1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007

122 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Sử Dụng Rượu Bia Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Lạm Dụng Rượu Bia Của Nam Giới Trong Độ Tuổi Lao Động Xã Việt Đoàn, Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh Năm 2007
Tác giả Vũ Thị Mai Anh
Người hướng dẫn TS. Phạm Việt Cường
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bẳc Ninh vớimục tiêu mô tả thực trạng tình hình sử dụng ruợu bia và một sổ yếu tổ liên quan đến lạmdụng rượu bia của n

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - Bộ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG

VŨ THỊ MAI ANH

THựC TRẠNG sử DỤNG RƯỢU BIA VÀ MỘT SÓ YÉU TÓ

HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH NĂM 2007

Trang 2

cd nr ơn

De hoàn thành huân văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp dỡ của các thầy cô giáo, các anh chị dồng nghiệp và của gỉa dỉnh.

Tôi yin bày tỏ íòng hình trọng vả biết ơn sâu sắc tới Tiên sỹ (phạm Việt Cường, người

dã tận tình hướng dẫn và truyền dạt cho tôi những hiên thức và hĩnh nghiệm quý 6áu trong suốt quá trinh thực hiện [uận văn.

Tôi chân thành cảm ơn (Ban Cjiam hiệu, các thày cô giáo, các bộ môn và các phòng ban Trường Dại học y tê' công cộng dã trang bị hiên thức, tạo diều hiện thuận íợi cho tôi trong suôi thời gian học tập tại Trường và thực hiện [uận văn tốt nghiệp.

Tôi yin trân trọng cảm ơn sự giúp dỡ nhiệt tình, tạo mọi diều hiện của (Bệnh viện huyện, Trung tâm y tê'dự phòng, Phòng y tê'huyện Tiên (Du, yã Việt (Đoản, huyện Tiên Du,

tỉnh (Bắc Ninh dã giúp dỡ tôi trong suốt quá trình [àm [uận văn tốt nghiệp.

Tôi yin chân thành cảm ơn các bạn bè, dồng nghiệp dã dóng góp nhiều ý hiên quý báu

dể tôi hoàn thành [uận văn tốt nghiệp.

Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia dinh dã giúp dỡ tôi về vật chất cũng như tinh thân dể tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu.

Một [ẩn nữa tôi yin chân thành cảm ơn!

Phả Nội, tháng 9 năm 2007

Vũ Thị Mai JVtifi

Trang 3

cc Công chức

CT

ĐTSĐH

Chương trìnhĐào tạo sau đại học

SAVY Quan hệ xã hội

Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of Vietnamese Youth)

SDRB

SK

Sử dụng rượu biaSức khoẻ

sx

Sản xuấtThái độTNGT Tai nạn giao thông

TNTT Tai nạn thương tích

TTGDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe

TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

WHO

Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organisation)

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHƯ VIẾT TÁT ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC BIẾU V ĐẶT VẤN ĐÊ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN cúu 3

CHUÔNG 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 4

CHƯƠNG 2 PHUƠNG PHÁP NGHIÊN cưu 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.6 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.7 Các biến số và một số khái niệm/qui ướcdùng trong nghiên cứu 29

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 31

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CƯU 33

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Thút trạng sử dụng rượu bia của đôí tudhg nghiên cúu 35

3.3 Thực trạng lạm dụng rượu bia của đổi tượng nghiên cứu 43

3.4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi lạm dụng rượu bia 45

3.5 Thông tin truyền thông về rượu bia và nhu cầu thông tin 58

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 63

4.1 Các đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu 63

4.2 Thực trạng sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu 64

4.3 Lạm dụng rượu bia và đặc điểm của nhóm đối tượng LDRB 75

4.4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi lạm dụng rượu bia 77

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 82

CHƯƠNG 6 KHUYẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 90

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia 5

Bảng 2 Khuyến nghị về mức độ sử dụng bia, rượu an toàn cho sức khoẻ tại một số quốc gia .6

Bảng 3 Tỷ lệ uống rượu bia theo giới và lượng rượu bia tiêu thụ 11

Bảng 4 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 5 Tình trạng kinh tế gia đình và số người trong gia đình của ĐTNC 35

Bảng 6 Mức độ sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu 36

Bảng 7 Lượng rượu bia uống trung bình trong 1 ngày và trong 1 tuần của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 8 Thông tin về hành vi uống rượu bia 40

Bảng 9 Loại rượu, bia thường uống 41

Bảng 10 Thông tin về đối tượng lạm dụng rượu, bia 44

Bảng 11 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc uống rượu bia 49

Bảng 12 Liên quan giữa một số yếu tổ về đặc điểm nhân khẩu của người trả lời với việc lạm dụng rượu bia 51

Bảng 13 Liên quan giữa kiến thức của người trả lời với việc LDRB 52

Bảng 14 Liên quan giữa quan niệm về vấn đề uống rượu bia với việc LDRB 54

Bảng 15 Liên quan giữa hành vi hút thuốc lá với lạm dụng rượu bia 55

Bảng 16 Liên quan giữa ảnh hưởng của gia đình, bạn bè với việc LDRB 56

Bảng 17 Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia 57

Trang 6

DANH MỤC BIỂU

Biểu 1 Lượng rượu bia tiêu thụ bình quân/người/năm theo khu vực [38] 9

Biểu 2 Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên uống rượu bia theo giới tính và nhóm tuổi, 2002 13

Biểu 3 Tỷ lệ nam giới uổng rượu bia theo trình độ học vấn và khu vực 14

Biểu 4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cửu 34

Biểu 5 Tuổi lần đầu tiên uống rượu bia 35

Biểu 6 Tần suất uống rượu bia của đối tượng nghiên cứu 36

Biểu 7 Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong tuần qua theo nhóm tuổi 38

Biểu 8 Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong tuần qua theo nghề nghiệp 38

Biểu 9 Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong tuần qua theo trình độ học vấn 39

Biểu 10 Tần suất sử dụng rượu bia trong tuần qua 39

Biểu 11 Cảm giác sau khi uống rượu bia 42

Biểu 12 Việc thường làm sau khi uống rượu bia 43

Biểu 13 Ý kiến người trả lời về lợi ích của việc uống rượu bia 45

Biểu 14 Ý kiến người trả lời về tác hại của việc uống rượu bia 46

Biểu 15 Ý kiến người trả lời về các bệnh có thể do nguyên nhân uống rượu bia 47

Biểu 16 Nguồn thông tin về rượu bia 58

Biểu 17 Tần suất nghe thông tin về rượu bia trong tháng qua 59

Biểu 18 Nhu cầu thông tin truyền thông về rượu bia 59

Biểu 19 Nội dung về rượu bia muốn được truyền thông 60

Biểu 20 Kênh thông tin về rượu bia ưa thích 61

Trang 7

TÓM TẤT BÁO CÁO

Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm giác hưngphấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch , tuy nhiên rượu bia là chất kích thích, gâynghiện, do vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫnđến tình trạng lạm dụng rượu bia, từ đó gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻcộng đồng và xã hội

Nghiên cứu này được tiến hành tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bẳc Ninh vớimục tiêu mô tả thực trạng tình hình sử dụng ruợu bia và một sổ yếu tổ liên quan đến lạmdụng rượu bia của nhóm nam giới trong độ tuổi lao động Phương pháp nghiên cứu là mô tảcắt ngang, định lượng kết hợp định tính, sử dụng bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu Mầuđiều tra gồm 308 nam giới trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi) được chọn theo phương phápngẫu nhiên hệ thống Thời gian nghiên cứu từ tháng 04/2006 đến tháng 9/2007 số liệu đượcquản lý và phân tích bằng phần mềm EpiData 3.1 và SPSS 13.0

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong nhóm nam giới là 87%trong năm qua và 61% trong tuần qua Tuổi bắt đầu sử dụng rượu bia trung bình là 17,44 ±

2,86 Mức uống rượu bia trung bình/ngày là 2,42 ± 1,36 đơn vị rượu, thấp nhất là 1 đơn vị

rượu và nhiều nhất là 10 đơn vị rượu Lượng rượu bia uống trung bình/tuần là 8,24 đơn vịrượu Tỷ lệ say rượu bia trong tháng qua là 10,7% Đa số những người sử dụng rượu biathường uống rượu trắng (97,2%) và uống ngay tại nhà (79,2%) hoặc uống với bạn bè(73,8%) Tỷ lệ lạm dụng rượu bia trong nhóm nghiên cứu là 10,7% tập trung chủ yếu ở lứatuổi 45-54 (42,4%), có trình độ học vấn cấp 2 trở lên (78,8%) và là nông dân (45,5%)

Nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt về nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạngkinh tế và ảnh hưởng của yếu tố gia đình với tình trạng lạm dụng rượu bia (p>0,05) Nhóm

có bạn bè thân thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ lạm dụng rượu bia cao gấp 7,138 lần

so với nhóm có bạn bè thân không thường xuyên uống rượu bia; những người có thái độđồng ý với việc uống rượu bia do ảnh hưởng của áp lực nhóm có nguy cơ lạm dụng rượu biacao gấp 2,432 lần so với những người có thái độ đối lập sau khi đã kiểm soát tác động củamột số yếu tố khác

Kết quả của nghiên cứu góp phần thúc đẩy việc xây dựng và triển khai chương trìnhtruyền thông về sử dụng rượu bia an toàn, họp lý trong nhóm nam giới ở độ tuổi lao động tạinông thôn Việt Nam

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐÈ

Sử dụng rượu, bia (SDRB) là một thói quen mang đậm nét văn hoá tại nhiều quốcgia, trong đó có Việt Nam Ước tính 1/3 dân số thế giới (hem 2 tỷ người) có SDRB Có tới80% sổ người trên 15 tuổi ở Tây Âu, Đông Âu và các nước phát triển ở Tây Thái BìnhDương, 57% dân số ở các nước đang phát triển SDRB [38], [48], [49], Tính chung trên toàncầu, lượng rượu tiêu thụ bình quân/người/năm là 5,81 lít và bia là 22 lít [22],

SDRB với mức độ hợp lý có thể đem lại cho con người cảm giác hưng phấn, khoankhoái, lưu thông huyết mạch , tuy nhiên rượu, bia lại là chất kích thích, gây nghiện, do vậyngười sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạnglạm dụng rượu bia (LDRB) Nhiều nghiên cứu đã kết luận có mối liên quan giữa LDRB vớihơn 60 bệnh khác nhau [29], [38], LDRB chiếm 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sửdụng thuốc lá (4,1%) và cao huyết áp (4,4%) và đứng hàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây

tử vong cao nhất LDRB là nguyên nhân trực tiếp của nhiều vấn đề xã hội như: nghèo đói,tai nạn giao thông (TNGT), bạo lực, tội phạm, tự tử LDRB tạo gánh nặng cho nền kinh tế,nhất là ở các nước đang phát triển Theo số liệu ở nhiều nước, phí tổn do rượu, bia chiếm từ2-5% tổng thu nhập quốc nội (GDP) [29], [38]

Ở nước ta SDRB đã trở thành một thói quen phổ biển, như một phần không thể thiếutrong giao tiếp xã hội [11] Các nghiên cứu trước đây cho thấy SDRB phố biến hơn trong

nhóm nam giới Theo Điều tra Y tế quốc gia năm 2002, có 53% hộ gia đình có ít nhất 1

người SDRB trong tuần, trong đó nam chiếm tới 46% [5] Điều tra quốc gia về sức khỏe của

Vị thành niên và thanh niên (SAVY) cũng cho thấy có 69% nam thanh thiếu niên SDRB [6].Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế có 64% nam từ 15 tuổi trở lên cóSDRB với mức uống trung bình 6,4 đơn vị rượu (ĐVR)/ngày [20] Những người đã từng sayrượu có nguy cơ bị TNGT gấp 2 lần, nguy cơ đánh người cao gấp 4 lần và có nguy cơ thử tự

tử gấp 2,7 lần so với những người chưa từng say rượu [6] Các nghiên cứu của bệnh việnTâm thần Trung ương cho thấy một sổ hậu quả do LDRB và nghiện rượu gây ra như: đánhnhau (10-80%), bị bắt giữ (5,2-25%), gia đình tan vỡ (5,4-18%) Ở thành phố Hồ Chí Minh,say rượu gây ra 24% sổ vụ tai nạn vào năm 2002, 80% số vụ cưỡng dâm trẻ em có liên quanđến rượu [13],

Trang 9

Cho tới nay, đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về tình hình SDRB, LDRB và nghiệnrượu của người dân Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa mô tả được bức tranh toàn diện

về tình hình SDRB trong cộng đồng, chưa thấy được mô hình SDRB trong nhóm đối tượng

có nguy cơ cao, đồng thời chưa chỉ ra được những yêu tô nào liên quan đến hành vi LDRB.Việc tìm hiểu mô hình SDRB trong từng nhóm đối tượng sẽ cung cấp thêm thông tin, đểthiết kế chương trình truyền thông phù hợp Vì vậy, tìm hiểu thực trạng SDRB trong nhómnam giới ở độ tuổi lao động - độ tuổi có vai trò quan trọng trong sản xuất ra của cải vật chất

- là hết sức cần thiết

Tiên Du là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 25km,gồm 15 xã và 1 thị trấn [1], Trên địa bàn huyện, hàng năm có nhiều lễ hội lớn như lễ hộiPhật Tích, hội Lim, hội Đồng Kỵ Theo sổ liệu thống kê của bệnh viện huyện, trong năm

2006 có hơn 100 trường hợp TNGT nhập viện, trong số này có khoảng 1/3 trường hợp cóliên quan đến SDRB [1], Những hậu quả khác như ngã, gây rối trật tự công cộng, các bệnh

có liên quan đến SDRB tuy không có số liệu thống kê nhưng cũng rất phổ biến và có xu

hướng ngày càng gia tăng

Việt Đoàn là một xã nằm ở vị trí trung tâm của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Dân

số của xã là 10.055 người, có 5 thôn và 1 phố Chợ Sơn là trung tâm buôn bán và giao lưu

hàng hóa ở nhiều nơi đến và họp hàng ngày Xung quanh khu chợ Sơn có khoảng 16 cửahàng bán bia, rượu Tại mồi thôn trong xã, trung bình có 1 đến 2 quán có bán rượu và có từ 1đến 2 hộ gia đình tự nấu rượu bán Có tới 3/4 số trường hợp tai nạn giao thông đến sơ cứutại trạm y tế có liên quan đến SDRB Bên cạnh đó cũng có một số hậu quả khác do SDRBnhư ngã do say rượu bia, gây rối trật tự công cộng, gặp rắc rôi trong gia đình hoặc bị bệnh

xơ gan do rượu dẫn đến tử vong

Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào về tình hình và mức độ SDRB đượctiến hành tại xã Câu hỏi đặt ra là thực trạng SDRB của nam giới trong độ tuổi lao động tại

xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh như thế nào? Tỷ lệ lạm dụng rượu bia củanhóm nam giới là bao nhiêu? Có những yếu tố nào liên quan tới việc lạm dụng rượu bia? Do

đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Thực trạng sử dụng rượu bìa và một sổ yếu tố liên

quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2007.

Trang 11

Rượu là một hợp chất đặc biệt có tên gọi hoá học là ethylic alcohol (Ethanol) được tạo

ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc

Trong lĩnh vực tâm thần học, rượu được coi là một loại thuốc tác dụng mạnh, có thểgây nhiễm độc cấp diễn (gây lên say rượu thông thường hoặc say rượu bệnh lý) hoặc nhiễmđộc mạn tính gây hại cho nhiều cơ quan phủ tạng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, cả cơ thể lẫntâm thần, nếu lạm dụng nó [15]

2 Phân loại rượu

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu Các tiêu chí dùng để phân loại rượuthường là:

• Theo muc đích sử dung - Theo tiêu chí này người ta chia rượu ra làm 2 loại: rượu dùng để sản xuất dung môi chất tẩy (methyl alcohol, iso propyl) được sản xuât với khối lượng lớn,

giá thành rẻ và rượu để uổng (ethanol) [37].

• Theo nguyên liêu và cách thức chế tao : Theo tiêu chí này người ta phân rượu thành 5 loại

như sau:

+ Brandy: chưng cất từ nước hoa quả, có nồng độ từ 40-50%

+ Whisky: chưng cất từ ngũ cốc có nồng độ 40-55%

+ Rum: chưng cất từ các loại hoa quả có hàm lượng đường cao với nồng độ từ 40-55%

+ Rượu vang/vang đỏ/rượu nâu/rượu sâm banh: chưng cất từ nho, đào, sơri có nồng độ từ10-22%

+ Bia: chưng cất từ ngũ cốc, có nồng độ từ 4-8% [37]

• Theo Tổ chức Y tế the giới (WHO) : Các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá

trình lên men và chưng cất được chia làm 3 loại:

Trang 12

+ Bia: thường có độ cồn 5%

+ Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12-15%

+ Rượu mạnh: có độ cồn khoảng 40% [8]

3 Đơn vị rượu/cốc chuẩn

"Đơn vị rượu ” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại bia, rượu với nhiều

nồng độ khác nhau Hiện chưa có một quy ước hay thoả thuận nào về việc xác định một “đơn

vị rượu chuẩn” chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên gần đây các nước trên thế giới đã áp dụngtiêu chuẩn: “Đơn vị rượu” thường có từ 8-14 gram rượu nguyên chất (Pure Ethanol) chứatrong dung dịch đó [35]

Bảng 1 “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia

4 Mức an toàn trong sử dụng bìa, rượu

Mức độ an toàn trong sử dụng bia, rượu được đề ra theo những căn cứ từ kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do bia, rượu gây ra đối với sức khoẻ Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của bia, rượu đối với sức khoẻ thường ở mức tối thiểu

Trang 13

tại một số quốc gia [34]

Australia 40g/ngày hoặc 280g/tuần 20g/ngày hoặc 140g/tuần

New Zealand 60g/ngày hoặc 210g/tuần 40g/ngày hoặc 140g/tuần

Vương quốc Anh 32g/ngàyhoặc 168g/tuần 24g/ngày hoặc 112g/tuần

Mỹ 42g/ngày hoặc 196g/tuần 28g/ngày hoặc 98g/tuần

Theo WHO, phụ nữ uống trên 14 đơn vị rượu mỗi tuần, hơn 2 đơn vị rượu mỗi lần;

nam giới uống trên 21 đơn vị rượu mồi tuần, hon 3 đơn vị rượu mồi lần; người trên 65 tuổiuống trên 14 đơn vị rượu mỗi tuần, hơn 2 đơn vị rượu mỗi lần được coi là người lạm dụngbia, rượu [14],

Theo DSM-IV, nếu có sự xuất hiện của ít nhất một trong số những biểu hiện sau trong

vòng 1 năm thì sẽ được chẩn đoán là LDRB

■ Sử dụng lặp lại rượu dẫn đến mất khả năng thực hiện các năng lực hành vi: lao động sản xuất, học tập, sinh hoạt

Trang 14

■ Sử dụng lặp lại rượu trong những tình huống có thể bị nguy hiểm về thế chất.

■ Lặp lại những hành vi phạm pháp liên quan đến việc sử dụng rượu (bị xử phạt vì nhữnghành vi không bình thường do uống rượu)

■ Sử dụng rượu mặc dù biết có thể xảy ra những hậu quả không tốt cho sức khoẻ, cho cácmối quan hệ trong gia đình và xã hội

■ Không có biểu hiện của sự nghiện rượu (lệ thuộc) [15]

6 Say rượu thông thường.

Say rượu thông thường còn gọi là say rượu cấp diễn, là hậu quả của nhiễm độc nhấtthời do rượu, thường xẩy ra ở những người LDR, uống quá ngưỡng quy định, dẫn đến nhữngthay đổi hành vi, cảm xúc trong trạng thái ý thức rối loạn, mù mờ không rõ ràng, nhưng vẫncòn khả năng nhận biết xung quanh, trừ trường hợp nhiễm độc trầm trọng Tuỳ theo lượngrượu uống và khả năng dung nạp của từng cá thể mà say rượu có thể biểu hiện 3 mức độ nhẹ,trung bình và nặng Các trường hợp ngộ độc rượu cấp thể nhẹ sau giai đoạn ngủ sâu sẽ tự hồi

phục để lại ở người bệnh quên từng mảng Trong trường hợp ngộ độc cấp nặng (say rượunặng) có các biếu hiện như: hôn mê, suy hô hấp, truy tim mạch, hạ đường huyết thì cần đượccấp cứu tại các trung tâm hồi sức cấp cứu [15]

7 Say rượu bệnh lý

Là một trạng thái ngộ độc rượu cấp rất đặc biệt, hiếm gặp, có thể xảy ra ở người uổnglượng rượu không lớn Rượu chỉ là tác nhân chủ yếu dẫn đến say rượu bệnh lý, kết hợp vớinhiều yếu tố thuận lợi khác như: sự mệt nhọc, thiếu ngủ, đói ăn, suy kiệt, nóng quá mức, khátquá mức, bệnh nhiễm trùng, lo âu, sợ sệt căng thẳng Say rượu bệnh lý phát sinh không phụthuộc vào số lượng và loại rượu Khởi phát nhanh từ vài phút đến vài giờ Người bệnh lâmngay vào tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, mất định hướng, không duy trì được sự tiếpxúc với người xung quanh [15]

Trang 15

Sản xuất rượu bia đã có quá trình phát triển lâu đời trên the giới Trong thập kỷ cuối của thế kỷ

XX, ngành công nghiệp bia trên toàn cầu đã tăng trưởng từ 2- 8%/năm Tổng sản lượng bia toàn thếgiới vào năm 2001 đã vượt quá con số 140 tỷ lít Đối với ngành công nghiệp rượu, Pháp và các nướcNam Mỹ vẫn luôn đứng đầu về sản xuất và tiêu thụ với mức tăng trưởng đạt 3% [22], [38],

Do nhu cầu của thị trường về mặt hàng rượu bia ngày càng tăng và lợi nhuận thu được từngành công nghiệp này ngày càng lớn nên trên thế giới đã và đang xuất hiện nhiều tập đoàn đa quốcgia sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực trên

thực tế nhu cầu tiêu dùng lại rất lớn và phổ biến ở mọi quốc gia, trừ những nước theo đạo Hồi Ước

tính 1/3 dân sổ the giới (hơn 2 tỉ người) có sử dụng rượu 80% số người trên 15 tuổi ở Tây Âu, Đông

Âu và các nước phát triển ở Tây Thái Bình Dương, 57% dân số ở các nước đang phát triển có sử dụngrượu [29],

Mức độ tiêu thụ rượu bia tại các quốc gia có thể thu thập được từ các nguồn như: dữ liệu của

các cuộc điều tra hoặc hệ thống giám sát số liệu về sản xuất, kinh doanh mặt hàng này Tuy nhiên,mức tiêu thụ trong thực tế thường nhiều hơn so với sổ liệu được công bổ của các nước do khó khăntrong kiểm soát lượng rượu bia nhập khẩu bất họp pháp và lượng rượu bia do dân tự sản xuất, không

có đăng ký, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tại châu Phi, rượu bia sản xuất không đăng kýchiếm phần lớn lượng rượu bia tiêu thụ: Tanzania 90%; Kenia 85% [49] Đối với bia, mức tiêu thụbình quân trên toàn cầu là 22 lít/người/năm [22], Châu Âu là khu vực có mức tiêu thụ rượu bia bìnhquân/người/năm cao nhất Tính chung toàn châu Âu, lượng rượu bia tiêu thụ bình quân/người/năm là12,11 lít, gấp 2 lần so với mức chung toàn cầu là 5,81 lít Châu Mỹ và Tây Thái Bình Dương có mứctiêu thụ rượu bình quân/người/năm là 5 lít Khu vực châu Phi, Đông Địa Trung Hải và khu

Trang 16

vực Đông Nam Á có mức tiêu thụ bình quân/người/năm là 2 lít [27] Sử dụngrượu bia đang có khuynh hướng gia tăng nhanh ở khu vực Đông Nam Á, ổn định ởcác khu vực khác như: châu Phi, châu Mỹ và Đông Địa Trung Hải Riêng đối vớichâu Âu mức độ tiêu thụ rượu bia lại đang có chiều hướng giảm dần.

Biểu 1 Lượng rượu bia tiêu thụ bình quân/ngưòi/năm theo khu vực [27]

Trên toàn thế giới, có 4 loại rượu bia thường được sử dụng bao gồm [38]:

- Rượu bia truyền thống tự nấu tại nhà/sản xuất thủ công: nấu từng mẻ với số lượng ít, sử dụng cácnguyên liệu sẵn có ở địa phương, phân phối thường chỉ giới hạn đến các hộ gia đình, các vùngnông thôn lân cận

- Rượu bia truyền thống sản xuất công nghiệp: loại rượu bia này được sản xuất phù họp với khẩu vịngười địa phương, sử dụng các nguyên liệu sẵn có, sản xuất với số lượng lớn, giá thấp và chấtlượng ổn định

- Rượu bia theo mẫu/cách của châu Âu được địa phương hoá: có giá rẻ, thường có tên/nhãn mác gầngiống với các nhãn rượu bia nổi tiếng trên thế giới

- Rượu bia sản xuất công nghiệp có tính toàn cầu: sản xuất và phân phối bởi các tập đoàn đa quốcgia, các công ty xuyên quốc gia, có tên hiệu riêng, kiểm soát

Trang 17

lớn bởi các công ty, tập đoàn lớn, có truyền thống lâu đời như rượu vang Pháp, rượu wishky của Anh,các công ty bia xuyên quốc gia như Heineken, Carlsberg, Giới trẻ có khuynh hướng sử dụng bia, các

đồ uống có ga nồng độ cồn thấp (alcopop) và rượu mạnh trong khi những người lớn tuổi thường hayuống rượu nhẹ (rượu vang) [38]

Ngược lại, hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới chủ yếu sử dụng loại rượu bia truyềnthống do chính nước họ sản xuất (thường là những loại rượu bia tự nấu tại nhà hoặc sản xuất thủcông) Hàn Quốc thường uống rượu truyền thống là rượu soju và rượu makkolli, Nhật Bản uống rượu

Sake, Việt Nam uống rượu trắng, Malaysia uống rượu Arak, Toddy hay Samsu [26] Tuy nhiên tạicác nước đang phát triển, khuynh hướng sử dụng các đồ uổng sản xuất công nghiệp bởi các công ty đaquốc gia đang dần tăng lên do quá trình toàn cầu hoá [44],

Phần lớn những người uống rượu, bia thường không sử dụng hàng ngày Theo kết quả về một

nghiên cứu về sử dụng rượu bia tại 12 quốc gia đang phát triến cho thấy 50% nam giới có uống rượu ítnhất 1 lần/tuần Người già có khuynh hướng sử dụng rượu, bia hàng ngày nhiều hon so với nhómthanh niên [47] Tại Scotland, 29% nam giới ở lứa tuổi 65-74 uống rượu trên 5 lần/tuần Tỷ lệ nàytrong nhóm từ 16-24 tuổi chỉ có 9% [36],

Nam giới có khuynh hướng sử dụng rượu bia nhiều hon nữ giới Ở Scotland, theo số liệu năm

2003 có 73% số nam giới và 59% số nữ giới trên 16 tuổi sử dụng rượu, bia; 16% nam giới và 8% nữgiới uống rượu, bia ít nhất 5 lần/tuần [36] Tại Canada, 82% nam giới và 76,8% nữ giới trên 15 tuổi cóuống rượu [30] Ở New Zealand, con số này ở nam giới và nữ giới lần lượt là 88% và 83% [23]

Các nước đang phát triển, những người uống rượu bia chủ yếu là nam giới Tại khu vực ĐôngNam Á, ước tính khoảng 45% nam giới (>15 tuổi) có sử dụng

Trang 18

rượu, tỷ lệ này trong nhóm nừ là 5% Malaysia là một quốc gia phần lớn dân số theo đạo Hồi nhưng sốliệu điều tra cho thấy 12% dân số có uống rượu bia, trong đó chủ yếu là nam giới Lào, 19,2% nam giới và 5,3% nữ giới uống rượu bia% [26], [38].

Bảng 3 Tỷ lệ uống rượu bia theo giói và lượng rượu bia tiêu thụ [38].

(%)

Nữ (%)

Mức độ uống rượu (1-4; 4: nguy hiểm cao nhất)

Châu Phi khu vực D (Nigeria, Algeria) 47 23 2,3

Châu Phi khu vực E (Nam Phi, Ethiopia) 56 30 3,2

Châu Âu k/v BI (Bungari, Balan, Thổ Nhĩ

Đông Nam châu Á k/v B (Indonesia, Thái

Tây Thái Bình Dương k/v B (Trung Quốc,

Phillippine, Việt Nam)

1.4 Tuổi bắt đầu sử dụng rượu bia

Tuổi lần đầu uống rựơu bia bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hoá và xã hội Tại châu Âu, Trung tâm nghiên cứu về hành vi uống rượu ở lứa tuổi học sinh tiến

Trang 19

lứa tuổi 13 và 29% ở tuổi 15 uống rượu hàng tuần [46], [48] Nước Mỹ, 70% học sinh phổ thông trung học đã từng uống rựơu bia, mặc dù tuổi được phép uống rượu bia theo luật pháp là từ 18-21 tuổi (tuỳ theo từng bang); tuổi bắt đầu sử dụng rượu bia là 13,1 tuổi [26] Cộng hoà Séc, lứa tuổi lần đầu uống rượu là 12 Đặc biệt tại một số quốc gia đang phát triển ở khu vực Nam Mỹ như Porto Alegre, Brazil, tuổi bắt đầu sử uống rượu bia rất thấp: 10,1 tuổi [26].

2 Tại Việt Nam

Xu hướng tiêu dùng rượu bia

Ở Việt Nam việc sử dụng rượu bia rất phổ biến, từ nông thôn đến thành thị Uống rượu bia làmột thói quen từ lâu đời và đặc biệt được sử dụng nhiều trong các dịp lễ hội, đám cưới, lễ Tet, giỗ, liênhoan Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, người dân Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi hơn

để uống bia rượu như có khả năng chi trả cao hơn, giao tiếp xã hội nhiều hơn, tiếp cận với nhữngphương thức tiếp thị rượu bia tinh vi hơn [4]

Sự gia tăng nhanh chóng về mặt hàng rượu, bia trên thị trường đã kéo theo mức tiêu thụ bình

quân/người/năm ngày một tăng Hiện tại, mức tiêu thụ bia bình quân/người/năm ở nước ta là 15,8 lít,gần bằng 2/3 so với mức tiêu thụ chung của toàn thế giới (22 lít) Mức tiêu thụ rượu bìnhquân/người/năm ở nước ta hiện tại là 3,9 lít trong khi mức tiêu thụ chung trên toàn cầu là 6 lít So vớicác nước trong khu vực châu Á, Việt Nam là một nước có mức độ tiêu thụ rượu vào loại trung bình[38] Tuy nhiên, trong thực tể, mức độ tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam còn lớn hơn nhiều so với số báocáo do chưa kiểm soát được toàn diện lượng rượu sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ

Báo cáo xu hướng sử dụng đồ uống có cồn của tổ chức FAO cho thấy việc tiêu thụ rượu biacủa Việt Nam đã tăng lên rõ rệt trong hai thập kỷ qua, từ mức tiêu

Trang 20

thụ trung bình năm 1989 khoảng 0,8 lít/người/năm đã tăng lên mức 1,4lít/người/năm vào năm 2000 [26].

Sử dụng rượu bia theo giới và nhóm tuổi

Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 cho thấy 45,7% nam giới và 1,9% nữ giới 15 tuổi trở lên có uống rượu bia từ 1 lần trở lên trong một tuần và mỗi lần uống từ 100ml rượu hoặc 1 lon/chai bia trở lên [5] Điều tra SAVY cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên nam (14-25 tuổi) sử dụng bia là 69% và ở nữ thanh niên là 28,1% (SAVY) [6]

về sự khác biệt trong sử dụng rượu bia giữa các nhóm tuổi, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới uống rượu bia tăng mạnh trong nhóm tuổi dưới 25 và đạt đỉnh cao ở nhóm tuổi 35-45

Biểu 2 Tỷ lệ ngưòi từ 15 tuổi trở lên uống rượu bia theo giới tính và nhỏm tuổi,

2002 [4], [5],

Tuổi bắt đầu uống rượu bia

Uống rượu ở tuổi vị thành niên và thanh niên là một vấn đề được nhiều nước quan tâm Khảnăng kiểm soát bản thân của thanh niên kém hon người lớn, nên khi say rượu bia có thể có những hành

vi nguy hiểm như lái xe với tốc độ cao gây tai nạn, đánh nhau, lạm dụng tình dục,

Trang 21

Nguyên, người nông thôn [5] Sử dụng rượu bia theo trình độ học vẩn, nghề nghiệp, thu nhập, nông

thôn/thành thị và vùng địa lý

Các nghiên cứu đều chỉ ra nhóm có trình độ học vấn cao có tỷ lệ uống rượu bia cao hơn so vớinhóm có trình độ học vấn thấp Kết quả Điều tra y tế quốc gia cho thấy tỷ lệ uống rượu bia ở nhómnam giới có trình độ trên cấp III, kể cả ở nông thôn và ở thành thị là khoảng 60% so với tỷ lệ uốngrượu bia của nam giới từ cap III trở xuống chỉ tập trung ở mức khoảng 40% [5] Theo kết quả nghiêncứu về tình hình lạm dụng rượu bia, tỷ lệ người không biết chữ sử dụng rượu bia ít nhất 1 lần 1 tuần là30%, trong khi người có trình độ trên đại học là 77% [20]

Biểu 3 Tỷ lệ nam giới uống rượu bia theo trình độ học vấn và khu vực

Theo nhóm nghề, tỷ lệ uống rượu bia cao nhất ở những người làm lãnh đạo/quản lý, nhân viênvăn phòng Với nhóm nghề phải vận hành máy móc và điều khiển phương tiện giao thông, tỷ lệ uốngrượu bia cao ở nhóm nghề này cần phải được quan tâm chú ý đối với chương trình phòng chống tainạn thương tích vì người uống rượu bia thường dễ gây ra các tai nạn lao động, tai nạn giao thông trongquá trình làm việc

Trang 22

Nghiên cứu tại một huyện đồng bằng sông Hồng cũng cho thấy nhóm cán bộ công nhân viênchức có xu hướng uống bia rượu nhiều hon nhóm nông dân và nghề khác (91% so với 85-87%) [31].Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế cũng cho thấy nhóm cán bộ nhà nước sử dụngrượu bia nhiều hơn nhóm nông dân và nghề khác (49% so với 35% và 20%) [20].

Các báo cáo hiện nay chưa thấy có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ sử dụng rượu bia ở các nhómkinh tế khác nhau, tuy nhiên tỷ lệ này ở người thuộc nhóm nghèo ở vùng nông thôn có xu hướng caohơn các nhóm khác

Uống rượu có liên quan chặt chẽ đến các bối cảnh văn hoá xã hội như thói quen, tập quán,truyền thống, thành phần dân tộc và nghề nghiệp ở các vùng Chính vì vậy có sự khác biệt khá rõ về tỷ

lệ nam giới uống rượu bia giữa các vùng ở nước ta

Ở Việt Nam, tỷ lệ nghiện rượu chưa được tính chung cho cả nước, chỉ có một vài nghiên cứu quy mônhỏ để đánh giá Nghiên cứu về các bệnh lý liên quan đến rượu tại huyện Ba Vì, khám lâm sàng trên

585 đối tượng từ 18 đến 60 tuổi năm 2003 cho thấy ở nam giới, tỷ lệ nghiện rượu là 8% Cũng nghiêncứu tại Ba Vì, năm 2004 sử dụng bộ câu hỏi AUDIT trên 3.423 đối tượng đã phát hiện 25,5% nam cócác vấn đề về lạm dụng rượu và nghiện rượu [31] Nghiên cứu tại phường Trung Trực, Hà Nội chothấy 6,7% nam giới lạm dụng rượu bia [21] Ket quả nghiên cứu tại 3 tỉnh của Báo cáo đánh giá tình

hình lạm dụng rượu bia cho thấy có sự khác nhau giữa tỷ lệ lạm dụng rượu và lạm dụng bia: 36% namgiới lạm dụng rượu và 10% lạm dụng bia [20],

Sự khác nhau giữa các nhóm nghề nghiệp, học vấn và kinh tế chưa được thể hiện rõ ràng ở cácnghiên cứu sẵn có Nghiên cứu tại phường Trung Trực, Hà Nội năm 1994 cho thấy lạm dụng rượu tậptrung cao nhất ở nhóm công nhân lái xe (68% trong sổ người lạm dụng) còn nghiện rượu tập trung ởnhóm lao động tự do [21], Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế về lạm dụng rượunăm

Trang 23

đánh giá tình hình sử dụng rượu vì chỉ số này có liên quan chặt chẽ với các hậu quả về sức khoẻ vàkinh tể - xã hội do rượu gây ra Theo SAVY, có 69% nam và 28% nữ ở lứa tuổi 14 đến 25 đã từnguống rượu bia, trong đó 58% nam và 30% nữ đã từng bị say [6] Một nghiên cứu tại huyện Ba Vì tỉnh

Hà Tây cho thấy tỷ lệ say rượu ở nam giới là 5,7% [31 ]

III Tác hại của ỉạm dụng rượu bia

Lạm dụng rượu bia, nghiện rượu bia không chỉ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cánhân người sử dụng mà còn đem lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho gia đình và xã hội [38], [49]

Uống nhiều rượu và kéo dài sẽ ảnh hưởng đến các hệ thống cơ thể Lúc đầu ảnh hưởng củarượu lên các chức năng phủ tạng cơ thể còn có thể hồi phục được Sau đó xuất hiện tổn thương phủ

tạng không hồi phục được Bốn hệ thống phủ tạng thường bị rượu gây tổn thương bao gồm: (1) Hệthống thần kinh trung ương; (2) Hệ thống tiêu hoá; (3) Hệ thống miễn dịch và tạo máu; (4) Hệ thốngtim mạch [9],

LDRB còn ảnh hưởng đến vấn đề tâm lý, gây mất ngủ, trầm cảm, lo lắng, quên Người LDRB

không kiểm soát được hành vi, dễ bị sa vào các hành vi nguy cơ cao dễ lây truyền HIV/AIDS như:tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục không an toàn, tự tử [9],

2 Hậu quả đối với sức khoẻ cộng đồng:

LDRB xếp hàng thứ 5 trong 10 nguy cơ đối với sức khoẻ Năm 2000, khoảng 3,2% dân số thếgiới (1,8 triệu người) tử vong do những nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu [29], [38], [49] Tạichâu Âu, rượu bia là nguyên nhân tử vong của 63.000 người ở lứa tuổi 15-29 (năm 2002) Tử vong dochấn thương không chủ định và có chủ định liên quan đến sử dụng rượu chiếm 40-60% [48]

Trang 24

Lạm dụng rượu bia chiếm 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sử dụng thuốc lá (4,1%) vàcao huyết áp (4,4%) Ở châu Âu, 22% gánh nặng bệnh tật ở nam giới và 1,5% gánh nặng bệnh tật ở nữgiới nguyên nhân do rượu Hậu quả của lạm dụng rượu bia chiếm 9,2% DALYs ở các quốc gia pháttriển và 6,3% DALYs ở những quốc gia đang phát triển, có tính đến các vấn đề như rối loạn tâm thần(nghiện rượu, trầm cảm, tâm thần do rượu) và những chấn thương không chủ định (tai nạn giao thông,bỏng, ngã, đuối nước ) có nguyên nhân do rượu [38], [49].

3 Hậu quả đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như thanh thiếu niên,

phụ nữ và gia đình họ

Sử dụng rượu bia từ lứa tuổi nhỏ dễ dẫn đến lạm dụng rượu bia sau này Trẻ em và trẻ vị thànhniên lạm dụng rượu bia cũng có nguy cơ cao gặp phải các vấn đê gây ra do rượu như trầm cảm, lạmdụng các chất gây nghiện khác, biến đổi nhân cách [29],

Phụ nữ uống rượu có nhiều nguy cơ và được xếp vào nhóm dễ tổn thương do ảnh hưởng củahành vi uống rưọu Phụ nữ uống rượu dễ bị say, dễ có tác động xấu hơn nam giới do thể lực yếu hon

Phụ nữ uống rượu trong thời kỳ mang thai có nguy cơ sinh con nhẹ cân, sinh sớm, con sinh ra dễ bị dịtật hoặc bị Hội chứng bào thai nhiễm độc rượu (FAS: Fatal Alcohol Syndrome) [38],

Chi phí để khắc phục các hậu quả của chứng nghiện rượu là rất lớn, vì bên cạnh gánh nặng của

hệ thống y tế là các phí tổn gián tiếp như mất năng suất kinh tế quổc dân vì mất khả năng lao động và

về hưu non; các phí tổn do tai nạn giao thông có nguyên nhân là rượu; tội phạm và tỷ lệ ly dị cao củanhững người nghiện rượu;, chi phí y tế mà xã hội phải trợ cấp để chữa những bệnh có nguyên nhân bởibia rượu; hay đó là những tổn thất tinh thần mà vợ con người nghiện phải chịu đựng Những chi phínày khó được tính đến trong đo lường thiệt hại về mặt kinh tế của vấn đề lạm dụng rượu bia [46] Ướctính các quốc gia chi tiêu khoảng 2-5% GDP cho rượu bia Một số quốc gia đã phải chi tiêu xã hội chorượu bia tới 6 tỷ USD (Nhật Bản) hoặc lên tới 190 tỷ USD (Mỹ), trong đó 20% cho các chi phí trựctiếp như chi cho

i'tWG 3HYTEC0NGC0HG

THLVIEX

Ị sỏ- _

V— _ _ I

Trang 25

động trí óc Đó là hậu quả của việc nghỉ làm, đi làm muộn, làm việc kém, mất khả năng tập trung,giảm kỹ năng, giảm sự khéo léo, tai nạn lao động trong khi vận hành máy móc khiến người lao độngtrở thành người tàn tật từ mức độ nhẹ cho đến mất khả năng lao động vĩnh viễn, vấn đề nghiện rượu ởngười lao động sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động, giảm thu nhập không chỉ với cá nhân người laođộng mà còn tới thu nhập chung của toàn xã hội [48] Tại Malaysia, 25% trường hợp mất việc làm là

do nghiện rượu [47] Tại New Zealand, uống rượu tại nơi làm việc là nguyên nhân gây 25% trường

hợp chấn thương do tai nạn lao động, liên quan đến công nhân say rượu [23]

Một trong những hậu quả cấp tính do rượu gây ra là các trường hợp TNGT do say rượu TạiPháp, năm 1999, 40% các trường hợp tai nạn thương tích và 4.000 trường hợp tử vong do tai nạn giaothông có nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu Tại Thuỵ Điển, hơn 1/2 số người tử vong do tai nạngiao thông là có sử dụng rượu bia [48] Tại New Zealand, uống rượu khi tham gia giao thông gây ra25% các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông đường bộ Trong số nam giới ở độ tuổi từ 20-24, có29% trường hợp tử vong tai nạn giao thông đường bộ do nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu bia[23]

7 Tội phạm

Sử dụng rượu bia có liên quan đến vấn đề phạm tội như cướp giật, hành hung, cãi vã, gây rốitrật tự công cộng Tại Bỉ, 20% tội phạm hình sự, 40% các trường hợp bạo lực có liên quan đến sửdụng rượu [48] Điều tra quốc gia của Mỹ cũng cho thấy 30-40% nam giới và 27-34% nữ giới đã từngphải chịu hậu quả bạo lực từ người sống chung với họ mà có liên quan đến uống rượu bia; 10% namgiới và 5%

Trang 26

nữ giới trong độ tuổi 14-65 trong vòng 12 tháng trước đó bị hành hung bờingười có sử dụng ruợu [28].

8 Các hậu quả về mặt xã hội khác

Liên quan đến việc sử dụng rưọu bia, ngoài những hậu quả kể trên còn có những hậu quả khác

về mặt xã hội như tự tử, ngộ sát, tự cô lập, con cái của những người nghiện rượu thiếu sự chăm sócnuôi dưỡng của cha mẹ Có 20-50% thanh niên Mỹ tự tử khi họ trong tình trạng uống rượu say [28],[38]

IV Các yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia

Cùng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực; lượng rượu bia tiêu thụ cũng giatăng do sự gia tăng về mức sống Có sự tương quan chặt chẽ giữa mức độ sử dụng rượu bia với điều

kiện kinh tế của mỗi cá nhân, mồi gia đình và từng cộng đồng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

[40], Quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại đang diễn ra nhanh chóng cùng với quy luật thịtrường; các công ty sản xuất và kinh doanh rượu bia lớn trên thế giới đang hướng tới thị trường giàutiềm năng tiêu thụ đó là các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước ở châu Á Vì vậy, đây cũng làmột nhân tố làm gia tăng tình trạng lạm dụng rượu bia tại nhiều nước đang phát triển [40], [49]

Không chỉ thể, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán và chuẩn mực hành vi cũng là những

nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp tới mức độ lạm dụng rượu bia của mỗi cá nhân cũng như từngkhu vực Định kiến, quan niệm của cộng đồng về hành vi sử dụng rượu bia có sự khác biệt rất rõ theomỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo Tuy nhiên, nhìn chung uống rượu bia là một hành độngđược nhiều xã hội chấp nhận và được coi là một nét văn hoá truyền thống của nhiều quốc gia Rượubia thường hay được sử dụng trong các dịp lễ, hội, các cuộc vui chơi giải trí, các sự kiện vãn hoá, thểthao lớn [40] Những cá nhân sinh ra trong gia đình có truyền thống lạm dụng rượu bia và nghiệnrượu bia cũng rất dễ trở thành người nghiện rượu bia Áp lực nhóm cũng là nguyên nhân làm gia tăngviệc sử dụng rượu bia, đặc biệt là đối với nhóm người trẻ tuổi Không chỉ thế, tại các điểm bán rượu

Trang 27

V Một số nghiên cứu về sử dụng rượu bia trên thế giói và ở Việt Nam

giới lạm dụng rượu uống > 80g ethanol/ngày ít nhất 1 lần trong tháng Phần lớn những người lạm dụngrượu có trình độ học vấn ở bậc trung học phổ thông, có nghề hoặc thất nghiệp, sổng ở những tỉnh phíaNam [26]

Nghiên cứu về tình hình sử dụng rượu bia tại 3 làng ở Italy tiến hành năm 2005 trên 2972 đối

tượng > 18 tuổi đưa ra kết quả 36% đối tượng uống rượu gần như hàng ngày, 50% thỉnh thoảng uống

rượu Nam uổng rượu nhiều hơn nữ Tỷ lệ lạm dụng rượu được xác định theo bộ công cụ sàng lọcnhanh CAGE là 12% [33]

Điều tra y tế quốc gia tại Scotland cho thấy có tới 27% nam giới uống rượu thường xuyên ởmức cao hơn 21 đơn vị rượu/tuần (cao hơn mức khuyến cáo của WHO) Lượng rượu uống trung bình

là 17,2 đơn vị rượu/tuần Tỷ lệ nam giới lạm dụng rượu bia là 13% Địa điểm thường uống rượu là tạigia đình (71%) và thường uống rượu với bạn bè (56%) [36]

Một nghiên cứu tiến hành tại 5 tỉnh của Trung Quốc trên 23.842 đối tượng trong độ tuổi từ 15đến 65 cho kết quả 82,6% nam giới có uống rượu Có 16,1% nam giới uống rượu hàng ngày Lứa tuổiuống rượu nhiều nhất là 30-49 tuổi, có trình độ học vấn phổ thông trung học trở lên Tỷ lệ nghiện rượutrong nhóm nam

Trang 28

I giới là 6,6% Lý do uống rượu chủ yếu có liên quan đến yếu tố xã hội (giao tiêp, lê hội ) và yếu tố tâm lý (cảm thấy vui vẻ, hưng phấn hon) [45],

2 Ở Việt Nam

Từ năm 1994, ngành tâm thần đã khởi xướng việc điều tra dịch tễ lâm sàng rối loạn rượu tạinhiều địa phương trong cả nước Kết quả của các nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ lạm dụng rượu ở thànhphố cao hơn so với ở nông thôn (5-10,4% so với 0,5-1,2%) Tỷ lệ nghiện rượu cũng tương tự: 1,1-3,6% so với 0,1-0,4% Phần lớn những người lạm dụng rượu đã sử dụng rượu trắng; lứa tuổi bắt đầuuống rượu là từ 21-30 tuổi (53,8-80%) Tỷ lệ uống rượu hàng ngày từ 50-100% Lượng uống trungbình 1 lần từ 100-300ml Các hậu quả do lạm dụng rượu và nghiện rượu gây ra gồm có: đánh nhau(10-80%), bị bắt giữ (5,2-25%), gia đình tan vỡ (5,4-18%) [21]

Nghiên cứu về rượu tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây của TS Trần VănCường và các cộng sự [2] cũng đưa ra kết quả về tỷ lệ lạm dụng rượu và nghiện rượu là 2,82%; trong

đó lạm dụng rượu chiếm 2,15%; nghiện rượu 0,67%; tỷ lệ nam lạm dụng rượu là 4,1%; nghiện rượu là1,36% Tỷ lệ lạm dụng rượu tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 25-44 tuổi: 51,4% Lạm dụng rượu vànghiện rượu nhiều nhất là nhóm thợ mộc: 92,3%; tiếp đến là nhóm thợ nề: 64% và lái xe là 57,1%; ítnhất là những người làm ruộng Tỷ lệ lạm dụng rượu và nghiện rượu cao nhất thuộc về nhóm có trình

độ học vấn ở bậc phổ thông cơ sở và thấp nhất thuộc nhóm có trình độ đại học Lượng uống hàng ngàyphổ biến ở mức 100-400ml: 78,8% Rượu trắng là loại rượu phần đông dân cư địa phương thườnguống: 86,6% Có 2 lý do dẫn đến lạm dụng rượu và nghiện rượu, đó là: theo phong tục tập quán(40,5%) và bạn bè rủ rê (34,4%)

Năm 2002, BS Bùi Sỹ Khoát và các cộng sự cũng đã tiến hành nghiên cứu tình hình lạm dụngrượu tại 1 phường của thành phố Hải Phòng [12] với các kết quả được công bố bao gồm: tỷ lệ lạmdụng rượu và nghiện rượu: 4,8% trong đó nam chiếm 93,9%; nữ chiếm 6,1%; loại rượu thường sửdụng là rượu gạo tự nấu (58%); trình độ học vấn của người lạm dụng rượu và nghiện rượu chủ yếu ởbậc trung học

Trang 29

tuần qua (45% nam; 2% nữ); nam giới uống rượu là những người làm công tác quản lý, lãnh đạo là69%, nhân viên văn phòng là 67%; người dân tộc thiểu số uống rượu nhiều hơn dân tộc Kinh; 90%người uống rượu do có ảnh hưởng từ gia đình và bạn bè.

Năm 2003, Tổ chức y tế the giới cũng đã tiến hành điều tra về tình hình sử dụng rượu bia ởnước ta [27] (với cỡ mẫu n =1217, nam =1130 và nữ =87), tỷ lệ uống rượu bia ở nam giới là 39,3% và

ở nữ giới là 3,5%; 10,2% nam giới và 0,3% nữ giới uống rượu/bia ít nhất 1 lần/tuần hoặc uống quá 5đơn vị rượu/1 lần uống; 8,1% nam giới ở lứa tuổi 18-24 có uống rượu Lượng rượu bia sử dụng trungbình (tính theo gam) là 16,4g, nam là 17,0g và nữ là 8,6g

Ket quả điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY, 2003) [6] cho thấy69% nam thanh niên đã từng uống rượu bia Hành vi uổng rượu bia phổ biến hơn ở thành thị (56,9%)

so với nông thôn (46%) Thanh thiếu niên trong cuộc điều tra cũng cho biết rất dễ dàng tìm mua đượcrượu bia (98,6%) Rượu bia thường có sẵn và được tiêu thụ trong các hàng quán và tiệm cà phê, cũngnhư tại nhà và ở một số nơi làm việc Cuộc điều tra cũng cho kết quả có tới 16,7% số thanh niên cócha uống nhiều rượu hoặc nghiện rượu Đối với nam thanh niên, áp lực của bạn bè là yếu tố tác động

lớn nhất tới việc họ uống rượu bia, cao hơn cả so với việc hút thuốc lá, sử dụng ma tuý, quan hệ tìnhdục Nhóm uống nhiều rượu có xu hướng hút thuốc nhiều hơn nhóm uống ít rượu (78,6% so với 46%),

xu hướng quan hệ tình dục nhiều hơn (29,4% so với 10,2%) và cũng có nhiều xu hướng tham gia vàonhững hành vi nguy cơ hơn như đua xe, phá rối trật tự công cộng

Nghiên cứu về tình hình lạm dụng rượu bia ở Việt Nam do Viện Chiến lược và Chính sách y tếtiến hành tại 3 tỉnh cho kết quả có 64% nam giới uống rượu Tỷ lệ sử dụng rượu ít nhất 1 lần/tuần là33,5% Tỷ lệ lạm dụng rượu (theo quy chuẩn của WHO) là 18% Lý do sử dụng rượu bia chủ yếu là dotác động của bạn bè và

Trang 30

trạng thái hưng phấn của cá nhân người sử dụng Tuổi bắt đầu sử dụng rượu trung bình là 24 Mức độ

sử dụng rượu trung bình 6,4 đơn vị/ngày Đại bộ phận những người sử dụng thường uống rượu nấu thúcông (95,7%), địa điểm uống rượu bia chủ yếu là tại nhà và tại lễ tiệc, thời điểm uống rượu chủ yếuvào buổi tối [20]

Có thể thấy trong vòng 10 năm trở lại đây, đã có một số nghiên cứu về việc sử dụng rượu bia,

về lạm dụng rượu và nghiện rượu được tiến hành tại nước ta và đã cung cấp một số thông tin chung vềtình hình sử dụng rượu bia của người dân Tuổi uổng rượu của hầu hết các nghiên cứu đều chủ yếu ởlứa tuổi 24-54, nam uống nhiều hơn nữ, loại rượu thường uống là rượu trắng/rượu nấu thủ công Mặc

dù vậy, những nghiên cứu đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể, với những nhóm đối tượng có nguy

cơ cao để có được đầy đủ thông tin về mô hình sử dụng rượu bia của từng nhóm đối tượng còn chưađược tiến hành Những nghiên cứu về hậu quả do lạm dụng rượu bia và những ảnh hưởng của các yếu

tố về xã hội, chuyển đổi kinh thế đến LDRB cũng rất hạn chế

Trang 31

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nam giới trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi) tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh BắcNinh

• Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Nam giới trong độ tuổi từ 15 đến 60

- Đang sinh sống và làm việc tại xã Việt Đoàn trong thời gian tiến hành nghiên cứu

- Có khả năng trả lời phỏng vấn và đồng ý trả lời phỏng vấn

• Tiêu chuẩn loại bỏ đổi tượng nghiên cứu:

- Người từ chối phỏng vấn

- Đến quá 3 lần nhưng không gặp

- Không có khả năng trả lời phỏng vấn

2.2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian bắt đầu: Tháng 4 năm 2007

Thời gian kết thúc: Tháng 9 năm 2007

Địa điểm nghiên cứu: xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

2.3.1 Nghiên cứu định lượng

Điều tra thực trạng sử dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động (từ 15 đen 60 tuổi) theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn

2.3.2 Nghiên cứu định tính

Do đáb điẽỉn cẩn khai thác thêm thông tin nháỳ ca?n liên quan dêh hành vi lạm dụng rượu bia

và bổ sung cho việc phân tích một số mổi liên quan mà bỡ?câu ho? câu true không thề?khai thác hêtdudfc, cũng như để kiểm tra chéo các thông tin, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin định tính

Trang 32

Chúng tôi đã tiến hành 5 cuộc phỏng vấn sâu với đối tượng là nam giới lạm dụng rượu biatrong cộng đồng Những đối tượng này được lựa chọn sau khi phân tích xử lý phiếu định lượng và xácđịnh đối tượng nào là người lạm dụng rượu bia Những nội dung thu thập trong nghiên cứu định tínhxem trong phụ lục số 6

2.4 Cỡ mẫu và phưong pháp chọn mẫu

- z: Hệ số tin cậy Với độ tin cậy 95% thì giá trị của z = 1,96

- p: tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia,

Theo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2002, tỷ lệ uống rượu bia ở nam giới là 46% [5] -> chọn p = 0,46

Ket quả, chúng tôi phỏng vấn được 308 người

□ Phỏng vẩn sâu: 5 đổi tượng nam giới lạm dụng rượu bia

Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi thu thập và xử lý số liệu định lượng, xác định đốitượng lạm dụng rượu bia dựa theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới

Chọn mau định lượng: Theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống.

+ Bước 1: Lập khung mẫu - Lập danh sách nam giới trong độ tuổi từ 15-60 trong địa bàn xã được lấy từ sổ theo dõi của cộng tác viên dân số các thôn

Trang 33

Xã Việt Đoàn có 2.517 hộ gia đình, dân số của xã là 10.055 người Liệt kê toàn bộ danh sách

hộ gia đình, sau đó liệt kê toàn bộ nam giới trong độ tuổi 15-60 trong từng hộ gia đình, tổng số là3.341 người, ghép thành 1 danh sách và đánh số thứ tự từ 1 đến 3.341

+ Bước 2: Tính khoảng cách mẫu k = N/n = 3341/310 ~ 11

+ Bước 3: Chọn đối tượng theo khoảng cách mẫu k = 11 Chọn đối tượng đầu tiên bằng cáchbốc thăm ngẫu nhiên 1 trong 11 số đầu Chọn các đối tượng tiếp theo có số thứ tự cách số thứ tự củađối tượng đầu tiên là 11 sổ Tiếp tục chọn cho đến khi đủ 310 đối tượng

Thực tế chúng tôi đã chọn được 310 đối tượng theo danh sách khung mẫu Tuy nhiên khi điđiều tra, có 02 đối tượng không có mặt tại địa bàn trong thời gian tiến hành điều tra, do đó tổng số đốitượng đã tham gia trả lời phỏng vấn theo bộ câu hỏi định lượng là 308 người

Chọn mẫu định tính

Đối tượng nghiên cứu là nam giới trong độ tuổi 15-60 lạm dụng rượu bia trong xã Việt Đoàn.Thông qua trạm y tế xã, chọn có chủ đích 5 đối tượng lạm dụng rượu bia trong xã đồng ý thamgia trả lời phỏng vấn sâu về thực trạng sử dụng rượu bia và một sổ yếu tố liên quan Đối tượng lạmdụng rượu bia được xác định sau khi tiến hành điều tra định lượng, xử lý thông tin xác định đối tượngnào là lạm dụng rượu bia theo quy chuẩn của WHO (sử dụng quá 3 đon vị rượu/ngày hoặc quá 21 đon

vị rượu/tuần)

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Nghiên cứu định lượng:

+ Tiến hành phỏng vấn các nam giới từ 15-60 tuổi theo bộ câu hỏi cấu trúc đã được thiết kếsẵn Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn gồm 3 phần: thông tin chung về người trả lời, thông tin về thực trạng

sử dụng rượu bia, thông tin về một số yếu tố liên quan đến sử dụng rượu bia (kiến thức về lợi ích, táchại của việc uống rượu bia,

Trang 34

+ Các điều tra viên đến nhà đối tượng nghiên cứu để tiến hành phỏng vấn Trước khi phỏngvấn, điều tra viên giải thích rõ cho đối tượng nghiên cứu về mục đich của nghiên cứu, cách thức tiếnhành và chỉ tiến hành phỏng vấn khi đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu Trong quá trìnhphỏng vấn, nếu đối tượng nghiên cứu có thẳc mắc liên quan đến các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn,đối tượng nghiên cứu sẽ được các điều tra viên hướng dẫn, giải đáp.

- Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng lạm dụng rượu bia Nội dung cuộc phỏngvấn sâu được ghi âm, ghi chép lại để bổ sung và giải thích cho kết quả nghiên cứu định lượng

- Phiếu phỏng vấn cấu trúc với đối tượng là nam giới 15-60 tuổi trong cộng đồng Bộ câu hỏi điềutra đã được thử nghiệm tại thực địa trước khi tiến hành nghiên cứu, kiểm tra mức dễ hiểu của các kháiniệm, các đon vị đo lường việc sử dụng rượu bia được sử dụng trong bộ phiếu thông qua trao đổi vớimột số đối tượng nghiên cứu, thay đổi và chỉnh sửa cho phù họp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài vàtình hình thực tế tại địa phương sau khi thử nghiệm (Phụ lục 3+ Phụ lục 4 + Phụ lục 5)

- Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu (PVS) với đối tượng là người lạm dụng rượu bia (sử dụng quá 3đơn vị rượu/ngày hoặc quá 21 đơn vị rượu/tuần) (Phụ lục 6)

Trang 35

2.5.3 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

Nhân lực

- Với nghiên cứu định lượng: Các điều tra viên là một sổ học viên lớp cao học 9, trường Đại học y tếcông cộng và nhân viên trạm y tế xã Việt Đoàn

- Với nghiên cứu định tính: Nghiên cứu viên của đề tài trực tiếp hướng dẫn các cuộc phỏng vấn sâu

và ghi chép biên bản thảo luận

Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa theo kế hoạch

- Bước 1 Thử nghiệm bộ câu hỏi

- Bước 2 Thống nhất kế hoạch thu thập thông tin với địa phương, cỡ mẫu, phương pháp và cáchthức lựa chọn và đề nghị sự phối họp thực hiện của địa phương

- Bước 3 Tập huấn điều tra viên

- Bước 4 Thu thập thông tin:

o Định lượng: Có 310 đối tượng đưa vào nghiên cứu định lượng, do đó chúng tôi tiến hành thuthập thông tin định lượng trong 10 ngày với mỗi ngày phỏng vấn từ 30-50 đối tượng

o Định tính: Các cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành sau thu thập thông tin định lượng 1 tuần

2.6 Phương pháp phân tích so liệu

Toàn bộ phiếu phỏng vấn đều được kiểm tra trước khi tiến hành nhập liệu

Sử dụng phần mềm EpiData phiên bản 3.1 để nhập liệu Chúng tôi thiết lập chế độ kiểm tra(File check) một cách chặt chẽ để hạn chế tối đa có thể sai số do nhập liệu Toàn bộ số liệu sau khinhập xong được chuyển sang SPSS để quản lý và phân tích

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để quản lý và phân tích Ket quả được phân tích sửdụng các phương pháp thống kê:

- Tỷ lệ %, bảng phân phối tần số được sử dụng để phân tích mô tả đơn biến

Trang 36

- Sử dụng kiểm định %2 xác định sự khác biệt 2 tỷ lệ và xác định mối liên quan giữa 2 biến phânloại

- Sau khi phân tích hai biến, số liệu được phân tích theo mô hình hồi quy logic (Logistic regression)

để xác định mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ và kiểm soát các yếu tố nhiễu

Phân tích định tính: Trích dẫn để bổ sung, làm rõ và so sánh với kết quả định lượng.

2.7 Các biến số và một số khái niệm/qui ước dùng trong nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu về thực trạng tình hình sử dụng rượu

bia của nam giới trong độ tuổi lao động tại xã Việt Đoàn về tỷ lệ uống rượu bia trong nhóm nam giới,lượng rượu bia sử dụng trung bình trong một ngày, trong một tuần; về say rượu bia trong một thángqua, số ngày uống rượu bia trong tuần qua; thời điểm uống rượu bia trong ngày; địa điểm thường uốngrượu bia; thường uống rượu bia với ai; loại rượu, bia thường uống; công việc thường làm sau khi uốngrượu bia Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu thêm một số thông tin liên quan đến việc sử dụng rượu biacủa ĐTNC như kiến thức, thái độ và một số yếu tố về cá nhân, gia đình, bạn bè và truyền thông vềrượu bia

Kiến thức về sử dụng rượu bia: Hiểu biết của ĐTNC về những lợi ích của uống rượu bia, mức

độ uổng rượu bia như thế nào là có lợi; những tác hại của việc uổng rượu bia, mức độ uống bao nhiêu

là có hại; một số quy định của Chính phủ liên quan đến sản xuất, lưu thông và sử dụng rượu bia

Thái độ của ĐTNC về một số quan điểm cho trước liên quan đến việc sử dụng rượu bia Có 12câu hỏi về thái độ được đề cập đến trong bộ câu hỏi, bao gồm thái độ về một số quan điểm ảnh hưởngcủa xã hội đổi với việc uống rượu bia, quan điểm về áp lực nhóm và những quan điểm về rượu bia.Chúng tôi sử dụng thang đo Likerk Scale để đo lường thái độ về việc uống rượu bia Mỗi một quanđiểm có 5 mức độ đánh giá: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không biết, không đồng ý, hoàn toàn khôngđồng ý

Trang 37

Các quan điểm được cho điểm như sau:

Các quan điểm được chia thành 3 nhóm

- Nhóm 1 gồm 5 quan điểm về quan niệm xã hội đối với việc uống rượu bia như: nam giới là

phải biết uống rượu, trong các buổi lễ hội, tiệc mừng phải uống rượu Tổng điểm nhóm 1 là từ 5-25điểm Tiến hành cộng điểm và phân loại ĐTNC Những ĐTNC nào có tổng số điểm > 15 điểm sẽ thể

hiện thái độ dương tính, là thái độ tích cực và có lợi cho việc phòng ngừa lạm dụng rượu bia; nhữngĐTNC nào có tổng số điểm < 15 điểm sẽ thể hiện thái độ âm tính, là thái độ đối lập hoặc ít/không tíchcực với việc phòng ngừa lạm dụng rượu bia

- Nhóm 2 gồm 2 quan điểm về áp lực nhóm đối với việc uống rượu bia Tổng điểm nhóm 1

là từ 2-10 điểm Tiến hành cộng điểm và phân loại ĐTNC Những ĐTNC nào có tổng số điểm > 6

điểm sẽ thể hiện thái độ dương tính Những ĐTNC nào có tổng số điểm < 6 điểm sẽ thể hiện thái độ

âm tính

- Nhóm 3 gồm 5 quan điểm về rượu bia Tổng điểm nhóm 1 là từ 5-25 điểm Tiến hành cộng

điểm và phân loại ĐTNC Những ĐTNC nào có tổng số điểm > 15 điểm sẽ thể hiện thái độ dương

tính Những ĐTNC nào có tổng số điểm < 15 điểm sẽ thể hiện thái độ âm tính

- Biến số: (chi tiết tại Phụ lục 2)

+ Nhóm biến số thông tin chung

+ Nhóm biến số về thực trạng tình hình sử dụng rượu bia của ĐTNC

+ Nhóm biến số về kiến thức của ĐTNC về sử dụng rượu bia

+ Nhóm biến số thái độ của ĐTNC về uổng rượu bia

+ Nhóm biến sổ về gia đình, bạn bè, xã hội và thông tin truyền thông về rượu bia

1 điếm

2 điểm

3 điểm

4 điểm

Trang 38

■ Tuổi lao động: Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành với nhóm nam giới trong độ tuổi lao động, từ

15 đến 60 tuổi

■ Phân loại rượu: Áp dụng tiêu chí phân loại theo Tổ chức Y tế the giới (WHO), các loại đồ uống có

chứa cồn được chế biến qua quá trình lên men và chưng cất được chia làm 3 loại:

+ Bia: thường có độ cồn 5%

+ Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12-15%

+ Rượu mạnh: có độ cồn khoảng 40% [8]

■ Đơn vị rượu:

Trong nghiên cứu này áp dụng 1 đơn vị rượu bằng: 330ml bìa 5% (bia hơi, bia chai, bia lon)

* Lạm dụng rượu bia:

Nghiên cứu này xác định đối tượng lạm dụng rượu bia dựa trên mức khuyến cáo của Tổ chức

y tế thế giới Theo quy chuẩn của WHO, nam giới uống từ 21 đon vị rượu/tuần, từ 3 đon vị rượu/ngàytrở lên được coi là người lạm dụng rượu bia [14] 2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành với sự cho phép của Hội đồng Đạo đức trường ĐH YTCC theo quyết

định số 34/2007/YTCC-HD3 với mã số đăng ký 07-029/Đ-YTCC - Tất cả các đối tượng tham gianghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tựnguyện và cung cấp các thông tin chính xác Các đối tượng nghiên cứu ký vào phiếu đồng ý tham gianghiên cứu Mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận

- Các số liệu của các cuộc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi điều tra và của các cuộc phỏng vấn sâu đượcgiữ kín, đảm bảo tính riêng tư của các đối tượng nghiên cứu

- Đảm bảo tính chính xác và trung thực đối với những thông tin thu được từ kết quả nghiên cứu

- Ket quả điều tra được phản hồi lại cho nơi tiến hành nghiên cứu

Trang 39

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Đo lường mức độ sử dụng rượu bia hàng ngày có thể thiếu chính xác do phụ thuộc vào sự ước đoáncủa người trả lời

2.9.2 Cách khắc phục

- Lựa chọn cán bộ y tế địa phưong cùng tham gia nghiên cứu

- Giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu và tính chính xác của kết quả nghiên cứu Khẳng định

sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu bằng phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu

- Sử dụng những vật dụng quen thuộc của địa phưong (hình ảnh) để đo lường mức sử dụng rượu bia

Tiến hành phỏng vấn thử và điều chỉnh bộ câu hỏi phù hợp với đối tượng và địa bàn nghiên cứu

- Giám sát chặt chẽ quá trình điều tra, kiểm tra lại 30 bộ câu hỏi phỏng vấn (khoảng 10% tổng sổphiếu phỏng vấn) một cách ngẫu nhiên

Trang 40

CHƯƠNG 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cửu3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Bảng 4 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Thông tin về đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Horn 2/3 số người trả lời (67,5%) là người đã lập gia đình, số người chưa lập gia đình chiếmkhoảng gần 1/3 tổng sổ đối tượng tham gia nghiên cứu (31,8%) Chỉ có 2 người goá vợ, chiếm tỷ lệ0,6% Không có trường hợp nào ly thân hoặc ly dị vợ

Ngày đăng: 01/12/2023, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bệnh viện tâm thần trung ương (1999), Một số nghiên cứu về rượu và ma tuỷ tại 2 xã Quất Động và Tự Nhiên, Báo cáo nghiên cứu khoa học của Bệnh viện tâm thần trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu về rượu và ma tuỷ tại 2 xãQuất Động và Tự Nhiên
Tác giả: Bệnh viện tâm thần trung ương
Năm: 1999
3. Bệnh viện tâm thần trung ương (2000), Nghiên cứu về rượu tại xã Quất Động, Báo cáo nghiên cứu khoa học của Bệnh viện tâm thần trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về rượu tại xã Quất Động
Tác giả: Bệnh viện tâm thần trung ương
Năm: 2000
4. Bộ Y tế (2006), Báo cáo y tế Việt Nam 2006 - Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo y tế Việt Nam 2006 - Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tìnhhình mới
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
5. Bộ Y tế, Tổng cục thống kê (2003), Báo cáo điểu tra y tế quốc gia 2001-2002, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điểu tra y tế quốc gia 2001-2002
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuấtbản y học
Năm: 2003
6. Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, UNICEF, WHO (2005), Bảo cáo điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, tr 66- 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo cáo điều tra quốc gia về vịthành niên và thanh niên Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, UNICEF, WHO
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê Hà Nội
Năm: 2005
7. Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới (2005), Điều tra nguy cơ các bệnh không lây nhiễm ở cộng đồng, Báo cáo kết quả điều tra cộng đồng tại tỉnh Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nguy cơ các bệnh không lây nhiễm ởcộng đồng
Tác giả: Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới
Năm: 2005
8. Các loại đồ uống có chứa cồn, http://vi.wikipedia.org/wiki/C90%E 1 % BB Truy cập 16 giờ 06/3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại đồ uống có chứa cồn
9. Phạm Huy Dũng (2002), "Rượu và sức khoẻ", Báo cáo kỷ yếu Hội thảo chính sách phòng chong lạm dụng rượu bia do Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội to chức vào thảng 12/2002 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rượu và sức khoẻ
Tác giả: Phạm Huy Dũng
Năm: 2002
13. Nguyễn Văn Tiên (2002), "Lạm dụng rượu bia, một số kết quả nghiên cứu từ cộng đồng", Báo cáo kỷ yếu Hội thảo chỉnh sách phòng chống lạm dụng rượu bia do Uỳ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức vào thảng 12/2002 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm dụng rượu bia, một số kết quả nghiên cứu từ cộngđồng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiên
Năm: 2002
14. Tổ chức y tế thế giới (2006), Các roi loạn tăm thần trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu, Bộ tài liệu đào tạo của Tổ chức Y tế thế giới (tài liệu dịch từ nguyên bản tiếng Anh"Mental Disorder in Primary Care" WHO/MSA/MNHIEAC/98.1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental Disorder in Primary Care
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới
Năm: 2006
15. Trường Đại học Y Hà Nội (2000), "Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần", Tập bài giảng dành cho sau dại học của Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tácđộng tâm thần
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2000
16. Trường Đại học Y Hà Nội (2006), Dịch tễ học và thống kê trong nghiên cứu khoa học, Tài liệu đào tạo của Mạng lưới Đào tạo và Tư vấn Sức khoẻ cộng đồng, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học và thống kê trong nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2006
17. Truông Đại học Y tế công cộng (2005), Giảo trình thống kêy tế công cộng, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảo trình thống kêy tế công cộng
Tác giả: Truông Đại học Y tế công cộng
Nhà XB: Nhà xuất bảny học
Năm: 2005
18. Nguyễn Văn Tuý (2002), "Một số vấn đề về việc phòng, chổng lạm dụng bia, rượu tại huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định", Báo cáo kỷ yếu Hội thảo chính sách phòng chống lạm dụng rirợu bia do Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quoc hội to chức vào tháng 12/2002 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về việc phòng, chổng lạm dụng bia, rượu tạihuyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Văn Tuý
Năm: 2002
19. Đức Uy (2002), "Tệ nạn lạm dụng bia rượu, một hiện tượng mới đáng báo động ở nước ta thời mở cửa", Bảo cáo kỷ yếu Hội thảo chính sách phòng chong lạm dụng rượu bia do Uỷ ban các vẩn đề xã hội của Quốc hội tổ chức vào thảng 12/2002 tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tệ nạn lạm dụng bia rượu, một hiện tượng mới đáng báo động ở nướcta thời mở cửa
Tác giả: Đức Uy
Năm: 2002
20. Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2006), Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu khoa học của Viện Chiến lược và Chính sách y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tạiViệt Nam
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách y tế
Năm: 2006
21. Viện Sức khoẻ tâm thần trung ương (1994), Các báo cáo về dịch tễ lãm sàng lạm dụng rượu và nghiện rượu tại Việt Nam, Viện Sức khoẻ tâm thần trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các báo cáo về dịch tễ lãm sàng lạm dụngrượu và nghiện rượu tại Việt Nam
Tác giả: Viện Sức khoẻ tâm thần trung ương
Năm: 1994
22. Nguyễn Văn Việt (2002), "Tình hình sản xuất, tiêu thụ rượu bia và định hướng phát triển của ngành", Bảo cáo kỳ yếu Hội thảo chính sách phòng chổng lạm dụng rượu bia do Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội tổ chức vào thảng 12/2002 tại Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất, tiêu thụ rượu bia và định hướng phát triểncủa ngành
Tác giả: Nguyễn Văn Việt
Năm: 2002
23. Alcohol Advisory Council of New Zealand (2003), “The burden of death, disease and disability due to alcohol in New Zealand”, ALAC Occasional Publication No.23/February, 2005, New Zealand Sách, tạp chí
Tiêu đề: The burden of death, disease anddisability due to alcohol in New Zealand”, "ALAC Occasional PublicationNo.23/February
Tác giả: Alcohol Advisory Council of New Zealand
Năm: 2003
25. c. Meyer, H.-J. Rumpf, Ư. Hapke, H. Dilling, Ư. John (2002), “Prevalence of alcohol consumption, abuse and dependence in a country with high per capita consumption:findings from the German TACOS study”, Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology, Volume 35, Number 12 / December, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of alcoholconsumption, abuse and dependence in a country with high per capita consumption:findings from the German TACOS study”, "Social Psychiatry and PsychiatricEpidemiology
Tác giả: c. Meyer, H.-J. Rumpf, Ư. Hapke, H. Dilling, Ư. John
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia Quốc gia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 1. “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia Quốc gia (Trang 12)
Bảng 2. Khuyến nghị về mức độ sử dụng bia, rượu an toàn cho sức khoẻ - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 2. Khuyến nghị về mức độ sử dụng bia, rượu an toàn cho sức khoẻ (Trang 13)
Bảng 3. Tỷ lệ uống rượu bia theo giói và lượng rượu bia tiêu thụ [38]. - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 3. Tỷ lệ uống rượu bia theo giói và lượng rượu bia tiêu thụ [38] (Trang 18)
Bảng 5. Tình trạng kinh tế gia đình và số người trong gia đình của ĐTNC - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 5. Tình trạng kinh tế gia đình và số người trong gia đình của ĐTNC (Trang 42)
Bảng 6. Mức độ sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu (n=221) - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 6. Mức độ sử dụng rượu bia của đối tượng nghiên cứu (n=221) (Trang 43)
Bảng 7. Lượng rượu bia uống trung bình trong 1 ngày và trong 1 tuần của đối tượng nghiên cứu Tần số Tỷ lệ (%) - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 7. Lượng rượu bia uống trung bình trong 1 ngày và trong 1 tuần của đối tượng nghiên cứu Tần số Tỷ lệ (%) (Trang 44)
Bảng 8. Thông tin về thòi gian, địa điểm uống rượu - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 8. Thông tin về thòi gian, địa điểm uống rượu (Trang 47)
Bảng 10. Thông tin về đối tượng ỉạm dụng rượu, bia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 10. Thông tin về đối tượng ỉạm dụng rượu, bia (Trang 52)
Bảng 11. Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc uống rượu bia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 11. Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc uống rượu bia (Trang 57)
Bảng 12. Liên quan giữa một số yếu tố về đặc điểm nhân khẩu của người trả lòi vói việc lạm dụng rượu bia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 12. Liên quan giữa một số yếu tố về đặc điểm nhân khẩu của người trả lòi vói việc lạm dụng rượu bia (Trang 59)
Bảng 13. Liên quan giữa kiến thức của người trả lòi với việc LDRB - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 13. Liên quan giữa kiến thức của người trả lòi với việc LDRB (Trang 60)
Bảng 14. Liên quan giữa quan niệm về vấn đề uống rượu bia vói việc LDRB - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 14. Liên quan giữa quan niệm về vấn đề uống rượu bia vói việc LDRB (Trang 62)
Bảng 15. Liên quan giữa hành vi hút thuốc lá với lạm dụng rượu bia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 15. Liên quan giữa hành vi hút thuốc lá với lạm dụng rượu bia (Trang 63)
Bảng 16. Liên quan giữa ảnh hưỏng của gia đình, bạn bè vói việc LDRB - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 16. Liên quan giữa ảnh hưỏng của gia đình, bạn bè vói việc LDRB (Trang 64)
Bảng 17. Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia - Luận văn thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã việt đoàn, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2007
Bảng 17. Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w