1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam

178 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Về Phát Triển Dịch Vụ Logistics Ở Việt Nam
Tác giả TS. Phan Văn Hòa
Trường học Nhà Xuất Bản Lao Động - Xã Hội
Thể loại Sách Chuyên Khảo
Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Logistics đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại. Tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Logistics. Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Điều này là do góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau của các nhà kinh tế. Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ … từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng

Trang 1

CHỦ BIÊN

TS PHAN VĂN HÒA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT

NAM

(Sách chuyên khảo)

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

Trang 2

1.1.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 1

1.1.1.2 Các quan niệm về Logistics và dịch vụ Logistics 6

1.1.1.4 Sự cần thiết phát triển dịch vụ Logistics 10

1.1.2.1 Vai trò của dịch vụ Logistics đối với nền Kinh tế quốc dân 11

1.1.2.2 Vai trò của Logistics đối với các ngành, các doanh nghiệp 13

1.1.3 Đặc trưng và yêu cầu cơ bản của các dịch vụ Logistics trong nền kinh tế thị

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics 29

1.2.2.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics quốc

1.2.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics của

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS

Trang 3

1.3.2 Các nhân tố đặc thù 45

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ LOGISTICS Ở

2.1 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ

2.1.1.Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đối với việc phát triển dịch vụ Logistics 61

2.1.1.2 Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta, cơ hội và thách thức đối với sự

2.1.2 Cam kết quốc tế của Việt Nam về dịch vụ Logistics 71

2.1.2.1 Dịch vụ Logistics ở nước ta trong quá trình mở cửa thị trường dịch vụ71

2.1.2.2 Các cam kết của Việt Nam về tự do hóa dịch vụ Logistics 722.1.2.3 Tình hình phát triển dịch vụ Logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế79

2.1.3 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển các dịch vụ Logistics & Bài học

2.1.3.1 Kinh nghiệm phát triển các dịch vụ Logistics của một số quốc gia trênthế giới 87

2.1.3.2 Bài học đối với sự phát triển các hoạt động Logistics Việt Nam 972.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ LOGISTICS Ở NƯỚC TA 101

2.2.1 Tình hình về sự phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta trong thời gian qua 101

2.2.3 Thực trạng kinh doanh Logistics của các doanh nghiệp Việt Nam 115

2.2.3.1 Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam 115

Trang 4

2.2.3.2 Thực trạng dịch vụ được cung ứng tại các doanh nghiệp Logistics Việt

2.2.3.4.Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp trong xu hướng phát triển

2.2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam 120

2.2.4.1 Hiệu quả cung ứng của doanh nghiệp so với nhu cầu thị trường 120

2.2.4.3.Tác động của môi trường kinh doanh đến hiệu quả của doanh nghiệp1212.2.4.4 Những vấn đề còn tồn tại hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam 123

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ LOGISTICS Ở

3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ LOGISTICS Ở NƯỚC TA TRONG

3.1.1. tiêu phát triển dịch vụ Logistics đến năm 2020 và các năm tiếp theo 125

3.1.3. ực hiện các chương trình trọng tâm về Logistics giai đoạn 2011-2020 126

3.2.1.2 Nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành

3.2.1.4 Nâng cao vai trò hỗ trợ của Chính phủ và Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Logistics đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại Tuy vậycho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Logistics Hiện có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về Logistics cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Điềunày là do góc độ và mục đích nghiên cứu khác nhau của các nhà kinh tế.Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lýkhoa học thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trìnhlưu chuyển hàng hóa, dịch vụ

… từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phíthấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng,liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng Nói đến Logistics là nóiđến hiệu quả, nói đến tối ưu hóa trong các ngành, các doanh nghiệp và nền kinh

tế quốc dân, quan điểm Logistics đồng nghĩa với quan điểm hiệu quả cả quátrình, chuỗi cung ứng, nó đối lập với lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm mà làm tổn hạiđến lợi ích toàn cục, lợi ích quốc gia

Để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về

Logistics ở nước ta, Nhà xuất bản Lao động - Xã Hội xuất bản cuốn sách Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển Logistics ở Việt Nam Đây là kết quả

nghiên cứu của các đề tài nhánh thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước ĐTĐL.2010T/

33 “Phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế”

do GS.TS Đặng Đình Đào làm chủ nhiệm mà các tác giả tham gia nghiên cứu.Cuốn sách do TS Phan Văn Hòa chịu trách nhiệm chủ biên Tập thể tác giảtham gia nghiên cứu tổng hợp và biên soạn gồm PGS.TS Nguyễn Thị XuânHương, TS Phan Văn Hòa, ThS Đặng Thị Thúy Hồng, ThS Nguyễn Thị DiệuChi, ThS Lê Thùy Dương và ThS Đặng Thị Thúy Hà

Sách chuyên khảo "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển logistics

ở Việt Nam" có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích đối với các doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực logistics, các cơ quan quản lý, sinh viên các trường đại họckinh tế và quản trị kinh doanh Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng biênsoạn, cập nhật thực tiễn về dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay, nhưng với thờigian và trình độ có hạn nên cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót Tập thểtác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để lần xuất bản sauđược tốt hơn

Tập thể tác giả

Trang 6

1.1.1 Khái quát về Logistics

1.1.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển

Ngày nay khái niệm Logistics đã không còn xa lạ đối với các nước trên thế giới,

kể cả Việt Nam Tuy nhiên, ít người biết được rằng Logistics được phát minh và ứngdụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự.Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong hai cuộc Đại chiến thế giới để dichuyển lực lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo cho lực lượngtham chiến Hiệu quả của hoạt động Logistics, do đó là yếu tố có tác động rất lớn tớithành bại trên chiến trường Cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùngNormandie tháng 06/1944 chính là nhờ vào sự nỗ lực của khâu chuẩn bị Logistics vàquy mô của các phương tiện Logistics được triển khai Sau khi chiến tranh thế giới kếtthúc, các chuyên gia Logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng Logistics của họtrong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến Hoạt động Logistics trong thương mạilần đầu tiên được ứng dụng và triển khai sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc.Trong lịch sử Việt Nam, hai người đầu tiên ứng dụng thành công Logistics trong hoạtđộng quân sự chính là vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ramiền Bắc đại phá quân Thanh (1789) và sau đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trongchiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Trải qua dòng chảy lịch sử, Logistics được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vựckinh doanh Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “Logistics” thường được hiểu là hoạtđộng quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phânphối vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó

Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương (Economic and SocialCommission for Asia and the Pacific – ESCAP), Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn

Đó là Phân phối vật chất, hệ thống Logistics và quản trị Logistics

a Giai đoạn 1: Phân phối vật chất

Vào những năm 60, 70 của thế kỷ 20 thì Logistics là hoạt động cung ứng sản

phẩm vật chất, hay còn gọi là Logistics đầu ra Logistics đầu ra là quản lý một cách có

hệ thống các hoạt động liên quan đến nhau để đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá

Trang 7

cho khách hàng một cách có hiệu quả Giai đoạn phân phối vật chất bao gồm các hoạtđộng nghiệp vụ sau:

Vận tải: bao gồm việc sử dụng các phương tiện như máy bay, tàu thủy, tàu hỏa,

xe tải, ô tô để vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa từ thành phố này tới thành phốkhác, từ nước này tới nước khác

Phân phối: là hoạt động vận chuyển và lưu giữ sản phẩm trong quá trình từ sau

khi sản phẩm hoàn thành ở nhà sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay người sử dụngcuối cùng Đây là một hoạt động quan trọng vì nó góp phần đảm bảo việc tiêu thụ cóhiệu quả Phân phối bao gồm hoạt động lựa chọn, thiết lập kênh phân phối, tổ chức

và quản lý kênh phân phối hiệu quả

Bảo quản hàng hoá: là hoạt động nhằm bảo quản hàng hóa tránh hư hỏng, va

đập

Quản lý kho bãi: Kho bãi là nơi để lưu trữ hàng hóa, giúp con người chuẩn bị

hàng hóa để vận chuyển từ địa điểm này tới địa điểm khác hoặc dự trữ để chuẩn bịtung ra thị trường Quản lý kho bãi là việc đảm bảo hàng hóa trong trạng thái tốt nhất,đúng về chất lượng, đủ về số lượng, đảm bảo khi cần thì hàng sẽ xuất kho được

Bao bì, nhãn mác, đóng gói: Là khâu hoàn thiện sản phẩm, lựa chọn chất liệu

để bảo vệ, bảo quản hàng hóa

b Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics

Vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, hoạt động Logistics là sự kết hợp cả haikhâu đầu vào (cung ứng vật tư) và đầu ra (phân phối sản phẩm) để tiết kiệm chi phí,

tăng hiệu quả Đây gọi là quá trình Logistics.

Khâu thứ nhất là Cung ứng vật tư (hoạt động đầu vào)

Cung ứng vật tư bao gồm hai chức năng bộ phận: mua và quản lý dự trữ (tồn kho)các nguyên vật liệu, vật tư, đầu vào cho quá trình sản xuất

Mua: Là hành động thương mại xuất phát từ biểu hiện của một nhu cầu và được

thể hiện qua việc đặt hàng với nhà cung ứng đã lựa chọn Để hoạt động, mọi doanhnghiệp cần mua và lưu kho những tư liệu đầu vào cần thiết cho hoạt động sản xuất kinhdoanh Đối với doanh nghiệp công nghiệp, đầu vào này là năng lượng, nguyên vật liệu,máy móc, thiết bị sản xuất…để thông qua quá trình sản xuất biến đổi thành sản phẩmcuối cùng Đối với doanh nghiệp thương mại, đầu vào này là hàng hóa, bao bì, nhãnmác… phục vụ hoạt động thương mại của doanh nghiệp

Quản lý dự trữ (tồn kho): Hoạt động mua các yếu tố đầu vào là chưa đủ để đảm

bảo việc sản xuất hoặc bán hàng được diễn ra liên tục và không bị ngưng trệ Điều nàychỉ được thực hiện khi có cả hoat động dự trữ Dự trữ là toàn bộ hàng hóa hoặc nhữngmặt hàng được tích lũy lại chờ đợi để sử dụng về sau, và nó cho phép cung cấp cho

Trang 8

người sử dụng dần dần theo những nhu cầu của họ, không áp đặt cho họ những thời hạn

và sự trục trặc Khái niệm dự trữ có liên quan đến khái niệm dự phòng và cũng như dựđoán Có thể nói rằng, một doanh nghiệp đứt chân hàng khi nó không có nguyên liệu,thành phẩm hoặc là hàng hóa với số lượng cần thiết vào lúc thích hợp Hoạt động dự trữ

có nhiều chức năng quan trọng trong quản lý dây chuyền cung ứng, hay còn gọi là quátrình Logistics Những chức năng này bao gồm:

Thứ nhất, chức năng liên kết: Là chức năng chủ yếu nhất, nó liên kết giữa quá

trình sản xuất và cung ứng Tồn kho là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sản xuất liêntục vào những lúc cao điểm, nhất là khi cung và cầu của một loại hàng nào đó không

ổn định

Thứ hai, chức năng ngăn ngừa tác động của lạm phát: Tồn kho giúp doanh

nghiệp tiết kiệm một lượng chi phí đáng kể khi nguyên vật liệu hay hàng hóa tăng giádưới tác động của lạm phát Trong trường hợp này tồn kho sẽ là một hoạt động đầu tưtốt nhưng cần phải tính toán kỹ lưỡng các chi phí và rủi ro có thể xảy ra

Thứ ba, chức năng khấu trừ theo số lượng: Nhiều nhà cung ứng sẵn sàng chiết

khấu cho những đơn hàng có khối lượng lớn Điều này có thể làm giảm giá mua hànghóa, nguyên vật liệu nhưng sẽ dẫn đến làm tăng chi phí tồn kho Nhà quản trị cầnphải xác định lượng hàng tối ưu để có thể hưởng được chiết khấu, đồng thời chi phítồn trữ tăng không đáng kể

Như vậy, hoạt động cung ứng vật tư về cơ bản là mua và quản lý hàng dự trữ đểđạt được hiệu quả tối ưu

Khâu thứ hai là Phân phối sản phẩm (hoạt động đầu ra)

Nội dung cơ bản của chính sách phân phối trong hoạt động Logistics là thiết kế vàquản lý mạng lưới bán hàng để sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Mạng lướibán hàng đó là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thể khác nhau có sức mạnh

và uy tín khác nhau để đưa hàng hoá từ doanh nghiệp sản xuất đến khách hàng

Tổ chức hệ thống phân phối liên quan đến việc tổ chức di chuyển phương tiện,phân bổ nguồn hàng tới các thị trường, xác định số lượng kho hàng tối ưu Việc dichuyển phương tiện và hàng hóa từ kho đến các khách hàng có thể thực hiện trên nhiềutuyến đường khác nhau Chi phí trên mỗi tuyến đường cũng có thể khác nhau do phụthuộc vào quãng đường di chuyển, phí cầu đường, thậm chí là các khoản “tiêu cực phí”nếu có Vì vậy một trong các chức năng của Logistics là phải chỉ ra việc phân bổ hànghóa tối ưu cho các thị trường và con đường vận chuyển có chi phí thấp nhất

Ngoài ra, người làm Logistics còn phải xác định được số lượng kho hàng tối ưutrong điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Nếu số lượng kho hàng lớn sẽ làm giảm chi phívận chuyển từ các kho đến các khách hàng, tuy nhiên nó làm phát sinh thêm chi phí vận

Trang 9

chuyển từ nơi sản xuất đến các kho và phát sinh thêm các chi phí dự trữ cũng như chiphí quản lý kho.

Hoạt động phân phối sản phẩm cần đảm bảo cung ứng hàng hóa cho khách hàng:(i) vào thời điểm mong muốn (hàng hóa cần phải sẵn sàng khi người ta có nhu cầu); (ii)với số lượng mong muốn (là không quá nhiều, cũng không quá ít); (iii) với chất lượngmong muốn (có khả năng đáp ứng đúng nhu cầu); (iv) với chi phí ít nhất (giá mua làmột phần chủ yếu của giá cả mà khách hàng phải chịu)

c Giai đoạn 3: Quản trị Logistics

Đây là giai đoạn phát triển của Logistics vào những năm cuối thế kỷ 20 Theo địnhnghĩa của Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council ofSupply Chain Management Professionals - CSCMP): “Quản trị Logistics là một phầncủa quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vậnchuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơixuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Hoạt động của quản trịLogistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, khobãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới Logistics, quản trị tồn kho,hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba Ở một số mức độ khác nhau,các chức năng của Logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sảnxuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng Quản trị Logistics là chức năng tổng hợp kết hợp vàtối ưu hóa tất cả các hoạt động Logistics cũng như phối hợp hoạt động Logistics với cácchức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin”.Cũng theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà quản trị chuỗi cung ứng thì “Quản trịchuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìmnguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị Logistics Ở mức độquan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối táctrên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, kháchhàng Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong

và giữa các công ty với nhau Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vaitrò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếubên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quảcao và kết dính Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trịLogistics đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về quitrình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính,công nghệ thông tin”

Có thể hình dung vị trí của dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng theo hình 1.1:

Trang 11

Dòng thông tin Dòng sản phẩm Dòng tiền tệ

Đối với các doanh nghiệp, quản trị Logistics có vai trò to lớn Logistics giảiquyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ có thể thayđổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vậtliệu, hàng hoá, dịch vụ,… Logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh chodoanh nghiệp

hàng

Trang 12

Hoạch định

Quyết định quản trị

2 Các thành phần cơ bản và hoạt động cơ bản của Quản trị Logistics

Đầu vào Logsistics Đầu ra Logistics

Khách hàng

- Quản lý thông tin

Hình 1.2 cho thấy quản trị Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là mộtchuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùmmọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêuthụ sản phẩm cuối cùng Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tư,nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ Các hoạt độngnày cũng được phối kết hợp trong một chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp

từ tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho,bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…Và chính nhờ vào sự kết hợp này

mà các hoạt động kinh doanh được hỗ trợ một cách tối ưu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo

ra được sự thoả mãn khách hàng ở mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị

Tiện lợi về thời gian và địa điểm Hiệu quả vận động hàng hóa Tài sản sở hữu

Trang 13

gia tăng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh.

1.1.1.2 Các quan niệm về Logistics và dịch vụ Logistics

a Một số định nghĩa về Logistics

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics trên thế giới được xây dựng căn cứtrên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ Logistics Tuy nhiên, có thể nêumột số khái niệm chủ yếu sau:

Trong lĩnh vực quân sự, Logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế

hoạch, tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng…, các mặt trong chiến dịch quân

sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tậptrung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị

Theo Liên Hợp Quốc 1 : Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển

nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùngtheo yêu cầu của khách hàng

Theo Ủy ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch,

chọn phương án tối ưu để thực hiện quản lý, kiểm soát việc di chuyển, bảo quản để cóhiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm

và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khihàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng

Theo Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ - 1988 (CLM - Council of Logistic

Management): Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết

kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm vàcác thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãnnhững yêu cầu của khách hàng

Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại

2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ Logistics được pháp điển hóa Luật quy định

“Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện mộthoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hảiquan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao

hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng

để hưởng thù lao”

b Hai nhóm định nghĩa về Logistics

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ Logistics

có thể chia làm hai nhóm:

Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có

Trang 14

1 Tài liệu đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý Logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002):

Trang 15

nghĩa hẹp, coi Logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiêncũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn

“hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa” Khái niệm Logistics trong một số

lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi,đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự) Theo trường pháinày, bản chất của dịch vụ Logistics là tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vậnchuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ, dịch vụ Logistics mang nhiềuyếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ Logistics theo khái niệm này không có nhiềukhác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO - MultimodalTransport Operator)

Nhóm định nghĩa rộng về dịch vụ Logistics có phạm vi rộng hơn, có tác động từ

giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theonhóm định nghĩa này, dịch vụ Logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên, vậtliệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưuthông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch

vụ Logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ nhưdịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấnquản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhậntoàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùngcuối cùng Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải cóchuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho cácnhà sản xuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao Ví dụ, khi một nhàcung cấp dịch vụ Logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cânđối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanhnghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chươngtrình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng

c Các đặc điểm chung của Logistics

Dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics, khái niệm Logistics có một sốđặc điểm chung

Thứ nhất, Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm

đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Thứ hai, Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt

động liên tục từ hoạch định quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa,thông tin, vốn… trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm Người takhông tập trung vào một công đoạn nhất định mà tiếp cận với cả một quá trình, chấpnhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng tổng chi phí có khuynh hướng giảm Trong quá

Trang 16

trình này, Logistics gồm 2 bộ phận chính là Logistics trong sản xuất và Logistics bênngoài sản xuất.

Trong phạm vi bài báo cáo chỉ tập trung vào Logistics bên ngoài sản xuất với tưcách là dịch vụ thuê ngoài còn hoạt động Logistics bên trong sản xuất liên quan đến mộtkhoa học khác là quản trị sản xuất, sự phân biệt này thể hiện rõ trong sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Hoạt động của dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng

Nguồn: Australian Bureau of Transport Economics,”Logistics in Australia: A preliminary analysis”, Working paper 49,October 2001

Thứ ba, Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu

kho bãi của hàng hoá và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thoả mãn kháchhàng Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi ra, đi vào, bên ngoài và bên trong của cảnguyên vật liệu thô và thành phẩm

Thứ tư, Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan

tới tất cả nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay dịch vụphù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Nguồn tài nguyên không chỉ bao gồm: vật tư,vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, công nghệ…

Thứ năm, Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức Cấp độ thứ

nhất: các vấn đề được đặt ra là vị trí: phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thànhphẩm, dịch vở …ụ đâu? khi nào? và vận chuyển đi đâu? Cấp độ thứ hai: quan tâm tớivận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từđiểm đầu tiên đến điểm cuối dây chuyền cung ứng?

Thứ sáu, Logistics là quá trình tối ưu hoá luồng vận động của vật chất và thông tin

về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hoá lợi nhuận

1.1.1.3 Phân loại dịch vụ Logistics

Dịch vụ Logistics được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo lĩnh vực hoạt

Trang 17

động; theo phương thức khai thác hoạt động Logistics; theo tính chuyên môn hóa củacác công ty cung cấp dịch vụ Logistics; hoặc theo khả năng tài chính của các công tycung cấp dịch vụ Logistics.

* Theo tiêu thức lĩnh vực hoạt động, gồm:

Logistics trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Business Logistics) là một phần của

quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả vàhiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ cácđiểm khởi đầu cung cấp các yếu tố đầu vào của dịch vụ đến điểm cuối cùng sản xuất vàcung cấp dịch vụ cho khách hàng Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho cáchoạt động này

Logistics sự kiện (Event Logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật

chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai cácnguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp

Logistics dịch vụ (Service Logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương

trình và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, vật liệu nhằm hỗ trợ vàduy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh

* Theo tiêu thức phương thức khai thác hoạt động Logistics, gồm:

Logistics bên thứ nhất (1PL): Các công ty tự thực hiện các hoạt động Logistics

của mình Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và cácnguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động Logistics

Logistics bên thứ hai (2PL): Là việc quản lý các hoạt động Logistics truyền thống

như vận tải hay kho vận Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầngthì có thể thuê ngoài các dịch vụ cung cấp Logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bịhay dịch vụ cơ bản Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư

Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL) hay còn được gọi là Logistics theo hợp đồng.

Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt độngLogistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ một số hoạt động cóchọn lọc Cách giải thích khác của 3PL là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch

vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu bao gồm việc quản

lý và thực hiện hoạt động vận tải và kho vận ít nhất 1 năm có hoặc không có hợp đồnghợp tác Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một công ty và nhà cung cấpdịch vụ Logistics, nó không chỉ nhằm thực hiện các hoạt động Logistics mà còn chia sẻthông tin, rủi ro và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn

Logistics bên thứ ba còn có thể được hiểu là người thay mặt cho chủ hàng quản lý

và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng Ví dụ như: thay mặt chongười gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho

Trang 18

người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm đến quyđịnh… Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển,tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng củakhách hàng.

Logistics bên thứ tư (4PL hay FPL) hay còn được gọi là Logistics chuỗi

phân phối FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra sự đáp

ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn FPL quản lý và thực hiện các hoạtđộng Logistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát, cácchức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động Logistics FPL bao gồm lĩnh vực rộnghơn gồm cả các hoạt động của TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý cáctiến trình kinh doanh FPL được xem là một điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việcquản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốt chuỗiphân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâubền

Logistics bên thứ năm (5PL): Là hoạt động Logistics có ứng dụng thương mại

điện tử, công nghệ thông tin nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả hơn, nhanh hơn, đơngiản hơn

* Theo tính chuyên môn hóa của các công ty cung cấp dịch vụ Logistics

Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải: Bao gồm (1) Các công ty cung cấp dịch vụ

vận tải đơn phương thức: Là những công ty chỉ cung cấp một loại phương tiện vận tải

Ví dụ: Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển;(2) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức: Là những công ty sử dụng từhai phương tiện vận tải khác nhau trở lên trong cả quá trình vận chuyển; (3) Các công tycung cấp dịch vụ khai thác cảng; (4) Các công ty môi giới vận tải

Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối: Bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ

kho bãi; các công ty cung cấp dịch vụ phân phối

Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa: Bao gồm các công ty môi giới khai thuê

hải quan; các công ty giao nhận, gom hàng lẻ; các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển

Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics chuyên ngành: Bao gồm các công ty công

nghệ thông tin; các công ty viễn thông; các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảohiểm; các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo

* Theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ Logistics

Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải, nhà kho…, và sử dụng

chúng để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động Logistics cho khách hàng của mình

Các công ty Logistics không sở hữu tài sản thì hoạt động như một người hợp nhất

các dịch vụ Logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài Họ có thể phải đi thuêphương tiện vận tải, nhà kho, bến bãi

Trang 19

Ngày nay có rất nhiều loại hình dịch vụ Logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạngkhác nhau của các ngành hàng khác nhau Khác với trước đây, không chỉ các dịch vụLogistics cơ bản như vận tải và kho vận mà các loại dịch vụ phức tạp và đa dạng kháccũng đã xuất hiện Việc thuê ngoài các dịch vụ Logistics gọi theo thuật ngữ chuyênngành là Logistics Outsourcing.

1.1.1.4 Sự cần thiết phát triển dịch vụ Logistics

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất đượcsản xuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thốngnhư chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sangcạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyểnnguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm… trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chấtcủa doanh nghiệp Trong quá trình đó, Logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽhơn trong lĩnh vực kinh doanh Ở thời gian đầu, Logistics chỉ đơn thuần được coi là mộtphương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng vớiquá trình phát triển, Logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành mộtngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế

Như vậy, để có thể cạnh tranh được trong giai đoạn giao lưu ngoại thương pháttriển mạnh như thời kì này thì những doanh nghiệp nào thực sự muốn vươn ra xa, vươn

ra tầm quốc tế bắt buộc phải lưu ý hoạt động Logistics để đảm bảo khả năng giành thắnglợi, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp

Hoạt động Logistics cũng là một hoạt động cấu thành nên giá thành của sản phẩm.Chính vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh càng không thể không lưu ý hoạt động nàybởi vì nó ảnh hưởng tới chiến lược cạnh tranh về giá và dịch vụ Hoạt động Logistics làmột hoạt động tất yếu, cần phải có nhằm đảm bảo quá trình lưu thông, đảm bảo hànghóa tới được tay người tiêu dùng

Do vậy, việc phát triển hoạt động Logistics ở các doanh nghiệp nói riêng và cácnước nói chung là xu hướng tất yếu của cả thế giới

1.1.2 Vai trò của dịch vụ Logistics

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa,khu vực hóa, dịch vụ Logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng, ở cả tầm vĩ

mô (đối với nền kinh tế quốc dân), và cả ở tầm vi mô (đối với các doanh nghiệp)

1.1.2.1 Vai trò của dịch vụ Logistics đối với nền kinh tế quốc dân

* Dịch vụ Logistics thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Dịch vụ Logistics thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc tiết kiệm và giảmthiểu chi phí trong cả quá trình sản xuất cũng như lưu thông

Trang 20

Thứ nhất, dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất Theo thống kê của Viện nghiên cứu Logistics Hoa

Kỳ, chi phí cho hoạt động Logistics chiếm khoảng 10-13% GDP ở các nước pháttriển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng 15-20% Theo thống

kê của một nghiên cứu khác cho biết hoạt động Logistics trên thị trường Trung Quốctăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/năm và ở Brazil là 20%/năm Điều này chothấy chi phí hoạt động Logistics là rất lớn Do đó, việc hình thành và phát triển dịch

vụ Logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảmđược chi phí trong chuỗi Logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giảnhơn và đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí Logistics đã giảmxuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới

Thứ hai, dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất

cộng với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếmmột tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt làhàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông C Mác đãtừng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gianđược giải quyết bằng vận tải” Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng vàtạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Trong buôn bán quốc

tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phívận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF Mà vận tải làyếu tố quan trọng nhất trong hệ thống Logistics cho nên dịch vụ Logistics ngày cànghoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quátrình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải,tổng chi phí Logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý, …) ước tính chiếmtới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chiphí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờbiển Dịch vụ Logistics phát triển sẽ làm giảm chi phí lưu thông trong hoạt động phânphối, và từ đó tăng tính hiệu quả của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

* Dịch vụ Logistics gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới

Thứ nhất, dịch vụ Logistics giúp Việt Nam trở thành một mắc xích trong chuỗi giá trị toàn cầu Logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu

(GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thịtrường cho các hoạt động kinh tế Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ vềcông nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển,

Trang 21

Logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vựckhác nhau của chiến lược doanh nghiệp Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địađiểm cho các hoạt động của doanh nghiệp Thế giới ngày nay được nhìn nhận như cácnền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệmquốc gia về thương mại chỉ đứng hàng thứ 2 so với hoạt động của các doanh nghiệp.

Ví dụ như thị trường tam giác bao gồm 3 khu vực địa lý: Nhật, Mỹ-Canada và EU.Trong thị trường tam giác này, các công ty trở nên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lựckinh tế của họ đã vượt quá biên giới quốc gia, quốc tịch của công ty đã trở nên mờ nhạt.Chẳng hạn như hoạt động của Toyota hiện nay, mặc dù phần lớn cổ đông của Toyota làngười Nhật và thị trường quan trọng nhất của Toyota là Mỹ nhưng phần lớn xe Toyotabán tại Mỹ được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota Như vậy, quốctịch của Toyota đã bị mờ đi nhưng đối với thị trường Mỹ thì rõ ràng Toyota là nhà sảnxuất một số loại xe ô tô và xe tải có chất lượng cao Ở Việt Nam, dịch vụ Logistics dùcòn mới mẻ nhưng cũng góp phần quan trọng gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tếkhu vực và thế giới

Thứ hai, Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất

kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sảnxuất và kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộngthị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ Logistics Dịch vụLogistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên cáctuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt

ra Dịch vụ Logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộngthị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

Thứ ba, dịch vụ Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế Trong thực tiễn, một giao dịch trong

buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của LiênHợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giớihàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loạigiấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn10% kim ngạch mậu dịch quốc tả ,ếnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế.Các dịch vụ Logistics đơn lẻ, Logistics trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chiphí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ vận tải đa phương thức dongười kinh doanh dịch vụ Logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờthủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc vănphòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế

Trang 22

Ngoài ra, cùng với việc phát triển Logistics điện tử (electronic Logistics) sẽ tạo racuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và Logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ tronglưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ Logistics ngàycàng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trongdòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơntrong hoạt động sản xuất và lưu thông.

1.1.2.2 Vai trò của Logistics đối với các ngành, các doanh nghiệp

Thứ nhất, Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên

tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí,đặc biệt là chi phí vận chuyển Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cao khiến cácdoanh nghiệp nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiềuhàng tồn kho Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưukho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu Và với sự trợ giúp của công nghệthông tin, Logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này

Thứ hai, Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết

nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả

để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, kho bãi chứathành phẩm, bán thành phẩm, … Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quảkhông thể thiếu vai trò của Logistics vì Logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và raquyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảohiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Thứ ba, Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian-địa điểm (JIT- just in time) Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa

và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt

ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận Đồng thời, để tránh hàng tồn kho,doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạtđộng lưu thông nói chung và hoạt động Logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giaohàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho

ở mức tối thiểu Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trìnhcung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quátrình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn

Thứ tư, dịch vụ Logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận Dịch vụ Logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và

Trang 23

phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinhdoanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản,thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết củamột sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm củadoanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch

vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phongphú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứngyêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ Logistics(Logistics service provider) Rõ ràng, dịch vụ Logistics đã góp phần làm gia tăng giá trịkinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch

vụ Logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhậnđơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng.Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lầncác dịch vụ ngoại thương khác

1.1.3 Đặc trưng và yêu cầu cơ bản của dịch vụ Logistics trong nền kinh tế thị trường

1.1.3.1 Những đặc trưng cơ bản của dịch vụ Logistics trong nền kinh tế thị

trường

a Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh chính: Logistics sinh tồn, Logistics hoạt động và Logistics hệ thống

Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Logistics

sinh tồn đúng như tên gọi của nó xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, đáp ứngcác nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu.Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động Logistics nói chung

Logistics hoạt động là bước phát triển mới của Logistics sinh tồn và gắn với toàn

bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp Logistics hoạt độngliên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào: đi vào, đi qua (vàotrong) và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đếntay người tiêu dùng cuối cùng

Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động Các yếu tố của

Logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạtầng nhà xưởng

Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo cơ sở hìnhthành hệ thống Logistics hoàn chỉnh

b Dịch vụ Logistics luôn luôn gắn liền với sự vận động của hàng hoá

Trang 24

Đây là đặc trưng cơ bản của dịch vụ Logistics Là một hoạt động dịch vụ nhưngdịch vụ Logistics luôn luôn được tiến hành cùng với hàng hoá - đối tượng vật chất hữuhình Như vậy, dịch vụ Logistics phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá củakhách hàng, đồng thời thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá Chính vì vậy, quản trịhiệu quả dịch vụ Logistics trước hết phải quản trị tốt dịch vụ mặt hàng kinh doanh, baogồm cả việc mua hàng và dự trữ hàng hoá đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất vàdoanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng, công nghiệp, Còn đốivới doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics thì cần chú ý hơn trong việc bảo quảnhàng hóa nhận chuyển đi và vận chuyển nó kịp thời,

c Tính hệ thống chuỗi của dịch vụ Logistics

Quá trình của dịch vụ Logistics là hệ thống các nghiệp vụ có mối liên hệ chặt chẽ,thống nhất, bắt đầu từ việc mua hàng ở nguồn hàng, vận chuyển, bảo quản ở trong kho,cửa hàng và kết thúc khi hàng hoá được phân phối và bán cho khách hàng Quá trìnhnày tạo ra một hệ thống chuỗi dịch vụ Logistics từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng cuốicùng Quá trình này cũng thống nhất vào dòng dự trữ và thông tin, thể hiện ở hình 1.3

3 Tính hệ thống chuỗi của dịch vụ Logistics

Dòng dự trữ là quá trình vận động của hàng hoá từ khi mua hàng ở các nguồn

hàng và kết thúc khi hàng hoá được bán cho khách hàng Dòng thông tin Logistics (LIS)

bao gồm: dòng hoạch định phối hợp và dòng nghiệp vụ Như vậy, giữa các yếu tố củaquá trình quản trị và nghiệp vụ có mối liên hệ thông tin chặt chẽ

d Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong Logistics

Cùng với quá trình phát triển của mình, Logistics đã làm đa dạng hóa khái niệmvận tải giao nhận truyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâurời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thôngquan… cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door) Từ chỗ đóngvai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vậntải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh Ngàynay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thốngđồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh,

Trang 25

bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tinđiện tử để theo dõi, kiểm tra… Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cungcấp dịch vụ Logistics.

e Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức

Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhậpkhẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đốivới hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vậntải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họđảm nhiệm Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vậntải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho

sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủhàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức(MTO) MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa

từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh

ta không phải là người chuyên chở thực tế Như vậy, MTO ở đây chính là người cungcấp dịch vụ Logistics

f Tính liên ngành trong hoạt động Logistics

Nội dung của dịch vụ Logistics rất đa dạng, bao gồm các công việc như: Nhậnhàng từ người gửi để tổ chức vận chuyển: Đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu; chuyển hàng

từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe và địa điểm giao hàng khác theo thỏathuận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển; làm thủ tục, giấy tờ cần thiết(thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi, giữ hàng hóa, làm các thủ tụcnhận hàng…) để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa được vận chuyển đến; giao hàng hóacho người vận chuyển; xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định; nhậnhàng hóa được vận chuyển đến; tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóahoặc thực hiện việc giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng.Qua đây chúng ta có thể thấy hoạt động Logistics liên quan tới nhiều hoạt động, ngànhnghề khác nhau như ngành vận tải, ngành bưu chính viễn thông, ngành quản trị kho bãi,ngành dịch vụ, ngành hải quan, Chính vì thế có thể khẳng định rằng hoạt độngLogistics có tính chất liên ngành

1.1.3.2 Những yêu cầu cơ bản của dịch vụ Logistics trong nền kinh tế thị trường

Sản phẩm của dịch vụ Logistics là dịch vụ khách hàng, do đó, những yêu cầu củadịch vụ Logistics trong nền kinh tế thị trường được xét trên hai phía cạnh: dịch vụ và chiphí Cụ thể là: tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng; giảm tổng chi phí của cả hệthống Logistics; tối ưu hóa dịch vụ Logistics

* Tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng

Trang 26

Chất lượng dịch vụ khách hàng trong Logistics được đo lường bởi ba tiêu chuẩnsau: (1) Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hóa; (2) Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ; (3) Độ tincậy.

a Tiêu chuẩn 1: Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá

Các cơ sở Logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho kháchhàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quảntrị dự trữ và tổ chức mạng lưới Logistics (kho, cửa hàng) Những chỉ tiêu đánh giá tiêuchuẩn này bao gồm:

Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xảy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán

cho khách hàng không Chỉ tiêu này đánh giá số lần nhu cầu vượt quá khả năng cungcấp hàng hoá

Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ

trong cả một thời gian Tỷ lệ đầy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mức độđáp ứng nhu cầu mua hàng của khách

Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ

Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán

hàng

Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ củadoanh nghiệp đáp ứng những mong đợi của khách hàng

b Tiêu chuẩn 2: Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu: Tốc độ; độ ổn định; độ linh hoạt;

độ sai sót nghiệp vụ

Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng Trong bán buôn: là thời

gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổchức hệ thống Logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển ) Tốc độ cung ứng hànghoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng Trong bán lẻ: chi phíthời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng

có được hàng hoá Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bánhàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng) Tuỳ thuộcvào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp Chẳng hạn,hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian muahàng

Độ ổn định: là sự dao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung

bình Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm đểchống lại việc cung ứng chậm trễ Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ,năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá Trong bán lẻ: sự dao động thời gian mua

Trang 27

 F = Fm+ Fv+ Fd+ Ft+ Fđ

hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoảmãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng

Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách

hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác) Những tìnhthế chủ yếu cần phải có độ linh hoạt nghiệp vụ là:

+ Có những biến đổi trong hệ thống dịch vụ cơ bản: thay đổi thời gian giao hàng(bán buôn); phát triển các phương pháp bán hàng và dịch vụ bổ sung (bán lẻ)

+ Cần phải hỗ trợ cho chương trình marketing và bán hàng

+ Kinh doanh mặt hàng mới và áp dụng phương pháp bán mới

+ Chuyển giai đoạn chu kỳ sống sản phẩm

+ Tình trạng gián đoạn trong cung ứng

+ Tái đặt hàng

+ Định hướng khách hàng theo trình độ dịch vụ

+ Thay đổi mặt hàng hoặc định hướng khách hàng trong hệ thống Logistics nhưlàm giá, bao gói

Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt

hàng, thời gian Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắcphục những sai sót

c Tiêu chuẩn 3: Độ tin cậy

Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng Logistics Độ tin cậy bao gồm khả năngthực hiện tiêu chuẩn 1 và 2, khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khảnăng cải tiến liên tục các nghiệp vụ

* Giảm tổng chi phí của cả hệ thống Logistics

Tổng chi phí của hệ thống Logistics được đo lường theo công thức sau:

Trong đó:

∑F: Tổng chi phí hệ thống Logistics

Fm: Chi phí giá trị hàng hoá mua

Fv: Cước phí vận chuyển hàng hoá

Trang 28

 2 (tt t )  m2  2mhk tbh

gm: Giá mua hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

M: Tổng lượng hàng hoá mua trong kỳ kế hoạch

+ Fv: Cước phí vận chuyển hàng hoá

kdđ : Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ trên đường (%)

mtb: Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

ttb: Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

fdq : Chi phí dự trữ lô hàng ở kho

Q

fdq = kdk  gk  2

kdk - Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ tại kho (%)

gk = gm + gv Giá hàng hoá nhập kho

Q - Qui mô lô hàng nhập kho

fb : Chi phí dự trữ bảo hiểm hàng hoá ở kho

fb = kdk  gk    z

 : Độ lệch tiêu chuẩn chung

 =

m - Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu

h - Độ lệch tiêu chuẩn thời gian thực hiện đơn đặt hàng

th - Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàng của nguồn hàng

tk - Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểmtra định kỳ dự trữ)

z : Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dựtrữ hàng hoá tại kho pr (tra bảng)

+ Ft : Chi phí thiếu bán hàng hoá

F t =

M

f

Qt

. f z

f t : Chi phí thiếu bán 1 đơn vị hàng hoá

Trang 29

f (z): Hàm phân phối chuẩn tương ứng với chỉ số độ lệch z (tra bảng)

* Tối ưu hoá dịch vụ Logistics

Tối ưu hoá dịch vụ Logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng đểđạt được khả năng lợi nhuận tối đa Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu có liênquan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí Mốiquan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và dự trữ được thể hiện trên hình 1.4

Hình 1.4: Quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

Tăng trình độ dịch vụ khách hàng hơn đối thủ cạnh tranh

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ ĐỘNG THÁI PHÁT TRIỂN

1.2.1 Nội dung phát triển dịch vụ Logistics

1.2.1.1 Nguyên tắc tổ chức hệ thống dịch vụ Logistics

a Nguyên tắc tiếp cận hệ thống (System approach)

Hệ thống là sự tập hợp bởi các thực thể (đối tượng khác nhau) có sự tương tác vớinhau Sự biến đổi của một thực thể này có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi của một hoặcnhiều thực thể khác và ngược lại, và cuối cùng làm cho hệ thống biến đổi Tiếp cận hệ

Trang 30

thống là phương pháp khá phổ biến trong khoa học Theo phương pháp này thì nghiêncứu vấn đề cần đặt nó vào môi trường mà nó tồn tại Nói cách khác, là xem xét nó như

là một bộ phận của tổng thể lớn hơn, mà ta thường gọi là môi trường bên ngoài.Logistics trong hoạt động kinh doanh được coi là một hệ thống lớn Hệ thống gồm ba hệthống nhỏ tương tác với nhau là: hệ thống cung ứng vật tư, hệ thống phân phối thànhphẩm, và hệ thống thu hồi (tái chế và tái sử dụng)

b Nguyên tắc xem xét tổng chi phí (Total - cost approach)

Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở là tất cả các chức năng liên quan trongLogistics được coi như toàn bộ, không riêng lẻ Các hoạt động trong khu vực chức năngcủa Logistics đều phải nằm trong "cái ô" tổng chi phí của Logistics

c Nguyên tắc tránh tối ưu hóa cục bộ (The avoidance of suboptimization)

Theo nguyên tắc này, các vấn đề được xem xét toàn bộ Ví dụ: Một dây chuyềnsản xuất gồm các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn này lại là một bộ phận có tínhđộc lập tương đối, nghĩa là có thể xem xét như một đối tượng điều khiển độc lập

Như vậy, nó có thể được tối ưu hóa riêng (tối ưu hóa cục bộ) Tối ưu hóa cục bộ

có thể đưa đến hai tình huống: thúc đẩy hoặc kìm hãm tính tối ưu toàn hệ thống Vì vậy,nguyên tắc này chỉ ra rằng khi tối ưu hóa cục bộ không tạo được kết quả tối ưu cho toàn

hệ thống thì không nên tối ưu hóa cục bộ

d Nguyên tắc bù trừ (Cost trade - offs)

Một nguyên tắc quan trọng được hình thành từ nguyên tắc tổng chi phí và hỗ trợcho nguyên tắc tổng chi phí đó là nguyên tắc bù trừ chi phí Nguyên tắc này được hiểu

là sự thay đổi các hoạt động chức năng của hệ thống lưu thông phân phối sẽ làm chomột số chi phí tăng lên, một số chi phí giảm xuống Ví dụ: Nhà sản xuất muốn tận dụnggiá cước vận chuyển đường biển thấp thì phải tích tụ một số lượng hàng hóa lớn và điềunày dẫn đến chi phí tồn trữ tăng lên Ngược lại, nhà sản xuất giao hàng bằng máy bay thìgiá cước vận chuyển sẽ cao hơn rất nhiều so với đường biển nhưng chi phí tồn trữ thấp.Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của nguyên tắc này sẽ là tổng chi phí giảm xuống tươngứng với mục đích phục vụ khách hàng được xác định

1.2.1.2 Nội dung phát triển dịch vụ Logistics

* Dịch vụ Logistics đơn lẻ

Dịch vụ Logistics đơn lẻ là dịch vụ được cung cấp bởi một doanh nghiệp tập trungvào việc chuyên môn hóa cung cấp một loại dịch vụ Logistics như dịch vụ vận tải, hoặcdịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ kho bãi, dịch vụ hải quan

a Dịch vụ vận tải

Vận chuyển hàng hoá, xét theo quan điểm quản trị Logistics, là sự di chuyển hànghoá trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu

Trang 31

cầu của mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất- kinh doanh Dưới góc độ của toàn bộnền kinh tế, sự cần thiết của vận chuyển hàng hoá xuất phát từ sự cách biệt về khônggian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng, mà chủ yếu là quá trình tập trung hoá vàchuyên môn hoá của sản xuất và tiêu dùng, do đó yêu cầu vận chuyển tăng lên cùng với

sự phát triển của nền kinh tế Hệ thống vận tải là cầu nối để xoá đi những mâu thuẫnkhách quan đó Chi phí vận tải là một trong những khoản lớn nhất trong chi phíLogistics Chi phí vận tải chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: loại hàng hoá, quy

mô lô hàng, tuyến đường vận tải… Chi phí vận tải của một đơn vị hàng hoá (cước phí)

tỷ lệ nghịch với khối lượng vận tải và quãng đường vận chuyển

Ba loại hình dịch vụ vận tải

Vận tải đơn phương thức: Là hình thức chỉ dùng một phương tiện vận tải để chở

hàng hóa Phương tiện vận tải ở đây có thể là ô tô, hàng không, tàu thủy

Vận tải đa phương thức nội địa: Theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày

19/10/2009: Vận tải đa phương thức nội địa là vận tải đa phương thức (hai phương tiệnvận tải trở nên) được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Vận tải đa phương thức quốc tế: Theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày

19/10/2009, vận tải đa phương thức quốc tế là vận tải đa phương thức từ nơi người kinhdoanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam đến một địa điểm được

chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại Vận tải đa phương thức quốc tế dựa

trên một hợp đồng đơn nhất và được thể hiện trên một chứng từ đơn nhất (Multimodaltransport document) hoặc một vận đơn vận tải đa phương thức (Multimodal transportBill of Lading) hay vận đơn vận tải liên hợp (Combined transport Bill of Lading)

Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator MTO) hành động như người chủ ủy thác chứ không phải như đại lý của người gửi hànghay đại lý của người chuyên chở tham gia vào vận tải đa phương thức

-Người kinh doanh vận tải đa phương thức là người phải chịu trách nhiệm đối vớihàng hóa trong một quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chuyên chở cho tới khigiao xong hàng cho người nhận kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến

Các hình thức vận tải đa phương thức trên thế giới

Thứ nhất, mô hình vận tải đường biển - vận tải hàng không (Sea/air): Mô hình này

là sự kết hợp giữa tính kinh tế của vận tải biển và sự ưu việt về tốc độ của vận tải hàngkhông, áp dụng trong việc chuyên chở những hàng hoá có giá trị cao như đồ điện, điện

tử và những hàng hoá có tính thời vụ cao như quần áo, đồ chơi, giày dép Hàng hoá saukhi được vận chuyển bằng đường biển tới cảng chuyển tải để chuyển tới người nhận ởsâu trong đất liền một cách nhanh chóng Nếu vận chuyển bằng phương tiện vận tảikhác thì sẽ không đảm bảo được tính thời vụ hoặc làm giảm giá trị của hàng hoá, do đó

Trang 32

vận tải hàng không là thích hợp nhất.

Thứ hai, mô hình vận tải ôtô - vận tải hàng không (Road – Air): Mô hình này sử

dụng để phối hợp cả ưu thế của vận tải ôtô và vận tải hàng không Người ta sử dụng ôtô

để tập trung hàng về các cảng hàng không hoặc từ các cảng hàng không chở đến nơigiao hàng ở các địa điểm khác Hoạt động của vận tải ôtô thực hiện ở đoạn đầu và đoạncuối của quá trình vận tải theo cách thức này có tính linh động cao, đáp ứng cho việc thugom, tập trung hàng về đầu mối là sân bay phục vụ cho các tuyến bay đường dài xuyênqua Thái bình dương, Ðại tây dương hoặc liên lục địa như từ Châu Âu sang Châu Mỹ

Thứ ba, mô hình vận tải đường sắt - vận tải ôtô (Rail – Road): Ðây là sự kết hợp

giữa tính an toàn và tốc độ của vận tải đường sắt với tính cơ động của vận tải ôtô đangđược sử dụng nhiều ở châu Mỹ và Châu Âu Theo phương pháp này người ta đóng góihàng trong các trailer được kéo đến nhà ga bằng các xe kéo goi là tractor Tại ga cáctrailer được kéo lên các toa xe và chở đến ga đến Khi đến đích người ta lại sử dụng cáctractor để kéo các trailer xuống và chở đến các địa điểm để giao cho người nhận

Thứ tư, mô hình vận tải đường sắt-đường bộ-vận tải nội thuỷ - vận tải đường biển (Rail /Road/Inland waterway/sea): Ðây là mô hình vận tải phổ biến nhất để chuyên chở

hàng hoá xuất nhập khẩu Hàng hoá được vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ hoặcđường nội thuỷ đến cảng biển của nước xuất khẩu sau đó được vận chuyển bằng đườngbiển tới cảng của nước nhập khẩu rồi từ đó vận chuyển đến người nhận ở sâu trong nộiđịa bằng đường bộ, đường sắt hoặc vận tải nội thuỷ Mô hình này thích hợp với các loạihàng hoá chở bằng container trên các tuyến vận chuyển mà không yêu cầu gấp rút lắm

về thời gian vận chuyển

Thứ năm, mô hình cầu lục địa (Land Bridge): Theo mô hình này hàng hoá được

vận chuyển bằng đường biển vượt qua các đại dương đến các cảng ở một lục địa nào đócần phải chuyển qua chặng đường trên đất liền để đi tiếp bằng đường biển đến châu lụckhác Trong cách tổ chức vận tải này, chặng vận tải trên đất liền được ví như chiếc cầunối liền hai vùng biển hay hai đại dương

b Dịch vụ giao nhận hàng hoá

Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụgiao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhậntheo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải, hoặc của người làm dịch vụ giao nhậnkhác (gọi chung là khách hàng)

Cùng với xu thế thương mại toàn cầu hoá là sự phát triển nhiều hình thức vận tảimới trong những thập niên qua Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá giữvai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế Những dịch vụ người giao nhận

Trang 33

thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ đónghàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch

vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đónggói bao bì hàng hoá, v.v Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận việc vận chuyểnhàng hoá thì phải tuân theo quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo pháp luậtchuyên ngành về vận tải

Quyền lợi và trách nhiệm của các doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận hàng ho

á

 Ðược hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác

 Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng

 Quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của kháchhàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng

 Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thựchiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm

 Trong trường hợp hợp đồng không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiệnnghĩa vụvới khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợplý

Nội dung của dịch vụ giao nhận hàng hóa

Nội dung của dịch vụ giao nhận hàng hóa sẽ được xét trên ba khía cạnh: dịch vụđại diện cho người xuất khẩu, dịch vụ đại diện cho người nhập khẩu và cuối cùng là cácdịch vụ khác

Thứ nhất, dịch vụ đại diện cho người xuất khẩu: Người giao nhận với những thoả

thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình (người xuất khẩu) những công việc sau:

 Lựa chọn tuyến đường vận tải

 Ðặt/ thuê địa điểm để đóng hàng theo yêu cầu của người vận tải

 Giao hàng hoá và cấp các chứng từ liên quan (như: biên lai nhận hàng - theForwarder Certificate of Receipt hay chứng từ vận tải - the Forwarder Certificate ofTransport)

 Nghiên cứu các điều kiện của thư tín dụng (L/C) và các văn bản luật pháp củachính phủ liên quan đến vận chuyển hàng hoá của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu,

kể cả các quốc gia chuyển tải (transit) hàng hoá, cũng như chuẩn bị các chứng từ cầnthiết

 Ðóng gói hàng hoá (trừ khi hàng hoá đã đóng gói trước khi giao cho ngườigiao nhận)

Trang 34

 Tư vấn cho người xuất khẩu về tầm quan trọng của bảo hiểm hàng hoá (nếuđược yêu cầu) Chuẩn bị kho bảo quản hàng hoá, cân đo hàng hoá (nếu cần).

 Vận chuyển hàng hoá đến cảng, thực hiện các thủ tục về lệ phí ở khu vực giámsát hải quan, cảng vụ, và giao hàng hoá cho người vận tải

 Nhận B/L từ người vận tải, sau đó giao cho người xuất khẩu

 Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá đến cảng đích bằng cách liện hệ vớingười vận tải hoặc đại lý của người giao nhận ở nước ngoài

 Ghi chú về những mất mát, tổn thất đối với hàng hoá (nếu có)

 Giúp người xuất khẩu trong việc khiếu nại đối với những hư hỏng, mất mát haytổn thất của hàng hoá

Thứ hai, đại diện cho người nhập khẩu

 Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá trong trường hợp người nhập khẩuchịu trách nhiệm về chi phí vận chuyển

 Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển hànghoá

 Nhận hàng từ người vận tải

 Chuẩn bị các chứng từ và nộp các lệ phí giám sát hải quan, cũng như các lệ phíkhác liên quan

 Chuẩn bị kho hàng chuyển tải (nếu cần thiết)

 Giao hàng hoá cho người nhập khẩu

 Giúp người nhập khẩu trong việc khiếu nại đối với những tổn thất, mất mát củahàng hoá

Thứ ba, các dịch vụ khác: Ngoài các dịch vụ kể trên, người giao nhận còn cung

cấp các dịch vụ khác theo yêu cầu của khách hàng như dịch vụ gom hàng, tư vấn chokhách hàng về thị trường mới, tình huống cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, các điềukiện giao hàng phù hợp,

c Dịch vụ kho bãi

Kho là loại hình cơ sở Logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chuẩn bị hànghoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phíthấp nhất Kho chứa là bộ phận trực tiếp thực hiện nhiều nội dung hoạt động Logisticscủa doanh nghiệp Hoạt động kho liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, bảo quản hànghoá dự trữ, chuẩn bị lô hàng theo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy sẽ córất nhiều loại kho để chứa, bảo quàn hàng hóa

Căn cứ vào chức năng:

Kho định hướng thị trường: Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị

trường mục tiêu Loại hình kho này còn được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng

Trang 35

Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô hàng và cungứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng Về mặt địa lý, kho gần khách hàng để tậptrung vận chuyển lô hàng lớn, cự ly dài từ nhà máy kết hợp cung ứng lô hàng nhỏ từkho cho khách hàng Phạm vi hoạt động của kho định vị thị trường căn cứ vào yêucầu tốc độ cung ứng, qui mô đơn hàng trung bình, chi phí/đơn vị cung ứng Cả trongkinh doanh bán buôn và bán lẻ đều sử dụng kho định vị thị trường.

Kho định hướng nguồn hàng: Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáp ứng các

yêu cầu của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là chức năng lợi ích kinhtế: thu nhận và tập trung vận chuyển, tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ

Kho định hướng trung gian: Kho đáp ứng yêu cầu của quá trình vận động hàng

hóa, thực hiện các chức năng lợi ích kinh tế là chủ yếu: dự trữ hàng hóa, chuyển tảihàng hóa giữa các loại phương tiện vận tải Kho định hướng trung gian gồm 2 loại:kho dự trữ và kho trung chuyển

Kho dùng riêng: Kho dùng riêng thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng

doanh nghiệp (thương mại) có quyền sở hữu hàng hóa dự trữ và bảo quản tại kho.Loại hình kho này thích hợp với những doanh nghiệp có khả năng về nguồn lực tàichính, đồng thời các loại hình kho khác không đáp ứng yêu cầu dự trữ, bảo quảnhàng và cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp (vị trí quá xa, điều kiện thiết kế và thiết

bị không phù hợp) Lợi ích chủ yếu của kho dùng riêng khả năng kiểm soát, tính linhhoạt nghiệp vụ, và các lợi ích vô hình khác Tuy nhiên nếu dùng kho dùng riêng thìchi phí hệ thống cơ sở Logistics sẽ tăng, và tính linh hoạt vị trí không đảm bảo khidoanh nghiệp mở rộng thị trường mục tiêu

Kho dùng chung: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, kho dùng chung được

sử dụng phổ biến Khác với kho dùng riêng, kho dùng chung hoạt động như một đơn

vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản, và vậnchuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi Kho dùng chung cung cấp các

dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng Kho dùng chung đem lại lợi ích linh hoạt về

tài chính và lợi ích kinh tế Chúng có qui mô nghiệp vụ và trình độ quản trị chuyên

môn rộng lớn hơn, bởi lẽ kho là đơn vị kinh doanh cơ bản Điều này có nghĩa, cácnhà quản trị kho dùng chung nắm được những rủi ro về hoạt động kho và hoạt động

để chiếm lợi thế các cơ hội thị trường Theo quan điểm tài chính, kho dùng chung cóthể có chi phí biến đổi thấp hơn kho dùng riêng Chi phí này thấp hơn có thể là dotính kinh tế nhờ qui mô, năng suất cao hơn Kho dùng chung cũng có chi phí vốn thấphơn Nếu như hiệu lực quản trị được điều chỉnh phù hợp với lợi nhuận trên đầu tư(ROI) thì việc sử dùng kho dùng chung có thể tăng đáng kể lợi nhuận của doanhnghiệp Kho dùng chung có thể cung cấp tính linh hoạt ở chỗ, nó dễ thay đổi vị trí,

Trang 36

qui mô, và số lượng kho, cho phép doanh nghiệp ứng nhanh với nguồn hàng, kháchhàng, và nhu cầu thời vụ Do kho dùng chung dự trữ và bảo quản hàng hóa cho mọikhách hàng nên có qui mô luôn luôn lớn và do đó đem lại lợi thế chi phí thấp nhờ qui

mô Nhiều doanh nghiệp lớn sử dùng kho dùng chung cho hoạt động cơ sở Logistics

do chúng cung cấp nhiều dịch vụ và có tính linh hoạt cao

Kho hợp tác (liên hợp sử dụng):Do các doanh nghiệp cùng góp vốn đầu tư xây

dựng Phân phối diện tích sử dụng theo tỷ lệ vốn đầu tư Đặc điểm: tiết kiệm vốn xâydựng do xây dựng tập trung; có thể tập trung quản lý; có điều kiện sử dụng hợp lýdiện tích kho và hiện đại hóa công nghệ kho

Kho hợp đồng: Kho hợp đồng được tạo thành từ kho dùng chung, phối hợp

những đặc điểm ưu việt của cả kho dùng riêng và dùng chung Kho hợp đồng là "một

tập hợp các lợi ích dài hạn cung cấp những nghiệp vụ kho chuyên biệt và độc đáo, và những dịch vụ cơ sở Logistics riêng biệt cho một khách hàng, tại đó, người bán và khách hàng chia sẻ những rủi ro tương ứng với nghiệp vụ 2 Kho hợp đồng và dùng

chung khác nhau về phạm vi thời gian quan hệ dịch vụ, các loại dịch vụ phân phối,tính chuyên biệt, và chia sẻ rủi ro Các nhà kinh doanh kho hợp đồng mở rộng phạm

vị dịch vụ của mình bao gồm các hoạt động cơ sở Logistics như vận chuyển, kiểmsoát dự trữ, xử lý đơn đặt hàng, dịch vụ khách hàng, và xử lý những khiếu nại Cónhiều kho hợp đồng có khả năng đáp ứng toàn bộ hoạt động cơ sở Logistics cho cácdoanh nghiệp cả lĩnh vực sản xuất và thị trường

Phân theo điều kiện thiết kế, thiết bị:

Kho thông thường: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị thực

hiện quá trình công nghệ trong điều kiện bình thường

Kho đặc biệt: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị riêng biệt để

bảo quản những hàng hóa đặc biệt do tính chất thương phẩm và yêu cầu của quá trìnhvận động hàng hoá (kho lạnh, kho động vật sống)

Phân theo đặc điểm kiến trúc:

Kho kín: Có khả năng ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường ngoài

kho; chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môitrường bên ngoài

Kho nửa kín: Chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hóa, không có các kết cấu

(tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho

Kho lộ thiên (bãi chứa hàng): Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hóa ít

2 "Contract Warehousing: How It Works and How to Make It Work Effectively," Oak Brook, III,

Warehousing Education and Research Council, 1993, tr 7.

Trang 37

hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.

Phân theo mặt hàng bảo quản:

Kho tổng hợp: Có trình độ tập trung hóa và chuyên môn hóa cao Kho bảo quản

nhiều loại hàng hóa theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá

Kho chuyên nghiệp: Chuyên bảo quản một nhóm hàng, phân nhóm hàng và loại

hàng nhất định

Kho hỗn hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hóa thấp nhất Kho bảo

quản nhiều loại hàng hóa trong một khu kho hoặc nhà kho

Vai trò của kho bãi:

Thứ nhất, đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá:

nhu cầu tiêu dùng có thể biến thiên theo mùa vụ và có những dao động khó lường Cácnguồn cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cầnđược duy trì liên tục để đảm bảo chất lượng ổn định với chi phí hợp lí, do vậy lượng dựtrữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó được với những thay đổi bấtthường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro và điều hoà sản xuất

Thứ hai, góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối: Nhờ có kho nên

có thể chủ động tạo ra các lô hàng với quy mô kinh tế trong quá trình sản xuất và phânphối nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên đơn vị Hơn nữa kho góp phần vào việc tiếtkiệm chi phí lưu thông thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụngtiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của kho

Thứ ba, hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp: thông

qua việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng giao,góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm

Thứ tư, hỗ trợ việc thực hiện quá trình “Logistics ngược”: thông qua việc thu

gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng, sản phẩm thừa…

Quản trị kho bãi:

Quản trị kho bãi là một hoạt động quản trị nhằm đảm bảo dự trữ hợp lý cho doanhnghiệp, bởi vậy cần hiểu rõ những nội dung kèm theo để quản trị nó một cách có hiệuquả Quản trị kho bãi bao gồm việc thiết kế mạng lưới kho hàng (số lượng, vị trí và quymô) Tính toán và trang bị các thiết bị nhà kho; tổ chức các nghiệp vụ kho; quản lý hệthống thông tin giấy tờ chứng từ; tổ chức quản lý lao động trong kho… giúp cho sảnphẩm được duy trì một cách tối ưu ở những vị trí cần thiết xác định trong hệ thốngLogistics nhờ đó mà các hoạt động được diễn ra một cách bình thường Tuy nhiên, đểhợp lý hóa dự trữ cần có những giải pháp khác đồng bộ bao gồm:

Cung ứng sản phẩm đầu vào (nguyên liệu, hàng mua,…) ổn định về số lượng,

cơ cấu, chất lượng, và thời gian Giải pháp này đảm bảo duy trì qui mô lô hàng đáp

Trang 38

ứng yêu cầu tiêu thụ cho sản xuất, cho bán hàng, không bị ứ đọng sản phẩm do bị trảlại vì không đáp ứng chất lượng, không làm tăng dự trữ bảo hiểm vì nhập hàng khôngchính xác về thời gian.

Tăng tốc độ quá trình sản xuất và quá trình kinh doanh, và do đó tăng tốc độ

chu chuyển dự trữ, giảm thời gian dự trữ, giảm chi phí dự trữ

Xây dựng kế hoạch bảo trì, sửa chữa nhằm giảm dự trữ vật tư đáp ứng cho 3

yêu cầu: duy trì, sửa chữa, thay thế

 Dự báo chính xác nhu cầu tiêu thụ vật tư, nguyên liệu, nhu cầu mua hàng của

khách hàng nhằm giảm dự trữ bảo hiểm.

Chi phí quản lý kho: Nhằm đảm bảo cho các nghiệp vụ kho được diễn ra suôn

sẻ, trong một số trường hợp bao gồm cả chi phí thiết kế mạng lưới kho, chi phí khảosát, chọn địa điểm và xây dựng kho hàng Tuy nhiên số lượng kho hàng có ảnh hưởngđến dịch vụ khách hàng và doanh thu của công ty nên cần phân tích, tính toán kỹlưỡng để cân bằng giữa chi phí quản lý kho, chi phí dự trữ, chi phí vận tải với khoảndoanh thu có thể tăng hoặc giảm tương ứng khi quyết định số lượng kho cần có trong

hệ thống Logistics

d Dịch vụ hải quan

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh doanh thương mại hiện nay, các giao dịch xuyênbiên giới ngày càng tăng, trong đó việc xác định nhanh chóng và chính xác nguồn gốc,điểm đến và các thông số khác liên quan đến thương mại hàng hóa là cần thiết Các giảipháp và công nghệ được áp dụng nhằm đạt được nhu cầu này tùy thuộc vào số các quyếtđịnh về kinh tế, tài chính và kinh doanh của nhiều bên tham gia chuỗi cung ứng khácnhau, tuy nhiên cuối cùng thì mục tiêu chính là việc giao kịp thời hàng hóa có chấtlượng ở điều kiện tốt nhất cho khách hàng ở mức giá có sức cạnh tranh nhất

Dịch vụ hải quan là một trong những dịch vụ Logistics, hoạt động của dịch vụ làthực hiện các thủ tục hải quan Thủ tục hải quan là những việc phải làm của nhữngngười có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, có phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnhhoặc của người được uỷ quyền (gọi tắt là người khai hải quan) theo quy định của LuậtHải quan và các luật khác có liên quan Thủ tục hải quan điện tử được thực hiện theoQuyết định 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/6/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Quyđịnh về thí điểm thủ tục hải quan điện tử và các văn bản liên quan Vì thế, người làmdịch vụ hải quan sẽ thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa để thực hiện các thủtục như: khai hải quan; xuất trình hàng hóa để cơ quan kiểm tra; nộp thuế, lệ phí và thukhác theo quy định của pháp luật (nếu có) Nhận hàng xuất khẩu để xuất ra nước ngoàihoặc nhận hàng nhập khẩu để chuyển trả cho chủ hàng trong nước Thông báo cho chủhàng liên hệ trực tiếp với cơ quan hải quan để giải quyết trường hợp hàng không được

Trang 39

xuất khẩu, nhập khẩu, hàng phải xử lý theo quy định của pháp luật.

e) Dịch vụ Logistics trọn gói hay dịch vụ Logistics chuyên nghiệp

Dịch vụ Logistics trọn gói chính là dịch vụ Logistics theo hướng 3PL là việc quản

lý cả dòng chảy nguyên liệu, hàng hóa lẫn thông tin, giúp con người kiểm soát hiệu quả

cả hoạt động Logistics Thực hiện dịch vụ Logistics trọn gói chính là cung cấp chokhách hàng những dịch vụ tích hợp theo một yêu cầu cụ thể của họ nhằm đáp ứng caoviệc luân chuyển nguyên liệu, sản phẩm Trên thực tế, đó là những người làm dịch vụgiao nhận kho vận, dịch vụ vận tải, chuyển phát nhanh… Có thể lấy hai ví dụ doanhnghiệp cung cấp dịch vụ Logistics trọn gói ở Việt Nam: Một công ty vừa và nhỏ ở phíaBắc đã tiến hành dịch vụ Logistics hàng công trình (như cung ứng dây chuyền thiết bịcho nhà máy xi măng), phải sắp xếp bằng 15 loại hợp đồng với các đối tác, bạn hàngkhác nhau… một cách đồng bộ, hợp lý và tối ưu nhất để đưa các thiết bị này từ nướcngoài về Việt Nam lắp ráp kịp tiến độ xây dựng và an toàn Một kho hàng khác tại khucông nghiệp VSIP Bình Dương đã thiết lập dịch vụ 3PL chính trong kho hàng 4.000 m2

này Tại đây từ việc tiếp nhận các phụ tùng, bán thành phẩm, sau đó phân loại, theo dõi,kiểm tra, đóng gói và chuyển đến các nhà máy tại Việt Nam hoặc gửi đi nước ngoài đềutheo phương thức cung ứng J.I.T (đúng thời điểm) Các thiết bị phục vụ trong quá trình

đó, ngoài thiết bị bốc dỡ, vận chuyển còn có hệ thống thông tin, áp dụng công nghệ mãvạch (bar coding) và nhận diện bằng sóng (R.F.I.D) Quá trình dịch vụ 3PL này đã giúpkhách hàng kiểm soát và nhìn rõ bằng một hệ thống thông tin trao đổi dữ liệu (EDI),nắm bắt chính xác dòng chảy nguyên liệu, hàng hóa của mình, kiểm soát được tồn kho

và đảm bảo đưa nguyên liệu kịp lịch trình sản xuất tại nhà máy

Tuy nhiên số lượng cung cấp dịch vụ Logistics trọn gói ở Việt Nam hiện rất hạnchế, do yêu cầu của dịch vụ cao, doanh nghiệp phải có nguồn lực vốn mạnh, am hiểu quitrình dịch vụ, có mối quan hệ tốt với nhiều bên liên quan Thị trường 3PL tại Việt Namhiện đang phát triển nhưng chủ yếu đang nằm trong tay các “đại gia” cung cấp dịch vụLogistics của nước ngoài hoặc chí ít cũng là các công ty liên doanh như Maerk, NYK,APL, Linfox, Toll…

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics 1.2.2.1.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển dịch vụ Logistics quốc gia - Chỉ tiêu LPI

a Tổng quan về Chỉ số hoạt động Logistics - LPI (Logistics Performance Index)

LPI được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố lần đầu tiên vào năm 2007, và lầnthứ hai vào đầu năm 2010 Chỉ số này cung cấp định hướng hữu ích để cơ quan chứcnăng của từng quốc gia có cái nhìn tổng quan và đưa ra biện pháp nâng cao khả năng

Trang 40

hoạt động Logistics cho quốc gia đó.

Khảo sát LPI được thiết kế và thực hiện bởi Vụ Thương mại và Giao thông vận tảiQuốc tế của Ngân hàng Thế giới, kết hợp với Trường Kinh tế Turku (TSE) của PhầnLan Cuộc khảo sát được thông qua và xúc tiến bởi Đối tác tạo thuận lợi toàn cầu chothương mại và giao thông vận tải Bên cạnh đó, khảo sát LPI còn được thực hiện nhờ sự

hỗ trợ và tham gia tích cực của Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Vận tải Giao nhận(FIATA) và Hiệp hội Chuyển phát nhanh Toàn cầu (GEA)

LPI là một công cụ đánh giá mối quan hệ tương tác giúp các quốc gia xác địnhnhững thách thức và cơ hội mà họ phải đối mặt trong hoạt động về Logistics thương mại

và những gì họ có thể làm để cải thiện hiệu suất Bộ dữ liệu LPI 2010 cho phép so sánh

155 quốc gia trên thế giới (xem thêm Phụ lục 1)

LPI được xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát toàn cầu gửi đến những người hoạtđộng Logistics (giao nhận vận tải và các hãng vận chuyển toàn cầu), cung cấp nhữngđánh giá và phản hồi của họ về sự thân thiện của hoạt động Logistics tại các quốc gia họtiến hành hoạt động Logistics và của những người họ giao dịch Họ kết hợp kiến thứcchuyên sâu về đất nước trong đó họ tiến hành hoạt động với những đánh giá, nhận xétđịnh lượng về các quốc gia mà họ giao dịch, và hoạt động trong môi trường Logisticstoàn cầu

Thông tin phản hồi từ các nhà hoạt động Logistics này được bổ sung với các dữliệu định lượng về tình hình hoạt động của các thành tố quan trọng của chuỗi Logisticstại quốc gia họ hoạt động, dữ liệu thu thập cho gần 130 quốc gia Các đối tượng này trảlời các câu hỏi trong bảng hỏi được thiết kế bởi Ngân hàng Thế giới

Do đó, LPI bao gồm cả những đánh giá định lượng và định tính Nó cũng giúp xâydựng đánh giá tổng quan về mức độ “thân thiện” về Logistics cho các quốc gia Nó đánhgiá kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng Logistics trong một quốc gia và đưa ra haikhía cạnh: LPI quốc tế và LPI nội địa

LPI quốc tế đưa ra các đánh giá định lượng của các đối tác thương mại của một

quốc gia về quốc gia đó dựa trên sáu lĩnh vực – là những nhà cung ứng dịch vụLogistics chuyên nghiệp không thuộc quốc gia đó

LPI nội địa đưa ra các đánh giá định tính và cả định lượng của các nhà cung

ứng dịch vụ Logistics chuyên nghiệp về quốc gia trong đó họ tiến hành hoạt độngLogistics Chỉ số này bao gồm các thông tin chi tiết về môi trường Logistics, các quitrình Logistics chủ yếu, các tổ chức có liên quan, thời gian và chi phí hoạt động Đây

là những dữ liệu bổ sung cho gần 130 quốc gia

b Dữ liệu LPI 2010 được tổ chức dựa trên ba cách thức

Thẻ điểm quốc gia: sử dụng sáu yếu tố quan trọng để so sánh kết quả hoạt động

Ngày đăng: 01/12/2023, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ phận nghiên cứu và tư vấn – Chuỗi cung ứng (SCM) - 141 Hai Bà Trưng, Báo cáo Kết quả khảo sát về Logistics năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ phận nghiên cứu và tư vấn – Chuỗi cung ứng (SCM) - 141 Hai Bà Trưng
2. Bộ Thương Mại (2006), “Báo cáo của Ban Công tác- Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam với WTO”, website: www.mot.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương Mại (2006), “Báo cáo của Ban Công tác- Biểu cam kết về dịch vụcủa Việt Nam với WTO”, website
Tác giả: Bộ Thương Mại
Năm: 2006
3. Triệu Hồng Cẩm (2006), Vận Tải Quốc Tế và Bảo Hiểm Vận Tải Quốc Tế, Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triệu Hồng Cẩm (2006), "Vận Tải Quốc Tế và Bảo Hiểm Vận Tải Quốc Tế
Tác giả: Triệu Hồng Cẩm
Nhà XB: Nhàxuất bản Văn Hóa Sài Gòn
Năm: 2006
4. Trần Anh Dũng (2006), Phát triển Logistics trong vận tải ở Việt Nam, Tạp chí hàng hải Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Anh Dũng (2006), "Phát triển Logistics trong vận tải ở Việt Nam
Tác giả: Trần Anh Dũng
Năm: 2006
5. Nguyễn Hữu Duy (2006), Thị trường Logistics Việt Nam dưới góc nhìn 3PL, Tạp Chí Chủ hàng Việt Nam - Vietnam shipper, tháng 5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Duy (2006), "Thị trường Logistics Việt Nam dưới góc nhìn 3PL
Tác giả: Nguyễn Hữu Duy
Năm: 2006
6. GS.TS. Đặng Đình Đào (2011), Dịch vụ logistics: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta, NXB Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Đặng Đình Đào (2011), "Dịch vụ logistics: Những vấn đề lý luận và thựctiễn ở nước ta
Tác giả: GS.TS. Đặng Đình Đào
Nhà XB: NXB Kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
7. GS.TS. Đặng Đình Đào (2012), Dịch vụ logistics trong tiến trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Đặng Đình Đào (2012), "Dịch vụ logistics trong tiến trình hội nhập quốctế ở Việt Nam
Tác giả: GS.TS. Đặng Đình Đào
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
8. GS.TS. Đặng Đình Đào, Trần Chí Thiện (2013), Xây dựng và phát triển hệ thống logistics theo hướng bền vững ở nước ta, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Đặng Đình Đào, Trần Chí Thiện (2013), "Xây dựng và phát triểnhệ thống logistics theo hướng bền vững ở nước ta
Tác giả: GS.TS. Đặng Đình Đào, Trần Chí Thiện
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2013
9. Nguyễn Hiếu (2007), Chọn nhà cung cấp Logistics: Một số đề nghị cho doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Chủ hàng Việt Nam – Việtnam shipper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hiếu (2007), "Chọn nhà cung cấp Logistics: Một số đề nghị cho doanhnghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hiếu
Năm: 2007
10. Nhà xuất bản Tư Pháp (2007), Những nội dung cơ bản của Luật Thương Mại năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà xuất bản Tư Pháp (2007)
Tác giả: Nhà xuất bản Tư Pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư Pháp (2007)
Năm: 2007
11. PGS.TS.Nguyễn Hồng Sơn (2006), “Gia nhập WTO: Cơ hội và thách thức đối với khu vực dịch vụ Việt Nam”, Những vấn đề Kinh Tế và Chính Trị Thế Giới, tr.39- 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS.Nguyễn Hồng Sơn (2006), “Gia nhập WTO: Cơ hội và thách thức đốivới khu vực dịch vụ Việt Nam”, "Những vấn đề Kinh Tế và Chính Trị Thế Giới
Tác giả: PGS.TS.Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2006
12. PGS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân (2006), Quản trị Logistics, Nhà Xuất Bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân (2006), "Quản trị Logistics
Tác giả: PGS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Thốngkê
Năm: 2006
15. Australian Bureau of Transport Economics (2001), Logistics in Australia:A preliminary analysis, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australian Bureau of Transport Economics (2001), "Logistics in Australia:"A preliminary analysis
Tác giả: Australian Bureau of Transport Economics
Năm: 2001
16. David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi (2000), Designing and Managing The Supply Chain, The McGraw-Hill, US Sách, tạp chí
Tiêu đề: David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi (2000), "Designingand Managing The Supply Chain
Tác giả: David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi
Năm: 2000
17. Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram (1998), Fundamentals of Logistics Management, McGraw-Hill, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram (1998), "Fundamentalsof Logistics Management
Tác giả: Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram
Năm: 1998
18. Frost & Sullivan (2006), Vietnam Transportation and Logistics:113 Challenges and Opportunities, APL Logitsics, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frost & Sullivan (2006), "Vietnam Transportation and Logistics:"113"Challenges and Opportunities
Tác giả: Frost & Sullivan
Năm: 2006
19. Martin Christopher (1998), Logistics and Supply Chain Management:Strategies for Reducing Cost and Improving Service, Prentice Hall Pubshier (An Imprint of Pearson Education), London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Martin Christopher (1998), "Logistics and Supply Chain Management:"Strategies for Reducing Cost and Improving Service
Tác giả: Martin Christopher
Năm: 1998
20. Do Xuân Quang (2006), “Vietnam – the Paradigm shift to free enterprise in the Logistics industry”, Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics, weblink Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do Xuân Quang (2006), “Vietnam – the Paradigm shift to free enterprise in theLogistics industry
Tác giả: Do Xuân Quang
Năm: 2006
21. Vinh Van Thai (2005), An Analysis of the efficiency and Competitiveness of Vietnamese Port system, Department of Maritime Business, Australian Maritime College, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vinh Van Thai (2005), "An Analysis of the efficiency and Competitiveness ofVietnamese Port system
Tác giả: Vinh Van Thai
Năm: 2005
22. Xuepin Cen (2005), The Dynamics of the China Logistics Industry, Master of Engineering in Logistics, Massachusetts Institute of Tec Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuepin Cen (2005), "The Dynamics of the China Logistics Industry
Tác giả: Xuepin Cen
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 cho thấy quản trị Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Hình 1.2 cho thấy quản trị Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ việc nhập nguyên liệu đầu vào cho đến giai đoạn tiêu (Trang 12)
Sơ đồ 1.1. Hoạt động của dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Sơ đồ 1.1. Hoạt động của dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng (Trang 16)
Hình 1.4: Quan hệ  giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Hình 1.4 Quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu (Trang 29)
Bảng 1.1: Các yếu tố thuộc môi trường Logistics của quốc gia hình thành chỉ - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 1.1 Các yếu tố thuộc môi trường Logistics của quốc gia hình thành chỉ (Trang 43)
Sơ đồ 1.2: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Sơ đồ 1.2 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter (Trang 59)
Hình 2.2: Mô hình liên kết trong các dịch vụ Logistics toàn cầu - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Hình 2.2 Mô hình liên kết trong các dịch vụ Logistics toàn cầu (Trang 74)
Hình 2.1 : Phân bổ doanh thu từ thị trường 3PL trên thị trường - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Hình 2.1 Phân bổ doanh thu từ thị trường 3PL trên thị trường (Trang 74)
Bảng 2.2.  Top 10 quốc gia thu nhập thấp có chỉ số LPI ấn tượng 2010 - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.2. Top 10 quốc gia thu nhập thấp có chỉ số LPI ấn tượng 2010 (Trang 79)
Bảng 2.1. Khoảng cách về năng lực Logistics giữa Việt Nam và 3 nước khu - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.1. Khoảng cách về năng lực Logistics giữa Việt Nam và 3 nước khu (Trang 79)
Hình 2.4 : Nhóm năm hoạt động Logistics được thuê ngoài - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Hình 2.4 Nhóm năm hoạt động Logistics được thuê ngoài (Trang 86)
Bảng 2.3: Các công ty Logistics lớn nhất thế giới về doanh thu (trên tổng số - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.3 Các công ty Logistics lớn nhất thế giới về doanh thu (trên tổng số (Trang 96)
Bảng 2.4: So sánh dịch vụ Logistics tại các doanh nghiệp - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.4 So sánh dịch vụ Logistics tại các doanh nghiệp (Trang 98)
Bảng 2.8: Luật điều chỉnh hoạt động Logistics trước và sau WTO - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.8 Luật điều chỉnh hoạt động Logistics trước và sau WTO (Trang 108)
Bảng 2.11: Khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo ngành vận tải - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.11 Khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo ngành vận tải (Trang 123)
Bảng 2.12: Dịch vụ được cung ứng tại các doanh nghiệp Logistics trong nước - Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ logistics ở việt nam
Bảng 2.12 Dịch vụ được cung ứng tại các doanh nghiệp Logistics trong nước (Trang 137)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w