Dựa trên kết quả thực địa của nhóm sinh viên trường Đại học Y Tế Công Cộng từ tháng 12/2006đến tháng 12/2007 vừa qua tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, chúng tôi tiến
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CỘNG
BÙI THỊ NGOAN
ĐỂ TÀI:
PHÁT TRIẺN VÀ THỬ NGHIỆM TỜ RƠI HƯỚNG DẪN CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỎI sử DỤNG ORESOL KHI TRẺ BỊ TIÊU CHẢY TẠI THỊ TRÁN NAM GIANG,
HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
TỪ 13/3 ĐÉN 19/5 NĂM 2007
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP cũ' NHÂN
Hướng dan khoa học:
HÀ NỘI, 2007
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Bích, giáo viênhướng dẫn, giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình trong quá trình học tập, giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới:
> Các cán bộ y tế thị trấn Nam Giang đã tạo điều kiện và giúp đờ tôi trong sinh hoạt và làmviệc tại xã để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
> Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thư viện trường Đại học Y tế Công cộng, Viện Dinh Dưỡng Quốcgia, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu
để hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các bạn sinh viên K2 trường Đại học Y Tê Công Cộng đãđộng viên, khuyến khích tôi ưong quá trình làm khóa luận
Tôi xin gửi lời tói các bạn bè, gia đình đã tạo điều kiện vật chất cũng như tinh thần để tôi hoànthành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Bùi Thị Ngoan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VÂN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 4
Mục tiêu chung: 4
Mục tiêu cụ thể: 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP 9
2.1 Mô tả và giải thích ý tưởng thiết kế sản phẩm truyền thông 9
2.2 Phương pháp thử nghiệm sản phẩm truyền thông 13
1.1.1 Đổi tượng 13
1.1.2 Thời gian và địa điểm 13
1.1.3 Thiết kế 13
1.1.4 Chọn mẫu 13
1.1.5 Biến số 14
1.1.6 Thu thập số liệu 14
1.1.7 Xử lý và phân tích số liệu 15
1.1.8 Khía cạnh đạo đức 15
Chương 3: KỂT QUẢ 16
Chương 4: BÀN LUẬN 23
Chương 5: KẾT LUẬN 25
Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 27
TÀI LỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỰC 31
Phụ lục 1: Phiếu phát vấn bà mẹ có con dưới 5tuổi về thử nghiệm tờ rơi 31
Phụ lục 2: Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu CB YT và bà mẹ có con < 5 tuổi về tờ rơi 43
Trang 5TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Bệnh tiêu chảy ở trẻ em vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm Nước tahiện nay trình độ văn hỏa đã được cải thiện nhiều, từ đó kiến thức nuôi dạy chăm sóc và xử trí khi con
bị bệnh đã được nâng lên, nhưng một số nơi như vùng nông thôn thì kiến thức và thực hành cùa các bà
mẹ về chăm sóc con nhỏ đặc biệt là khi trẻ bị bệnh chưa tốt Do vậy việc thông tin, giáo dục, truyềnthông để nâng cao mức độ hiểu biết nhàm bảo vệ sức khỏe của trẻ em ở những vùng này là thật sự cầnthiết Dựa trên kết quả thực địa của nhóm sinh viên trường Đại học Y Tế Công Cộng từ tháng 12/2006đến tháng 12/2007 vừa qua tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, chúng tôi tiếnhành thiết kế và thử nghiệm sản phẩm truyền thông (tờ rơi) hưởng dẫn sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêuchảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn từ 13/3 đển 19/5 năm 2007
Thử nghiệm sử dụng hai phương pháp kết hợp là định lượng và định tính:
Phương pháp định lượng: Sử dụng bộ câu hỏi phát vấn cho 30 bà mẹ có con dưới 5 tuổi(người chăm sóc trẻ chính trong gia đình) tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Phương pháp định tính: Sử dụng bản hướng dẫn phỏng vẩn sâu cho 3 đối tượng (1 cán bộ y tế
xã, 1 y tế thôn và 1 bà mẹ có con dưới 5 tuổi) tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tình NamĐịnh
Sau khi thử nghiệm số liệu được phân tích trên phần mềm Microsoft Excel đổi với kết quảđịnh lượng, đối với kết quả định tính: tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm lại và gỡ bâng ravãn bản
Kết quả thử nghiệm được trình bày theo các tiêu chí sau: Mức độ dễ hiểu, sự thích thú, sự chú
ý, sự hấp dẫn, tính thuyết phục/ Sự khích lệ hành động, tính phù hợp, Sự tin cậy, sự chấp nhận tờ rơi,mục đích sử dụng tờ rơi khi được phát
Dựa vào kêt quả của thử nghiệm chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị hiệu chỉnh tờ rơi chophù hợp với đối tượng đích là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực,tỉnh Nam Định
Trang 6A ĐẶT VÁN ĐÈ
Việt Nam là nước đang phát triển, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiềucải thiện, tuy nhiên bệnh tiêu chảy ở trẻ em vẫn là vẩn đề sức khỏe cộng đồng cần được quan tâm.Nước ta hiện nay trình độ vãn hóa đã được cải thiện nhiều, từ đó kiến thức nuôi dạy chăm sóc và xử tríkhi con bị bệnh đã được nâng lên, nhưng một số nơi như vùng nông thôn thì kiển thức và thực hànhcủa các bà mẹ về chăm sóc con nhỏ đặc biệt là khi trẻ bị bệnh chưa tổt Do vậy việc thông tin, giáodục, truyền thông để nâng cao mức độ hiểu biết nhằm bảo vệ sức khỏe của trẻ em ở những vùng này làthật sự cần thiết Dựa trên kết quả thực địa của nhóm sinh viên trường Đại học Yĩế Công Cộng từtháng 12/2006 đến tháng 12/2007 vừa qua tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định,chúng tôi tiến hành thiết kế và thử nghiệm tờ rơi hướng dẫn sử dụng Oresoỉ khi trẻ bị tiêu chảy chocác bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn, qua đó cung cấp các thông tin đảp ứng nhu cầu chăm sóc connhỏ cho các bà mẹ tại địa phương
Thị trấn Nam Giang thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, với diện tích 7,4 km- và dân sốkhoảng 18.225 người (2006), gồm 7 thôn trong đó có 3 làng nghề là Vân Chàng, Đồng Côi, Thôn Tư;các thôn còn lại làm nông nghiệp Tại thị trấn có 60% số hộ gia đình làm tiểu thủ công nghiệp, 40% số
hộ làm nông nghiệp và dịch vụ Người dân địa phương chù yếu làm nông nghiệp, thu nhập bình quân:570USD/người/năm, số hộ nghèo chiếm 6,5% [2],
Thị trấn Nam Giang là trung tâm vãn hoá, chính trị của huyện Nam Trực, là một trong nhữngđịa phương có nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sẳc, có nhiều di tích lịch sử vãn hoá đã được xếphạng như chùa cổ Bi, chợ Vỉềng
Trạm y tể thị trấn Nam Giang gồm 07 cản bộ trong đó có 01 trạm trưởng (y sĩ), 01 bác sỹ, 02
y tá, 01 dược tá, 02 nữ hộ sinh Trạm được công nhận là trạm y tế đạt chuẩn quốc gia vào đầu năm
2007, và hiện đang triển khai 10 chương trình y tể quốc
Trang 7Đợt thực tập vừa qua (11/2006 - 2/2007) nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang huyện NamTrực tỉnh Nam Định đã tìm hiểu, phân tích và xác định được vẩn đề sức khỏe ưu tiên can thiệp tại thịtrấn là “Suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi” Ket quả điều tra cho thấy kiến thức và thực hành chămsóc trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn còn kém đặc biệt là xử trí khi trẻ bị tiêu chày (59 %
bà mẹ trả lời không biết về gói Oresol trong việc điều trị phòng mẩt nước cho trẻ; 21,2 % bà mẹ trả lờikhông biết về cách pha Oresol và nẩu cháo muối cho trẻ) do đó nhóm thực tập tại thị trẩn Nam Gianghuyện Nam Trực tỉnh Nam Định đã xây dựng và thử nghiệm thông điệp truyền thông cho vấn đề sứckhỏe ưu tiên tại thị trấn, kểt quả sau khi thử nghiệm đã lựa chọn được thông điệp truyền thông chính
được sử dụng để hướng dẫn các bà mẹ cách xử trí khi con bị tiêu chảy đó là : ‘ ‘Khi trẻ bị tiêu chảy hãy cho trẻ uống Oresol”.
Căn cứ vào kết quả của đợt thực tập vừa qua mà nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang, huyệnNam Trực, tỉnh Nam Định đã phân tích sau khi đi phỏng vẩn 80 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn
về kiển thức, thực hành cùa các bà mẹ trong phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi thì nguồncung cấp kiến thức về dinh dưỡng cho các bà mẹ chủ yếu là qua đài, ti vi (29,8%) và sách, báo, tài liệu(18,5%) Qua việc xem xét các tài liệu truyền thông sẵn có tại trạm thẩy tài liệu truyền thông được sửdụng chủ
Trang 8yếu là tờ rơi tuy nhiên sau khi thử nghiệm tờ rơi sẵn có tại trạm cho
20 bà mẹ thi có tới 12 bà mẹ (60%) trả lời rằng thông tin trong một tờ rơi quá nhiều, do vậy họ không thể nhớ được hết các thông tin mà tờ rơi muốn truyền tải Ngoài ra, tờ rơi cũng chưa tập trung vào chủ đề mà các bà mẹ quan tâm đó là chăm sóc trẻ ốm, đặc biệt là khi trẻ bị tiêu chảy và ho, sốt Khi thử nghiệm thông điệp chúng tôi cũng phỏng vẩn các bà mẹ về hình thức truyền tải thông điệp thì 16 trên tổng số 20 bà mẹ (80%) được hỏi rất thích cách chuyển tài bàng tờ rơi bởi vì:
+ Có thời gian đọc
+ Dễ hiểu, nội dung cô đọng và súc tích
+ Dễ cầm đi và bàn luận
+ Cách thiết kế gây được sự chú ý và thu hút, tò mò
Qua những phân tích trên, tờ rơi được đảnh giá là sản phẩm truyền thông phù hợp với đổi
tượng đích của chương trình truyền thông là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Gianghuyện Nam Trực tỉnh Nam Định
Trang 9B MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung: Thiết kế và thử nghiệm tờ rơi hướng dẫn sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêu chảy
cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định từ 9/4 đến29/4 năm 2007
Trang 10CHƯƠNG I:
TÔNG QUAN TÀI LIỆU
Tiêu chảy ở trẻ em là một trong những vẩn đề sức khoẻ cộng đồng cần được quan tâm hàngđẩu bởi vỉ bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao, là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm pháttriển ở trẻ nhỏ về tinh thần, thể chất tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùngkhác Bệnh tiêu chảy gây hậu quả rất nặng nề cho toàn xã hội đặc biệt là với các nước nghèo kém pháttriển Với tầm quan trọng như vậy năm 1978, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã phát động Chương trìnhphòng chống tiêu chảy (CDD) với mục tiêu là giảm tỷ lệ mắc và tử vong do tiêu chảy gây ra ở trẻ emdưới 5 tuổi Trọng tâm của chương trình dựa trên nền tảng bù dịch sớm bằng đường uổng [5], [7], [9],[10], [1 ]]
Qua kinh nghiệm của WHO đã khởi xướng chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy từ 1978đến nay đã có 104 nước triển khai chương trinh, hoạt động của chương trình bao gồm: Chương trìnhđào tạo, tuyên truyền giáo dục, sản xuất ORS [11], [12] Chương trình triển khai đã góp phần làm giảmđáng kể tỳ lệ mẳc và tử vong do bệnh tiêu chảy
Tại Việt Nam, được sự giúp đỡ của WHO từ năm 1982 chương trình quốc gia Phòng chốngtiêu chảy ở trẻ em được triển khai hoạt động và đã có nhiều kết quả khoa học đóng góp tốt trong việclàm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi Đen năm 1997 chương trình đã bao phủtrên 95% số trẻ trong diện đối tượng được bào vệ [4], [5]
Cùng với hoạt động của chương trình đã có nhiều nghiên cứu được triển khai với nội dungquan tâm về thực trạng các yểu tố liên quan đển bệnh tiêu chảy trên nhiều vùng khác nhau Nghiên cứucho thấy nhiều trường hợp tử vong vì bệnh tiêu chày là do sự thiếu kiến thức của bà mẹ trong việcphòng cũng như xừ lý, đặc biệt là xử trí tại nhà Trong trường hợp trẻ bị tiêu chày có kèm theo mấtnước và điện giải người mẹ phải biết pha chế các dung dịch bù nước cho trẻ (ORS, cháo muối ).Nếu có kiến thức tốt
Trang 11thì nhiều khà năng bà mẹ sẽ thực hành tốt và có tính chất quyết định đổi với sức khoẻ của trẻ Qua nhiều nghiên cứu của Nguyễn Thành Quang
và cộng sự tại Thanh Hoá năm 1998 thì có 68% các bà mẹ có KT đúng về chăm sóc con khi bị TC, có 59% các bà mẹ thực hành đúng trong việc chăm sóc con khi bị TC, theo NC của Bùi Thị Thuý Ái tại Thanh Xuân Hà Nội năm 2000 có 76,1% các bà mẹ có KT đúng và 72,3% cảc bà mẹ TH đúng
về chăm sóc khi trẻ bị TC Hay NC của tác giả Phạm Thọ Dược tại huyện M Drăk tỉnh Đăk Lăk năm 2004 cho kết quả 85% bà mẹ hiểu biết đúng về dấu hiệu mất nước của bệnh TC; 64,5% hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh và 68,9% hiểu biết về cách phòng bệnh tiêu chảy.
Tuy nhiên qua kết quả mà nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh NamĐịnh tiến hành điều tra tại thị trấn (tháng 12 năm 2006) cho thấy có tới 92,2% bà mẹ không biết cách
xử trí khi trẻ bị tiêu chảy và 93,5% bà mẹ thực hành xử trí khi con mình bị TC chưa đúng
Do đó công tác truyền thông giáo dục để cung cấp kiến thức và kỹ năng thực hành xử trí khicon bị tiêu chảy là rất cần thiết
Phát triển, sản xuất và sử dụng các tài liệu truyền thông giáo dục sức khoè trở thành một vẩn
đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược của chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy
Đã có rất nhiều loại hình sàn phẩm truyền thông phòng chổng tiêu chảy đã được phát triển vàthử nghiêm ở nhiều quốc gia khác nhau và trên các đối tượng khác nhau
Một loại hình sản phẩm truyền thông đại chúng là ti vi đã được chương trình kể hoạch quốc
gia phòng chống tiêu chảy tại Ai Cập phát triển năm 1977 với mục tiêu cung cấp thông tin về xử tríhợp lý khi trẻ bị tiêu chảy - tăng cường sử dụng ORS nhàm chống mất nước và tử vong do mất nước ởtrẻ bị tiêu chảy (theo Trung tâm phát triển toàn cầu, công bố tháng 11 năm 2004 tại Mỹ - Nghiên cứu
dự phòng tử vong do bệnh tiêu chảy ở Ai Cập) Theo báo cáo cùa Ruth Levine và đồng sự cùa bà,chiến dịch tiếp thị xã hội và truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng là trọng tâm tạo nên
Trang 12thành công của chương trình này Năm 1984 chiến dịch truyền thông đầu tiên được phát động, tập chung chủ yếu vào sự nguy hiểm của bệnh tiêu chảy, giải thích nguyên nhân tiêu chảy, giảm ảnh hưởng và sự nghiêm trọng của bệnh Chiến dịch đã được phát động rất nhanh, những người sử dụng ti vi tăng lên từ 38% năm 1980 lên 90% năm 1984) Ti vi trở thành phương tiện truyền thông cỏ tác động mạnh nhất để truyền đạt thông điệp cùa chương trình và thậm chí đến được cả những người mù chữ không hiểu được các tài liệu truyền thông in ấn Hơn 63 đoạn phim quảng cáo được cung cấp từ 1984 đến 1990, bảng dán, tạp chí, và những bức tranh quảng cáo với ngôn ngữ đơn giản, biểu lộ sắc thái tình cảm gần gũi với các bà mẹ được sử dụng để hồ trợ cho các thông điệp trên TV [13],
Đài phái thanh cũng là một loại hình sản phẩm truyền thông đại chúng được phát triển và thử
nghiệm tại Honduras và Gambia (2 quốc gia vùng Nam Mỹ) và được coi là một phương tiện đặc biệt
hữu hiệu để truyền tải thông điệp ờ cả hai nước này vì thông tin dược truyền đến nhiều đối tượng trongmột thời gian ngắn Phương tiện truyền thông này giúp đáp ứng được 4 mục tiêu, cụ thể là:
+ Thuyết phục người dân ờ nông thôn nhận biết về sự nguy hiểm cùa bệnh tiêu chày
+ Hướng dẫn họ cách pha chế dung dịch ORS
+ Trả lời những câu hỏi thường gặp của người dân
+ Chỉ dẫn mọi người khi cần thêm sự giúp đỡ
Song song với việc tiếp cận người dân qua đài phát thanh, chương trình phòng chống tiêu chảy
ở trẻ em tại Honduras và Gambia cũng tiếp cận người dân qua các tài liệu in ẩn như áp phích quảng
cáo, tờ rơi, và tranh ảnh hướng dẫn và các tài liệu in ấn cũng được đánh giá là sản phẩm truyền thông
có hiệu quả ở hai quốc gia này đặc biệt là khi phổi hợp với các hình thức truyền thông trực tiếp (hướngdẫn của cán bộ y
Trang 13tể) [14]; [15].
Tại Việt Nam cũng có rất nhiều loại hình sản phẩm truyền thông (sách hướng dẫn thực hànhchăm sóc trẻ bị tiêu chảy cho các bà mẹ, áp phích, băng đĩa, tờ rơi) đã được phát hành nhằm hướngdẫn các bà mẹ có con dưới 5 tuổi chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt hơn đặc biệt là khi trẻ bị bệnh (tiêuchảy, ốm)
Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương đã phát triển và thừ nghiêm các loạihình sản phẩm truyền thông phòng chổng tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi (xử trí khi trẻ bị tiêu chảy)như tờ rơi, tranh lật, ápphích, băng đĩa Hiện tại Trung tâm đang thử nghiệm tranh lật hướng dẫn chămsóc khi trẻ bị tiêu chảy nhằm hiệu chỉnh sản phẩm cho phù hợp với đối tượng đích của chương trình
Chương trình Phòng chống suy dinh dưỡng tỉnh Nam Định đã cung cấp tờ rơi hướng dẫn cáchchăm sóc và nuôi dưỡng trẻ cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trựctình Nam Định Tuy nhiên những tờ rơi được phát về trạm chưa đề cập nhiều đến việc chăm sóc connhỏ đặc biệt là khi trẻ bị bệnh (tiêu chảy, ho sốt)
Qua tổng quan tài liệu và kết quả điểu tra tại thực địa, chúng tôi chọn loại hình sản phẩm là tờ rơi hướng dẫn sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam
Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định để phát triển và thử nghiệm
Trang 14CHƯƠNG n
PHƯƠNG PHÁP
3 1 Mô tả và giải thích ý tưởng thiết kế sản phẩm truyền thông (tờ rơi):
Kết quả thử nghiệm thông điệp truyền thông của nhóm thực tập tại thị trấn Nam Giang huyệnNam Trực tinh Nam Định (1/2007) đã lựa chọn được thông điệp truyền thông chính được sử dụng để
hướng dẫn các bà mẹ cách xử trí khi con bị tiêu chày đó là : '‘Khi trê bị tiêu chảy hãy cho trẻ uổng Oresol” và khi thử nghiệm thông điệp cũng nhận được ý tường thiết kế sản phẩm truyền thông (tờ rơi)
của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn như sau:
Bảng 1: Bảng xây dựng makét tài liệu truyền thông
■ Những dấu hiệu nhận biết một trẻ bị mất nước do tiêu chảy
■ Một trẻ bị tiêu chảy và bà mẹ đang bế đứa trẻ, bên cạnh là một bình nước, một gói Oresol, bà mẹ đang pha Oresol cho trẻ uống
■ Các bước pha Oresol (bà
+Dấu hiệu nhận biết ưẻ
bị tiêu chảy và mất nước
do tiêu chày
+Khi trẻ bị tiêu chảy hãy bù nước và điện giảicho trẻ bằng dung dịch Oresol
Tờ rơi
Trang 15+Cảch pha Oresol đúng.
+Cách nấu cháo muổi thay thế khi không có ORS +Thơ cổ động
Tờ rơi: Gồm tên thông điệp chính, hình ảnh và 7 phần chính:
+Phần 1: Định nghĩa bệnh tiêu chảy
+Phàn 2: Những dẩu hiệu mất nước ở trẻ do tiêu chảy và hình ảnh
+Phần 3: Bù nước và điện giải cho trẻ khi trẻ bị tiêu chảy và hình ảnh
+Phần 4: Giới thiệu về gói Oresol đính kèm gói Oresol
+Phần 5: Hướng dẫn cách pha chế và cách cho trẻ uống dung dịch Oresol kèm theo hình ảnh
+Phần 6: Hướng dẫn cách nấu cháo muối và hình ảnh
+Phần 7: Thơ cổ động kèm theo hình ảnh
Tờ rơi thiết kể trên phàn mềm Microsoft Publisher Thiết kế trên khổ A4, theo chiều ngang vàgập ba (gồm 6 trang nhỏ trên hai mặt của khổ A4) Mỗi mặt của khổ A4 chia thành 3 trang nhỏ kíchthước đêu nhau
Mặt thứ nhất của khổ A4 gồm một trang bìa có hình ảnh bà mẹ đang bể con nhò với một cócnước và một gói Oresol cùng lời dẫn “Khi trẻ bị tiêu chảy hãy cho trẻ uống Oresol”; một trang đưa cácthông tin: Hướng dẫn cách pha chế gói Oresol và cách nấu cháo muối, thơ cổ động kèm theo hình ảnhmột em bé khỏe mạnh không bị tiêu chảy cùng địa chỉ hỗ trợ khi cần thiết
Mặt thứ hai của khổ A4: Lần lượt đưa các thông tin định nghĩa về hiện tượng tiêu chảy là gì,những dấu hiệu nhận biết trẻ bị mất nước, hướng dẫn bù nước cho trẻ bằng Oresol, giới thiệu về góiOresol ứng với các thông tin đưa ra cho các bà mẹ là
Trang 16các hình ảnh minh họa cho nội dung nói đến Thông điệp chủ đạo
“Oresol (huyết thanh khô) là cách bù nước và điện giải tốt nhất cho trẻ khi trẻ bị tiêu chảy” chạy ngang phần đầu giấy từ trang 1 đến trang 3 với cỡ chứ lớn và dòng chừ màu đỏ đậm nổi bật trên nền của khung tiêu đề nhằm nhẩn mạnh thông điệp gửi tới các bà mẹ (một điểm lưu ý so với các địa bàn khác là trong quá trình thực địa, khi thử nghiệm thông điệp truyền thông, các bà mẹ ở thị trấn Nam Giang gọi Oresol là huyết thanh khô).
Màu sắc chủ đạo của tờ rơi là màu xanh lá cây có độ đậm nhạt không giống nhau Lý do tờ rơithiết kế theo kiểu trên và mặt trong có gẳn gói Oresol màu trăng xám như vậy sẽ giúp các bà mẹ nhậnbiết được gói Oresol dề dàng hơn
Đợt thực tập vừa qua (11/2006 - 2/2007) khi phỏng vấn 80 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấnNam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định về tình hỉnh chăm sóc trẻ trong: Chăm sóc thai sản, Chotrẻ bú trong 6 tháng đầu, Cho trẻ ăn bổ sung, Cai sữa cho trẻ, Vệ sinh cho trẻ, Phòng bệnh giun sán,Chăm sóc và xử trí khi trẻ bị tiêu chảy, chúng tôi thu được các kết quả như sau:
Bảng 2: Bảng thể hiện kết quả điều tra về kiến thức chăm sóc trẻ của các bà mẹ:
Kiến thức
Chăm sóc thai sản
Cho trẻ
bú hoàn toàn
Cho trẻ ăn
bổ sung
Cai sữa cho trẻ
Vệ sinh phòng giun sán
Xử trí khi trẻ bị tiêu chảy
Kiến thức chung
Trang 17Bảng 3: Bảng thể hiện kết quả điều tra về thực hành chăm sóc trè của các bà mẹ:
sung
Cai sữa cho trẻ
Vệ sinh • phòng giun sán
Xử trí khi trẻ bị tiêu • chảy
Dựa vào kết quả điều tra của đợt thực tập (11/2006 - 2/2007) đối với đối tượng đích là các bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trẩn Nam Giang, huyện Nam Trực, tình Nam Định cho thấy kiến thức vàthực hành xử trí khi trẻ bị tiêu chảy của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn còn kém Tuy nhiên dođiều kiện có hạn nên đề tài này chỉ tập trung vào cung cấp kiến thức cho các bà mẹ thông qua thiết kế
và thử nghiệm tờ rod hướng dẫn sử dụng Oresol khi trẻ bị tiêu chảy cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổitại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định từ 13/3 đến 19/5 năm 2007
Trang 184 2 Phưong pháp thử nghiệm sản phẩm truyền thông:
4.1.1 Đối tượng thử nghiệm:
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi (người chăm sóc trẻ chính trong gia đình) tự nguyện tham gia thửnghiệm tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
- Cán bộ trạm y tể xã
- Y tế thôn
Tiêu chuẩn không lựa chọn-, những người không tình nguyện tham gia thử nghiệm, những người
có khó khăn về nghe, nói (vì những đối tượng này sẽ không tham gia được vào phỏng vấn sâu, trả lờicâu hỏi) nhìn, tâm thần
4.1.2 Thòi gian và địa điểm:
4.1.2.1 Thời gian: từ 9/4 đến 29/4 năm 2007.
4.1.2.2 Địa điểm: tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
4.1.3 Thiết kế: Thử nghiệm sản phẩm truyền thông nhằm mục đích hiệu chinh sản phẩm cho phù
hợp với đối tượng là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh NamĐịnh nên tôi sử dụng phương pháp định lượng (bộ câu hỏi phát vẩn cho 30 bà mẹ có con dưới 5 tuổihoặc người chăm sóc trẻ chính trong gia đình) kết hợp với định tính (phỏng vấn sâu 1 cán bộ y tể xã, 1
y tế thôn và 1 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn)
Thử nghiệm được thực hiện với các phương tiện hỗ trợ là bộ câu hỏi phát vấn, bản hướng dẫn phỏngvấn sâu, máy ghi âm phỏng vấn sâu
Trang 199 Mục đích sử dụng tờ rơi khi được phát
4.1.6 Thu thập số liệu: số liệu sẽ được thu thập dựa trên:
Phương pháp định lượng: Bộ câu hỏi phát vấn cho 30 bà mẹ có con dưới 5 tuổi (người chăm sóc ưẻchính trong gia đình) Khi xuống địa phương thử nghiệm tờ rơi được sự giúp đỡ của các nhân viên y tếthôn tôi đã tiểp cận được với 30 bà mẹ tại 7 thôn của thị trấn và tiến hành thử nghiệm tờ rơi trong 4ngày 21, 22, 23 và 24/4
Phương pháp đinh tính: Bản hướng dẫn phỏng vẩn sâu cho 3 đối tượng (1 cán bộ y tế xã, 1 y tể thôn và
1 bà mẹ có con dưới 5 tuổi) Hai cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế xã và y tế thôn được thực hiện tạitrạm y tế vào lúc 15h đến 16h ngày 25 và 26/4, cuộc phỏng vấn sâu 1 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đượcthực hiện tại nhà riêng của đổi tượng từ 17h — 18h ngày 27/4 Tất cả các cuộc phỏng van sâu đềuđược ghi âm lại và gỡ băng để phục vụ cho việc phân tích số liệu sau khi thử nghiệm (Bộ câu hỏi phátvẩn và hướng dẫn phỏng vấn sâu xem phụ lục 1,2)
Điều tra viên là sinh viên: Bùi Thị Ngoan - người tiến hành thử nghiệm
Trang 204.1.7 Xử lý và phân tích số liệu :
Đối với kết quả định lượng: Do mẫu thử nghiệm nhỏ (30 người) nên phần mềm Microsoft Excel
được sử dụng để tính toán và phân tích kết quả thử nghiệm
Đối với kết quả định tính: Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm và được gỡ băng ra vãn
bản Phân tích nội dung theo mục tiêu nghiên cứu Tất cả các kết quả được mã hóa, phân tích, so sánh
và phiên giải theo từng nhóm biến cụ thể
4.1.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:
Thử nghiệm tài liệu truyền thông và đánh giá hiệu quả của sản phẩm truyền thông, kết quả thửnghiệm sẽ cung cẩp các thông tin thực tế của đối tượng về sản phẩm truyền thông từ đó hiệu chỉnh lạisản phẩm cho phù hợp với đổi tượng và sản xuất ra sàn phẩm truyền thông hoàn chỉnh nhằm cung cấpkiến thức cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi (người chăm sóc trẻ chính trong gia đình) tại thị tran NamGiang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định từ đó giúp các bà mẹ chăm sóc con trẻ tot horn
Đối tượng tham gia thử nghiệm đều được giải thích rõ ràng về mục đích của thử
nghiệm và hoàn toàn tự nguyện tham gia
Trang 21CHƯƠNG III KÉT QUẢ
Tờ rơi được tiến hành thừ nghiệm định lượng trên 30 đối tượng là phụ nữ ở độ tuổi từ 19 đến
42 tuổi (trong đó chiếm nhiều nhất là nhỏm tuoi từ 20 — 30 (11/30 đối tượng) và chủ yếu là làm nôngnghiệp (trồng lúa/ rau màu, đi chợ) (20/30 đối tượng), trình độ học vẩn của các đối tượng được thửnghiệm chủ yểu là học hết cấp 2 (19/30 đối tượng)
Chúng tôi trình bày kết quả thừ nghiệm theo các tiêu chí: dễ hiểu, hấp dẫn, thích thú, tin cậy,
sự chú ý, thuyết phục, tính phù hợp, mức độ chấp nhận và mục đích sử dụng tờ rơi khi được phát
1 Mức độ de hieu:
Đa số các đối tượng đều thấy các bức tranh trong tờ rơi dễ hiểu, tuy nhiên có 9/30 đối tượngkhông hiểu bức tranh sổ 2 (dấu hiệu mất nước ở trẻ bị tiêu chảy) và 4/30 đối tượng không hiểu bứctranh số 3 (hướng dẫn cho trẻ uống ngay Oresol khi trè có dấu hiệu mất nước)
Khi phỏng vấn sâu chị Đ.T.H (24 tuổi - bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Nam Giang) chịtrả lời rằng: “Theo chị các bức tranh trong tờ rơi này là dê hiêu vì từng bức tranh mô tả từng việc làm rất cụ thể, như tranh sổ 2 nêu lên những dấu hiệu nhận biết khi trẻ bị mất nước, tranh so 4, 5, 6, 7, 8
mó tả cách pha chế dung dịch ORS đủng, tranh sổ 9 hướng dẫn các bà mẹ nấu cháo muối thay thế khi không có dung dịch ORS”.
Nhưng khi phỏng vấn anh N.V.D (25 tuổi - CB chuyên trách dân số tại thị trấn Nam Giang) thì
anh trả lời rằng: “Anh thấy các bức tranh này tương đối dễ hiểu nhưng còn bức tranh số 2 thì anh chưa thấy thể hiện rõ lắm, hình ảnh nhìn mờ mờ nên anh cũng thấy hơi khó hiểu 1 chút, do đó nếu được chỉnh sửa lại bức tranh rõ ra thì sẽ dễ hiểu hơn, bức tranh so 3 thì anh thấy nó gần giong với bức tranh thứ nhất nên anh
Trang 22nghĩ là cần thay đối cho nó dễ hiểu hơn".
Còn chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng: “Chị cũng thấy các bức tranh trong tờ rơi này là tương đối dễ hiểu chỉ còn bức tranh sổ 2 và bức tranh số 3 thì em nên chỉnh sửa lại cho rõ ràng hơn để tránh gây hiểu lầm cho người đọc và cũng sẽ làm cho người đọc chủ ỷ tới các bức tranh hơn nữa".
Chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng: “Chị thấy bức tranh sổ 3 vẽ chưa được đẹp nên cũng chưa hấp dẫn lắm nên chỉnh lại để hấp dãn người đọc hơn nữa".
Còn theo anh N.V.D (CB chuyên trách dân số tại thị trấn) thì nhận xét rang: “Anh thấy bức tranh sổ 3 có vẻ lặp lại bức tranh so Ị nên cũng chưa hấp dẫn người đọc lắm, theo anh nên chỉnh lại bức tranh sổ 3 thì sẽ hấp dẫn hơn
Trang 23thông tin đưa ra thì 1 số thông tin chị cũng được nghe trên đài, ti vì rồi
Còn theo chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng: “Chị thấy nội dung viết trong tờ rơi cũng bình thường, chưa được hấp dẫn lắm vĩ 1 sổ thông tin chị thấy người dân họ cũng biết rồi do đó mình nên thay đổi đi 1 chút cho đỡ nhàm chán hơn
Anh N.V.D (CB chuyên trách dân sổ tại thị trấn) thỉ nhận xét.- ‘‘Theo anh nội dung viết trong
tờ rơi này là được rồi, nỏ cũng khả hâp dân đây chứ”.
3. Mức độ thích thú;
Đa số các đối tượng được thử nghiệm đều thích các bức tranh trong tờ rơi, tuy nhiên có 10/30đối tượng không thích bức tranh số 2 và 3/30 đối tượng không thích bức tranh số 3
Theo chị Đ.T.H (bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn) nhận xét: “Chị không thích bức tranh
sổ 2 lắm vì nhìn nó không rõ và màu sắc thì nhợt nhạt nên chị không thích
Còn anh N.V.D (CB chuyên trách dân số tại thị trấn) thì trả lời rằng.- “Anh không thích bức tranh sổ 3 vì nội dung của nó giống với bức tranh so 1 nên anh cảm giác nó hơi nhàm chán
Chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng,- “Chị cũng không thích bức tranh số 2 vì nó không đẹp, màu săc thì mờ nhạt không rò ”
4. Mức độ tin cậy:
28/30 đối tượng được thử nghiệm trả lời rằng tờ rơi này là đáng tin cậy (93,4%)
Khi phỏng vẩn anh N.V.D (25 tuổi - CB chuyên trách dân số tại thị trấn), anh cho biết: “Anh
thấy các thông tin viết trong tờ rơi đáng tin cậy vì nó giúp các bà mẹ
Trang 24nhận biết được hiện tượng tiêu chảy’ cũng như các dấu hiệu mat nước khi trẻ bị tiêu chảy và hướng dẫn các bà mẹ về cách xử tri phù hợp cho trẻ khỉ trẻ bị mat nước tránh tình trạng trẻ bị mất nước nặng dẫn đến
tử vong”.
Còn theo chị Đ.T.H (24 tuổi — bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn) thì nhận xét: ‘‘Chị rất tin
vào những thông tin mà tờ rơi này cung cap vĩ nó rất cần thiết và đúng thực tể”.
5. Mức độ chú ý:
Những bức tranh được các đối tượng thử nghiệm chú ý là tranh số 1 (26/30 đổi tượng); tranh
số 10 (22/30 đối tượng); tranh số 8 (21/30 đối tượng); tuy nhiên có 9/ 30 đối tượng thử nghiệm trả lờirằng không chú ý tới bức tranh sổ 2
Khi phỏng vấn anh N.V.D (CB chuyên trách dân số tại thị trấn), thì anh trả lời rằng: “Ânh thấy các bức tranh trong tờ rơi này có gây sự chủ ý cho anh chi riêng có bức tranh sổ 2 là anh thấy không chú ý lắm vì hình ảnh không rõ và không sắc nẻf\
Còn chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng; “Chị thay các bức tranh trong tờ rơi này cũng gây sự chú ỷ cho chị nhưng bức tranh sổ 2 và tranh sổ 3 chị thấy không chủ ỷ lắm vì hình ảnh nó không rõ ràng và màu bức ảnh không nổi, em nên chỉnh sửa lại bức tranh này ”.
Chị Đ.T.H (bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn) thỉ nhận xét rằng: “Chị thấy các bức tranh trong tờ rơi này đều gây sự chủ ỷ cho chị nhưng bức tranh số 2 thì chị cũng thấy chưa chú ý lăm, theo chị em nên chinh lại thì sẽ thu hút được sự chủ ý của mọi người hơn
Trang 25Còn theo anh N.V.D (CB chuyên trách dân số tại thị trấn) thì nhận xét rằng: “Anh thấy nội
dung trong tờ rơi cũng thuyết phục đổi với anh và cũng khuyến khích anh làm theo những hướng dẫn trong tờ rơi này
Chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng.- "Chị thấy các nội dung trong tờ rơi này là thuyết phục rồi, tuy nhiên có so câu từ trong nội dung cần phải sửa lại như câu: "Bệnh tiêu chảy có thể làm chết trẻ em do cơ thể mất quả nhiều nước câu: "Do đó để phòng mất nước và cứu tinh mạng của đứa trẻ cần bù dịch sớm bằng đường uổng cho trẻ câu: "Nếu không có ORS có thể thay bằng: nước chảo muối, nước quả tươi, nước chè loãng, nước dừa non, nước đun sôi đế nguội”, câu: “6 bát ăn cơm nước đầy ” thì sẽ thuyết phục hơn nữa ”.
Trang 26nghĩ của nhiều người dãn ở địa phương của anh ”,
Còn chị Đ.T.D (CBYT tại trạm) thì nhận xét rằng: “Chị thấy các nội dung viết trong tờ rơi này ỉà phù hợp rồi, chỉ cần chỉnh sửa vài từ là được thôi
Còn theo chị Đ.T.H (bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị tran) nhận xét rang: “Chị thấy cách sắp xếp các phần trong tờ rơi như vậy là hợp lý rồi không cần chỉnh sửa gì cả
8. Sự chấp nhận thông tin trong tờ rơi:
29/30 đối tượng thử nghiệm trả lời rằng họ chấp nhận những thông tin được đưa ra trong tờrơi
Anh N.V.D (CB chuyên trách dân số tại thị trẩn) trả lời rằng: “Anh thấy các nội dung viết trong tờ rơi này là chấp nhận được vì nó thiết thực đổi với anh cũng như với những người dân ở địa phương’’.