm 2000 trởlại đây Sở dĩ, thời gian công bố được lựa chọn như vậy vì năm 2000 là năm Chính phủ ViệtNam đề ra mục tiêu dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2000-2010, đông thời cũng là năm VDD
và TCTK tiên hành Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc lần 11, các số liệu đảm bảo tínhchính xác, tổng quan và cập nhật hơn
Các tài liệu phải được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt, ưu tiên các tài liệu đượccông bố dạng toàn văn (full text), chỉ sử dụng các tài liệu tóm tắt (abstract) trong trường hợpkhông tiếp cận được tài liệu toàn văn Các tài liệu phải đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng, đượcxuất bản, công bố bởi các cơ quan uy tín: các viện dinh dưỡng, các cơ quan nghiên cứu vềsức khoẻ trẻ em, các trường đại học chuyên ngành liên quan, các tạp chí khoa học
II NGUỒN THU THẬP CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Các tài liệu được tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu là HINAR1, PUBMED Một nguồntìm kiếm tài liệu tin cậy khác là các tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực liên quan như: Bộ Y tế,Viện Dinh dưỡng, Trường Đại học Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội, IFPRI,Savethechiỉdren UK, UNICEF, WHO Bên cạnh đó, các tạp chí khoa học uy tín như: Tạp chí
Y tế công cộng, Asia pacific journal of clinic nutrition, International Jounrnal ofEpedimiology, The Lancet, Journal of Nutrition cũng là những nguồn thu thập tài liệu thamkhảo chính
Sau khi tìm được tài liệu phù hợp, người viết sẽ tiếp tục thu thập các tài liệu có tạidanh mục tài liệu tham khảo của các nguồn trên (nếu cần thiết) để tìm hiểu đầy đủ và toàndiện hơn về vấn đề SDD trẻ em dưới 5 tuổi
Các từ khoá (key words) được sử dụng trong quá trình tìm kiểm tài liệu: Tiếng
Việt: Suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng protein năng lượng, SDD thê nhẹ cân,
Trang 9SDD thể còi cọc, SDD thể gầy còm, trẻ dưới 5 tuổi, suy dinh dưỡngtrẻ dưới 5 tuổi, tình hình dinh dưỡng/ suy dinh dưỡng, can thiệp suy dinhdưỡng, các nước đang phát triển.
Tiếng Anh: Malnutrition, underweight, stunting, wasting, PEM (Protein - energy
malnutrition), children under 5, malnutrition of under 5 children, nutrition/malnutritionstituation, malnutrition intervention, developing countries
III QUY TRÌNH TỐNG HỢP TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trước hết, tiến hành đọc tổng quát các tài liệu, nắm bắt sơ lược mục đích cũng nhưcác ý chính của tài liệu có đề cập đến tình trạng SDD, các giải pháp can thiệp phòng chốngSDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam và các nước đang phát triển
Tiếp theo, các thông tin được tổng hợp và phân loại phù hợp thành từng mục: thựctrạng trẻ SDD, nguyên nhân và hậu quả của SDD ở trẻ dưới 5 tuổi, các chương trình canthiệp phòng chống SDD Việc các thông tin được tổng hợp và phân loại cụ thể như vậy sẽđảm bảo tính sử dụng thuận tiện và tránh bỏ sót tài liệu trong quá trình viết tổng quan cũngnhư trong quá trình trích dẫn tài liệu tham khảo Các tài liệu được sử dụng và ghi chú cụ thểnguồn trích dẫn tài liệu - theo đúng quy định trích dẫn tài liệu tham khảo hiện hành của Bộgiáo dục và Đào tạo
Cuối cùng, rà soát lại các tài liệu một cách chi tiết để bổ sung những thông tin, số liệuđang còn thiếu hoặc đang còn phân vân Sau đó, sẽ sử dụng các thông tin này cho viết hoànchỉnh tổng quan
IV THÔNG SÓ VÈ TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các tài liệu về tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi phong phú, đầy đủ và cập nhật Các tàiliệu tham khảo được sử dụng đều là những tài liệu được công bô từ năm 2000 trở lại đây,trong đó có 36 tài liệu (58%) được công bố từ năm 2005
Tổng sổ tài liệu tham khảo là 62 tài liệu, trong đó số tài liệu tiếng Việt là 15 (chiếm24%), tài liệu tiếng Anh là 47 (chiếm 76%)
Các tài liệu thu thập được gồm có 4 tổng quan, 9 sách, 19 báo cáo và 30 nghiên cửutoàn vãn
Trang 10PHẢN IV- NỘI DUNG TỎNG QUAN
I CÁC THUẬT NGỪ LIÊN QUAN ĐÉN VẤN ĐÈ “SUY DINH DƯỠNG TRẺ DƯỚI 5 TUỒI”
1 Định nghĩa
Khái niệm Suy dinh dưỡngprotein-năng lượng ở trẻ em do Jellife nêu lên lần đầu vào
năm 1959 [I], [5] Theo ông, các thể bệnh SDD protein-nãng lượng đều có liên quan tới khẩuphần ăn thiểu protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau
Theo WHO, UNICEF [52], [56], SDD là hậu quả để lại do việc thiếu hụt lượng dinhdưỡng cần được cung cấp vào hoặc do những yếu to bệnh tật tác động đến quá trình tiêu hoácủa cơ thể Đây là định nghĩa thường được sử dụng nhất trên thế giới cũng như tại Việt Namhiện nay
SDD protein-năng lượng (Protein-Energy Malnutrition: PEM) là loại thiểu dinhdưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng Mặc
dù gọi là SDD protein-năng lượng nhưng đây không chỉ là tình trạng thiểu hụt protein vànăng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinhdưỡng [1], [39]
Trang 11khá đơn giản, dễ hiểu, tuy nhiên hạn chế là không phân biệt đượcthiếu dinh dưỡng mới xảy ra hay xảy ra đã lâu và không thể áp dụng để
so sánh tỷ lệ SDD các nước với nhau được do không có một quần thể mẫu
để tham khảo chung cho tất cả các nước
Đến năm 1981, WHO chính thức khuyển nghị sử dụng giới hạn từ -2SD đến +2SD đểphân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em [1], [5], [39], với cách tính:
Kích thước đo được - số trung bình của quần thể tham khảo SD score =
Độ lệch chuẩn của quần thể tham khàoQuần thể tham khảo được sử dụng là quần thể tham khảo chuẩn NCHS (NationalCenter for Health Statistic) [5], [52] Cho tới nay, đây là thang phân loại được chấp nhậnrộng rãi trên toàn thể giới Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng quần thểtham khảo mới của Tổ chức Y tế thế giới [1] (vì đây là quần thể đáp ứng được nhiều tiêu chínhất cho tất cả trẻ em trên toàn thế giới) Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng đang khuyến cáo sửdụng quần thể tham khảo mới này và hiện quần thể này đã được nhiều nghiên cứu về dinhdưỡng áp dụng
Thang phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao theo các chỉ số như sau [1]:
2.2.1 Cân nặng theo tuổi
Những trẻ có cân nặng/tuổi từ điểm ngưỡng -2SD trở lên được coi là bình thường.SDD chia ra các mức độ sau: SDD độ 1: từ dưới -2SD đến -3SD
SDD độ 2: từ dưới -3SD đến -4SDSDD độ 3: từ dưới -4SD
Những trẻ có cân nặng theo tuổi thấp được coi là thể nhẹ cân Nhẹ cân chỉ là một đặctính chung cùa SDD nhưng không cho biết đặc điểm cụ thể đó là SDD mới xảy ra hay đã tíchluỹ từ lâu Mặc dù vậy, việc theo dõi cân nặng là việc tương đôi dễ thực hiện ở cộng đồnghơn cả, do đó tỷ lệ cân nặng theo tuổi thấp thường được sử dụng rộng rãi để tính tỷ lệ chungcủa SDD
2.2.2 Chiều cao theo tuổi
Những trẻ có chiều cao/tuổi từ điểm ngưỡng -2SD trở lên được coi là bình thường.SDD chia ra các mức độ sau: SDD độ 1: Từ -2SD đén -3SD
SDD độ 2: Dưới -3SD
Trang 12SDD dựa vào chiều cao so với tuổi, còn được gọi là SDD thế còi cọc hoặc thể thấpcòi (stunting - tức là SDD trường diễn), phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện dinhdưỡng và sức khoẻ không hợp lý.
2.2.3 Cân nặng theo chiều cao
Những trẻ có cân nặng/chiều cao thấp so với điểm ngưỡng -2SD được coi là SDD.SDD dựa vào cân nặng theo chiều cao, còn được gọi là SDD the gầy còm (wasting - tức làSDD cấp tính), phản ánh tình trạng hiện nay đang thiếu dinh dường
Cách phân loại như trên rất có ý nghĩa trong việc phân biệt thiếu dinh dưỡng mới xảy
ra gần đây hay đã lâu, để từ đó có thể đưa ra những giải pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả
II TÔNG QUAN THỤC TRẠNG SDD TRẺ DƯỚI 5 TUÔI TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM
1 Tại các nưóc đang phát triển
Nhìn chung, tỷ lệ SDD tại các nước đang phát trỉên còn ờ mức cao và có sự khác biệt
giữa các châu lục, khu vực, các nước và sự khác nhau thể hiện ngay trong mỗi quốc gia [44],[51] Trong đó, Châu Phi và Châu Á nổi lên như những châu lục có mức SDD đáng báođộng [14] [15] [51] với tỷ lệ trẻ bị SDD thấp còi năm 2005 lên đến 40% (Châu Phi) và 31%(Châu Á) Nểu tính chung cho tất cả các quốc gia đang phát triển trên toàn thế giới, khoảng32% trẻ em dưới 5 tuối (178 triệu) bị SDD thấp còi trong đó cao nhất là khu vực Trung Phi(50%) và Tây Phi (42%) Với 74 triệu trẻ bị SDD thấp còi, khu vực Trung Nam châu Á trởthành khu vực có số trẻ bị SDD thấp còi cao nhất toàn cầu Xét về SDD thể gầy còm, tỷ lệ trẻSDD gầy còm tại các nước đang phát triển là 10% (55 triệu trẻ), và Trung Nam Á vẫn là khuvực có tỷ lệ (16%) và số lượng trẻ (29 triệu) SDD gầy còm cao nhất Khoảng cách về pháttriển kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia là một lý do thuyết phục giải thích cho sự khácbiệt này Bên cạnh đó, năng lực đảm bảo an ninh lương thực, tính tiếp cận với các dịch vụ y
tế, và mối quan tâm của xã hội cho công tác phòng chống SDD cũng là những nguyên nhân
ỉý giải cho tình trạng này tại các quốc gia châu Phi và châu Ả [14], [51]
Trang 13Tỷ lệSDD còicọc
Số trẻ dưới 5tuổi bị SDDgầy còm(triệu)
Tỷ lệ SDDgầy còm
Những quốc gia hay xảy ra khủng hoảng lương thực thì thường có tỳ lệ SDD cao [15] [51] Các cuộc khủng hoảng lương thực do mất mùa và khủng hoảng kinh tế đẩy nhiều
nước và nhiều khu vực tại châu Phi và châu Á vào nạn đói triền miên [51] Tỷ lệ SDD ở trẻdưới 5 tuổi đang có xu hướng gia tăng tại hầu hết các quốc gia khu vực châu Phi [15] Theo
tổ chức Nông lương quốc tể, số người có nguy cơ thiếu lương thực dang tăng lên mỗi năm,
và năm 2003 là 798 triệu người [14], An ninh lương thực là yếu tố quan trọng tác động tới tỷ
lệ SDD trẻ cm, đặc biệt là SDD thể gầy còm
Tại Niger, quốc gia nằm ở phía Tây châu Phi, SDD hiện đang là một van đề y tếcông cộng trầm trọng với tỉ lệ SĐD năm 2000 ở trẻ dưới 5 tuổi thể còi cọc là 40%, thể gầycòm là 13,6% [48], Cũng vậy, tại Ethiopia [23], một quốc gia nằm ở khu vực cận Sahara,SDD hiện vẫn đang là một thách thức cho chính quyền
Trang 14Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia châu Phi đều thát bại trong công tác phòng chổng SDD Sự hạ thấp tỳ lệ SDD một cách đều đặn tại một vài quốc gia như Ghana, Angola
đã ghi nhận nỗ lực của các nước này trong việc phòng ngừa SDD trẻ em [14] [15]
SDD đang có xu hicớng chuyển dịch từ châu Ả sang cháu Phi [ 14] [54] Biểu đồ 1
chỉ ra tỷ lệ SDD năm 1995 tại châu Phi (36,1%) là thấp hơn so với châu Á (38,8%) Tuynhiên, đến năm 2000, tỷ lệ SDD tại châu Phi đã cao hơn 0,8% so với châu Á (35,2% so với34,4%) Năm 2005, sự khác biệt này đã thực sự rõ ràng khi tỷ lệ SDD tại châu Á chi còn31%, trong khi tỷ lệ này tại châu Phi lên đến 40%
Trang 15Xu hướng chuyển dịch SDD thấp còi giữa châu Á và châu Phi
Năm
Biểu đồ ỉ: Xu hướng chuyển dịch SDD thể thấp còi giữa châu Á và châu Phi 114|
SDD thấp còi đang có xu hướng tiếp tục giảm tại các nước đang phát triển [14] [56].
Theo ước tính cùa UNICEF, tỷ lệ này sẽ giảm từ 34% năm 2000 xuống còn 16,3% vào năm
2020 Tuy nhiên, sự suy giảm này là không giông nhau giữa các khu vực Ước tính, các khuvực như châu Á, Mỹ Latinh và Caribbean, cả tỷ lệ và số lượng trẻ SDD thấp còi sẽ tiếp tụcgiảm mạnh trong thời gian tới Trong khi đó, tại châu Phi, tỳ lệ SDD thấp còi sẽ chỉ có thểgiảm nhẹ khoảng 4%, từ 35% năm 2000 xuống còn 31% năm 2020 Tỷ lệ này đã tính đến cả
sự gia tăng số trẻ em tại châu Phi trong vòng 20 năm (44 triệu năm 2000 lên 48 triệu năm2020)
Sự khác biệt vể tỷ lệ SDD trẻ nhỏ giữa nông thôn và thành thị là khá rỗ nét [39] [46].
Cameroon, một quốc gia châu Phi, tỷ lệ trẻ bị SDD ở nông thôn là cao hơn và có ý nghĩathống kê so với tỷ lệ trẻ SDD tại thành thị [47] (35% so với 25%, p<0,001) Tại Ẩn Độ, tỷ lệ
ưè bị SDD ở khu vực nông thôn (50%) cao hơn hẳn so với trẻ ở khu vực thành thị (38%)[62] Tương tự, tại Bangladesh, tỷ lệ SDD trẻ nhỏ
Trang 16khu vực nông thôn (57%) cao hơn so với khu vực thành thị (47%)[31] Khu vực nông thôn của các nước đang phát triển thường canh tácnông nghiệp lạc hậu, giáo dục và kinh tế kém phát triển hơn so với khuvực thành thị là những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này
Tỷ lệ SDD khác nhau giữa bé trai và bẻ gái là có ỷ nghĩa thống kê [14] Tại những
quốc gia mà bất bình đẳng giới là sâu sác, các bé gái ít có điều kiện được tiếp cận với cácdịch vụ y tể và ít được đảm bảo đầy đủ lương thực hơn so với bé trai Tiến hành khảo cửu 17báo cáo và nghiên cửu, khuynh hướng chung là tỷ lệ SDD bé gái cao hơn so với tỷ lệ SDD
bé trai Nghiên cứu của Michele Gragnolati và cộng sự tại Ấn Độ chỉ ra, tỷ lệ trẻ gái SDDcao hơn so với trẻ trai (48,9% so với 45,5%) với p<0,001 [41], Sự khác biệt giữa trẻ nam vàtrẻ nữ Bangladesh [34] là có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ SDD ở trê nữ là 36,1% và ở trẻ nam
là 29.9% Tuy nhiên, một nghiên cứu tại Bắc Triều Tiên [33] lại cho kết quả ngược lại: tỷ lệSDD bé trai (40,2%) cao hơn so với tỷ lệ SDD bé gái (38,5%) Đây cũng là kết quả tương tựtại Cameroon với tỷ lệ SDD bé trai là 32%, SDD bé gái là 28% [47]
Sự khác biệt về tỷ lệ SDD giữa các nhóm tháng tuổi xảy ra ờ hầu hết các nước đang phát triển [14], [39] Tại cả châu Á và châu Phi, tỷ lệ SDD tăng nhanh rơi vào nhóm 6-24
tháng tuổi, và tỷ lệ SDD cùa nhóm tuổi 24-59 tháng thường phải chịu hậu quả tích luỹ từ tỷ
lệ SDD nhóm tuổi 6-24 tháng tuổi Không còn được bú sữa mẹ hoàn toàn, chuyển sang ăn bổsung với nhu cẩu dinh dưỡng nhiêu hơn, và dê bị mắc các bệnh truyền nhiễm hơn sau 6tháng tuổi làm cho tỷ lệ SDD của trẻ ở lứa tuổi này thường cao nhất Tỷ lệ SDD thấp còi củatrè từ 6-36 tháng tuổi tại Bắc Triều Tiên là cao nhất trong các nhóm tuổi (42%) Tương tự, tỷ
lệ SDD tại Afganishtan cũng cao nhất ở nhóm 6-24 tháng tuổi, lên đển 54% Định hướng cáccan thiệp phòng chống SDD vào nhóm tuổi này là hết sức cần thiết
Trang 172 Thục trạng SDD trẻ đưói 5 tuổi tại Việt Nam
Ở nước ta, từ thập kỷ 80 về trước, các thể SDD nặng như Kwashiorkor, Marasmuskhá phổ biến, gặp nhiều cả trong bệnh viện và trong cộng đồng [1], [5], Mấy năm gần đây,các thề này đã trở nên hiếm gặp, hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa, biểu hiện là trẻchậm lớn, nhẹ cân, thấp còi Cùng với sự tăng trưởng vững vàng về kinh tế, Việt Nam đã cónhững chuyển biến tích cực trong công cuộc phòng chống SDD [1], [6], [58], Năm 2002, tỷ
lệ SDD trẻ em toàn quốc là 30,3%, đã giảm được 22% so với thập kỷ 80 (52,5%), đến năm
2008 còn 19,9% song vẫn còn xếp ở mức rất cao theo phân loại của WHO [1], [8], [59] Từnăm 1995 trở về trước, mức giảm SDD trung bình là 0,6%/nẫm, từ 1995 trở lại đây, mứcgiảm là 1,5-2%/năm, là một mức giảm nhanh so với một số nước trong khu vực [1], [58] Cóđược những bước tiến quan trọng này là nhờ sự phát triển ổn định của nền kinh tế, sự đảmbảo an ninh lương thực ở cả cẩp quốc gia và cấp hộ gia đình, cũng như sự chú trọng của toàn
xã hội đối với công tác phòng chống SDD
Tỷ lệ SDD ờ cả 3 thể đều giảm Biểu đồ 2 chỉ rõ, năm 2000, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân
(cân nặng/tuổi thấp) là 33,8% trong đó SDD độ I chiếm 27,8%, độ II chiếm 5,4% và SDD độnặng (độ III) còn 0,6% [1], [8] Năm 2008, tỷ lệ này hiện chỉ còn khoảng 19,9% [58] Tỷ lệSDD thể gầy còm năm 2000 (cân nặng/chiều cao thấp) là 8.6%, giảm xuống còn dưới 5%năm 2008 Tỷ lệ SDD thể thấp còi (chiều cao/tuổi thấp) ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ56,5% năm 1990 xuống còn 36,5% năm 2000, giảm khoảng 20% trong vòng một thập kỷ vàcũng có xu hướng giảm nhanh hơn ở độ SDD nặng hơn như đối với SDD thể nhẹ cân [60].Năm 2008, tỷ lệ này còn 32,6%, tuy vậy hiện vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giácủa WHO Tỷ lệ SDD có thể giảm nhanh và mạnh như vậy ở cả 3 thể chính là nhờ sự tăngtrưởng ổn định của nền kinh tế và việc đảm bảo an ninh lương thực tốt Nâng cao nhận thức
và sự quan tâm của toàn xã hội đối với vấn đề phòng chống SDD, cũng như việc thực hiệnhiệu quả chương trình phòng chống SDD quốc gia cũng là yeu tố đã góp phân thành cônglàm giảm tỷ lệ SDD trẻ
Trang 18Biểu đồ 2: Diễn biến SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 1985 đến 2008, Việt Nam |8Ị
Trang 19Tỳ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD khác nhau theo lứa tuổi [2], [7], [8] Các nghiên cứu đãchỉ ra, tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng là thấp nhất đổi với cả 3 thể (thể nhẹ cân,thể thấp còi, thể gầy còm), sau đó tăng nhanh và thời kỳ trẻ 6-24 tháng [2], [7], [58] là thời
kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao hơn {xem phụ lục 6) do đây là thời kỳ trẻ cai sữa, ăn sam- cónhiều ảnh hưởng đến lượng thức ăn hấp thụ được của trẻ và cũng là thời kỳ trẻ có nhucầu dinh dưỡng rất cao Sức miễn dịch tự nhiên giảm, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn
và mẹ bắt đầu đi làm cũng là những lý do dẫn đến tỷ lệ SDD tại nhóm 6-24 tháng tuổicao Do đó biện pháp phòng chống SDD nên tập trung tác động vào giai đoạn này [60]
Phân hố SDD trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam không đồng đều giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn [2], [8] Các vùng nông thôn, đặc biệt thuộc các khu vực miền Trung, và
miền núi, Tây Nguyên [5], [8], có tỷ lệ SDD cao hơn hẳn so với các vùng và các đô thị khác;trong khi đó tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ SDD dao động từ 12-15%, đặc biệt
có những phường nội thành tỷ lệ SDD đã giảm xuống dưới 10% [59] Điều này được lý giảibởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch
Trang 20vụ y tế, trinh độ dân trí và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớngiữa khu vực nông thôn, miền núi so với các thành phố lớn và các khu đôthị Tỷ lệ SDD giảm, nhưng vẫn còn cao tại các vùng núi, nông thôn trongkhi tại các thành phổ, khu đô thị có xu hướng tăng tỷ lệ trẻ thừa cân béophì.
Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi cũng khác nhau theo vùng sinh thái [2], [7], [8] So sánh kết
quả từ cuộc khảo sát dinh dường toàn quôc năm 2000 với báo cáo tình hình dinh dưỡng toànquốc năm 2007, những vùng có tỷ lệ SDD cao nhất vẫn là: Tây Nguyên (40,4%), Bắc Trung
Bộ (35,2%) và Tây Bắc (34,9%) Đây hiện vẫn là những vùng nghèo, còn nhiều khó khăn,mùa màng thường xuyên chịu tác động nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt Nhìn chung, ở Nam Bộ
tỷ lệ SDD trẻ em thấp hơn so với các vùng khác (16,3%) nhưng vẫn còn ở mức cao
Biểu đồ 3: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân theo vùng sinh thái, Việt Nam, 2007 (8|
Trang 213 Mô hình nguyên nhân - hậu quả của SDD trẻ dưói 5 tuồi.
Hậu quả
Nguyên
Môi trườngsức khoẻ
Hậu quả lâu dài: phát triền thểlực và trí tuệ ở lứa tuổi trưởngthành, năng lực sản xuất, khảnăng sinh sản, các bệnh mạn tính
Nguồn lực cho y tế - Cung cấp nước sạch
Hậu quả tức thời: tử vong,
tàn tật
nhân / tiềm tàng
Tình trạng SDD trẻ em *
Khẩu phần ăn
Nguyên nhân trực tiếp
- Tình trạng sức khoẻ thể chất và tinh thần cùa người chăm sóc trẻ
- Kiến thức và niềm tin của người chăm sóc trẻ
- Vệ sinh đầy đủ
-Có chăm sóc y tế
- An toàn môi trường
ĐÓI NGHÈO
- Cấu trúc chính trị - xã hội - kinh tế
- Môi trường văn hoá - xã hội
- Các nguồn tiềm năng (Môi trường, công nghệ, con người)
Nguyên nhân gốc
Hình 1: Mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD của UNICEF [52|
Trang 22Mô hình của UNICEF được đưa ra từ nám 1998 Một số tổ chức khác cũng đã có những
mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình củaUNICEF [22], [35] Nhưng hiện tại, mô hình nguyên nhân hậu quả SDD của UNICEF là môhình được sử dụng rộng rãi nhất
Mô hình cho thấy nguyên nhân của SDD là đa ngành, có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề
y tế, lưong thực-thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình [1], [17], [32], [36] Môhình chỉ ra các nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và các yếu tố ởcấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiểu ăn về số lượng hoặc chất lượng (tình trạng
nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn [1], [44] Trẻ em lứa tuổi từ 0- 5 là đối tượng bị SDDcao nhất [1], [22] bởi vì cơ thế ở giai đoạn này phát triên nhanh, nhu cầu dinh dưỡng rất cao vàkhông được ăn bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng Người ta thường cho rằng những vùng ănchủ yếu các loại ngũ cốc, củ thường hay dẫn đen thiếu protein, nhưng nhiều nghiên cứu gần đâylại cho thây khẩu phần ăn của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu protein mới
Các bệnh truyền nhiễm làm tăng nguy cơ trẻ mắc SDD [1], [22] Những trẻ có HIV thường
bị tiêu chảy, và kéo theo đó là SDD [51] Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêuhoá, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó, tỷ lệ SDD có thểdao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ởmức cao (tiêu chảy, viêm hô hâp, sôt rét) [5] -
1% VUTONGfei
; í HỮ VIỆN ;
I sa;
Trang 23Những trẻ đã bị kém phát triển trong thời kỳ bào thai (SDD bào thai), có nguy cơ cao bịSDD sớm trong những năm tháng đàu tiên sau khi ra đời [12], [21] Tình trạng kém phát triểncủa trẻ biểu hiện qua cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi thấp, xảy ra trong khoảng thờigian tương đổi ngắn, từ khi mới sinh đen khi trẻ được 2 năm [35].
Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ
em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, các vẩn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tỉnh trạngnhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh [39], [46]
của người mẹ [39], [47], [50] Những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những người phụ nữ có học
thức cao hơn thì thường được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn (WB, 2000) [23] Bà mẹ bị SDD captính thường dễ dẻ con nhỏ yểu, cân nặng sơ sinh thấp [51] Tại Việt Nam, tình trạng dinh dưỡngcủa trẻ cũng có mối quan hệ mật thiết với trình dộ học vấn của người mẹ (p<0.01) Những người
mẹ học hết cấp 111 thì tình trạng dinh dưỡng của con tốt hơn so với con của nhũng người mẹhọc hêt cấp 1 [6], [7] Những người mẹ có học vấn cao hơn thì thường có kiến thức tốt hơn vềchăm sóc trẻ, dễ nhận biết các dấu hiệu SDD của trẻ hơn và thường có thu nhập khá hơn
Nguyên nhân gốc rễ (cơ bản) của SDD là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt pháttriển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế [46] Trong quá trình phát triển kinh tếhiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xãhội ngày càng sâu sác [29] Tổng điều tra dinh dưỡng Việt Nam (2000) đã chỉ ra yếu tố kinh tốgóp phần quan trọng liên quan đến dinh dưỡng [2] Nhìn chung các hộ gia dinh phải dành từ 40-60% kinh phí chi tiêu đe dùng cho ăn uống, tỷ lệ cao nhất là ở vùng Tây Bẳc và các xã nghèo(64%) Chi tiêu cho ãn uống càng nhiều thì các khoản chi tiêu cho chăm sóc y tế, giáo dục và cácnhu cầu khác sẽ giảm đi, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đời sống và việc chăm lo cho con cái.Đặc biệt, khủng hoảng kinh tế trong thời gian này làm cho việc đảm bảo an ninh lươngthực và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế, dinh dưỡng tại các nước đang phát triến càng trở nênkhó khăn [51],