DANH MỤC CÁC PHỤ LỤCPHỤ LỤC 1: Sơ ĐÒ Tư DUY...51 PHỤ LỤC 2: CÁC KỸ NĂNG SỐNG THEO PHÂN LOẠI CỦA UNICEF...52PHỤ LỤC 3 MỘT SỐ KỸ NÀNG SỐNG VÀ sự ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TÓI HÀNH VI SỨCKHỎE SINH S
Trang 1Xin chân thành cảm ơn các viện nghiên cứu các cơ quan, tổ chức đã giúp đỡ cung cấp cho tôinhững thông tin quí báu liên quan đến báo cáo này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Thạc sỹ - Bác sỹ Trương Quang Tiến_ người đãhết lòng quan tâm hồ trợ và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi đe tôi có thê hoàn thành báo cáo này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, các anh chị_ những người đã chia sẻ.đồng hành và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Mặc dù đã co gang đầu tư và hoàn thiện báo cáo, tuy nhiên vi kiên thức thực tê còn hạn chếnên bài viết này chắc chắn không thế tránh khởi những thiết sót Rất mong nhận được sự góp ý của cácthầy cô và bạn đọc đế báo cáo này được tốt hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 2011,
Sinh viên
XĐinh Thu Hà
Trang 2MỤC LỤC
A ĐẬT VÁN ĐÈ 1
B MỤC TIÊU 3
c PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU 3
1 Phương pháp thu thập tài liệu tham khảo 3
1.1 Tiêu chí lựa chọn tài liệu tham khảo 3
1.2 Tiêu chí loại trừ tài liệu 4
1.3 Các từ khóa sử dụng để tìm tài liệu 4
D. MỘT SỐ KHÁI NIỆM sử DỤNG TRONG BÀI VIÉT 5
E. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 6
1 MÔ tà các tài liệu tìm được 6
2 Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống và vai trò của nó đối với sức khỏe sinh sản/sức khỏe tinh dục của thanh thiếu niên 7
2.1 Kỹ năng sống 7
2.2 Giáo dục kỳ năng sống 9
2.2.1 Sự cần thiêt và vai trò của giáo dục kỳ năng sông 9
2.2.2 Hiệu quà cùa giáo dục kỹ năng sống 11
2.2.3 Tiếp cận kỹ năng sống 1 12
2.2.4 Trọng tâm, nội dung, thông điệp trong giáo dục kỹ năng sống hướng tới hành vi tình dục an toàn 13
2.2.5 Phương pháp và địa điểm giáo dục kỹ năng sống 15
2.2.6 Sự ùng hộ đối với giáo dục kỹ năng sống 16
3 Kỹ năng sổng của thanh thiếu niên Việt Nam trong việc nâng cao sức khởe sinh sản và tình dục an toàn 1
3.1 Kiến thức và thái dộ cùa thanh thiếu niên về kỹ năng sống và các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn 18
3.1.1 Kiến thức và thái độ về kỹ năng sống 18
3.1.2 Kiến thức và thái độ về các van đề liên quan đen sức khóe sinh sản và tình dục an toàn 18
Trang 33.2 Các kỹ năng nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn của thanh thiêu
niên 20
3.2.1 Kỹ năng tự nhận thức 20
3.2.2 Kỹ năng giao tiếp 22
3.2.2.1 Giao tiếp trong nhà trường và với bạn bè 23
3.2.2.2 Giao tiếp với bố mẹ 24
3.2.3 Kỹ nàng giải quyết van đề ra quyết định, thương lượng 25
3.2.3.1 Kỹ năng giải quyết vấn đề 25
3.2.3.2 Kỹ năng ra quyết định và thương lượng 25
3.2.4 Kỳ năng tìm kiếm thông tin và dịch vụ 28
4 Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên hướng đến nâng cao sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn và gợi ý các hướng nghiên cứu, can thiệp phù hợp 30
4.1 Cơ sở để triển khai giáo dục kỹ năng sống hướng tới nâng cao sức khỏe sinh sản và hành vi tình dục an toàn cho thanh thiếu niên 30
4.2 Thực trạng chung về giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiểu niên 31
4.3 Các can thiệp giáo dục kỹ năng sổng cho thanh thiếu nièn hướng tới nâng cao sức khỏe sinh sán và tình dục an toàn 33
4.4 Các hướng nghiên cứu can thiệp giáo dục kỹ năng sông cho thanh thiêu niên Việt Nam35 F KÉT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 37
1 Tóm tắt các kết quá chính 37
2 Khuyến nghị 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAMKHẢO 41
Trang 4DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Sơ ĐÒ Tư DUY 51
PHỤ LỤC 2: CÁC KỸ NĂNG SỐNG THEO PHÂN LOẠI CỦA UNICEF 52PHỤ LỤC 3 MỘT SỐ KỸ NÀNG SỐNG VÀ sự ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TÓI HÀNH VI SỨCKHỎE SINH SẢN, sức KHỎE TÌNH DỤC VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN CỦA THANH THIÊUNIÊN 53PHỤ LỤC 4: CÁC KỸ NÀNG SÓNG CẦN TH1ÉT TRONG NÂNG CAO sức KHỎE
SINH SẢN/SỬC KHỎE TÌNH DỤC VÀ PHÒNG CHÓNG HIV/AIDS 56
PHỤ LỤC 5: HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRÊNTHẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 57PHỤ LỤC 6: CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ÁP DỤNG TRONG TIẾP CẬN 59
PHỤ LỤC 7: TIÈP CẬN TÌNH DỤC AN TOÀN THEO CÔNG THỨC "ABC" TRONG
Dự PHÒNG LÂY NHIÈM HV/A1DS 64
PHỤ LỤC 8: sự PHÁT TRIẾN CÁC KỸ NĂNG THÔNG QUA GIÁO DỤC KỸ NÀNG
SỐNG 65
PHỤ LỤC 9: CÁC ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG SỐNG CỦA THANH THIÊU NIÊN TRONG
VIỆC HƯỚNG TỚI HÀNH VI TÌNH DỤC AN TOÀN 66PHỤ LỤC 10: KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA THANH THIẾU NIÊN VỀ KỸ NĂNG SỐNG
VÀ CÁC VÁN ĐÈ LIÊN QUAN ĐẾN sửc KHỎE SINH SẢN, TÌNH DỤC AN TOÀN 67PHỤ LỤC 11: Cơ SỞ CHO VIỆC GIÁO DỤC KỲ NĂNG SÓNG HIỆU QUẢ CÁC CHƯƠNGTRÌNH GIẢO DỤC TÌNH DỤC, PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TRÊN THẾ GIỚI 71PHỤ LỤC 12: CÁC CAN THIỆP GIÁO DỤC KỸ NÀNG SỐNG TRONG VIỆC
HƯỚNG TỚI TÌNH DỤC AN TOÀN 74
PHỤ LỤC 13: KHUNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KỸ NÀNG SÓNG CHO THANH
THIẾU NIÊN 85
PHỤ LỤC 14: KHUYÊN NGHỊ VÈ TRIÉN KHAI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KỸ NĂNGSỐNG TRONG CHÙ ĐỀ sức KHỎE SINH SẢN/HIV CHO THANH THIÊU NIÊN 87
Trang 5CTCT Chương trinh can thiệp
GD-ĐT Giáo dục đào tạo
H1V/AIDS Hội chứng suy giám miền dịch mắc phài ở người
STDs Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
STIs Các nhiễm khuân lây truyên qua đường tỉnh dục
TDAT Tình dục an toàn
UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/A1DS
UNFPA Quỹ dân so liên hiệp quốc
UNICEF Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
WHO Tồ chức Y tế thế giới
WPF Quỹ dân số thế giới
Trang 6A ĐẶT VÁN ĐÈ
Thanh thiếu niên (TTN) từ 10-24 tuổi là một bộ phận dân cư đông đảo, chiếm khoảng30% dân số toàn cầu Trên 80% số người trẻ tuổi này sống ở các nước đang phát triển [56] TạiViệt Nam, TTN chiếm khoáng 32% tổng dân số Theo ước tính thì tỉ lệ này sẽ không thay đổiđáng kể trong vòng 15 năm tới [40] Thời kỳ TTN được đặc trưng bới sự phát triển nhanh về thểlực trí tuệ và những bước tiến lớn về mặt xã hội cũng như việc học hỏi những kỹ năng mới [22],Đây cũng là giai đoạn thay đôi một cách toàn diện cả vê tâm lý và tình cảm của mỗi cá nhân.Ham muốn tình dục, nhu cầu tình dục nếu trước đây tồn tại ở dạng tiềm năng thì nay trớ thànhđộng lực thực sự chi phối tình càm, thái độ và hành vi của chủ thể đổi với bạn khác giới [37],
Cùng với sự phát triền kinh tế - xã hội giao lưu văn hóa không ngừng mở rộng, hoạt độngtình dục của tuổi trẻ có xu hướng tăng lên và độ tuổi bắt đầu quan hệ tình dục (QHTD) ngày càngsớm hon Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy độ tuổi ỌHTD lần đầu dao động từ khoảng 16đến 18 tuổi [79][73][120] Tại Việt Nam nhũng nghiên cứu cấp quốc gia đã củng cố nhận địnhTTN ngày càng có QHTD sớm và không an toàn [49][58] Điều tra quốc gia về VTN và TN ViệtNam lần thứ 2 (SAVY 2) năm 2008 cho thấy độ tuổi QHTD lần đầu trung bình là 18.1 (18,2 vớinam và 18 với nữ), giảm 1,5 năm so với SAVY 1 (năm 2003) Tỷ lệ QHTD trước hôn nhân là9,5% tãng 1,9% so với SAVY 1 Bên cạnh đó hiện tượng sống thử đặc biệt trong nhóm sinhviên và công nhân trẻ _ những quần thể được cho là có nhiều nguy cơ sức khỏe sinh sản /sứckhỏe tình dục (SKSS/SKTD) đang có xu hướng gia tăng [49][31 ]
Trong khi QHTD sớm ở lứa tuối TTN ngày càng phố biến thì kiến thức, thái độ, thực hành về QHTDnói chung và tình dục an toàn (TDAT) nói riêng cúa TTN Việt Nam còn nhiều hạn chế Chỉ cókhoảng 13% TTN biết thời điểm dễ thụ thai [49][33] và 20% TTN sứ dụng biện pháp tránh thai(BPTT) trong lần quan hệ đầu tiên [13] Chưa đen 1/3 TTN nghe nói đến các nhiễm khuấn lâytruyền qua đường tình dục (STIs) như viêm âm đạo, hạ cam, u sùi Thái độ cúa TTN Việt Namđối với việc sừ dụng các BPTT đặc biệt là sử dụng bao cao su (BCS) trong QHTD như một hành
vi TDAT, vẫn còn khá tiêu cực như cho ràng BCS làm giảm khoái cảm hay gán cho hành vi sứdụng BCS những ý nghĩa không tốt [13][49]
Trang 7Với những hiểu biết, quan điểm, thái độ cùa TTN đối với SKSS/SKTD như nêu trên TTNViệt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn vànhiễm STIs [57][58][49][ 19][ 112], Đây cũng là những gi mà TTN trên thế giới đang phải đốimặt [ 128][135] Hằng năm có khoảng 300.000 nữ thanh niên (TN) có thai trước tuổi 20 tuổi [57].
Tỷ lệ thai nghén kết thúc bằng phá thai tới 27,3% [40], Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa giađình, mỗi năm toàn quốc có 1,2- 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi vị thành niên(VTN) Các báo cáo cũng chỉ ra tính trảm trọng của vấn đề mắc STls trong TTN với ti lệ ngàycàng gia tăng TN 15-24 tuổi là nhóm có tỉ lệ mắc STIs cao nhất [97][54],
Nhu cầu giáo dục KNS để nâng cao sức khỏe (NCSK) nói chung và SKSS/SKTD TTNnói riêng càng trớ nên cấp thiết hơn trong bối cảnh của đại dịch HIV/A1DS [ 124][ 16] Theođánh giá của Cục phòng chống HIV/AIDS (2009), lây nhiễm HIV/AIDS qua QHTD không antoàn có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây [16], 50% người nhiễm H1V/A1DS ở lứatuổi 15-24 và QHTD không an toàn được xác định là một trong hai nguyên nhân chính dẫn tớitình trạng này [97] Trong khi đó, TTN chưa có các kỹ năng TDAT để phòng tránh các tìnhhuống/ hành vi nguy cơ hoặc có những hành vi an toàn hơn như sử dụng BCS, thương lượng sửdụng BCS hay từ chồi QHTD không mong muôn Tỉ lệ sử dụng BCS ở TTN khá thấp [ 13][ 113].chỉ có khoảng 1/3 TTN cho biết có sừ dụng BCS mỗi lần QHTD [34] Khoảng 20% TTN tự tinrằng minh biết cách sử dụng BCS [27] và thực sự sử dụng BCS trong lần ỌHTD đầu tiên [105].Bên cạnh đó, cũng chi 10.8% TTN tự tin là mình có thế thương lượng sử dụng BCS [105]
Có thể nói TTN Việt Nam đang thiếu những KNS cần thiết, giúp họ bảo vệ bản thântrước các nguy cơ sức khóe nói chung và nguy cơ đối với SKSS/SKTD nói riêng, trong dó cónguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS/STIs và mang thai ngoài ý muốn, bằng cách thực hiện hành viTDAT Trước thực tế này, nhiều khuyến cáo liên quan den SKSS/SKTD VTN/TN đã nhẩn mạnhđen nhu cầu cấp thiết của việc trang bị cho TTN những thông tin chính xác phù hợp vềSKSS/SKTD, HIV/AIDS, STIs đồng thời trang bị cho các em những “kỳ năng sống” (KNS) như
kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề ra quyết định, thương lượng, từ chối để các em có thế hòanhập, ứng phó hiệu quả nhất với các tình huống trong cuộc sống [49][69][40][53][29][97]
Ờ nhiều nước trên thế giới, giáo dục KNS đã được lồng ghép vào chương trình giáo dụcSKSS/SKTD cho TTN trong các trường học và đã đem lại hiệu quả tích cực
Trang 8[ 125][ 103][96] Tại Việt Nam khái niệm “kỹ năng sống” đã được biếtđến đầu tiên vào năm 1996 [6][98] tuy nhiên không nhiều người hiểu biếtđầy đủ về KNS cũng như không có nhiều can thiệp nâng cao SK.SS/SKTD TTN
sử dụng cách tiếp cận KNS Chính vì vậy bài viết này nhàm nâng cao hiểu
biết chung và cung cấp cái nhìn tống quan về “Kỹ năng Sổng của thanh thiếu
niên Việt Nam trong nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn ”, thực
trạng, các can thiệp và gợi ý các hướng nghiên cứu can thiệp liên quan
Sơ đồ lư duy hình í hành ý lương bài viết xin tham kháo thêm lại phụ lục I: Sơ đồ lư duy, trang 5 ỉ.
c PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU
Để định hướng thu thập số liệu và tập trung rà soát thì việc đặt ra các giới hạn tiêu chí ràsoát, xác định từ khóa, nguồn thu thập và cách tong hợp thông tin là rất quan trọng Bài viết này
áp dụng các phưong pháp thu thập số liệu sau đây:
1. Phuong pháp thu thập tài liệu tham khảo
1.1 Tiêu chí lựa chọn tài liệu tham khảo
Tài liệu được viết bàng ngôn ngữ tiếng Việt hoặc tiếng Anh
Được công bô từ các viện khoa học hàn lâm viện nghiên cứu sức khỏe TTN, các tạp chí
uy tín vê SKSS VTN và TN các nhà khoa học
- Thực hiện trong khoáng thời gian 10 năm trờ lại dây (2000-2011)
- Liên quan đến chủ đề SKSS/SKTD TTN KNS giáo dục KNS TDAT, HIV/AIDS
- Có thể dưới dạng toàn văn hoặc tóm tất tuy nhiên ưu tiên báo cáo toàn vãn
Trang 91.2 Tiêu chí loại trừ tài liệu
Tài liệu được viết bằng các ngôn ngữ khác mà không phải là Tiếng Việt hoặc Tiêng Anh
- Được thực hiện với đối tượng ngoài độ tuổi 10-24 tuổi
Thực hiện trước năm 2000
1.3 Các từ khóa sử dụng để tìm tài liệu
Tiếng Việt: Sức khỏe sinh sản sức khỏe tình dục, vị thành niên, thanh niên, thanh thiếuniên, kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giới tính, tình dục an toàn, bao cao
su, H1V/AIDS, STIs
Tiếng Anh: Reproductive health, sexual health, adolescents, youths, young people, lifeskills, skills-based education, sex education, safe sex condom use, HIV/A1DS, STIs
1.4 Nguồn thu thập tài liệu tham khảo
Bài viết sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu Pubmed Medline, HINARI, Biomed center.Thư viện trường Đại học y te công cộng, thư viện Viện Gia đình và giới, thư viện Viện Xãhội học, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thư viện Viện Tâm lý học Viện nghiêncứu Thanh niên, thư viện World Bank CDC
- Các website tin cậy: WHO UNICEF, Population Council, Journal for Adolescent Health.Journal of School health Population Council
- Các báo cáo tạp chí nghiên cứu: Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên ViệtNam, Tạp chí Gia đình và Giới, Tạp chí Giới và phụ nữ
Công cụ tìm kiếm Google
2 Phuong pháp tong hợp tài liệu tham khảo
Tồng hợp, lựa chọn tài liệu từ kết quả tìm kiếm dựa vào các từ khóa
Đọc lướt qua các tài liệu bằng cách xem mục lục hoặc các tóm tat tài liệu
- Đối với tài liệu liên quan đến sức SKSS/SKTD TTN KNS giáo dục KNS TDAT BCS đọc
kỹ tên và đánh dấu các phần quan trọng, các thông tin cần thiết
Cuối cùng, đọc lại toàn bộ thông tin liên quan đe tham khảo và bô sung
Thông tin tên tác giá, tạp chí cơ quan phát hành, năm xuất bản nội dung và các thông tinquan trọng được quản lý bang phan mem Endnote
Trang 10D MỘT SÓ KHÁI NIỆM sử DỤNG TRONG BÀI V1ÉT
Thanh thiểu niên: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN (adolescents)
là những người có độ tuổi từ 10-19 tuổi; TN (youths) là những người từ 15- 24 tuổi TTN (youngpeople) là một khái niệm rộng hem, bao gồm cả VTN và TN Các chương trình chăm sócSKSS/SKTD TTN ở Việt Nam từ trước đến nay cũng sừ dụng cách phân loại này Do đó, bài viếtnày sử dụng xuyên suốt cụm từ "thanh thiếu niên” (TTN) để chỉ “vị thành niên/ thanh niên” vàchính là những người trong độ tuổi 10-24
Sức khỏe sinh sản: Khái niệm “sức khỏe sinh sản” được chấp nhận và chính thức hóa
trong phạm vi toàn thế giới từ Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICDP - InternationalConference on Population Development) lần thứ 4, họp tại Cairo Theo đó, “SKSS là trạng tháihoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi thứ liên quan tới hệ thống sinh sản.các chức năng và quá trình của nó chứ không chỉ đom thuân là không có bệnh tật hoặc tàn phế”.Như vậy SKSS bao hàm ý nghĩa là mọi người đều có thể có một cuộc sổng tình dục được thỏamãn, có trách nhiệm và an toàn đông thời họ phải có khă năng sinh sán và sự tự do lựa chọn việc
có sinh con hay không, thời điếm sinh con và số con Định nghĩa này cũng bao hàm cá quyền củaphụ nữ và nam giới phải được thông tin tư vấn đầy đủ và được tiếp cận với các biện pháp kếhoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, phù hợp với khả năng và chấp nhận được theo sự lựa chọncùa bán thân họ, và quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người phụ nữmang thai cũng như sinh dẻ an toàn
Sức khóe tình dục: Theo WHO, SKTD là trạng thái thoái mái về thể chất, tình cảm tinh
thần và xã hội của tat cả những gi liên quan tới hoạt động tình dục chứ không phải chỉ là không
có bệnh, hoạt động bất thường hay yếu ớt SKTD đòi hỏi cách tiếp cận tích cực và tôn trọng đốivới hoạt động tình dục và các mối quan hệ giới tính, cũng như khả năng có được cuộc sốngTDAT và khoái cảm, không bị cưỡng bức, phân biệt và bạo lực Đê có và duy trì SKTD cácquyền về tình dục của tất cả mọi người phái được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo [ 120],
Sức khỏe sinh sản vị thành niên: là những nội dung về SKSS liên quan đến lứa tuổi VTN,
bao gồm sức khỏe và dinh dưỡng, nhât là đôi với VTN gái Những hiêu biêt vê cách giữ gìn sứckhỏe khi có thai, biến đối cúa cơ thế trong giai đoạn phát triển quan trọng này của mồi con người,phát triến hiểu biết về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt
Trang 11quan trọng của sức khỏe sinh sản trong suốt đời người Chiến lược quốcgia về chăm sóc SK.SS giai đoạn 2001- 2010 được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt đã xác định chăm sóc SK.SS lứa tuổi VTN là một trong các nội dung ưutiên cần được triền khai thực hiện [47].
Hành vi tình dục an toàn: là hành vi tình dục giữa nam và nữ mà không dẫn đến việc thụ
thai và không bị lây nhiễm các bệnh, nhiễm khuẩn do QHTD (STIs), trong đó có HIV/AIDS [22],
Do đỏ, giáo dục hướng tới hành vi TDAT đồng thời đem lại hiệu quá phòng chong HIV/AIDS,STIs và mang thai ngoài ý muôn Tuy nhiên, trong 3 chủ đê này, giáo dục TDAT để phòng chốngHIV/AIDS thường được xem là quan trọng hơn cả bởi tính trầm trọng và phạm vi ảnh hưởng cùa
nó Hành vi tình dục an toàn trong phòng chống HIV/AIDS được định nghĩa là bất cứ hoạt độngtình dục nào ngăn ngừa sự lây truyền của dịch cơ thể bị nhiễm bệnh từ người này sang ngườikhác Những dịch cơ thế này là máu tinh dịch và dịch tiết âm đạo [31] Trong các chương trìnhgiáo dục tình dục, SK.SS thì hành vi TDAT được chứng minh có hiệu quả và ý nghĩa nhất là hành
vi sử dụng BCS đúng cách và thường xuyên khi QHTD [129][1][24] (việc xác định hành vi này
sẽ được làm rõ ở hơn ở phần 2.2.4: trọng tâm, nội dung thông điệp giáo dục KNS hướng tới hành
vi TDAT).
Kỹ năng sống: Từ nhũng năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiệntrong một số chương trình giáo dục cùa UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giátrị sống” với 12 giá trị cơ bán cần giáo dục cho thế hệ trẻ [43], Tuy nhiên, khái niệm KNS được
sử dụng pho biến nhất hiện nay được lay theo định nghĩa của WHO (1993): KNS là kha năngthích ứng và thực hiện các hành vi tích cực, cho phép các cá nhân ứng phó hiệu quả với nhữngnhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày (khái niệm này sẽ được phán tích kỹ hơn ở phần
2.1).
E KÉT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Mô tả các tài liệu tìm được
Tổng cộng tìm được 168 tài liệu liên quan đến chu đề quan tâm 135 tài liệu đat yêu cẩu
và được sứ dụng Trong đó, tiếng Việt 72 tài liệu và tiêng Anh 63 tài liệu Các tài liệu này đềuđược công bố xuất bản đăng tải từ năm 2000 trở lại đây
Trang 122. Kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống và vai trò của nó đối với sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của thanh thiếu niên
3 Ỉ Kỹ năng sống
Theo WHO (2003), KNS là khả năng thích ứng và thực hiện các hành vi tích cực, chophép các cá nhân ứng phó hiệu quà với những nhu cầu và thách thức của cuộc sồng hàng ngày[127] Cũng theo WHO, đối với TTN, những thách thức này có thể là áp lực bạn bè, các hoàncảnh nguy cơ liên quan đến hành vi tình dục lạm dụng chất hay bạo lực [128] Bên cạnh đó, KNScũng là năng lực của một cá nhân đế duy trì một trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần,biếu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa vàmôi trường xung quanh [127]
UNESCO (2003) quan niệm KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng
và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khá năng làm cho hành vi và sự thay đổi cùa mìnhphù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thê kiểm soát, quàn lý có hiệu quả các nhucầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày [109], Theo UNICEF, KNS là khả năng phântích tình huổng và ứng xử khả năng phân tích cách ứng xử và khà năng tránh được các tìnhhuống Các KNS giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết’’ và thái độ, giá trị “cáichúng ta nghĩ, cảm thây, tin tưởng” thành hành động thực tê “làm gỉ và làm bằng cách nào” làtích cực nhất và mang tính chất xây dựng [114]
Cũng theo UNICEF, không cỏ một định nghĩa và phân loại các K.NS chính xác và việcphần loại này phụ thuộc vào từng chú đề, từng bối cành cụ thể [134], K.ết quả nghiên cứu vềK.NS của nhiều tác giá khăng định: “dù phân loại theo hình thức nào thì một số kỹ năng vẫn đượccoi là kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng xác định giá trị kỹ năng giao tiếp, kỹ năng dương đầu vớicảm xúc, căng thảng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kỹ năng tự nhân thức, kỹnăng ra quyết định, đặt mục tiêu" [39], Các kỹ năng này thường được xếp vào 3 nhóm Nhóm thứnhất là kỳ năng xã hội và ứng xử giữa các cá nhân: bao gồm kỹ năng giao tiếp, thương lượng, từchối, khẳng định và cảm thông Nhóm thứ hai là kỳ năng nhận thức (cognitive skills) bao gồm raquyết định, tư duy phê phán (critical thinking), giải quyết vấn đề tự đánh giá bán thân Nhóm thứ
ba là kỹ năng ứng phó với các trạng thái cảm xúc: bao gồm ứng phó với các tình huống căng
tháng, kiếm soát cảm xúc cá nhân [119][128][83] (xin tham khao thêm tại phụ lục 2: Các KNS theo phán loại của UNICEF, trang 52).
Trang 13Tóm lại KNS chính là các kỹ năng cần thiết, khuyến khích thái độ tích cực phòng ngừa
và giảm thiểu các hành vi nguy cơ KNS giúp con người phát huy sức mạnh nội lực đế có thể làmchủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích, có ý nghĩa [29], Nónhư một công cụ thiết yếu mà mỗi cá nhân cần phải có đế có thê hòa nhập xã hội, để sống, họctập và làm việc hiệu quà nhất Như thế để phòng ngừa bệnh tật, phòng tránh các yếu tố nguy cơđối với sức khỏe, K.NS đóng một vai trò hết sức quan trọng
Trong việc nâng cao SKSS/SKTD các KNS thường nhằm hướng tới hành vi TDAT TheoWHO K.NS tập trung và nhấn mạnh các kỹ năng để: thứ nhất là đưa ra quyết định lành mạnh vềcác mối quan hệ, về hoạt động tình dục đồng thời bào vệ những quan điểm và quyết định củamình; thứ hai là chống lại nhũng áp lực ve tình dục không mong muốn hoặc sừ dụng các chấtkích thích; thứ ba là nhìn nhận ra tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm hoặc bạo lực, và có thể lên
kế hoạch trước; thứ tư là biết cách thương lượng để có TDAT và các dạng khác của TDAT khi đãsẵn sàng cho những moi QHTD; và cuối cùng là biết làm cách nào và có thể yêu cầu giúp đỡ và
hỗ trợ ở đâu [31 ]
Tại Mỹ, tiếp cận K.NS trong chủ đề nâng cao SKSS/SKTD bao gồm việc cung cấp thôngtin về STIs, HIV/AIDS; quan điểm sai lầm về HIV/AIDS, xác định vai trò giới, hình ảnh bànthân; bình đăng giới/bất bình đẳng giới trong xã hội; phân tích anh hướng của xã hội đến hành vitình dục; các mối quan hệ và hẹn hò; thông tin về dậy thì tình dục mang thai và các BPTT; tỷ lệH1V/AIDS, STIs, mang thai tuổi VTN; tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe [73] Như vậy tiếp cận nàylại gản vấn đề SK.SS/SK.TD với HIV/A1DS mang thai ngoài ý muốn và STIs
Như vậy, K.NS trong việc nâng cao SKSS/SKTD chính là kiến thức, thái độ về chính bảnthân mình (vai trò giới, chuẩn mực xã hội bình đẳng giới, giá trị hình ánh bàn thân, sự tự tin.lòng tự tôn); về dậy thì, mang thai, các BPTT, HIV/A1DS, STIs, dịch vụ SK.SS và các kỹ năngliên quan (giao tiếp, ra quyết định, giải quyết vấn để, thương lượng, từ chối, tìm kiếm trợ giúp );nhàm hướng tới hành vi TDAT đế phòng chống HIV/AIDS STls hay mang thai ngoài ý muốn
Đề cập đến hành vi TDAT đế phòng chống H1V/A1DS STIs hay mang thai ngoài ýmuốn, xu hướng hiện nay là khuyến khích các KNS để thực hiện hành vi sử dụng BCS trong
QHTD [96][97][122] Nó bao gồm các kiến thức, thái độ, chuẩn mực, giá trị K.NS liên quan đên
nâng cao SKSS/SKTD nói chung, nhưng bô sung thêm các KNS đê thực hiện hành vi sử dụngBCS trong QHTD như kỹ năng giao tiếp, thương lượng để sử dụng
Trang 14RCS hay sự tự tin, dự định sử dụng BCS [1021 (xin tham khao thêm tại
phụ lục 3: Một số KNS và sự ánh hưởng cùa nó tới hành vi SKSS/SKTD, hành vi TDA T cua TTN, trang 53).
ứng phó trước đại dịch HIV/AIDS, kỹ năng TDAT tập trung vào xây dựng từ sự nhậnthức về H1V/AIDS, cách phòng ngừa, đường lây; đánh giá nguy cơ cá nhân; thái độ, kỹ năngtương tác với người nhiễm HIV/AIDS; ứng phó với áp lực bạn bè đổi với QHTD không mong
muốn; và các kỹ năng liên quan đến sử dụng BCS [103][130][97] (xin tham khao thêm tại phụ
lục 4: Các KNS cần thiết trong nâng cao SKSS/SKTD và phòng chống HIV/A1DS, trang 56) Bên
cạnh đó, giáo dục KNS trong chủ đề này cũng nhàm phát triển các kỹ năng giúp TTN giảm sốlượng bạn tình, tránh QHTD với phụ nữ mại dâm hay phòng ngừa STIs [96][122]
Từ những phân tích trên đây, có thể hiếu K.NS của TTN trong việc nâng cao SK.SS,hướng tới hành vi TDAT chính là tố hợp cùa các yếu tố kiến thức, thái độ và kỹ năng liên quannhằm phòng lây nhiễm HIV/AIDS, STls, mang thai ngoài ý muốn và nhấn mạnh việc sử dụngBCS trong QHTD
2.2 Giáo dục kỹ năng sổng
2.2.1 Sự cần thiết và vai trò của giáo dục kỹ năng sổng
TTN là nhóm đối tượng phài đương đầu với nhiều rủi ro đe dọa sức khỏe, trong đó cónguy cơ đối với SKSS/SKTD Ở giai đoạn này nhận dạng về giới phát triển TTN nam và nữ bẳtđầu trải nghiệm nhừng cảm xúc tình dục trở nên tò mò về tinh dục một cách tự nhiên Khi cơ thểphát triền tới giai đoạn trưởng thành về tình dục và TTN có khả năng sinh sàn ham muốn tìnhdục có thề rất mạnh mẽ Bên cạnh đó, giai đoạn này cũng là thời điềm TTN có nhu cầu thể hiện,khẳng định bàn thân, chứng tỏ sự độc lập hay sự trướng thành Do đó họ thường có xu hướng thửnghiệm, mạo hiếm, bắt chước người lớn hay thứ áp dụng những điều mới trong khi chưa có đủthông tin và kỹ năng để làm được điều này [31 ]
Vì vậy, đề bảo vệ TTN tránh khỏi những rủi ro sức khỏe nói chung SKSS/SKTD nóiriêng, cần trang bị cho họ những thông tin và kỹ năng chính xác Giáo dục KNS (hay còn gọi làgiáo dục dựa trên kỳ năng/ giáo dục dựa trên tiếp cận KNS) giúp thực hiện điều này Các tô chứcquốc tế uy tín như WHO UNICEF hay UNFPA hết sức đề cao vai trò giáo dục KNS trong việcNCSK [128][29] Ke hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegal, 2000) cũngnhấn mạnh đến nhu cầu giáo dục KNS cho TTN Giáo dục KNS giúp TTN có cách sống tích cựctrong xã hội hiện đại; xây dựng hoặc thay đôi ở TTN nhũng hành vi phù hợp với mục tiêu phát
Trang 15Theo WHO trao quyền để VTN tham gia và đóng góp chỉ có thè xảy ra nêu họ được trang bị cácK.NS cần thiết và cơ hội để thề hiện nhu cầu, cũng như dưa ra các quyết định có lợi cho sức khỏecúa bản thân [128],
Cụ thể, giáo dục K.NS giúp TTN hình thành kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác địnhgiá trị sống, để hiểu giá trị nào là cơ bản, là quan trọng đối với con người, điều gì nên hay khôngnên làm, biết xác định những giá trị riêng của bàn thân; có kỳ năng giao tiếp đề biết trình bày mộtcách dễ hiểu, thuyết phục, biết lắng nghe và cảm thông; đế giải quyết các vấn dề này sinh từ cáctình huống thách thức trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí ; có kỳ năng giảiquyết mâu thuẫn một cách tích cực đê nhận thức được mâu thuẫn và hiểu ràng đó là một phầncuộc sống, từ đó bình tĩnh trước những mâu thuẫn, xung đột và biết cách giải quyết mâu thuẫnmột cách hòa bình: có kỹ năng ứng phó với cảm xúc căng thẳng để sằn sàng chấp nhận nhữngkhó khăn, thử thách trong cuộc sống và tim cách giải quyết nó Những kỹ năng này không tựnhiên mà có được, nhưng nếu thiếu các kỹ năng này TTN không thề có cách ứng xừ lành mạnhtrước các áp lực gặp phải như áp lực bạn bè tình huống, bổi cảnh của hành vi QHTD không antoàn kết quả là ảnh hưởng cuộc sống khóe mạnh, an toàn và sự phát triển của TTN [29],
Vấn đề giáo dục K.NS càng được đặt ra cấp thiết hơn trong bối cánh cùa xã hội ngày nay
Sự đa dạng cùa thông tin đặc biệt là trên internet, những cám dồ áp lực bạn bè quan niệmthoáng hom vê QHTD (QHTĐ trước hôn nhân, sông thử) đẵ tạo ra những thách thức lớn đối vớiTTN trong vấn đề TDAT mà cần phải có K.NS thì TTN mới có thể vượt qua được [49][29] Hơnnữa những khoảng cách, mâu thuần giữa cha mẹ - con cái vốn là điều khó tránh của lứa tuổi TTNthì ngày nay càng trớ nên phức tạp, khi mà cha mẹ quá bận rộn công việc, không quan tâm đầy đủtới con cái [2] Trong những tình huống này TTN càng khó cưỡng lại những áp lực dụ dồ, lôi kéothiếu lành mạnh từ bạn bè, xã hội Đối với một bộ phận TTN sự căng thắng hay bất hòa khônggiải quyết được có thế dẫn đến những hành động liều lĩnh, nguy hiểm, hay mất lòng tin tâm lýmặc cảm, làm họ không muốn tỉm kiếm sự giúp đỡ tích cực cúa bạn bè đồng trang lứa hay ngườilớn mà hành động theo cảm tính của mình [29],
Ớ Việt Nam trong giai đoạn đại dịch H1V/AIDS có hình thái tập trung [16] số trườnghợp STls có xu hướng gia tăng [97][54], tình trạng mang thai ngoài ý muốn, phá thai không antoàn đang là những vấn đề nồi cộm [57][58][49] [19][112], việc hướng dẫn K.NS nhằm giáo dụchành vi TDAT càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Qua quá trình
Trang 16giáo dục hướng dẫn về KNS TTN rèn luyện hành vi an toàn, có tráchnhiệm hơn đôi với bản thân và cộng đồng, ứng phó với sức ép trong cuộcsống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn đồng trang lúa và những ngườikhác, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần,
và biết chọn lựa cách cư xử phù hợp nhất tùy tinh huống
Nhu cầu giáo dục K.NS cho TTN Việt Nam được đề cập trong nhiều báo cáo và khuyếnnghị gần đây [49][96][84][ 132], Vai trò của giáo dục K.NS được Bộ Y tế đề cao trong báo cáoSAVY 2 [49], Kế hoạch tồng thể quốc gia về chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khcasoVTN và
TN giai đoạn 2006-2020 và tầm nhìn 2020, Dự thảo Chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giaiđoạn 2011 - 2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD-ĐT) cũng đề cập đến nhu cầu và vai trò giáodục KNS trong cuốn “10 điều cẩn biết về HIV và trẻ em” phát hành năm 2010 và một loạt các chithị, văn bản liên quan [4][7][8] về tăng cường giáo dục KNS (các ý này sẽ được đề cập chi tiết
hơn tại phần 2.2.6 và 4.2.1) 2.2.2 Hiệu quá của giáo dục kỹ năng sống
Trong khi vai trò của giáo dục KNS đã rõ ràng thì ngày càng có nhiều bằng chửng chothấy hiệu quả tích cực của các CTCT theo tiếp cận KNS, qua đó càng củng cố thêm việc giáo dụcNCSK dựa trên giáo dục KNS Qua một loạt các nghiên cứu cấp quốc tế và quốc gia hiệu quảcủa giáo dục KNS đã được khẳng định trong nhiều lĩnh vực như phòng chống lạm dụng rượu bia,thuốc lá NCSK tâm thân, phòng chông tai nạn thương tích, dinh dưỡng [29][74][102][l 30], Xahơn, giáo dục KNS giúp TTN có nền táng tốt để phát triển sự nghiệp sau này [29] (xin tham khủo
thêm phụ lục 5: Hiệu quá cùa các chương trình giáo dục KNS trẽn thê giới và 1'iệt Nam trang
57).
Trong lĩnh vực nâng cao SKSS/SKTD giáo dục KNS giúp làm giảm các hành vi tinh dục
có nguy cơ lây nhiễm HlV/AlDS/STIs, mang thai ngoài ý muốn [130]; giảm số lượng bạn tình[74][82][ 103]; giám tần suất QHTD [82][96][103]; trì hoãn QHTD lần đầu [1211[ 103]; tăngcường hành vi sử dụng BPTT [74], cải thiện kiến thức về HIV/AIDS phát triển thái độ, hành vicần thiết để phòng chổng HIV/AIDS [121 ][103]; tăng cường khả năng quyết đoán, sự tự trongviệc tiếp cận mua và sứ dụng BCS [ 103][96][74] Quan trọng nhất, giáo dục KNS giúp nâng cao
ti lệ thực sự sử dụng BCS trong QHTD [ 103][74][96][81 ] (xin tham khao thêm tại phụ lục 5 trang 57).
Tại Việt Nam hiệu quả của giáo dục K.NS đã được thừa nhận thông qua những tác độngtích cực của các chương trình như Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống (UNICEF) [29][ 117] chương trình Hành trình thanh niên (Quỹ dân số thế giới) [72] Giáo
Trang 17dục SK.SS và phòng chống H1V/AIDS dựa trên kỹ năng cho học sinhtrung học [105] Báo cáo SAVY 2 (2010) một lần nữa khẳng định vai trò củagiáo dục SKSS, phòng chống HIV/AIDS đối với nhận thức về HIV/A1DS, TDAT,BCS và khuyến nghị cha mẹ, nhà trường cần tăng cường giáo dục KNS chohọc sinh [49] Đây là những bàng chứng khoa học quan trọng, có giá trị, làm
cơ sở trong quá trình ra quyết định và xây dựng chính sách chăm sócSK.SS/SKTD TTN Việt Nam cũng như đưa giáo dục KNS trong chù đề nâng caoSKSS và TDAT cho TTN vào nhà trường Trong tương lai, giáo dục K.NS có thể
là một trong các hướng tiếp cận giáo dục NCSK được ứng dụng rộng rãi
2.2.3 Tiếp cận kỹ năng song
Nhàm ứng dụng tiếp cận KNS hợp lý việc tìm hiểu cơ sở lý thuyết và các yeu tố quyếtđịnh hành vi sức khỏe TN trước khi tiến hành can thiệp là rat can thiết và hữu ích [104] Cỏ nhiều
lý thuyết hành vi được áp dụng trong tiêp cận KNS: mô hình niêm tin sức khỏe (Rosenstock,1990), lý thuyết học tập xã hội (Bandura, 1989; 1992, 1997) và lý thuyết hành động hợp lý vàhành vi có lý do/dự định (Ajzen.I, Fishbein.M 1980) hay mới đây là mô hình ruyền thông sức
khỏe (Fishbein & Yser, 2003) (xin tham khao thêm tại phụ lục 6: Các mô hình lý thuyết ứng dụng
trong tiếp cận KNS, trang 59).
Tuy nhiên, rà soát cho thấy mô hình được ứng dụng nhiều nhất trong chủ đề SKSS/SKTD.HIV/AIDS và K.NS là mô hình lý thuyết nhận thức xã hội [80][81 ] Trong mô hình này, Banduracho rằng con người quan hệ mật thiết, tương tác với môi trường sống, sinh hoạt và làm việc của
họ Con người ứng xử điêu chỉnh và thay đôi hành vi của mình bàng cách quan sát sự vật hiệntượng diễn ra xung quanh, học cách người khác ứng xứ hành động hay thực hiện những côngviệc cụ thê và đồng thời họ xem xét mình nhận được sự tán thướng từ việc thực hiện hành vi nàynhư the nào Ý niệm trung tâm của lý thuyết này là sự tự tin (self-efficacy) Sự tự tin của một cánhân dược hiếu là khi người đó có niềm tin mạnh mẽ vào năng lực bán thân có thể thực hiện đượchành vi cụ thề nào đó thì họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó hơn những người khôngchắc chắn, không tin tưởng vào năng lực bàn thân Như vậy nhận thức, niềm tin về năng lực củabản thân để thực hiện sự thay đôi sẽ ảnh hướng đến khà năng thay đồi hành vi [80],
Trang 18Yêu tô nhậu thức cá nhản
Yen tổ môi trường > chuẩn
mực • Khả nâng úèp cận •Khả nâng thay đôi môi trường
Hình ỉ: Mô hình lý thuyết học tập xã hội (Bandura, 1989)
2.2.4 Trọng tâm, nội dung, thông điệp trong giảo dục kỹ năng sổng hướng tới hành vi tình dục
an toàn
Theo WHO, giáo dục K.NS có 3 cấp độ: cấp độ thứ nhất đào tạo cho học viên các K.NS
cơ bản để đáp ứng các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, cấp độ thứ hai là ứng dụng K.NSvào các vấn đề xã hội và sức khởe và cuối cùng là ứng dụng KNS vào phòng chống HIV/A1DS,phòng tránh STỈs, mang thai ngoài ý muốn Giáo dục các kỹ năng cá nhân, kỹ năng ra quyết định,
tự khẳng định và tự kiểm soát thường là một trong số các trọng tâm của các chương trình giáo dụcKNS [103] Trọng tâm của giáo dục K.NS trong nâng cao SKSS và TDAT cho TTN là phát triểnkiến thức và các kỳ năng cần thiết cho các mối quan hệ lành mạnh và ra quyết định đúng đê bao
vệ bản Ihân khoi nguy cơ cùa tinh dục không an toàn: HIV/AIDS/STIs, mang thai ngoài ý muốn
Nội dung cụ thề cùa các chương trình giáo dục K.NS phải phù hợp với nhóm đối tượngTTN cụ thể và bối cành địa phương Tuy nhiên, nhìn chung các nội dung chính cơ bán là giốngnhau mặc dù ở các nền văn hóa khác nhau 1103] và thường hướng đến các chu đề như lạm dụngchất kích thích: rượu bia thuốc lá, ma túy [128][130]; bạo lực học đường, phạm tội tuổi VTN,sức khóe tâm thần SK.SS, phòng chống HIV/A1DS [103][l] dinh dưỡng [74][130]; các chươngtrình sức khỏe cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tré
Kiến thữc
Kỳ vọng Thãi độ
Yểu tố hành vi
• Kỳ năng
• Thực hành
• Sự tự Ún
Trang 19em đường phố [ 127][ 102][ 100] Đây có thế là các định hướng nghiêncứu/can thiệp sứ dụng tiếp cận KNS trong thời gian tới.
Ban đầu thông điệp giáo dục tình dục chia thành hai hướng Hướng thứ nhát nhamkhuyến khích tinh bạn và tình yêu “trong sáng" không tình dục [88][51] Trong khi hướng thứ hainhấn mạnh yếu tố “an toàn” và lập luận ràng rất khó để khổng chế việc QHTD của TTN do đócần trang bị các kiến thức và kỳ năng cho TTN đê nêu có QHTD thì họ sẽ thực hiện hành viTDAT [15] Trong những năm gần đây, các nghiên cứu đã cho thấy nhiều tiếng nói của TTN vềnhu cầu cần được giáo dục tình dục hon [20][ 15], quan niệm sai lầm của TTN: cho ràng QHTD
là để khẳng định tình yêu [55] và thực tế tí lệ QHTD trước hôn nhân tăng [49][58], đặc biệt làtrong sự bùng nổ HIV/AIDS Nhũng kết quả này khiến cho quan điểm thứ hai về TDAT ngàycàng được ủng hộ và áp dụng nhiều hơn trong các chương trình giáo dục SKSS/SK.TD cho TTN[55][24],
Quan điểm này nhấn mạnh sự thỏa mãn và kiểm soát chính mình bằng cách tạo đượckhoái cảm mà giảm bớt được nguy cơ [1 ] quyết định tỉnh dục phải dựa trên mối quan hệ bìnhđang, không có lạm dụng, bóc lột và bạo lực; thừa nhận các quyện vê tình dục của TN bao gồmquyền được có QHTD và cuộc sống an toàn, vui vè; dược tiếp cận tư vấn và thông tin toàn diện,
có chất lượng về SKSS/SKTD cũng như thông tin về lây nhiễm HIV/AIDS và STIs [15],
Đề cập đến TDAT, nhiều chiến lược và thông điệp đã được đưa ra Một thông điệp kháquen thuộc là “ABC” (tránh QHTD, chung thủy, sử dụng BCS) [129], Tuy nhiên, nhiều nghiêncứu gần đây đã chứng minh cách tiếp cận này không thật sự khuyến khích hành vi TDAT [ 106][ 131 ][ 108][ 132] (lập luận cụ thê xin xem thêm lại phụ lục 7, trang 64) Xu hưởng giáo dục
TDAT trên thê giới hiện nay là khuyên khích việc sử dụng RCS trong QHTD và Việt Nam cũngkhông nàm ngoài xu hướng này Tiếp cận giảm nguy cơ trong Dự án phòng chống HIV cho thanhniên của Việt Nam: Hòa nhịp tim - Chung hành động cho rằng “Biện pháp an toàn nhất đế giảmnguy cơ lây nhiễm HIV là không ỌHTD nhưng hầu hết mọi người không có khá năng thực hiệnđược" và cũng khuyến khích việc sử dụng BCS [24],
Như vậy, nâng cao SKSS/SK.TD TTN hiện nay nhấn mạnh hành vi TDAT và xu hướngtập trung vào khuyến khích hành vi sử dụng BCS trong QHTD Do đó, các phân tiếp theo của bàiviết này tiếp tục xem xét kỳ năng thực hiện hành vi TDAT dưới góc độ sử dụng BCS trongQHTD đế phòng chong H1V/AIDS STIs và mang thai ngoài ý muốn
Trang 202.2.5 Phương pháp và địa điểm giảo dục kỹ năng sống
Việc quan tâm cùng lúc đến kiến thức, thái độ (giá trị) và đặc biệt nhân mạnh đên kỹ năngchính là đặc điểm để phân biệt các giáo dục K.NS với các hình thức giáo dục sức khỏe khác màchỉ đơn thuần cung cấp thông tin [29][117][114] Thông tin là yểu tố cần thiết, nhưng bàn thân nóchưa đủ để có tác động lâu dài tới hành vi 1103] Thông tin giúp tăng cường nhận thức, trong khi
đó, giáo dục K.NS đi một bước xa hơn, hướng đến rèn luyện hành vi và kỹ năng, dựa trên thôngtin đã biết [29]
Đề thực hiện được mục tiêu rèn luyện kỹ năng, nguyên tắc giảo dục KNS được khuyếncáo và chứng minh có hiệu quà là định hướng hoạt động, chủ động, trao quyền, lấy người học làmtrung tâm [104] Các phương pháp cụ thể bao gồm động não đóng vai thực hành các kỹ năng vàdiễn tập (ví dụ như sử dụng BCS kỹ năng từ chôi); thảo luận nhóm nhỏ, các bài thuyết trình, cáctrò chơi, nghiên cứu tinh huống, kể chuyện, thi đố; các hoạt động nghe và nhìn như mỹ thuật,nhạc, diễn kịch rối nhảy, vẽ hình, sơ đồ, xếp hạng [29][31][119][96] Thông qua quá trình đốithoại, tương tác lẫn nhau TTN được mài dũa kỳ năng tự phản ánh nhận diện và phần tích vấn đề.thực hành giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Từ đó, TTN sẽ tự rút ra cho minh những bài họchoặc biết cách tự giải quyết trong một tình huống cụ thế và dần dần sẽ hình thành kỹ năng [31]
(xin xem thêm tại phụ lục 8: Sự phát triên các kỹ năng thông qua giáo dục KNS, trang 65).
Các chương trình giáo dục K.NS có thê tiến hành dựa vào trường học, cộng đồng hay cáccâu lạc bộ các nhóm nhò Tuy nhiên, trường học (school settings) được đánh giá thích hợp hơn
cả Theo WHO, trường học cung cấp môi trường cho việc giáo dục và xây dựng các KNS mộtcách chính thống Trường học là nơi VTN học cách hình thành các mối quan hệ với bạn đôngtrang lứa và với người lớn bên ngoài phạm vi gia đình Bên cạnh đó nhà trường cũng là nơi thíchhợp để VTN tiếp cận các dịch vụ CSSK ban đầu [128] Thực tế triến khai giáo dục K.NS với nộidung SKSS/SKTD TDAT phòng chống H1V/A1DS trong nhà trường đã cho thấy những tácđộng tích cực tới học sinh [84][ 19][49][ 115][74] Vì vậy nhà trường là địa điểm thích hợp nhất
để triển khai các chương trình NCSK và phát triên KNS trong việc nâng cao nâng cao SK.SS vàTDAT Báo cáo SAVY 2 cũng ung hộ kết luận này Tuy vậy, cũng cần lưu ý vai trò giáo dục
KNS trong gia đinh cùa cha mẹ (do giới hạn nội dung nên bài viết này không để cập đến giáo dục KNS trong gia đình).
Trang 212.2.6 Sự ủng hộ đôi với giáo dục kỹ năng sông
Ngày nay, trước những thách thức đối với SK.SS/SK.TD TTN và sự bùng nố của đại dịchHIV/A1DS, giáo dục SKSS/SKTD được úng hộ tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Giáo dụcK.NS để nâng cao SKSS/SK.TD và phòng chổng HIV/AIDS được WHO và UNICEF hết sức ủng
hộ, bàng chứng là một loạt chương trình đã được thực hiện dựa trên tiếp cận K.NS [ 128][29] TạiChâu Âu, tiếp cận K.NS được đánh giá cao bởi các nhà quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh tạicác tỉnh triển khai thí điểm [104],
Đại diện chính phủ của một nước đang phát triển đã phát biểu: “Trước đây chúng ta đãtừng cứng miệng khi nhắc đến những từ như tình dục, giáo dục tình dục, hành vi tình dục vàBCS, nhưng nay chúng ta phải bắt đầu nói chuyện cởi mở hơn về vấn đe này Chúng ta phải làmđiều đó nếu không thanh niên cùa chúng ta sẽ chết - và sau đó thì sao?” Nhiều cuộc điều tra chothấy điều vừa nêu chính là điều mà nhiều bậc cha mẹ và cộng đồng mong mỏi các chính trị giathực hiện vì con cái họ và TTN_ những người mà họ chứng kiến đang lớn lên trong môi trườngkhông an toàn và thậm chí có thể chết do thiếu sự bảo vệ, thông tin và dịch vụ đầy đú 11 ]
Tại Việt Nam, giáo dục KNS được ủng hộ rộng rãi UNICEF trong chương trinh giáo dụcKNS để phòng chống H1V/AIDS cho TTN phối hợp với Bộ GD-ĐT đã đánh giá sự ủng hộ củacác bên liên quan khác nhau đôi với chương trình Kêt quả là giáo dục KNS được chấp nhận vàđánh giá cao bời các nhà quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh và phụ huynh [116] Một giáo viên
đã phát biểu sau vòng thử nghiệm chương trình: “Mặc dù có nhiều khỏ khăn, tuy nhiên tôi hoàntoàn tự tin khăng định ràng tiếp cận giáo dục K.NS là rất hiệu quà trong việc giáo dục thái độ vàhành vi cho học sinh” [117], Bộ Y tế và Bộ GD- ĐT hết sức ung hộ giáo dục KNS trong nhàtrường từ cuối những năm 90 và đã thực hiện nhiều nỗ lực đê tăng cường giáo dục KNS cho TTNnhư ban hành các chỉ thị, thông tư, văn bán hướng dẫn việc giáo dục K.NS cho học sinh trong nhàtrường, tổ chức tọa đàm định hướng giáo dục KNS nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dụcK.NS và năm học 2010- 2011 đã tiến hành đưa giáo dục KNS vào chương trình học cho học sinh
từ lớp 1-12 (các nội dung này sẽ tiếp tục được làm rõ trong các phân tiêp theo).
Rõ ràng KNS và giáo dục KNS được quan tâm ủng hộ rộng rãi ở Việt Nam, từ các cơquan quán lý giáo dục, y tế, đến giáo viên, phụ huynh và TTN Đây là điều kiện thuận lợi đê triếnkhai và mở rộng hơn nữa giáo dục KNS cho TTN trong việc nâng cao
Trang 22SKSS/SKTD TDAT nói chung và chương trinh trong nhà trường nói riêngnhàm phòng chống HIV/AIDS, STIs và mang thai ngoài ý muốn.
3 Kỹ năng sống của thanh thiếu niên Việt Nam trong việc nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn
Hiện nay, chúng ta đang có số lượng TTN lớn nhất trong lịch sử, với gần một nửa dân sốthế giới dưới tuổi 25 Tỉ lệ các vấn đề về SK.SS VTN đang gia tăng trên toàn thế giới Mỗi năm,
cứ trong 20 vị thành niên, có hơn 1 người măc các STIs có thê chừa trị được Hơn 70% các bệnhmới về STls xuất hiện ở lứa tuổi từ 15 - 24 Hơn nừa các trường hợp nhiễm vi rút H1V xuất hiện
ở những người tuồi dưới 25 [120], Một nghiên cứu chính sách cúa Quỹ cứu trợ Nhi đồng ướcđoán rằng hơn một phẩn hai dần sô thê giới có hành vi tình dục không được bào vệ (QHTDkhông dùng BCS) trước tuổi 16 [41]
Ở Việt Nam, nhóm VTN và TTN (từ 10-24 tuổi) chiếm khoáng 32% dân số Việt Nam(~27 triệu) [58], Đối tượng này hiện đang đối mặt với nhiều nguy cơ về SKSS như QHTD không
an toàn, có thai ngoài ý muốn, mắc STls và lây nhiễm HIV/AIDS [49][ 18][59] Nhiều nhận địnhchỉ ra rằng nguyên nhân chính là do TTN thiếu KNS [40][53][44][29][97] Tuy nhiên sự thiếu hụtnày được the hiện như the nào trong vân đê SK.SS, TDAT thì có thể khẳng định chưa có mộtnghiên cứu bài bản nào được tiến hành Trong điều tra quốc gia về VTN và TN SAVY 2, KNScũng chi được đánh giá sơ bộ dựa trên việc so sánh kiến thức về phòng tránh thai và HIV/AIDSgiữa nhóm được học/không được học về SKSS ở nhà trường [49] Trên thế giới cũng chưa cóquốc gia nào đưa ra kinh nghiệm hay hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS bởi phần lớn cácquốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục K.NS [43] Điều này đặt ra nhu càu phát triển bộcông cụ đo lường KNS có giá trị nói chung và trong chù dề TDAT nói riêng
Tuy vậy, dựa vào quá trình rà soát, có thê nhận thây một sô biên và chỉ sò đánh giá K.NSlặp đi lặp lại bao gồm: các kiến thức và thái độ đối với SK.SS và TDAT, HIV/A1DS và việc sửdụng BCS các chuẩn mực xã hội, vai trò giới, giá trị bán thân; các kỹ năng như: tự nhận thức,xác định giá trị kỳ năng giao tiếp, ra quyết định, thương lượng, từ chối, sự tự tin đế sử dụngBCS dự định sử dụng BCS, kỹ năng tìm kiếm thông tin dịch vụ (xin xem chi tiết tại phụ lục 9: Các đánh giá KNS cùa TTN trong việc hướng tới hành vi TDAT, trang 66) Do đó việc lượng giában đầu KNS cua TTN Việt Nam trong chú đề nâng cao SKSS và TDAT trong bài viêt này sẽ tậptrung làm rò các chỉ sô trên,
1 RƯỜNG ?.HV < ,1 , a -— ■ ~ • • — - ' ■ ■— I
dặc biệt lả các chỉ sô
Trang 23TíílT VỈỆN liên quan đến kỹ năng bởi đây là
phần chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiêu Y nghĩa của việc tổng hợp này là cung cấp cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng KNS của TTN Việt Nam, qua đó góp phần đánh giá nhu cầu giáo dục K.NS trong thời gian tới.
Trang 243.1 Kiến thức và thái độ cua thanh thiếu niên về kỹ năng sổng và các vấn đề liên quan đến sức khòe sinh sản, tình dục an toàn
3.1.1 Kiến thức và thái độ về kỹ năng sống
Nhìn chung, TTN ít tiếp cận thông tin về KNS nói chung và từng KNS cụ thể nói riêng.Nhận thức của các em về K.NS còn nhiều hạn chế [40][53][44][29][97][43] Tuy nhiên TTN tỏ ra
quan tâm và bày tở nhu cầu tìm hiếu về KNS [62][66] (xin tham khao thêm tại phụ lục 10, trang
67) Đây là cơ sở tốt đê tiến hành giáo dục KNS trong nhà trường.
Một nghiên cứu cúa Phan Thanh Vân trên 500 học sinh và 250 giáo viên ở các trườngTHPT tại thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành năm 2010 cho thấy chỉ có 13.2% học sinh có kiếnthức đúng về KNS, trong khi ti lệ này ở giáo viên cũng chỉ đạt 53,6% [43], Như vậy, không chỉ
đa phần học sinh chưa có kiến thức về K.NS mà một tỉ lệ đáng kẻ giáo viên cũng chưa hiếu biết
rõ về vấn đề này Đánh giá tiếp cận thông tin về KNS và các KNS cơ bản chi ra rằng một nừa sốhọc sinh tiếp nhận thông tin về các KNS và khái niệm KNS ở mức thinh thoảng (50.5%) 33.8%học sinh chưa bao giờ nghe thấy các thông tin này và chi 15,9% nghe được thường xuyên CácKNS như giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, kỹ năng đương dầu với cảm xúc căng thắng có
tỉ lệ học sinh khẳng định chưa bao giờ nghe thấy cao nhất (62.4% và 46.8%) Kỹ năng giao tiếpđược nhiều học sinh nghe nhẩc đến thường xuyên nhất (57.6%) tuy nhiên không nhiêu em nămđược bản chât của kỳ năng này là gì [43]
3.1.2 Kiến thức và thái độ về các vấn đề Hên quan đến sức khoe sinh sản và tình dục an toàn
Kiến thức, thái độ đối với các vẩn đề liên quan đến SKSS, TDAT (phòng chổngHIV/AIDS STIs, mang thai ngoài ý muốn) và BCS là những KNS sẽ tác động đến hành vi SKSS/SKTD nói chung và TDAT nói riêng Ví dụ nếu TTN nhận thức đúng về tính trầm trọng cùaHIV/A1DS, STIs, biết được cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS có thái độ tích cực đối vớiBCS biết cách sứ dụng BCS thì sẽ nhiều khá nãng đưa ra các quyết định theo hướng có lợi choSKSS/SKTD như tránh QHTD hoặc nêu có thì sẽ sử dụng BCS đê phòng tránh các nguy cơ doQHTD không an toàn mang lại
Trang 25Nhiều nghiên cứu cho thấy TTN đã có những kiến thức ban đầu và thái độ cơ bán là tíchcực dối với các vấn đề liên quan đến SK.SS, TDAT và BCS song vẫn tồn tại nhiều vấn đề cầnđược cải thiện Hiểu biết và hành vi SK.SS/SK.TD của TTN còn nhiều hạn chế [48], Tỷ lệ cókiến thức về SKSS cao nhung không tương xứng mức độ hiếu biết chính xác và hành vi an toàn
về SK.SS/SKTD [17], Điều tra đầu kỳ của chương trinh sáng kiến SKSS Châu Á tại Việt Nam(RHIYA), do Viện Dân số và các vấn đề xã hội Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện năm 2004dưới sự tài trợ của Liên minh Châu Au và UNFPA trên địa bàn 6 tỉnh: Điện Biên Hòa Bình HàNội Hải Phòng Hải Dương, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cũng cho thấy kiến thức tống hợp vềSKSS/SK.TD và STIs chỉ được xác định ờ mức độ "biết ban đầu" [34], Sự khác biệt trong hiểubiết của TTN về SKSS/SKTD theo tuồi, nơi sống, dân tộc đã được chỉ ra trong SAVY 2 gợi ýràng cần nhiều nỗ lực hơn nữa đế cải thiện kiến thức về SKSS/SKTD nói chung và chú trọng vàonhóm TTN nông thôn, TTN dân tộc thiểu sổ và TTN trẻ tuối nói riêng
So với các kiến thức khác về SKSS/SKTD các BPTT phòng tránh thai hay STls thì kiếnthức về HIV/AIDS là khối kiến thức mà TTN Việt Nam có hiểu biết cao nhất [34] thậm chí caohơn nhiều quốc gia trong khu vực [110], Tuy nhiên mức độ nhận thức cao không đồng nghĩa vớitính chính xác cùa kiến thức, vẫn có khoáng từ 1/4 đến 1/3 TTN không nẳm chắc cách phòngchống HIV [49][34] Bên cạnh thái độ nhìn chung là tích cực đối với H1V/AIDS [ 13][ 105] vẫntồn tại những quan điểm tiêu cực như cô lập đổ lồi hay gán những người nhiễm HIV/AIDS với
các tệ nạn xã hội [ 105][49] (xin thum khao thêm tại phụ lục 10 trang 67) Những thái độ tiêu cực
này là mầm mống làm trầm trọng thêm định kiến xã hội đối với người nhiễm HIV, cản trớ những
nỗ lực phòng chống H1V/AIDS và cải thiện SKSS/SKTD do đó cần được thay đối
Đối với vấn đề TDAT và sử dụng BCS hầu het TTN đều biết được tác dụng cua BCS và
ít nhiều có hiểu biết về nguy cơ lây nhiễm HIV/AlDS/STIs qua QHTD không an toàn [49][ 105].Đây cũng là biện pháp TDAT được nhiều TTN úng hộ nhất [49], Do đó thông điệp TDAT tronggiáo dục K.SN tại Việt Nam cần lưu ý điều này Trong khi hiéu biết của TTN về vai trò của BCStương đối tốt thì thái độ đối với BCS vẫn còn khá tiêu cực, đồng nhất BCS với những quan hệkhông đàng hoàng và vấn đề mại dâm [13] Bên cạnh đó, hiểu biết chính xác về cách tiếp cận.mua và đặc biệt là cách thức sử dụng BCS cũng không nhiêu TTN năm được 51.6% TTN muôn
sử dụng BCS nhưng không biêt cách dùng 40% TTN cho biết rằng việc nhận và sử dụng BCS làkhó khăn [34], Kết quả nghiên
Trang 26cứu trên 12.445 TTN độ tuổi 10-24 tại huyện Chí Linh - Hải Dương tiếnhành năm 2006- 2007 cũng cho thấy kiến thức và thực hành TDAT, phòngchống HIV thể hiện nhiều hạn chế nhất là tỷ lệ sử dụng BCS trong QHTD thấp
[27] Cụ thê kiến thức, thủi độ của TTN đối với vấn đề TDAT và BCS xin tham kháo thêm tại phụ lục 10, trang 67.
Tổng hợp lại, nếu chưa xét đến các kỹ năng thì nhìn chung, TTN Việt Nam đã bắt đầu cónhũng kiến thức nhất định và thái độ cơ bản là tích cực đối với các vấn đề liên quan đến SKSS,TDAT và KNS Tuy nhiên đây vẫn chưa phải là một nền tảng đù tốt giúp TTN đưa ra các quyếtđịnh có lợi liên quan đến TDAT, cụ thể là sử dụng BCS trong QHTD Do vậy, cần nhiều nỗ lựctruyền thông tăng cường nhận thức và thay đôi hành vi hơn nừa trong vấn đề này giúp TTN làmchủ kiến thức về SK.SS/SKTD và TDAT trong sự bùng nổ cúa đại dịch HIV/AIDS hiện nay
3.2 Các kỹ năng nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn của thanh thiếu niên
Trong phần này, các kỹ nâng TDAT được nói đến sẽ nhàm khuyến khích hành vi sử dụngBCS trong QHTD, mà không xem xét đến việc tránh ỌHTD hay chung thủy Có nhiều K.NStrong việc hướng tới TDAT tuy nhiên, do giới hạn nguôn thông tin phần này sẽ chi tập trung tìmhiểu một sổ K.NS thường được coi là quan trọng, bao gồm kỹ năng tự nhận thức (xác định giá trị
sự tự tin), kỹ năng giãi quyết vấn đề ra quyết định, thương lượng; kỹ năng giao tiếp và kỹ năngtìm kiếm thông tin và dịch vụ
về cơ bản các KNS cùa TTN nói chung và kỹ năng TDAT nói riêng còn rầt nhiêu yếukém Theo kết quá nghiên cứu của Nguyễn Thanh Vân không một học sinh nào được đánh giáthuần thục ở bất cứ kỳ năng nào Hầu hêt các em cân phải có sự trợ giúp mới có thể thực hiện tốtcác K.NS cơ bán Các kỹ năng mà học sinh còn lúng túng nhất là xác định giá trị giải quyết mâu
thuẫn một cách tích cực và ứng phó với cám xúc căng thăng [43], 3.2.1 Kỹ năng tự nhận thức
Để hình thành hay thay đối một hành vi, con người cần có kỹ năng tự nhận thức, tức làxác định mình là ai xã hội kỳ vọng gì ờ mình khi thực hiện hành vi đó các chuẩn mực hay vai trògiới trong tình huông này là gì điêu gì mà mình cho là quan trọng (giá trị), năng lực bản thân ởmức nào và mình tự tin đên đâu đê thực hiện hành vi
Kỹ năng xác định giá trị: bao gồm các giá trị liên quan đến giới, vai trò giới, bình đắng
giới nói chung và trong vấn đề tình dục nói riêng Tình dục và hành vi SK.SS được định hình mộtcách mạnh mẽ do những thói quen văn hóa niềm tin truyền thống, nền tàng gia đình, giá trị tôngiáo Giá trị vàn hóa, niềm tin có thể là rào cán đối với mọi người khi
Trang 27họ thực hiện những hành vi tinh dục và SKSS an toàn (ví dụ việc sửdụng BCS không được khuyến khích ở một cộng đồng) Ngược lại, các yếu tốkhác, ví dụ văn hóa cũng có thê là một nguồn hỗ trợ, giúp con người xác địnhđúng và củng cố các giá trị giúp bão vệ họ chống lại những nguy cơSK.SS/SKTD.
Xác định đúng giá trị bản thân là kỹ năng cần thiết, quan trọng; là nền tảng hình thànhhành vi tích cực Điều tra SAVY cho thấy TTN tự tin, đánh giá cao bản thân và họ cảm thấy cógiá trị đối với gia đình Họ không những cảm thấy tiếng nói của họ được tôn trọng trong gia đình
mà còn thấy vai trò của mình trong xã hội [13],
Bên cạnh việc xác định giá trị bản thân thì những hành động của nam giới và nữ giớithường bị chi phối bời hệ thong giá trị mà họ đã được giáo dục ngay từ khi sinh ra [50] Mộtnghiên cứu định tính của Trung tâm nghiên cứu phát triển y tế cộng đồng, tiến hành năm 2008,với đối tượng là TN Việt Nam tại 6 tỉnh (Điện Biên, Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nằng, BìnhDương, cần Thơ) đã phản ánh các quan niệm của TTN về giới TTN cho ràng nam giới được coi
là người làm chủ, có quyền quyết định trong gia đình và xã hội Trong khi đó, người phụ nữ chỉ
có vai trò sinh sàn, nội trợ, chăm lo gia đình và được kỳ vọng nhẫn nhịn, chiều chồng con [53],
Trong vấn đề tình dục cũng vậy, nam thường được gán cho thế chủ động, trong khi giá trịcùa nữ là bị động và giữ gìn trinh tiết [50], Nghiên cứu cùa tổ chức Save the Children cũng chothấy có tới 41,5% TTN đồng ý với nhận định nam là người chủ động trong các quyết định về tìnhdục; 1/3 TTN cho răng vợ nên chiêu chông trong vân đê tình dục để tránh chồng ngoại tình hoặcthậm chí tha thứ cho sự không chung thủy cùa chồng để giữ gia đình êm ấm [105], Những giá trị.chuân mực này sẽ định hướng hành vi tình dục Cụ the, nếu một nam VTN cho rang nam giới nên
là người chủ động và phụ nữ nên ở thế bị động, nhẫn nhịn, chiều chồng thì nhiều khả năng namVTN này sẽ là người ra quyết định việc QHTD lúc nào, có sử dụng BCS hay không và thậm chí
có thể có hành vi ép buộc hay bạo lực tình dục với người yêu/vợ trong tương lai
Bên cạnh đó vấn đề định kiến, bất binh đăng giới dường như vẫn tồn trong tâm thức củanhững người trẻ tuôi Gần một nửa TTN cho rang nam có nhu cầu tình dục cao hơn nữ (30,4%đồng ý, 16,2% đông ý phần nào với nhận định này) Đánh giá thái độ với bình đăng giới; 25% cóquan niệm binh đảng, 48,1% bình đẳng phần nào, 26,9% không bình đẳng Nữ có thái độ tích cựchơn đối với bình đàng giới [105] Những quan diem về các giá trị vai trò giới và bình dẳng giớinày sẽ chi phối các quyết định trong tình dục nói chung và quyền
Trang 28quyết định có sứ dụng BCS trong QHTD hay không nói riêng Với nhữngphân tích trên đây, nhiều khả năng nam TTN sẽ là người chu động trong việcnày và đấy nữ TTN vào tình trạng yếu thế Do đó, việc giáo dục giúp TTN xâydựng một cái nhìn bình đẳng giới, không định kiến hay thiên vị cần phải trờthành một nội dung trong giáo dục K.NS.
Giải thích về những định kiến giới hay bất bình đẳng giới này điều mà nhiều ngườithường nghĩ đến là truyền thống văn hóa Á Đông và tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ.Tuy nhiên một đánh giá của Ngô Thị Tuấn Dung (2008) lại chỉ ra một nguyên nhân khá mới mẻ,
đó là sự tồn tại của các khuôn mẫu định kiến giới trong sách giáo khoa THPT hiện nay Theo tácgiả, các hình ành, biểu tượng nhân vật nam và nừ trong sách giáo khoa thường được trình bàytheo xu hướng tách biệt rõ rệt và theo giới tính truyền thống [32] Trong khi sự “phù hợp namtính” là “có lý trí”, “ý chí”, "tinh thẩn mạnh mẽ”, thì "phù hợp nữ tính” lại là "nhu mì”, “ngoanngoãn”, “chiều chồng” hay yêu thế, trình độ, kỳ năng thâp [32] Đây nên chăng là một vấn đề cầncân nhắc điều chỉnh trong thời gian tới
Sự tự tin: Để thực hành TDAT, cụ thể là sử dụng BCS trong QHTD thì sự tự tin
(self-efficacy) là nhân tố rất quan trọng Theo lý thuyết nhận thức xã hội khi một người tin tưởng vàonăng lực bản thân để thực hiện hành vi, họ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó hơn Đây cũng
là yếu tố trung tâm của tiếp cận giáo dục K.NS [80] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rang khôngnhiều TTN tự tin với khả năng tiêp cận và sử dụng BCS của mình 37.4% không tự tin khi muaBCS [105] Chi có 18.6% nam và 12.4% nữ tự tin là biết dùng BCS đúng cách [27], Một nghiêncứu sử dụng phương pháp phóng vấn với sự trợ giúp cùa máy tính cũng chi ra gần 50% TTN càmthấy e ngại khi tìm mua BCS và hom 40% không tự tin ràng mình đã dùng BCS đúng cách [28].Như vậy, hom nửa số TTN hiện nay chưa tự tin trong việc tiếp cận và sử dụng BCS Thực tế này
sẽ cản trở họ trong việc ra quyết định sử dụng BCS khi QHTD Đây là một yếu tố cân được cải
thiện và nên trớ thành một trọng lâm của chưomg trình giáo dục K.NS, 3.2.2 Kỹ năng giao tiếp
Quá trình giao tiếp, tương tác sẽ giúp TTN học hói trao đối các kiến thức, hình thànhquan điểm, giá trị và từ đó góp phần NCSK Trong vấn đề SKSS/SKTD TDAT nếu TTN có kỹnăng giao tiếp tốt thì quá trình này sẽ đem lại hiệu quả tích cực Theo điều tra năm 2004 củachương trình RHIYA, hâu hêt TTN Việt Nam còn e ngại, xâu hô khi thảo luận về SKSS/SKTD.Trong khi có tới 81,1% TTN đánh giá việc nhận thông tin về SK.SS/SK.TD và HIV/A1DS là rấtquan trọng (81,1%) thì chi dưới 10% thào luận chủ dề
Trang 29này với các nhà chuyên môn như nhân viên y tế, giáo viên, giáo dụcviên đồng đẳng TTN chủ yếu thảo luận các thông tin này với bạn bè và thôngqua các buổi sinh hoạt ở trung tâm thanh niên (khoảng từ 60% đến 70%)[34] UNFPA (2007) chì ra rằng nam giới chưa kết hôn tò ra cởi mở và dễ dànghon trong việc thảo luận các vấn đề liên quan đến tình dục so với nữ giới[113] Nhưng nhìn chung, giao tiếp giữa TTN với thầy cô và cha mẹ còn nhiềuhạn chế do tâm lý e ngại, thiếu kiến thức đầy đù và thiếu những kỹ năng giaotiếp cần thiết [105][51].
1.1.1.1 Giao tiếp trong, nhà trường và với hạn bè
Theo SAW 1, các cuộc thảo luận về HIV/AIDS với TTN trong gia đình thường chưa thực
sự gẳn liền với những vấn đề SK.SS, giới tính và tình dục [13] Có tới một nửa số VTN (52,2%nam và 47,5% nữ) chưa từng nói chuyện với thầy cô giáo hay người lớn về chù đề SK.SS, TDAT,
sử dụng BCS hay phòng chống HIV/A1DS Nữ cởi mở hom nam trong chủ đề này [105]
Bên cạnh những yếu tố quan diem mang tính cá nhân, sự tác động từ phía bạn bè có ảnhhưởng lớn đến quyết định sử dụng BCS của TTN Sự giao tiếp, quan sát, học hòi, bắt chước hayhưởng ứng những hành vi trong nhóm bạn đồng trang lứa thường rất phố biến đổi với TTN TheoSAVY 1 bạn đồng trang lứa hoặc nhóm bạn có những tác động khá rõ cả tích cực và tiêu cực Cóđến 65-67% người trà lời nói rằng bạn bè đã động viên họ tránh xa các hành vi nguy cơ duy tricác hành vi tích cực [13] hay bạn bè ùng hộ họ trong quyết định sư dụng BCS ờ lần QHTD đầutiên [105], Đối lập với những ảnh hướng tích cực này cũng có một ti lệ không nhó TTN, đa phần
là nam chịu tác động tiêu cực từ bạn bè Khoảng 10% nam TTN QHTD lần đầu hay xem phimkhiêu dâm do bị bạn bè lôi kéo [13] mà trong thể loại phim này, các nhân vật thường không sửdụng BCS Nam TTN vì thế, có the sẽ học theo hành vi này và từ đó có the ra quyết định khônglành mạnh trong tình dục, tức là không sử dụng BCS Trong khi đó nữ TTN hầu như không bịảnh hưởng tiêu cực từ bạn bè [13]
Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, tác động cùa bạn bè đổi với hành vi tình dục của TTN
có thể theo hai chiều hướng: tích cực hoặc tiêu cực Một khi anh hưởng mang tính tích cực TTN
sẽ nhiều khà năng thực hiện các hành vi an toàn, có lợi cho SKSS/SKTD nói chung, chính là sửdụng BCS Ngược lại, khi ảnh hướng là tiêu cực TTN sẽ có nguy cơ tinh dục không an toàn caohơn Kết quả có thể là lây nhiễm HIV/AIDS/STIs ảnh hường tới sức khỏe, chat lượng cuộc sống
và lâu dài là tuổi của họ Do đó, mặc dù việc giao tiếp
Trang 30trao đổi với bạn bè về SKSS/SKTD TDAT, BCS, phòng chống HIV/AIDSvẫn là cần thiết, nhưng điều quan trọng là cần phải cân nhắc, tiếp thu cóchọn lọc hay nói cách khác là sử dụng tư duy phê phán, bình luận trongtrường hợp này.
1.1.1.2 Giao tiếp với bố mẹ
Trong khi nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng giao tiếp giữa bố mẹ và VTN vềcác khía cạnh tình dục có mối liên hệ tích cực tới các hành vi TDAT ở VTN, trong đó có sử dụngBCS thường xuyên hơn nhiều bố mẹ vẫn thường cảm thấy không thoải mái khi trao đoi về chủ
đe tình dục với con cái ở độ tuôi TTN của mình, ơ các nước phát triền, giao tiếp giữa bố mẹ vàVTN về tình dục là tương đối bình thường và phổ biến [75][87][95] nhưng ở Việt Nam, mối giaotiếp này vẫn còn là mảnh đất chưa được khám phá đầy đủ [51]
Thực tế mối giao tiếp này được diễn ra dưới ành hướng đối ngược của hai nhóm yếu tố.Một mặt, sự hiện diện của đại dịch HIV/A1DS cùng với sự lo sợ của bố mẹ về những hành vi tìnhdục không an toàn cùa VTN là động lực cho các cuộc trao đổi giữa họ về tình dục [51] Mặt khác,các rào cản văn hóa và hạn chế trong chính kiến thức của cha mẹ bởi họ không được học về điềunày từ nhà trường và gia đình [93][51 J[98][5], hay sự eo hẹp thời gian [93][2] khác biệt giới[89] lại làm hạn chế chiều sâu trong giao tiếp cũng như hiệu quả cùa quá trình này Đây có the làcác thách thức đối với can thiệp trong chủ đê nhạy cảm này mà chương trình SKSS/SKTD nóichung và giáo dục K.NS trong việc hướng tới hành vi TDAT cần lưu tâm
Trong nghiên cứu cùa tố chức Save the Children (2010), 10,9% nam và 19,9% nữ nóichuyện với bố/mẹ về SKSS HIV vài lần trong 1 tháng qua 4,2% nam và 5.1% nữ nói 1 lần 1.3%nam và 3,6% nữ nói hàng tuần Trong khi có tới 41.2% nam và 35,3% nữ chưa từng nói chuyện
về chủ đề này [105], Nghiên cứu của Trịnh Văn Thẳng, tiến hành cuối năm 2003 tại 2 trườngTPHT ở Thái Bình cho thấy thực ở Thái Bình cho thấy, các khía cạnh tình dục được đề cập baogồm QHTD nam - nữ, trinh tiết, thai nghén, nạo phá thai, sử dụng BCS và H1V/AIDS Tuy nhiêncác cuộc trao đối này thường thiêu chiêu sâu vỉ nhiều bố mẹ nghĩ ràng các em còn quá tre đé cóQHTD Hầu hết những cha mẹ dã từng nói chuyện ve SK.SS/SKTD với con cái chưa bao giờ đềcập đến TDAT hướng dẫn cách sử dụng BCS hay thương thuyết để có TDAT [51] Trong hoàncảnh này, VTN thường cám thấy khó khăn trong việc tim kiếm thông tin và dịch vụ SK.SS chínhxác và chất lượng Ket quả là họ không có đú thông tin, hiểu sai lầm về SK.SS và không có khảnăng tự bảo vệ bản
Trang 31thân, không có cơ hội hay không thế thay đổi hành vi nguy cơ và thựchành KNS để có hành vi TDAT [98].
3.2.3 Kỹ năng giái quyết vấn đề, ra quyết định, thương tượng
Giải quyết vấn đề ra quyết định, thương lượng là những kỹ năng sẽ giúp TTN ứng phóvới các tình huống trong cuộc sống nói chung và các van de SKSS/SKTD nói riêng Nếu như kỹnăng giao tiếp hay nhận thức đề cập ỡ trên tác động tới suy nghĩ, quá trình ra quyết định thì các
kỹ năng này tác động trực tiếp nhất tới những phản ứng của TTN trước các tình huống
3.2.3.1 Kỹ năng giải quyếl vấn đề
Các nghiên cứu chỉ ra ràng QHTD không bảo vệ đang tăng lên [55], Nhiều nghiên cứu đãcho thấy VTN thiếu kiến thức về SKSS/SKTD như thế nào, đặc biệt là khả năng thương thuyếttình dục của nữ VTN cũng như các yếu tố ràng buộc tạo ra rào càn trong thực hành sử dụngBCS dẫn tới HIV/AIDS [94]
Khảo sát của Viện Nghiên cứu Môi trường và các vấn đề xã hội (trực thuộc Liên hiệp cácHội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam) thực hiện cuối năm 2009 đối với nhóm trẻ VTN tại Hà Nộicho thấy hầu hết các em lúng túng khi trả lời hoặc chưa biết cách xử lý các tình huống thường gặptrong cuộc sổng [66] Đoi với câu hỏi "Gặp khó khăn trong cuộc sống, em thường giái quyết nhưthế nào?" chi có 52,4% tìm sự giúp đỡ cùa người khác, trong khi đó có tới 42.9% trả lời cố gắng
tự giải quyết và 4,7% mặc cho mọi chuyện qua đi [66], Với sự thiếu hụt trong kỹ năng giải quyếtvấn đề như thế này TTN chac chan sẽ gặp phải nhiều khó khăn đế giải quyết các vấn đề này sinhtrong cuộc sống, nhất là những vấn đề liên quan đến tình dục vốn được xem là thiếu thông tin haykhó nói và từ đó càng khó đê đưa ra các quyêt định an toàn, có lợi trong tình dục giúp phòngchông HIV/AIDS/STIs và mang thai ngoài ý muốn
3.2.3.2 Kỹ năng ra quyết định và thương lượng
Kỹ năng ra quyết định trong tình dục là việc cân nhắc giá trị bản thân, các yểu tổ liên quanđến chuẩn mực giới, văn hóa : đánh giá nguy cơ cá nhân khi QHTD với từng đối tượng khácnhau, các thuận lợi hay rào càn khi thực hiện hành vi đê ra dược quyết định có lợi choSKSS/SKTD giúp ngăn ngừa các nguy cơ đối với SKSS/SKTD cụ thể ở đây là hành vi TDAT,
sử dụng BCS Nghiêu nghiên cứu chỉ ra rằng nam thường giữ đặc quyền trong việc quyết định có
sử dụng BCS trong QHTD hay không [113] Tỳ lệ nam giới tự quyết định sử dụng BCS khiỌHTD cao gấp 4 lần so với nữ giới [34], Điều này đã khăng
Trang 32định lập luận ở trên về định kiến giới hay bất bình đăng giới là thực sựtồn tại và anh hường tới quyền ra quyết định trong tình dục và sử dụng BCS.
Kết quả nghiên cứu của UNFPA (2007) cũng chì ra tình trạng thụ động của nữ TTN chưakết hôn trong việc quyết định có sử dụng BCS hay không là khá phổ biển Vì vậy tổ chức nàykhuyến nghị kỳ năng thương thuyết đối với cả nam và nữ VTN cân được giải quyết trong thờigian tới [113] Khuyến nghị này là hoàn toàn chính xác Trong nghiên cứu cùa tổ chức Save theChildren, chì có 10.8% TTN tự tin là mình có thể thương lượng sử dụng BCS, 1.6% tự tin phầnnào và có tới 41% không tự tin (nam 37,3% và nữ 46,2%) [105] Có thể thấy, khả năng thươnglượng TDAT cùa TTN còn hạn chế và cần được cái thiện Đề cập đến vấn đề này, trước hết phảibắt đầu từ cài thiện kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là với người yêu bạn tình trong các vấn đề liênquan đến SKSS/SKTD và TDATbởi thực tế là có giao tiếp tốt thì mới có thể thương lượng tốt vàngược lại
Trở lại với vấn đề ra quyết định TDAT trong khi việc quyết định có sứ dụng BCS haykhông đa phần thuộc về nam giới thì tỉ lệ sử dụng BCS ở TTN thực tế là khá thấp [13][113] Kếtquả điều tra đầu kỳ của RH1YA năm 2004 cho thấy tỷ lệ TTN sử dụng BCS khi QHTD là 91,3%.tuy nhiên, chi có khoáng 1/3 TTN cho biết có sử dụng BCS mồi lần QHTD [34] Theo nghiêncứu của tổ chức Save the Children (2010), trong lần QHTD đầu tiên 22,1% TTN (nam 18.6%, nữ28.1%) sừ dụng BCS trong khi tỉ lệ không sừ dụng là 29.9% (31,4% ở nam và 28,1% ở nữ) vàmột lượng lớn (48,1%) tra lời không nhớ [105] Như vậy trong nghiên cứu này, tì lệ sử dụng BCS
ở nam ít hơn nữ Rõ ràng nêu có những kết quả không mong muốn của tình dục không an toàn thi
nữ thường là người gánh chịu hậu quả nặng nề hơn vì vậy họ có xu hướng sứ dụng BCS nhiềuhơn đê bảo vệ bản thân
Trái ngược với lập luận này trong nhiều bài viết khác, các tác già lại cho răng ti lệ nữ sứdụng BCS ít hơn nam và lý giái ràng nữ thường ỌHTD với người yêu chồng chưa cưới, vì vậy
họ tin tưởng và ít sừ dụng BCS Trong khi đó, nam QHTD với phụ nữ mại dâm nhiều hơn và cónhiều bạn tình không thường xuyên hơn vì vậy tỉ lệ sử dụng BCS cao hơn Một lý giải khác là nữthường ờ vào thế bị động và không có cơ hội lựa chọn như nam giới [50], Điều tra đầu kì cuaRH1YA cũng ủng hộ kết quà này: cứ 3.5 nam cho biết sứ dụng BCS mồi lần ỌHTD thì mới có 1
Trang 33thập thông tin mới Đề cập vấn đề này năm 2009 Lê Cự Linh và cộng sự đã thử nghiệm phươngpháp phỏng vấn có sự trợ giúp của máy tính (ACASI) Kết quả cho thây phương pháp này chothấy những ưu thế nhất định, đặc biệt đối với các hành vi/vấn đề nhạy cảm VTN nam TTN chưakết hôn, so với phương pháp phỏng vấn trực tiếp hay phỏng vấn bàng bảng hỏi đang được ápdụng rộng rãi hiện nay [28] Ví dụ, cùng nghiên cứu về tỷ lệ trả lời từng có quan hệ tình dục ởnam TTN 15-24 tuổi, phòng vấn bằng ACASI cho kết quả 18,3% cao hơn so với 15.2% thu đượcqua phỏng vấn truyên thông và 10% qua phát vấn [28], Tuy nhiên, để áp dụng rộng rãi phươngpháp này trong tương lai, cần nhiều hơn các nghiên cứu khắng định tiếp theo.
Trở lại với vấn đề tỉ lệ sử dụng BCS ở TTN thấp, các trở ngại đối với việc sừ dụng BCSđược nam nữ TN nêu lên nhiều nhất là các trở ngại liên quan đến định kiến đạo đức cùa xã hộinhư cảm giác e ngại, xấu hô hay sợ bị người khác thấy và cho đó là việc làm không đứng đán bởicho ràng BCS chỉ dành cho những người mua dâm hay không chung thủy [49], Bên cạnh đó một
số TTN cũng đề cập đến việc BCS không sẵn có (32% nam và 38% nữ) và chi phí đẳt (11%TTN) là trớ ngại đổi với việc tiếp cận BCS của họ [49]
Với những TTN không sử dụng BCS trong lần QHTD đầu tiên thì 3 lý do chính là khôngmuốn sử dụng (nam 38% nữ 54%) khi đó không có ý định QHTD (nam 26% nữ 12%) BCSkhông sẵn có lúc đó và không biết sứ dụng thế nào (nam 9% nữ 7%) [21], Một nguyên nhân khác
là TTN cho răng tình cảm của họ là chân thực nên không sư dụng BCS việc sứ dụng BCS có thẻcán trở lình cám cua hai người hoặc tin tường bạn tình cùa mình là người khỏe mạnh [113], Một
số nữ TTN còn đưa ra lý do là sợ bị đánh giá là người dề dãi hoặc bị liên hệ với QH I D màkhông có tình yêu Đây là những quan diêm sai lầm mà giáo dục KNS trong TDAT cần thay đốinham cải thiện việc tiếp cận và sử dụng BCS của TTN, tiến tới báo vệ SKSS/SKTD cho nhómngười tré tuổi này Các lý do khác cản trơ TTN trong việc sử dụng BCS là cảm giác khó chịu khi
sử dụng BCS như mùi, kích cỡ không phù hợp, dộ bền kém [113], Gợi ý ở đây có thể là cung cấp
đa dạng các loại BCS khác nhau về kích cỡ màu sẳc mùi giá cà
Một vấn dề khác ánh hương đến việc ra quyết định sừ dụng BCS của TTN là đối tượng
mà TTN có QHTD 21.5% nam TN độc thân đã từng QHTD với phụ nữ mại dâm [83], Nghiêncứu của Nguyền Hồng Sơn (2004) cho thấy trong khi chi có 22,2% TTN sử dụng BCS trong lanQHTD gần đây nhất với người yêu thì có tới 83,3% TTN sử dụng BCS trong lần QHTD gần đâynhất với phụ nữ mại dâm [36], Điều tra SAVY cũng cho
Trang 34thấy 66.1% TN có sư dụng BCS khi QHTD với phụ nữ mại dâm [13] Rõràng TTN đã có cân nhác trong việc có sừ dụng BCS hay không với từng đổitượng có nguy cơ khác nhau Đây là một tín hiệu đáng mừng Nhưng với tỉ lệ
sứ dụng BCS khi QHTD với phụ nữ mại dâm như hiện tại vần cần nhiều nồ lựcgiáo dục KNS hơn nữa nhăm tăng cường các kỹ năng TDAT cùa TTN, từ đónâng cao tỉ lệ sử dụng BCS nói chung và sử dụng BCS khi QHTD với phụ nữmại dâm nói riêng
Trong việc thực sự quyết định sử dụng BCS, dự định sừ dụng BCS là một bước quantrọng Các nghiên cứu thường xem đây là chỉ báo có giá trị đê đánh giá khả năng sử dụng BCScủa TTN Theo nghiên cứu cùa tồ chức Save the Children thì chi chưa đến 1/3 số học sinh(28.3%) có dự định sử dụng BCS trong lần QHTD tới Trong khi đó 10% không có dự định này
và có tới 61,7% học sinh vẫn chưa quyết định được [105] Qua đây có thể đánh giá không nhiềukhả năng TTN sẽ quyết định sử dụng BCS trong QHTD
3.2.4 Kỹ năng tìm kiếm thông tin và dịch vụ
Tìm kiếm thông tin dịch vụ về SKSS/SKTD và TDAT là kỹ năng cần có, giúp TTN traudồi nâng cao kiến thức SKSS/SKTD của mình qua đó biết được các hành vi nên hay không nênlàm và cách thức thực hiện hành vi có lợi Tiếp cận dịch vụ tư vân là cách hỗ trợ đắc lực cho TTNứng phó với các tình huống căng thẳng trong cuộc sống, ra các quyết định đúng đắn đê bảo vệSKSS/SKTD của bán thân Trong khi đó, tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS TTN là cách chăm sócSKSS/SKTD cho TTN trực tiếp nhất Theo đánh giá chung, đa số TTN đã tiếp cận được thôngtin dịch vụ SKSS/SKTD TDAT và phòng chống H1V/A1DS Tuy nhiên vẫn còn khoảng 1/3TTN chưa tiếp cận được [49][69][52] đặc biệt là nhóm TTN nông thôn TTN dân tộc thiều sổ vàcác TTN trẻ [49], Do đó cần nhiêu nỗ lực hơn nữa đê cung câp dịch vụ SKSS/SKTD cho TTNnói chung và các nhóm TTN này nói riêng
Bên cạnh đó, các kỳ năng của TTN trong việc tìm kiêm thông tin dịch vụ phân tích, chọnlọc các nguồn thông tin cũng là vấn đề cần cải thiện Một nghiên cứu trên 5000 học sinh lớp 6-12
ở 32 trường thuộc 4 tỉnh: Quảng Ninh Hái Phòng Quảng Trị và thành phố Hồ Chí Minh do tồchức Save the Children tại Việt Nam thực hiện năm 2010 cho thấy có tới 65.9% chưa từngkhuyến khích bạn bè đặt câu hởi hay tìm kiếm dịch vụ CSSKSS và phòng chống H1V từ nhàcung cấp dịch vụ thân thiện hay giáo viên trong vòng 3 tháng qua; và chỉ 15.5% học sinh đã từnglàm điều này [105] Hau het TTN có nhu cầu tiếp cận
Trang 35các kiến thức và thông tin về tính dục [42] nhưng họ lại thiếu các kỹnăng đế tìm kiếm và chọn lọc các nguồn thông tin xác thực, đáng tin cậy.
Hiện nay, nguồn thông tin tính dục mà TTN tiếp cận chù yếu thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng: sách báo internet, truyền hình, thay vì các nguồn thông tin trực tiếp như cha
mẹ hay thầy cô [42][53] Trong bảng xếp hạng của Google Trends, trong 2 năm liên tiếp 2007 và
2008, Việt Nam là nước có tỷ lệ sử dụng từ khóa “sex” để tìm kiếm thông tin trên Google nhiềunhất [67], Đây là nhũng nguồn thông tin dễ tiếp cận nhưng đề sử dụng nó hiệu quả, TTN cần có
kỹ năng để tiếp nhận, xử lý và tiếp thu chọn lọc Trong khi đó gia đình, nhà trường và xã hộidường như chưa đủ khả năng để giáo dục và hướng dẫn cho họ các kỹ năng này [53]
Vai trò mờ nhạt trong vai trò cung cấp thông tin của các kênh trực tiếp như gia đình vànhà trường cũng được đề cập trong một nghiên cứu cùa Phạm Hương Trà (2009) [42] Trong cácnguồn thông tin về TDAT, báo là kênh thông tin hàng đâu cho TTN với khoảng trên 30%, trongkhi đó chỉ có xấp xỉ 2% TTN nhận thông tin từ bố mẹ và thầy cô [42] Kết quả này phần nào phànánh sự thiếu hụt và nhu cầu cải thiện giáo dục SKSS/SKTD nói chung, TDAT nói riêng trong nhàtrường cũng như gia đình Thực tế là TTN có thời gian khá nhiều tiếp xúc với nhà trường trongquá trình học tập và sinh hoạt Vì thế có điều kiện thuận lợi đế tiếp cận với kiến thức sức khoequa các nguồn thông tin tại trường học là hết sức có giá trị và hiệu quả Bên cạnh đó cẩn tăngcường biên soạn và phát hành sách báo vê chủ đề SKSS/SKTD TTN TDAT và phòng chốngHIV/A1DS để tăng cường độ bao phu và khả nãng tiếp cận tới TTN
Trong việc tiếp cận BCS đa số TTN biết nơi nào họ có thế kiếm được BCS khi cân.Nhưng bên cạnh đó vẫn còn gân 1/3 TTN chưa tiêp cận sử dụng BCS [49] Báo cáo cũng chothấy, càng lớn lên học vấn hiêu biết càng nhiều thì khả năng tiếp cận với BCS như một phươngtiện phòng lây nhiễm H1V/A1DS STIs và mang thai ngoài ý muốn của TTN càng hiệu quả
Một nghiên cứu của Đại học Y tế công cộng (2009) chi ra rằng số lượng BCS do chínhphủ cung cấp còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu và chú yếu dành cho đối tượng đã có gia đình
mà chưa quan tâm nhiều đến nam nữ TN đã có QHTD [18], Hơn nữa hiện vẫn chưa có sự phoihợp giữa chương trình KHHGD và phòng chổng HIV nhằm tăng cường tác dụng bào vệ kép (dualeffect) của BCS đồng thời góp phẩn đáp ứng nhu cầu BCS Do vậy những đối tượng như VTN.người không có gia đình, nguôn cung BCS vỉ thê có lẽ chủ
Trang 36yếu từ thị trường tự do [18], Đây vừa là yếu tố thuận lợi cho nhũng đổitượng trẻ có khá năng chi trả, nhưng cũng có thể là một cản trở nhất định đốivới người không có khả năng này.
Tổng hợp tất cả các phân tích trên ta thấy, nếu như kiến thức và thái độ cùa TTN đổi vớicác vấn đề SKSS và TDAT mặc dù chưa phải là tốt nhưng đã đạt được ở một mức độ nào đó thìcác kỳ năng liên quan lại cho thay những thiêt hụt, yêu kém hon hăn TTN tỏ ra lúng túng tronggiái quyết vấn đề, thương lượng, giao tiếp, chưa đú tự tin để đưa ra quyết định hay còn do dự đểquyết định sử dụng BCS trong QHTD Đây chính là điếm mà giáo dục KNS trong TDAT, khuyếnkhích sử dụng BCS cần chú trọng Thay vì chi cung cấp kiến thức đơn thuần, giáo dục K.NS cầntập trung giáo dục các kỹ năng, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để rèn luyện những kỹnăng này nhằm giúp TTN ra được các quyết định có lợi, cụ thế trong trường hợp này là sử dụngBCS thường xuyên và đúng cách trong QHTD đề phòng chống HIV/AIDS, STIs và mang thaingoài ý muốn Các chưong trình giáo dục K.NS cũng nên cân nhắc thiết kế phù hợp đối với cácnhóm tuổi, trình độ học vấn, các vùng miền khác nhau do các đặc điếm văn hóa, chuẩn mực khácnhau đã phân tích ở trên
4 Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên hướng đến nâng cao sức khồe sinh sản, tình dục an toàn và gọi ý các hướng nghiền cứu, can thiệp phù họp
4.1 Co’ sở để triển khai giáo dục kỹ năng sống huóng tới nâng cao sức khỏe sinh sán và hành vi tình dục an toàn cho thanh thiếu niên
Xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện cà về kinh tế, văn hóa xã hội và lối sống với tốc
độ nhanh, làm nãy sinh những vấn đề trước dây chưa gặp phái, chưa từng trai nghiệm, chưa phảiứng phó và đưong đẩu Cuộc sống phức tạp khó khăn và đầy thách thức hiện nay buộc con ngườiphải có KNS tức là những khả năng làm cho hành vi và sự thay đối cùa mình có thế thích nghi vàgiải quyết có hiệu quá các yêu cầu cũng như thách thức của cuộc sống Xưa nay K.NS thườngđược hình thành qua quá trình trai nghiệm nhưng giờ đây theo quan điếm giáo dục hiện đại giáodục KNS dã được coi là một nhiệm vụ của nhà trường [43],
Trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển giáo dục cho mọi người trong việc thựchiện Công ước về quyền trẻ em, Ke hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi
Trang 37người (Senegal 2000) [76][78J Tuyên bố về cam kết cùa Tiểu ban dặcbiệt cua Liên hiệp quốc về HIV/AIDS (2001) [39], việc giáo dục KNS cũng được
nhấn mạnh và khuyến nghị (chi tiết xin xem thêm tại phụ lục 11: Cơ sờ đê
triển khai giảo dục KNS hướng tới TDAT cho TTN, trang 71) Bên cạnh đó,
những hiệu quả thực tế mà chương trình giáo dục KNS mang lại, như đã đềcập trong phần 2.2.2, càng cùng cố việc đưa giáo dục K.NS vào giảng dạytrong nhà trường
Tại Việt Nam, từ sau Hội nghị Dân số và phát triển Cairo 1994 cùng với những chiến lượcvận động không mệt mỏi cùa các tồ chức quốc tế đã giúp lãnh đạo và những nhà hoạch địnhchính sách thấy được nhu cầu cần phải giáo dục các vấn đê SKSS cho VTN [19], Rất nhiều vănbản pháp luật đã được ban hành, nhất là từ sau năm 2000 là cơ sở pháp lý, tạo môi trường thuậnlợi, cho phép và khuyến khích giáo dục SK.SS TTN, giáo dục KNS cùng như việc đưa giáo dụcSKSS/SKTD TDAT phòng chống H1V/A1DS vào nhà trường
Tiêu biếu trong số đó là Chiến lược quốc gia về dân số giai đoạn 2001 - 2010 và chiến lược quổc gia về SKSS giai đoạn 2001 - 2010, Ke hoạch tông thê quốc gia vể chăm SÓC, báo vệ
và nâng cao sức khoe vị thành niên và thanh niên giai đoạn 2006-2020 và tầm nhìn 2020 được
Bộ Y tế ban hành vào ngày 7/6/2006, Dự thao Chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn
2011 2020 do Tổng cục Dân số - Ke hoạch hóa gia đình đề xuất năm 2010 hay một loạt các chithị thông tư hướng dẫn cùa Bộ GD-ĐT để triền khai giáo dục KNS trong việc nâng caoSKSS/SKTD và phòng chống H1V/A1DS trong nhà trường (Chi thị sổ 61/2008/CT-BGDĐT [41.Văn bản số 3408/BGDĐT-GDTrH [7] 3530/BGDĐT- CTHSSV [8], 5126/BGDĐT-CTHSSV
[9], 1741-BGDDT-GDTrH [10], 6547/BGDDT- GDTrH [11]) (chi tiêt xin xem thêm tại phụ lục
11, trang 71).
Bên cạnh đó, kết quà điều tra SAVY 2 cũng là một cơ sở quan trọng trong việc đưa giáodục KNS vào trường học [49], Tóm lại các văn bán đã ban hành liên quan đến nâng caoSKSS/SKTD TTN cho đến thời điếm hiện tại là hành lang pháp lý thuận lợi úng hộ và tạo điềukiện cho giáo dục KNS trong nhà trường nói chung và KNS trong chủ đề TDAT đe phòng chốngHIV/AIDS nói riêng cũng như những vấn đề sức khỏe liên quan khác như phòng tránh STls.mang thai ngoài ý muốn như đã đề cập trong những phần trước
4.2 Thực trạng chung về giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên
Do nhu cầu đối mới giáo dục đê đáp ứng sự phát triên đất nước và sự nghiệp công nghiệphóa hiện đại hóa Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, đổi mới mục
Trang 38tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang
bị những năng lực Cần thiết cho họ [30] Cách tiếp cận KNS được quán triệttrong đối mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông ở ViệtNam Hầu hết mọi người, từ các nhà quản lý giáo dục, y tế, đến giáo viên, phụhuynh và TTN đều cho rang việc đưa giáo dục KNS vào chương trinh giáo dục
trong nhà trường là cần thiết [63] (như đã phân tích tại phần 2.2.6).
Cũng có một số trung tâm tư nhân hoặc liên kết với nước ngoài hiện đang thực hiện giáodục K.NS như TGM Corporation, Tâm Việt, Breakthrough Power, Trung tâm KNS - Trực thuộcTrung ương Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam hay Câu lạc bộ KNS online cho TTN[68] Một số khóa học về KNS cho TTN hiện đang được quảng cáo khá rầm rộ như “Tôi khácbiệt” [70] hay “Tôi tài giỏi” [71] Tuy nhiên độ bao phủ của các hoạt động và hiệu quả của cáctrung tâm này hiện tại vẫn chưa được đánh giá
Năm học 2010-2011, tăng cường giáo dục KNS được Bộ GD-ĐT xác định là nhiệm vụtrọng tâm của ngành giáo dục Phương pháp giảng dạy là tích hợp giáo dục KNS vào các môn họcnhư giáo dục công dân, sinh hoạt ngoài giờ ngữ văn, sinh học, dạo đức, địa lý [63] Nhưng thực
te việc hướng dẫn tố chức và triên khai thực tiễn hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở các cấp,bậc học còn hạn chế [6][43] Giáo dục KNS cho học sinh mới chi được thực hiện như một nộidung, mục tiêu phụ cũa các chương trình/dự án [43] Việc tích hợp giáo dục KNS vào nội dungmôn học hoạt động giáo dục nào bằng phương pháp nào, thời lượng, cơ cấu chương trình vàcách tố chức thực hiện ra sao là những vấn đề chưa được thống nhất [43], Bên cạnh đó, các KNShiện tại được quán triệt trong mục tiêu năm học mới chi ở mức chung chung như cãi thiện các kỹnăng giao tiếp, ứng xử thân thiện, giữ gìn vệ sinh môi trường hay đền ơn đáp nghĩa mà chưa cónội dung đặc thù đối với SK.SS, các kỹ năng TDAT hay phòng chống H1V/A1DS
Có nhiêu nguyên nhân cho thực trạng này đã được đưa ra bao gôm việc thiêu giáo trìnhchuẩn phục vụ cho công tác giảng dạy [64] giáo viên chưa được đào tạo hệ thống đề giáng dạyK.NS [43] hay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS [43], Nghiên cứunăm 2010 cua Phan Thanh Vân trên 250 giáo viên tại các trường THPT ơ thành phố Hồ Chí Minhcho thấy nhìn chung giáo viên các trường THPT đã nhận thức được bán chất, mức độ cần thiếtphái giáo dục KNS cho học sinh nhưng họ còn lúng túng về phương thức, biện pháp Đa số giáoviên có thực hiện giáo dục KNS cho học sinh nhưng vẫn còn ở mức độ thâp Sô lượng giáo viên ítthực hiện chiêm tới 100/250 người, có thực hiện chiếm 90/250 người và ti lệ thực hiện thườngxuyên là thấp nhất 60/250 người
Trang 39[43], Cũng theo nghiên cứu này chi 40/250 giáo viên giáo dục KNS cho học sinh dựa trên cácphương pháp đã được đào tạo, 80/250 học hỏi từ các đồng nghiệp và chiếm ti lệ lớn nhất 130/250giáo viên giảng dạy dựa trên kinh nghiệm bản thân [43].
Như vậy có thể thấy rằng, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong cài cách giáo dục theo hướnghọc tập chủ động, trao quyền nhiều hơn cho học sinh, tuy nhiên giảo dục KNS trong nhà trườnghiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục Việc làm cần nhất trong thời gian tới có lẽ là BộGD-ĐT và các ban ngành liên quan trong CSSK.SS TTN cần phải hoàn thiện một giáo trinhchuẩn về giáo dục K.NS và tiến hành đào tạo giáo viên một cách hệ thống, bài bàn Đây cũngchính là bài học kinh nghiệm đã được UNICEF rút ra từ quá trình triển khai giáo dục KNS ởnhiều nước trên thế giới như Mỹ Pakistan và các nước Đông Nam Á [115][96]
4.3 Các can thiệp giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên hưcýng tói nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn
Tại Việt Nam, có rất nhiều chương trình giáo dục SKSS/SKTD và phòng chốngH1V/AIDS cho TTN đã được tiến hành, nhất là từ sau năm 2000 và đã có sự cải thiện rõ rệt vềchất lượng và số lượng của các chương trình Ví dụ như chương trình Sáng kiến chăm sóc SKSSVTN (RHIYA), chương trình Tăng cường chất lượng giáo dục dân số - SKSS VTN trong trườngTHPT Tuy nhiên sử dụng tiếp cận K.NS trong giáo dục SKSS/SKTD và phòng chốngHIV/A1DS thì không nhiều chương trình áp dụng
Đối tượng của các chương trình giáo dục K.NS hay giáo dục dựa trên kỹ năng này đaphần là học sinh - sinh viên đang theo học trong các trường, các cơ sở đào tạo Một trong số cácchương trình giáo dục K.NS cho TTN chuẩn mực nhất là Chương trinh giáo dục song khỏe và kỳnăng song do UNICEF phối hợp với Bộ GD-ĐT thực hiện từ năm 1996 cho đến nay [98][107][l18] Thông qua chương trình này, lần đầu tiên, thuật ngữ "kỹ năng sống” được biết đến tại ViệtNam [43] Một dự án khác là Dự án phòng chống HlV/AIDS/STIs dựa trên kỹ năng thông quanhà trường đôi với học sinh từ lớp 1-12 tiên hành thứ nghiệm từ năm 1997 và đến năm 2000 triềnkhai tới tẩt cá các trường tiểu học rồi đến THCS, THPT [ 19][ 116][ 133] Bên cạnh đó một sốchương trình/dự án cũng nhám tới nhóm TTN ngoài nhà trường, trẻ em đường phố [98][29],nhóm lao động trẻ trong các xí nghiệp [31] hay nhóm TTN khuyết tật [60] Ngoài ra một số dự
án còn nhàm phát triển tài liệu và tập huấn kỹ năng cho cán bộ Đoàn đế giáo dục K.NS cho TTNnhư dự án V1E/97/P12; Dự án Youth Life Skills Training Materials tại Quảng Nam; hay tập huấn
Trang 40dồng đẳng viên như Dự án Hòa nhịp tim - Chung hành động Chi tiết
về các chương trĩnh/dự án này xin xem thêm tại phụ lục 12: Cúc can thiệp giáo dục KNS trong việc hướng tới hành vi TDA T cho TTN, trang 74.
Đặc điêm chung của các chương trình là đêu tiên hành phát triên tài liệu giáo dục KNS,tập huấn giáo viên (educators - có thể là giáo viên của các trường hoặc cán bộ Đoàn thanh niên)
và tiến hành giảng dạy cho TTN dưới nhiều hình thức như lồng ghép vào chương trinh học, hoạtđộng ngoài giờ lên lớp, các câu lạc bộ, các nhóm vận động cộng đồng, tổ chức các cuộc thi pháthành sách, hình thành đường dây nóng
Nhìn chung, các chương trinh đã đem lại hiệu quả tích cực trong việc cái thiện kiến thức,thái độ và các kỹ năng SK.SS/SK.TD TDAT cho TTN Cụ thể các can thiệp làm cải thiện kiếnthức, thái độ của học sinh về HIV/AIDS [116][ 133][105] Sự tự tin kỹ nàng ra quyết định cũng
có sự tiến bộ [ 19][ 116][ 133] Nhận thức giá trị bản thân, giá trị bạn bè các kỹ năng TDAT dựđịnh sử dụng BCS kỳ năng giao tiếp và các hành vi tìm kiêm thông tin của học sinh được tăngcường [105] Bên cạnh đó, sự gắn kết giữa học sinh và nhà trường cũng tốt hơn [105][ 116]
Điểm yếu cùa các can thiệp này là chưa có một kế hoạch đề phát triền dài hạn chưa có sựchuẩn hóa trong chương trình giáo dục; năng lực giảng dạy của giáo viên chưa tốt; độ bao phú vàkhả năng tiếp cận tới các nhóm đối tượng TTN và khả năng duy trì còn hạn chế; chưa huy độngtối đa các nguồn lực, sự tham gia cùa cha mẹ và học sinh; đặc biệt là việc tiến hành đánh giá,công bố kết quă còn chưa dược chú trọng Bên cạnh đó, trong một hội thảo tồng kết về hiệu quảgiáo dục KNS SK.SS và H1V/A1DS trong nhà trường, những thách thức trong việc triển khaicác chương trình này cũng đã được đưa ra 1107], bao gồm:
- vể mặt luật pháp: giáo dục H1V trong nhà trường chưa được xác định, không có chiếnlược huy động sự tham gia cùa phụ huynh, giám sát và đánh giá vẫn còn yếu
- về mặt giáo dục: nội dung giáo dục SK.SS và HIV thường phân tán và chưa tập trungvào K.NS, thiếu sự tham gia của phụ huynh và các tổ chức xã hội trong việc nâng cao kiến thức
và kỹ năng, thiếu tài liệu hướng dẫn cho giáo viên trong việc triến khai các hoạt động
- về phía giáo viên: giáo viên không cung cấp hết các kiến thức về SK.SS và phòng chốngH1V/A1DS trong quá trình giảng dạy, thường sử dụng các phương pháp truyền thống mà khôngkhuyến khích sự tham gia chủ động của học sinh