TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu Ngày nay mô hình bệnh tật đã thay đổi từ nhóm các bệnh truyền nhiễm sangnhóm bệnh không truyền nhiễm và chấn thương và một trong những bệnh trong nhómbệnh không
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN BÍCH NGỌC
HÀ NỘI, 2007 LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đen Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học và các Phòng, Ban chức năng của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua
Với tất cả lòng kính trọng của mình tôi xin bày to lòng biêt ơn sâu sắc tới PGS.
TS Phạm Trí Dũng - TS Đỗ Thị Khánh Hỷ, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu giúp cho tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin trán trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt lĩnh của UBND huyện Thanh Miện, Phòng Y tế, Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện, UBND thị tran Thanh Miện, Trạm Y
tế thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hai Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trĩnh nghiên cứu.
Xin chân thành cam ơn Cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè - Tập thê lớp Cao học khóa
9 và gia đỉnh đã tạo điểu kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua.
Xin trân trọng cảm ()’n !
Hà Nội, tháng 9 năm 2007
Trang 3{International society of Hypertension)
JNC Liên ủy ban quốc gia về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng
huyết áp của Hoa Kỳ {Liên Uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ - United States Joint National Committee)
TTGDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐÈ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 4
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu 21
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 23
2.7 Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng trong nghiên cứu 24
2.8 Khía cạnh đề đạo đức trong nghiên cứu 29
Chương 3: KÉT QUẢ NGHIÊN cứu 30
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Thực trạng THA của đối tượng nghiên cứu 36
3.3 Kiến thức của NCT về THA 36
3.4 Thực hành phòng chống THA của NCT 41
Trang 53.5 Một số yếu tố liên quan 45
Chương 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 49
4.2 Kiến thức phòng chống THA của đối tượng nghiên cứu 53
4.3 Thực hành phòng chống THA của đối tượng nghiên cứu 56
4.4 Một số yếu tố liên quan đến THA của đối tượng nghiêncứu 61
Chương 5: KÉT LUẬN 64
Chương 6: KHUYÊN NGHỊ 65
Tài liệu tham khảo 66
Phụ lục 1: Phiếu đo HA của ĐTNC Ị 71
Phụ lục 2A: Phiếu điều tra kiến thức, thực hành của NCT không THA 72
Phụ lục 2B: Phiếu điều tra kiến thức, thực hành của NCT có THA 76
Phụ lục 3: Hướng dần thảo luận nhóm 81
Phụ lục 4: Bảng điểm đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống THA 84
Phụ lục 5: Phương pháp đo HA 88
Phụ lục 5: Bản đồ huyện Thanh Miện 89
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Phân bổ theo nhóm tuổi 30
Bảng 2: Trình độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC 31
Bảng 3: Nguồn thu nhập chính và thực trạng kinh tế của ĐTNC 32
Bảng 4: Tình trạng hôn nhân, tinh thần của ĐTNC 33
Bảng 5: Tiền sử THA của bản thân và gia đình ĐTNC 33
Bảng 6: Tỷ lệ THA của NCT tại thời điểm nghiên cứu 34
Bảng 7: Tỷ lệ THA phân theo nhóm tuổi 35
Bảng 8: Tình hình phát hiện THA 35
Bảng 9 : Hiểu biết về cách phát hiện THA và thời gian đi đo HA 36
Bảng 10: Hiểu biết về số đo HA 37
Bảng 11: Hiểu biết về các dấu hiệu của THA 37
Bảng 12: Hiểu biết về sự nguy hiểm của THA 38
Bảng 13: Hiểu biết về các biến chứng của THA 38
Bảng 14: Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây THA 39
Bảng 15: Hiểu biết về cách phòng bệnh THA 39
Bảng 16: Kiến thức chung về phòng chống THA 40
Bảng 17: Thực hành kiểm tra HA của ĐTNC 41
Bảng 18: Cách theo dõi HA của ĐTNC 41
Bảng 19: Thực hành điều trị của NCT khi bị THA 42
Bảng 20: Thực hành dùng thuổc điều trị THA của NCT 43
Bảng 21: Thực hành thay đổi thói quen trong sinh hoạt của NCT 43
Bảng 22: Kết hợp điều trị của NCT khi bị THA 44
Bảng 23: Đánh giá chung về thực hành phòng chổng THA ở NCT 44
Bảng 24: Sự hồ trợ của gia đình trong phòng và điều trị THA 45
Bảng 25: Liên quan giữa tuổi của ĐTNC với THA 45
Bảng 26: Liên quan giữa trình độ học vấn với THA ở NCT 46
Bảng 27: Liên quan giữa giới tính, nghề nghiệp, tiền sử với tỷ lệ THA 46
Trang 7Bảng 28: Liên quan giữa kiến thức phòng chống THA với tỷ lệ THA 47
Bảng 29: Liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với tỷ lệ THA 47
Bảng 30: Liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng chống THA 48
DANH MỤC BIẺU ĐÒ Trang Biểu đồ 1: Phân bố ĐTNC theo giới 31
Biểu đồ 2: Cơ cấu hộ gia đình của ĐTNC 32
Biểu đồ 3: Phân loại THA của NCT tại thời điểm nghiên cứu 34
Biểuđồ 4: Tỷ lệ NCT đã nghe/biết về bệnh THA 36
Biểuđồ 5: Tiếp cận nguồn thông tin về HA 40
Biểu đồ 6: Cách xử trí khi có dấu hiệu của THA 42
Trang 8TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu
Ngày nay mô hình bệnh tật đã thay đổi từ nhóm các bệnh truyền nhiễm sangnhóm bệnh không truyền nhiễm và chấn thương và một trong những bệnh trong nhómbệnh không truyền nhiễm đó là tăng huyết áp (THA) THA hiện nay đang là vấn đềsức khoẻ của cộng đồng với tỷ lệ hiện mắc ngày càng tăng ảnh hưởng đến hơn 1 tỷngười trên toàn thế giới [42], Bệnh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tai biếnmạch não, suy tim, suy thận đặc biệt là ở người cao tuôi
Theo điều tra của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy số bệnh nhân THA khôngđiều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm khoảng 70-75% tổng số bệnh nhân THAtrên toàn thế giới [42], Nghiên cứu của Assantachai và cộng sự (1998) tại Thái Lancho thấy tỷ lệ NCT bị THA là 36,5% [34], Tại Ấn Độ (2001) tỷ lệ hiện mẳc THA củaNCT là 65% [40]
Tại Việt Nam theo công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ Người caotuổi (Bộ Y tế), năm 1989 - 1991, tỷ lệ THA của NCT tại các vùng đại diện là: thànhthị 33%, ven biển 26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5% [16] Theo Điều tra Y
tế Quốc gia 2001- 2002 tỷ lệ người từ 60-69 tuổi tỉ lệ mắc THA là 30,6%; trên 70 tuổi
tỉ lệ mắc THA là 47,4% [4],
Thị trấn Thanh Miện là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Thanh Miện, tỉnhHải Dương, trong những năm qua cùng với đà phát triển đi lên của đất nước, đời sốngcủa người dân nơi đây cũng không ngừng được cải thiện và nâng cao Mô hình bệnhtật cũng có nhiều thay đổi, trong đó tỷ lệ ngưòi THA có xu hướng gia tăng, đặc biệt làTHA ở NCT Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về THA ở NCT tạinơi đây
Câu hỏi của chúng tôi đặt ra là: Kiến thức, thực hành về phòng chống THA củaNCT tại Thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương như thế nào?
Đe trả lời câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Kiến thức, thực hành phòng chong tăng huyết áp ở người cao tuổi và một so yếu tố liên quan tại Thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007 Thời gian tiến hành từtháng 3/2007 đến tháng 9/2007 Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắtngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 398 NCT, tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm.Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NCT có THA là 32,9%; Tỷ lệ NCT có kiến thức vềphòng chống THA đạt là: 30,6%; Tỷ lệ NCT có thực hành về phòng chống THA đạtlà: 44,3%
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy cần tăng cường giáo dục truyền thôngnhằm nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống THA cho NCT, từ đó góp phầnlàm giảm tỷ lệ mắc THA, đồng thời hạn chế những biến chứng do THA gây ra gópphần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT trên địa bàn đế NCTsống vui, sống khoẻ, sống có ích cho xã hội
Trang 9ĐẶT VẤN ĐẺ
Trong những năm qua với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc trên mọi lĩnhvực, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, tuổi thọ trungbình của con người đã tăng thêm gần 30 năm trong vòng một thế kỷ qua, cùng với đó
số lượng người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Theo Tổchức Y tế thế giới dự báo năm 2025 sẽ có khoảng 1,2 tỷ người cao tuổi (> 60 tuổi),
năm 2050 sẽ có khoảng 2 tỷ người cao tuổi chiếm 22% dân số thế giới và 80% trong
số đó sẽ sống tại các nước đang phát triển [41],
Việt Nam với những nét đặc thù của một nước đang phát triển, tuổi thọ và sốngười cao tuổi ở nước ta cũng ngày càng tăng Theo kết quả Tổng điều tra Dân sốnăm 1999 cả nước có 6,19 triệu người cao tuổi, năm 2004 là 6,6 triệu, năm 2005 là7,4 triệu [24] và dự kiến năm 2029 sẽ là 16,5 triệu [20]
Vấn đề người cao tuổi hiện nay không chỉ là mối quan tâm của mỗi quốc gia màcòn là mối quan tâm của toàn thế giới và cả cộng đồng Tuổi già thường đi đôi với sứckhoẻ yếu và bệnh tật, trung bình một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh, chủ yếu là cácbệnh mãn tính, không lây truyền [29], Một trong những bệnh thường gặp ở người caotuổi là bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp và các biến chứng của nó là một trong những nguyên nhân gây tửvong hàng đầu trong các bệnh tim mạch Bệnh xảy ra âm thầm, triệu chứng cơ năngkhông có hoặc có rất nghèo nàn, nhưng nhận biết lại khá dễ chỉ cần đo huyết áp Neungười bệnh không được phát hiện sớm, không tuân thủ chế độ điều trị nghiêm túc lâudài và không được theo dõi chặt chẽ sẽ dẫn đến các biến chứng rất nặng nề hoặc gây
tử vong hoặc tàn phể suốt đời Nghiên cứu của Assantachai và cộng sự (1998) tại TháiLan cho thấy tỷ lệ người cao tuổi bị tăng huyết áp là 36,5% [34], Tại Án Độ (2001) tỷ
lệ hiện mắc tăng huyết áp của người cao tuổi là 65% [40]
Tại Việt Nam theo công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ Người caotuổi (Bộ Y tế), năm 1989 - 1991, tỷ lệ tăng huyết áp của người cao tuổi tại các vùngđại diện là: thành thị 33%, ven biển 26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5% [16],Theo Điều tra Y tế Quốc gia 2001- 2002 tỷ lệ người từ 60-69 tuổi tỷ lệ mắc
Trang 10THA là 30,6%; trên 70 tuổi tỉ lệ mắc THA là 47,4% [4] Vì vậy việc xác định thựctrạng tăng huyết áp cũng như kiến thức, thực hành phòng chống tăng huyết áp ở ngườicao tuổi là rất cần thiết, vì trên cơ sở đó chúng ta mới có thể xây dựng các chươngtrình truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp, giúp cho người cao tuổi tự bảo vệ vàchăm sóc sức khỏe cho mình để người cao tuổi sổng vui, sống khỏe, sống có ích cho
xã hội
Thị trấn Thanh Miện trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Thanh Miện, tỉnh HảiDương với tiềm năng và thế mạnh của mình đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế, vănhoá, xã hội, cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng được cải thiện và nâng cao.Theo xu thế chung mô hình bệnh tật tại thị trấn Thanh Miện cũng thay đổi, các bệnhtruyền nhiễm và nhiễm trùng giảm hẳn và thay vào đó là các bệnh mạn tính, trong đótăng huyết áp có xu thế gia tăng, đặc biệt là tăng huyết áp ở người cao tuổi Kết quảphỏng vấn 15 người cao tuổi tại đây cũng cho thấy kiến thức, thực hành về phòngchống tăng huyết áp của người cao tuổi nơi đây chưa đầy đủ (Chỉ có 5/15 người thường xuyên kiếm tra huyết áp Không có ai biết đúng và đủ các biếu hiện, các yếu
tổ nguy cơ và biến chứng của tăng huyêt ápỴ Tuy vậy tại đây chưa có một nghiên cứunào về tăng huyết áp ở người cao tuổi Đây thực sự là một vấn đề xã hội cấp thiếtđang được các cấp, các ngành cũng như cộng đồng nơi đây rất quan tâm
Câu hỏi của chúng tôi đặt ra là: Kiến thức, thực hành về phòng chống tăng huyết
áp của người cao tuổi ở tại nơi đây như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến tănghuyết áp của người cao tuổi nơi đây?
Đe trả lời câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thực hành phòng chống tăng huyết áp ở người cao tuổi và một số yếu tố Hên quan tại Thị tran Thanh Miện huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007 ” Tù đó có những khuyếnnghị phù hợp nhằm nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống THA ở NCT, hạnchế những biến chứng do THA gây ra góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sócsức khỏe cho NCT trên địa bàn
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN cửu
2.1 Xác định tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp của người cao tuổi tại thị trấnThanh Miện huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007
2.2 Mô tả kiến thức, thực hành về phòng chống tăng huyết áp của người caotuổi tại thị trấn Thanh Miện huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007
2.3 Xác định một số yếu tố liên quan đến phòng chống tăng huyết áp củangười cao tuổi tại thị trấn Thanh Miện huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007
Trang 12Chưong1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU
1 MỌT SÓ VẤN ĐÈ NGƯỜI CAO TUÓI VÀ TĂNG HUYÉT ÁP
1.1 NGƯỜI CAO TUÔ1
1.1.1. Khái niệm về người cao tuôi
Theo dự báo của tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2025 Thế giới sẽ có khoảng1,2 tỷ người cao tuổi (NCT), năm 2050 sẽ có khoảng 2 tỷ người cao tuổi và tỷ lệ NCT
sẽ tăng gấp đôi từ 10% lên 21% [41], Do đó vấn đề người cao tuổi hiện nay không chỉ
là mối quan tâm của mồi quốc gia mà nó đã trở thành mối quan tâm của của tất cả cácquốc gia trên toàn Thế giới
+ Theo quy ước của Liên Hợp quốc toàn bộ người có tuổi đủ từ 60 trở lên, khôngphân biệt giới tính được coi là người già và chia thành hai nhóm tuổi [33]
+ 60 - 74: Là người cao tuổi
+ 75 +: Là người già
+ Tổ chức Y tế thế giới phân thành các nhóm tuổi như sau [41]
+ 60 - 74: Người cao tuổi
+ 75 - 90: Người già
+ > 90 : Người già sống lâu
+ Ở Việt Nam theo Pháp lệnh NCT số 23/2000/PL- ƯBTVQH10 ngày 28/4/2000của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy địnhnhững người từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính là NCT [31] Ngày nay NCTngày càng có điều kiện để sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội Cho nên dùng
từ NCT sẽ có ý nghĩa tích cực hơn so với danh từ người già Hiện nay trên thực tếthuật ngữ người già hay NCT đều có ý nghĩa như nhau
1.1.2. Ngưòi cao tuối ỏ’ Việt Nam và trên thế giới.
Theo tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và Hội nghị Thế giới lần thứ II về NCT tạiMadrid, Tây Ban Nha, ngày 8/12/2002 nhận định rằng Thế giới sẽ có một sự chuyểnđổi nhân khẩu học chưa từng có và đến năm 2025 sổ NCT sẽ tăng tìr 600 triệu lênkhoảng 1,2 tỷ NCT Năm 2050 sẽ tăng lên khoảng 2 tỷ NCT và tỷ lệ NCT sẽ tăng
Trang 13triển {Trong 50 năm từ 1975 đến 2025 tăng 89%) và các nước đang phát triển {tăng 347%) cũng trong thời gian đó) Như vậy, trái với quan niệm thông thường cho rằngvấn đề NCT chỉ liên quan đến các nước phát triển mà vấn đề NCT đã trở thành vấn đềtoàn cầu Trong tương lai gần {vào năm 2025), số NCT ở các nước đang phát triển sẽchiếm 72% tổng số NCT trên toàn thế giới {Hiện nay đang chiếm 52%) [33],
Tỷ lệ NCT so với dân số cũng sẽ tăng lên rất nhanh, từ 8,5% vào năm 1950 sẽ tănglên 13,7% vào năm 2025 và đến năm đó trên phạm vi toàn thế giới, cứ 7 người dân thì
sẽ có 1 NCT Tốc độ tăng cũng không đồng đều giữa các nước, trong đó Nhật Bản lànước có tốc độ già hoá dân số nhanh nhất thế giới
Trong số NCT thì người rất già {từ 80 tuổi trở lên) tăng nhanh và nhiều hơn cả.Trên toàn thế giới, vào năm 1950 số người rất già mới là 15 triệu (7%), sẽ tăng lên
111 triệu vào năm 2025, {tăng 640%) ở các nước phát triển, tỷ lệ tăng là 450%, còn
tỷ lệ này là 857% ở các nước đang phát triển, gần gấp đôi so với các nước phát triển.Ước tính đến năm 2025 trên phạm vi toàn thế giới sẽ có 17 nước có hơn 1 triệu người
từ 80 tuối trở lên [33], Nếu những NCT ở độ tuổi từ 60 đến 80 tuổỉ còn có thể tự lựcđược phần lớn công việc trong sinh hoạt hằng ngày thì những người từ 80 tuổi trở lênthường phải có sự giúp đỡ của gia đình hay xã hội Nếu số người từ 80 tuổi trở lêntăng nhiều, thì vấn đề y tế và xã hội đối với NCT sẽ trở thành một vấn đề rất lớn.Việt Nam với những nét đặc thù của những nước đang phát triển, do đó cùng với
Trang 14sự phát triển về kinh tế- xã hội của đất nước, tuổi thọ của con ngườingày càng được nâng cao và số NCT ở nước ta cũng ngày càng tăng Cơcấu dân số nước ta là dân số trẻ nhưng đang bước vào thời kỳ quá độchuyển đổi sang dân số già Ket quả điều tra dân số cho thấy số NCT ởViệt Nam tăng dần, chiếm 7,1% dân số (năm 1979), 7,2% (năm 1989),8,2% (năm 1999) Trong thập kỷ 80, tổng sổ NCT tăng 24% tương đươngvới mức tăng tổng dân số 22% Nhưng bước sang thập kỷ 90, số NCT tăng34% trong khi tổng số dân chỉ tăng 18%, như vậy mức tăng NCT gần gấpđôi so với mức tăng dân số chung [24],
Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, cả nước có 6,19 triệu NCT chiếm 8,2%dân số [24], năm 2005 là 6,6 triệu, năm 2010 theo dự đoán là 7,1 triệu và năm 2029 sẽ
là 16,5 triệu chiếm khoảng 17% dân số [20], Việt Nam chính thức trở thành quốc gia
có dân số già
1.1.3. Những thay đổi về tâm sinh lý và bệnh lý ỏ’ tuổi già.
Già là quá trình sinh học và quá trình hoá già xảy ra trong cơ thể với các mức độkhác nhau làm giảm hiệu lực các cơ chế tự điều chỉnh của cơ thể, giảm khả năng thíchnghi bù trừ do đó khó đáp ứng được những đòi hỏi của sự sống Trong quá trình hóagià, khả năng thích nghi với mọi biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rốiloạn (thích nghi với nóng, lạnh, các tác nhân tâm lý ), không phù hợp và không kịpthời, ở NCT có nhiều biến đổi và thường thấy những khác biệt giữa những ngườitrong cùng một lứa tuổi {cùng một độ tuổi, có người cao huyết áp nhưng có người huyết áp lại tháp, cùng một độ tuôi, có người măt đã mờ nhưng có người mắt vẫn còn tinh ) Mặc dù có những khác biệt khá đó nhưng tất cả NCT đều có đặc điểm chung là
sự giảm sút khả năng thích nghi với những thay đổi của môi trường xung quanh, cóthể coi đó là dấu hiệu bao giờ cũng có ở NCT
Khi tuổi cao, với việc trải qua nhiều năm tháng, mọi bộ phận của cơ thể đều cónhững biến đổi về hình thái và chức năng, do đó khả năng thích nghi với mọi biến đổicủa môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn
Nghiên cứu ở mức độ phân tử người ta thấy sự hoá già của cơ thể không đồngđều: một số mô không già hoặc già rất ít do luôn luôn được đổi mới như các tế bào
Trang 15biểu mô, nhưng sự đổi mới này không phải là vô tận Đen một mức độnào đó sẽ dẫn đến sự sai lầm trong tổng họp Prôtêin và dẫn đến cái chếtcủa tế bào Bên cạnh đó, có những tế bào không bao giờ đổi mới từ khiđược hình thành như các tế bào hạch của hệ thần kinh trung ương, những
tế bào này không có quá trình gián phân vì thế không nhân lên được, ởnhững tế bào này, các đại phân tử ADN không được đổi mới sẽ già đi, do
đó có hiện tượng “cứng” các đại phân tử Hậu quả là gây rối loạn ARNthông tin và giải mã, dẫn đến việc tổng hợp nên các Prôtêin không thíchhợp Khi các rối loạn đó liên quan đến Nuclêoprôtêin của nhân tế bào thì
tế bào sẽ chết
Trong quá trình già hoá, những biến đổi hình thái và chức năng trong các bộ phậncủa thể đơn bào, trong tế bào, mô, cơ quan và hệ cũng có thể biểu hiện khác nhau ởnhững vùng và những khu vực khác nhau, ở các thời điểm khác nhau trong đời sống
cá thể hay loài và những biến đổi này cũng xảy ra với những tốc độ khác nhau Nóicách khác, ở cùng một lứa tuổi, không phải chỉ có các cơ quan khác nhau mà cả cáckhu vực khác nhau của cơ quan, mô, tế bào cũng chịu những biến đổi với mức độkhác nhau, nghĩa là khu vực này {của tế bào, mô, hệ, cơ quan ) có thể già sớm hơn
các khu vực khác Sự khác nhau về khu vực, về thời gian, về động học của những biếnđổi khi già không chỉ có tính chất cá thể mà còn tuỳ thuộc vào dòng và loài nữa
về mặt sinh lý, biến đổi thường gặp nhất là giảm khả năng thụ cảm {giảm thị lực, khứu giác, vị giác, xúc giác ) Các cấu trúc xináp cũng giảm tính linh hoạt trong sự
dẫn truyền xung động Hậu quả là phản xạ vô điều kiện hình thành chậm hơn, yếuhơn Hoạt động thần kinh cao cấp có những biến đổi trong các quá trình cơ bản, giảm
ức chế rồi giảm hưng phấn Sự cân bằng giữa hai quá trình đó kém đi, dẫn đến rốiloạn hình thành phản xạ có điều kiện do đó thường gặp trạng thái cường giao cảm, rối
loạn giấc ngủ ở NCT {thường là giấc ngủ không sâu, ban ngày dễ ngủ gà).
về mặt tâm lý, nhiều NCT sống lâu sức khoẻ bình thường, vẫn giữ được mộtphong thái hoạt động thần kinh cao cấp như lúc còn trẻ Ở NCT khi sức khoẻ không
ổn định, tâm lý và tư duy thường biến đối và mức độ của những biến đổi ấy tuỳ
Trang 16thuộc vào quá trình hoạt động cũ, vào thể trạng chung và thái độ của người xungquanh Trong các biến đổi đó, có hai đặc tính chung là giảm tốc độ và giảm tính linhhoạt Lúc này NCT dễ có sự đậm nét hoá về tính cách cũ, giảm quan tâm đến những
người xung quanh, đến "Nhân, tình, thế, thái”, ít hướng về cái mới mà thường quay về
đời sống nội tâm Người già thường sợ cô đơn và dễ tủi thân Tuy trí nhớ và kiến thứcchung về nghiệp vụ vẫn khá tốt, nhưng ở vào thời điểm này NCT thường giảm khảnăng ghi nhớ những việc mới xảy ra và khó nắm bắt được những vấn đề trừu tượng.Song song với tuổi già, nhiều bệnh tật cũng xuất hiện, cấp tính hoặc mãn tính.Trên cùng một người cao tuổi có thể gặp một hoặc nhiều bệnh khác nhau, chính vìvậy những nhà Lão khoa đã nhấn mạnh đến tính chất đa bệnh lý ở tuổi già và tuổi già
đã và đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Sở dĩ như vậy là vì ởtuổi già, khả năng và hiệu quả của các quá trình tự điều chỉnh thích nghi của cơ thểgiảm đi rõ rệt: giảm khả năng hấp thu và dự trữ các chất dinh dưỡng, đồng thờithường có những rối loạn chuyển hoá, giảm phản ứng cơ thể, nhất là giảm sức tự vệđổi với các yếu tố gây bệnh như nhiễm trùng, nhiễm độc, các stress Chính vì vậy ởngười già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, nhất là các bệnh mãn tính [29] Tâm,sinh lý của người cao tuổi có nhiều thay đối, tạo điều kiện cho bệnh tật phát sinh nênsức khoẻ người cao tuổi thường kém Trong độ tuổi 60-69 có 40,2% số người có từ 4đến 5 bệnh, còn ở độ tuổi > 75 có đến 65,9% sổ người mắc trên 5 bệnh Trung bìnhmột người cao tuổi mắc 2,69 bệnh [28] Một trong những bệnh thường gặp ở ngườicao tuổi là tăng huyết áp (THA) Theo thống kê của Viện Lão khoa Quốc gia NCT cótăng huyết áp chiếm tỷ lệ nhiều nhất so với các lứa tuổi khác (45,6 %) [26], THA đãtrở thành một bệnh phố biến trong cộng đồng nhiều quốc gia Ngày nay cùng với sựgià hoá dân số cùng với đô thị hoá, công nghiệp hoá và ảnh hưởng của lối sống khônglành mạnh, làm tăng các yếu tố nguy cơ của bệnh THA Gần đây, người ta nhấn mạnhđến các hậu quả rất quan trọng như suy tim, bệnh thận giai đoạn cuối Chi phí Y tế, xãhội cho các biến chứng của bệnh THA là rất lớn
Trang 17áp được tính bằng mmHg Khi ghi chỉ số huyết áp người ta thường ghi HATĐ/HATT
(Ví dụ: 140/90 mmHg) [32].
Ngoài ra người ta còn đo huyết áp tĩnh mạch trong một số trường hợp nhất định,nhưng chỉ thực hiện trong bệnh viện khi thật cần thiết
1.2.2 Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA), thuật ngữ y khoa là Hypertension, thường được mệnh danh
là "kẻ giết người thầm lặng" bởi vì bạn có thể mắc bệnh này trong nhiều năm tháng màhoàn toàn không phát hiện ra nó Tăng huyết áp là một bệnh (THA nguyên phát) hay
chỉ là triệu chứng của một bệnh khác (THA thứ phát).
Tăng huyết áp là khi trị số HA đo được ở trên mức bình thường Tăng huyết áp cóthể là tăng cả HATĐ và HATT, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó Nhưng HATĐ
và HATT tăng lên tới bao nhiêu thì được gọi là THA những con số này cho đến nayvẫn là những con số quy ước và trước đây đã gây nên nhiều tranh luận
Đầu năm 1999, Tổ chức Y tế thế giới và Liên uỷ ban quốc gia về phát hiện, phòngngừa, đánh giá và điều trị bệnh THA lần thứ VI (JNC VI) có khuyến cáo mới về bệnhTHA vẫn khẳng định một người được coi là THA khi huyết áp đo được từ 140/90mmHg trở lên [30],
Năm 2003, Liên Uỷ ban quốc gia về phát hiện, phòng ngừa, đánh giá và điều trịbệnh THA lần thứ VII (JNC VII) [37] đã đưa ra chỉ dẫn về phân loại THA mới nhấtnhư sau:
Trang 18Phân loại THA theo JNC VII [37]
Phân loại HA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)
Theo phân loại HA của JNC VII thì:
- Con số HA bình thường trước kia là < 140/90 mmHg, nay hạ xuống nữa còn <120/80 mmHg Các chỉ số HA 120 - 139/80 - 90 JNC VII không coi là bình thường
nữa mà gọi là “tiền tăng HA" nghĩa là có nguy cơ bị THA thực sự sau này cao gấp 2
lần so với người có HA bình thường < 120/80 mmHg
- THA giai đoạn 1 (trước đây gọi là độ 1) vẫn như cũ, nghĩa là HA 140 - 159/90
-99 mmHg JNC VII bỏ khái niệm THA giới hạn
- THA độ 2 và 3, nay được JNC VII gộp lại gọi là THA giai đoạn 2, HA tâm thu >
160 Hoặc HA tâm trương > 100 mmHg vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau rõ ràng
và thái độ xử lý thì giống nhau [8],
THA là một hiện tượng đo được nhưng nguyên nhân không phải là luôn luôn tìmthây Vì vậy người ta chia làm 2 loại:
- THA nguyên phát: Là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, gọi là
bệnh THA Bệnh THA chiếm tới 90-95% trong tổng số người bị THA Các nhà khoahọc nhận thấy có một số yếu tố tác động, phối hợp gây bệnh và liên quan đến sự hìnhthành, tiến triển của THA nguyên phát, còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: ăn mặn,béo phì, nghiện rượu/thuốc lá, rối loạn Lipid máu, stress kéo dài, ít hoạt động thểlực các yếu tố trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một bệnh nhân Càngnhiều yếu tố tác động phối hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ tai biến doTHA càng nhiều, tiên lượng của bệnh càng xấu
- THA thứ phát: Là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là THA
triệu chứng Trong các trường hợp THA thứ phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làmcho HA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường
Trang 19Một số bệnh thận dẫn đến hậu quả THA như bệnh: viêm cầu thận cấp, bệnh thận đanang, teo thận, lao thận, bệnh thận do đái tháo đường , một số bệnh nội tiết cũng gâyTHA như: bệnh u tuyến thượng thận, u cường giáp trạng , các bệnh tim, mạch gâyTHA như: bệnh hẹp eo động mạch chủ gây THA chi trên, hạ HA chi dưới; bệnh viêmnút động mạch sau phẫu thuật tim mạch; nối động mạch vành; đóng lỗ thông liênnhĩ Ngoài các nguyên nhân chính trên còn có các nguyên nhân khác có thê gặp nhưnhiễm độc thai nghén, nhiễm độc Chì hoặc một số thuốc cũng gây THA như cácthuôc chông viêm steroid, thuôc tránh thai ở phụ nữ, những người dùng Cam thảo liềucao [25]
1.2.3 Thay đổi sình lý của huyết áp
Ở người bình thường không phải huyết áp lúc nào cũng ổn định Huyết áp luônthay đổi tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong một thời gian nhất định Đó là sự thay đổisinh lý của huyết áp:[27], [29]
- HA thay đổi theo tư thế: Khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng HA tăng nhẹ10-20 mmHg để đảm bảo cung cấp máu tốt hơn cho các bộ phận trong cơ thể
Tất cả những thay đổi HA có tính chất sinh lý chỉ ở mức giới hạn bình thườnghoặc cao hơn mức bình thường chút ít sau đó cơ thể tự điều chỉnh về mức bìnhthường mà không cần điều trị gì cả
- HA thay đổi theo tuổi tác: Tuổi càng cao HA có nguy cơ càng tăng dần do timphải làm việc nhiều nên lực tống máu của tim cũng giảm đi và do nhiều nguyên nhânkhác như: thành mạch bị xơ vữa lòng mạch bị co nhỏ gây THA
- HA thay đổi do trạng thái tâm lý: Như lo âu, bồn chồn, xúc động, thần kinh căng
thẳng, stress dễ dàng làm cho tăng hoạt động hệ thần kinh giao cảm giải phóng nhiềuAdrenalin và No-Adrenalin làm nhịp tim đập nhanh gây THA Trong y học còn nêuhội chứng “Áo choàng trắng”, đó là hiện tượng HA tăng vọt khi thầy thuốc đo HA vàvấn đề THA này hoàn toàn là do yếu tố tâm lý chứ không phải là bệnh lý
- HA thay đổi theo nhịp sinh học: Ở người bình thường trong một ngày qua theo
dõi HA được nhờ một máy đo HA tự động liên tục suốt 24 h người ta nhận thấy HAban ngày cao hơn ban đêm khoảng 20%, từ 2h đến 3h sáng là thời gian HA thấp nhất
Trang 20Người THA thì có tỷ lệ HA ban ngày cũng như HA ban đêm hoặc đảo ngượcban đêm cao hơn ban ngày Trong ngày, HA dao động nhẹ và tăng caovào một số thời điểm tạo thành các đỉnh cao, hiện tượng này gặp cả ởngười bình thường và người THA Ban ngày khoảng từ 9 - 12 giờ và khoảng
17 giờ là những thời điềm HA tăng lên cao hơn rồi lại giảm xuống chút ít.[29]
- HA tăng giảm theo thời tiết: Khi thời tiết thay đổi HA cũng dao động theo Trời
lạnh, mạch máu ngoại vi co lại để làm giảm sự thải nhiệt, giữ nhiệt cho cơ thế, nên
HA tăng lên Ngược lại, khi trời nắng nóng, mạch máu ngoại vi giãn ra nhằm tăng sựthải nhiệt để điều hoà nhiệt độ cho cơ thể thì HA lại hạ xuống
- HA thay đổi tuỳ theo sự hoạt động của cơ thể: Ke cả lao động trí óc lẫn chân
tay Khi cơ thể tăng cường vận động, nhu cầu ôxy và năng lượng đảm bảo cho hoạtđộng đó tăng lên, tim phải làm việc nhiều hơn bang cách tăng tần số và cường độ cobóp, do đó làm tăng huyết áp Khi nghỉ ngơi, HA trở lại bình thường Trong lao độngtrí óc cũng vậy, khi lao động trí óc căng thẳng kéo dài liên tục, HA có thể tăng lêncao
- HA có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc: Một số thuốc không kể các loại chuyên điều
trị tăng giảm HA cũng có thể làm tăng, giảm HA (ví dụ: Adrenalin, Caphein,corticoid, thuốc tránh thai, Cam thảo )
- HA thay đổi theo giới: Ở người bình thường HA ở nam cao hơn nữ khoảng 3 - 5
mmHg
1.2.4 Người cao tuổi với bệnh THA
Trước đây theo công thức LION thì HA ở NCT được tính theo công thức sau:
- Huyết áp tối đa — tuổi + 100 (mmHg)
- Huyết áp tối thiểu = (huyết áp tối đa : 2) + 10 hoặc 20 mmHgNhưng công thức này hiện nay không được áp dụng nữa, đánh giá huyết áp hiệnnay hoàn toàn dựa vào định nghĩa và phân loại của WHO/ISH - JNC, định nghĩa vàphân loại mới nhất là JNC VII Tuy nhiên tuổi càng cao, hệ thống động mạch càng bị
xơ cứng nhiều, sự co giãn đàn hồi của thành mạch ngày càng kém đi, lòng động
Trang 21mạch cũng bị hẹp hơn vì vậy dễ bị THA nhiều hơn
Như những lý do đã phân tích ở trên NCT có nguy cơ mắc THA cao hơn so vớicác lứa tuổi khác Tỷ lệ mắc, tỷ lệ biến chứng gây tử vong, tàn tật đều cao hơn nhữngngười trẻ tuổi Mặc dù HATT giảm nhẹ dần khi vượt qua 65- 70 tuổi trong khi đóHATĐ lại tiếp tục tăng song song cùng với tuổi đời do đó thường gây THA tâm thuđơn thuần Trước đây đã có ý kiến cho rằng tăng HATT là nguy hiểm hơn Tuy nhiênnăm 1984, WHO đã khẳng định tăng HATĐ cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọngtương đương với tăng HATT vì dễ gây nên tai biến mạch máu não Tuối càng cao tỷ
lệ THA càng tăng, năm 1999 Phạm Gia Khải và cộng sự nghiên cứu cho thấy ở độtuổi 16-24 tỷ lệ THA là 2,78%; 45-54 là 22,95%; trên 75 tuổi tỷ lệ này lên 65,46%[15] Theo tác giả Phạm Thắng, người cao tuổi mắc bệnh THA nhiều nhất so với cáclứa tuổi khác chiếm tỷ lệ 45,6% [29], THA là bệnh thường gặp ở NCT, nhưng nếukiểm soát tốt sẽ giảm được tỷ lệ đột quỵ 35 - 40%, nhồi máu cơ tim 20 - 25% và suytim > 50% [28]
Chẩn đoán THA ở NCT cần đặc biệt lưu ý các tình trạng sau:[32]
- Tăng huyết áp kiếu “Áo choàng trắng" (HA tăng cao thoáng qua khi bệnh nhân
đi khám ở bệnh viện): Chiếm khoảng 30% người già, nên cần phải đo huyết áp nhiềulần trước khi chẩn đoán
- THA giả tạo: (do thành mạch quá cứng, làm huyết áp tâm thu cao hơn thực tế):Chiếm khoảng 10% người già, khi khám thường thấy thành mạch cứng, dấu hiệu giậtchuông hoặc nghiệm pháp Osler dương tính
- Tụt HA tư thế: (ở tư thế đứng HATĐ > 20 mmHg hoặc HATT > lOmmHg so với
tư thế nằm), chiếm khoảng 20% người già
- Khoảng trổng HA: Người già thường hay gặp khoảng trống HA do nhịp tim
không đều, nên khi đo HA phải xả hơi thật từ từ và đo nhiều lần
1.2.5 Các yếu tố nguy CO' của bệnh THA
Qua nhiều nghiên cứu, người ta thấy có một số yếu tố liên quan mật thiết đến THA,làm THA dễ xuất hiện và nặng hơn Đó là các yếu tố nguy cơ hay các yếu tố đe doạ:
- Chế độ ăn nhiều chất béo, mỡ động vật: Chất béo, mỡ động vật có chứa nhiều
Trang 22- acid béo bão hoà làm tăng Cholesterol máu tạo điều kiện cho sựhình thành và phát triển bệnh xơ vữa động mạch
- Chế độ ăn mặn: Trên thế giới người ta đã nghiên cứu sâu vấn đề này và từ lâu đã
khẳng định là chế độ ăn mặn làm HA tăng cao, nhưng về cơ chế cụ thể thì chưa rõ,người ta chỉ biết nếu nồng độ Natri máu tăng cao, thì thành mạch máu nhạy cảm với
áp lực hơn Đối với NCT sự nhạy cảm của thành mạch cũng kém hơn so với người trẻtuổi, chính vì vậy trong điều trị THA ở NCT cần giảm muối ăn vừa phải trong chế độ
ăn, không nên giảm quá nhiều [1]
- Uống nhiều rượu, bia, cà phê chè đặc: uống nhiều rượu làm THA, làm mất
hoặc giảm tác dụng của thuốc chữa bệnh THA, nghiện rượu lâu ngày làm rối loạnhoạt động của vỏ não, làm yếu quá trình ức chế dưới vỏ của vỏ não, làm nặng thênquá trình rối loạn thần kinh chức năng, bia tuy có độ cồn thấp hơn nhưng khi uốngnhiều cũng có tác hại như uống rượu Cafein có trong cà phê, chè đặc vừa làm tim đậpnhanh, vừa làm tăng thêm sức co bóp của cơ tim nên có thể làm THA Uỷ ban quốcgia Hoa kỳ về phòng chống THA JNC VI khuyên mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1
ounce (tương đương 29,6 mt) Ethanol đối với nam và 1/2 ounce đổi với nữ và người
nhẹ cân uống thường xuyên một lượng rượu nhỏ cũng có tác dụng phòng các nguyênnhân gây tử vong nói chung và do tim mạch nói riêng, bởi vậy cũng không nên cấmhẳn mà chỉ cần uống điều độ [30]
- Hút thuổc lá, thuổc lào: Nicotin có trong thuốc lá, thuốc lào kích thích hệ thần
kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA Hút một điếu thuốc lá, HA tâm thu cóthể tăng lên tới 11 mmHg, HA tâm trương tăng lên tới 9 mmHg và kéo dài 20 -30phút, hút nhiều có thể có cơn THA kịch phát nguy hiểm
- Thế tạng béo phì: Có mối liên quan chặt chẽ giữa HA và trọng lượng cơ thể,người béo dễ bị THA, người tăng cân nhiều theo tuổi huyết áp cũng sẽ tăng nhanh
- Yếu tố di truyền: Người ta thấy rõ yếu tố di truyền trong THA Song hiện nay
vẫn chưa tìm thấy gen di truyền nào quyết định THA Rất nhiều nghiên cứu cho thấy
ở nhiều người THA thì trong gia đình, họ hàng của họ cũng có người THA
- Stress gia đình và xã hội: Stress có thường xuyên thì dễ gây nên bệnh THA,
Trang 23- trên nền bệnh THA thì gây cơn THA kịch phát nguy hiểm
- Ẩn ngủ sinh hoạt không điều độ- Đối với người bệnh THA, chế độ sinh hoạt,
làm việc và ăn ngủ lại càng phải khoa học, điều độ, làm sao cho trí não luôn đượcthoải mái Vì thế trong ngày NCT nên thu xếp công việc để có thời gian nghỉ ngơi hợp
lý, nghe nhạc, xem báo chí, chơi với các cháu nhỏ, lao động chân tay các công việcgia đình, chăm sóc cây cối, đảm bảo ngủ đủ, giữ được tâm hồn thoải mái, tránh stress,tránh mất ngủ làm cho hệ thần kinh giao cảm bị kích thích tiết ra Adrenalin và No-Adrenalin có tác dụng co mạch ngoại vi làm THA
- Sống tĩnh, ít hoạt động, không tập thể dục: Rèn luyện thể lực là một yêu cầu hết
sức quan trọng đối với tất cả mọi người bình thường, để giữ vững và nâng cao sứckhoẻ Cơ thể có khoẻ mạnh thì giúp cho việc chống đỡ với bệnh tật tốt hơn, hoạt độngthể lực và trí lực tốt hơn, có hiệu quả hơn, ăn khoẻ, ngủ ngon, tinh thần sảng khoái.Luyện tập đều đặn còn làm cho tim thích ứng được với yêu cầu cao về cung cấp máukhi gắng sức bất thường và làm tăng Lipoprotein HDL là loại Lipoprotein tốt có tácdụng phòng chống bệnh xơ vữa động mạch Trong số những người được theo dõi tạitrung tâm thể dục thể hình Cooper, người huyết áp bình thường ít hoạt động có nguy
cơ xuất hiện THA cao hơn 20 - 50% so với người được hoạt động nhiều, liên tục vàđều đặn [10]
- Tuổi đời và giới tính: Như chúng ta đã biết tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh THA
càng cao Điều tra của Trần Đỗ Trinh và cộng sự (1993) cho thấy tỷ lệ đó là 6% ở lứatuổi 16-39, đã tăng lên 21,5% ở lứa tuổi 50 - 59, 30,6% ở lứa tuổi 60 - 69 và 47,5% ởlứa tuổi 70 trở lên [23], Liên quan đến giới tính các điều tra trên Thế giới cũng chothấy tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn ở nữ giới Người ta đã chứng minh được rằng:Estrogen có tác dụng bảo vệ tim và thiếu Estrogen nội sinh khi tuổi già liên quan đến
tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở thời kỳ mãn kinh Estrogen cải thiện các thành phầnLipoprotein có tác dụng giãn mạch trên nội mạc và ức chế cơ trơn mạch máu đểkhông gây co mạch do đó không làm THA
- Mắc các bệnh kèm theo như: Xơ vữa động mạch, đái tháo đường, goutte Bệnh
THA hay đi cùng với bệnh kèm theo, thúc đẩy sự phát triển của nhau làm nặng
Trang 241.2 6 Biến chứng của THA
Tăng huyết áp là một bệnh lý tim mạch thường gặp và là nguyên nhân chính gây
ra các tai biến như: Tai biến mạch máu não (TBMMN), nhồi máu cơ tim, các biếnchứng mạch máu Thống kê của các tác giả trên thế giới đã cho thấy tần suất TBMMNtăng rất rõ ở những bệnh nhân THA, tần suất đó ở nam là 17%0, ở nữ 8%0, tăng lên51%0 và 35%O nếu là ở bệnh nhân THA [28], Gần đây, người ta nhấn mạnh đến cáchậu quả rất nghiêm trọng như suy tim, bệnh thận giai đoạn cuối Chi phí y tế, xã hộicho các biến chứng của bệnh THA là rất lớn
Ngày nay, sự già hoá dân số cùng với sự đô thị hoá, công nghiệp hoá và ảnhhưởng của lối sổng không lành mạnh, làm tăng các yếu tố nguy cơ của bệnh THA.THA cũng là một yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành Tử vong do bệnh mạch vành
sẽ tăng lên 59% vào năm 2010 so với năm 1995 và nếu tình trạng hút thuốc lá tăngthêm 10%, tử vong mạch vành sẽ tăng khoảng 75% Tính đến 2010, THA và số ca tửvong, tàn phế do đột quỵ sẽ tăng khoảng 55% [28] Tình hình đột quỵ sẽ diễn tiến xấunếu tình trạng nghiện rượu gia tăng hay mạng lưới y tế không đáp ứng được nhu cầuđiều trị THA của người dân [27],
1.3 Tình hình tăng huyết áp của NCT ỏ' Việt Nam và trên Thế giới
1.3.1 Trên thế giới
Tăng huyết áp từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Y học Thế giới vì sốngười bị THA ngày một tăng, hàng năm có hàng triệu người trên hành tinh bị tử vonghoặc tàn phế do THA gây ra Báo cáo lần thứ 7 của Liên uỷ ban Quốc gia về phòngngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị THA đã được tổng hợp dựa trên những công
trình nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng có giá trị {từ năm 1997 - 2003Ỵ Báo cáo lần
thứ 7 này do Viện Quốc gia tim, phổi và máu (National Heart, Lung and Bloodinstitute-NHLBI) chỉ đạo Uỷ ban điều phối chương trình quốc gia giáo dục THA(National High Blood Pressure Education Program Coordinating Committee-NHBPEP), định kỳ xem xét và thảo luận những thử nghiệm lâm sàng trên thế giới vềTHA, mồi năm 2 lần Ưỷ ban này đã chấp nhận JNC VII sau khi đã thảo luận và
Trang 25tham khảo ý kiến của các nhà chuyên khoa tim mạch Hoa Kỳ JNC VII đã đưa raphân loại HA hợp lý nhất và hướng dẫn việc quản lý và chăm sóc điều trị bệnh THAđúng quy chuẩn theo từng loại [37], Nhằm phát hiện và quản lý và chăm sóc điều trịbệnh tăng huyết áp đúng quy trình, hạn chế tối đa các trường hợp tai biến do THA,song tỷ lệ người bị THA được phát hiện vẫn còn thấp, bởi vì bệnh THA nguyên phátkéo dài nhiều thập kỷ cho đến khi người bệnh qua đời Trong thời gian khá dài banđầu, người bệnh thường không cảm thấy những biểu hiện gì đặc biệt, đôi khi có thấyđau đầu, mệt mỏi, ù tai hoặc tiếng đập trong tai nhưng lại nghĩ đến các bệnh kháchoặc bỏ qua mà không đến với thầy thuốc, thông thường bệnh được phát hiện nhânlúc bệnh nhân đi khám bệnh hay nhân các kỳ kiểm tra sức khoẻ định kỳ.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) qua điều tra cộng đồng cho thấy THA khôngđiều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm khoảng 70 - 75% ở bệnh nhân THA trêntoàn thế giới [1] Nghiên cứu về dịch tễ học ở BangKok - Thailand của Assantachai
và cộng sự (1998), trên 334 NCT sống ở các vùng khác nhau: tỷ lệ THA là 36,5%,trong đó 33,2% là tỷ lệ đã có trước và 3,3% mới phát hiện qua điều tra THA tâm thuđơn độc ở người già là 4,5% [34], Trong một nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc THA vàkiểm soát, điều trị THA của NCT ở Bangladesh, Án Độ, năm 2001, cho thấy tỷ lệhiện mắc THA của NCT là 65%, trong đó có 45% đã được phát hiện và điều trị, 40%điều trị bằng thuốc và chỉ có 10% là điều trị có hiệu quả [40] Theo thông báo của HộiTHA Tây Ban Nha năm 1996, tỷ lệ THA của nước này là 30% ở người trưởng thành,
tỷ lệ nhận biết và được điều trị ở thập kỷ 80 là 50%, nhưng sau đó nhờ hoạt độngtuyên truyền giáo dục sức khoẻ và quan tâm tích cực của y tế, kết quà đã tăng thêm20% [43]
Có ý kiến cho rằng không cần thiết phải điều trị bệnh THA ở NCT vì ở lớp người
đó huyết áp có thể tăng theo tuổi, nếu mức HA như ở người trẻ thì không có lợi choviệc tưới máu não, mặt khác điều trị dễ gây nên các tác dụng phụ có hại Các nghiêncứu trên thế giới cho thấy ý kiến đó là không đúng Công trình nghiên cứu EWPHEcủa Châu Âu cho thấy điều trị tốt bệnh THA ở NCT thì làm giảm được 27% tử vongchung về tim mạch, 38% tử vong do tim, 32% tử vong do tai biến mạch máu não,
r~~- ĩ — 2 *'
ì RƯỜNG ỠHY TÈ CUNCCỤNG
lniĩviọ- I sỏ: \ _
Trang 26giảm được 60% số taibiến tim mạch mà khônggây tử vong, đặc biệtgiảm 63% tai biến suytim [28].
1.3.2 Tại Việt Nam
Các nghiên cứu về THA tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ người mắc THA cũng tănglên rất nhanh, đặc biệt là THA ở NCT Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh và cộng sựnăm 1989-1992 cho thấy tỷ lệ THA là 11,7% trong đó THA chính thức là 5,1%, THAgiới hạn là 6,7%, ngoài ra THA không bền là 0,7% Tỷ lệ THA tăng lên theo tuổi,THA ở nam là 12,2%, cao hơn nữ 11,2% [23]
Theo Vũ Đình Hải, dân số Việt Năm 1989 có 64,4 triệu người, trong đó nhữngngười nhiều tuổi THA lại càng phổ biến hơn, từ 60-69 tuổi có 30,6% bị THA, 70 tuổitrở lên có 47,4% bị THA [7]
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và cộng sự năm 2001-2002 vềtần suất THA và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam trên tổng số 5012người dân từ 25 tuổi trở lên cho thấy tần suất THA chung {theo phân loại của JNC Vỉ năm 1997} chiếm tỷ lệ 16,32%, nếu loại trừ những đối tượng THA được điều trị thìtần suất THA chung này còn lại là 15,09% Trong số người phát hiện THA chỉ có11,5% được điều trị thuốc hạ HA Tần suất THA kể cả nhóm đã điều trị thuốc hạ HAtại các địa phương như sau thành phố Hà Nội 23,2%, tỉnh Nghệ An 16,6% tỉnh TháiBình 12,4%, tỉnh Thái Nguyên 13,9% Tần suất THA tăng dần theo tuổi, nam cao hơn
nữ, thành thị cao hơn nông thôn [16]
Theo công trình nghiên cứu của Trần đỗ Trinh và cộng sự năm 1989 - 1991,nghiên cứu tại các vùng đại diện, tỷ lệ THA tương ứng là: thành thị 33%, ven biển26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5% [23],
Điều tra của Viện Tim mạch Quốc gia cho thấy ở các vùng đã được khảo sát có tới67,5% số bệnh nhân không biết mình bị THA trước khi khám Tỷ lệ này chỉ có thegiảm được khi mạng lưới y tế làm tốt việc quản lý sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ ban
Trang 27đầu cho cộng đồng [8] Theo Điều tra Y tế Quốc gia 2001- 2002 tỷ lệ người từ 60-69tuổi tỉ lệ mắc THA là 30,6%; trên 70 tuổi tỉ lệ mắc THA là 47,4% [4].
Trang 28Theo tác giả Trần Đỗ Trinh và cs trong “Điều tra dịch tễ học bệnh THA" 1993 có:
67,5% bệnh nhân không biết mình bị THA, 15% biết bị THA nhưng không điều trị,13,5% có điều trị nhưng thất thường không đúng quy cách, 4% được điều trị đúngcách, 5% trả lời được y tế hướng dần cách phòng chống bệnh, 7% chỉ dùng thuốc
đông y {chủ yếu là hoa hoè), 96% các bệnh THA bị thả nổi cho số phận, công tác
tuyên truyền, theo dõi quản lý và điều trị người THA ở nước ta còn thấp, chưa đượcchú ý đúng mức [23] Nghiên cứu mới nhất gần đây tại Hà Nội cũng đưa ra kết luận: “
Tỷ lệ nhận biết bệnh và ý thức điều trị của người bị THA còn rất thấp", trong khi đó tỷ
lệ THA ở NCT lên tới gần 50% [9]
1.4 Công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ NCT trong phòng bệnh THA
Tăng huyết áp ở trẻ em và người trẻ tuổi thường là thứ phát, có nguyên nhân vàthường là THA cơn Ngược lại, THA ở người cao tuổi phần lớn là THA nguyên phát,không tìm được nguyên nhân và huyết áp thường tăng liên tục không thành cơn rõ rệt
Vì vậy điều trị THA chủ yếu là điều trị triệu chứng và phòng tránh các yếu tố nguy cơtrong ăn uống và sinh hoạt Đe giảm tỷ lệ mắc và biến chứng của bệnh THA phải cóhiểu biết tốt về vấn đề này Chính vì vậy công tác quản lý, chăm sóc điều trị và giáodục tuyên truyền trong cộng đồng về THA là rất cần thiết
Trong điều trị THA, người ta thưòng ít bàn tới tầm quan trọng của việc phòngbệnh, bởi các biện pháp phòng bệnh có vẻ tốt song chẳng được coi trọng đúng mức
khi thực hiện Khuyến cáo của INC VII nhấn mạnh: “Neu không phòng từ đầu, sẽ chẳng bao giờ có thể thanh toán được bệnh THA, còn chúng ta chi đơn giản là phát hiện và điều trị bệnh THA sẵn có Phòng bệnh từ đầu cho phép phá vỡ và ngăn chặn tiến triến vòng xoắn ton kém trong việc điều trị THA và các biến chứng của nó ”[30],
Tổ chức Y tế Thế giới năm 1999 đã đưa ra bảy lời khuyên để phòng và chốngbệnh THA, Vũ Đình Hải khuyên thêm lời khuyên thứ tám, thành “Tám lời khuyên dể
phòng và chữa bệnh THA" như sau: [7]
5 Cải tiên cách ăn
Trang 294 Giảm nửa muối ăn 8 Dùng thuốc đúng lời dặn của bác sỹ.
Tổ chức Y tế Thế giới khi đề ra “Sức khoẻ cho mọi người” và “Chăm sóc sức
khoẻ ban đầu” đã lấy GDSK làm 1 trong 10 nhiệm vụ cốt lõi “GDSK vẫn phải là cơ bản nhất, bởi lẽ mọi GDSK cuối cùng đều nhằm mục tiêu người bệnh tự giác thực hiện nghiêm túc thì mới mong có hiệu quả Vậy nhiệm vụ GDSK là gợi nhăc, thức tỉnh sự tự giác, tự nguyên và am hiểu của bản thân moi người dân chưa bị THA hoặc người đã là bệnh nhãn THA Đây là một công việc phải dựa vào cá tính, tư chất, tự giác, tự nguyện, ý chí, nghị lực, học vấn, vị tri xã hội cùa bệnh tâm lý học, hiểu biết
về đời sống tinh thần và cả tâm hồn người bệnh
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chăm sóc sứckhoẻ NCT, thể hiện qua việc ban hành hàng loạt Chỉ thị, quy định về chăm sóc NCT,đặc biệt là "Pháp lệnh người cao tuổi" ra đời năm 2000 tạo cơ sở pháp lý cho việcchăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Năm 2004, Bộ Y tế đã ra Thông tư hướng dẫn thựchiện công tác chăm sóc sức khoẻ NCT Trong đó nêu rõ: “To chức tuyên truyền, phổ biến các nội dung rèn luyện thán thế, tăng cường sức khoẻ và phòng bệnh nhất là các bệnh thường gặp ở NCT để NCT tự phòng bệnh ” là một trong những nội dung quan
trọng nhất [3] Chính vì vậy cần đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT
để NCT có điều kiện sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội
Trang 304 Giảm nửa muối ăn 8 Dùng thuốc đúng lời dặn của bác sỹ
Tổ chức Y tế Thế giới khi đề ra “Sức khoẻ cho mọi người” và “Chăm sóc sức
khoẻ ban đầu” đã lấy GDSK làm 1 trong 10 nhiệm vụ cốt lõi “GDSK vẫn phải là cơ bản nhất, bởi lẽ mọi GDSK cuối cùng đều nhằm mục tiêu người bệnh tự giác thực hiện nghiêm túc thì mới mong có hiệu quả Vậy nhiệm vụ GDSK là gợi nhắc, thức tỉnh sự tự giác, tự nguyện và am hiêu của bản thân môi người dân chưa bị THA hoặc người đã là bệnh nhân THA Đây là một công việc phải dựa vào cá tính, tư chất, tự giác, tự nguyện, ỷ chí, nghị lực, học ván, vị trí xã hội của bệnh tâm lý học, hiểu biết
về đời sổng tinh thần và cả tâm hồn người bệnh".
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chăm sóc sứckhoẻ NCT, thể hiện qua việc ban hành hàng loạt Chỉ thị, quy định về chăm sóc NCT,đặc biệt là "Pháp lệnh người cao tuổi" ra đời năm 2000 tạo cơ sở pháp lý cho việcchăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Năm 2004, Bộ Y tế đã ra Thông tư hướng dẫnthực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ NCT Trong đó nêu rõ: “To chức tuyên truyền, phổ biến các nội dung rèn luyện thán thể, tăng cường sức khoẻ và phòng bệnh nhất
là các bệnh thường gặp ở NCT đế NCT tự phòng bệnh ” là một trong những nội dung
quan trọng nhất [3], Chính vì vậy cần đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc sức khỏecho NCT để NCT có điều kiện sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội
Trang 31Chưong 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng nghiên cửu
Người cao tuổi ( người từ 60 tuổi trở lên) [31], bao gồm những người sinh từ
năm 1947 trở về trước, hiện đang sinh sống tại thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện,tỉnh Hải Dương, tâm thần bình thường, còn minh mẫn có khả năng giao tiếp đối thoạitrực tiếp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2007 đến tháng 9/2007
- Địa điểm nghiên cứu: thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
- Kết hợp giữa định tính và định lượng
2.4 Mầu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
- n : cỡ mẫu nghiên cứu
- p: Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng chống THA, ước tính là khoảng50% (0,5) - cho cỡ mẫu lớn nhất, bao hàm các chỉ số đo lường khác của nghiên cứunhư: thái độ đúng, thực hành đúng về phòng chống THA
- Z: Hệ số tin cậy, với a =0,05 ta có Z(l-a/2) = 1,96
- d: Độ chính xác mong muốn, trong nghiên cứu này sử dụng d = 5%= 0,05
- 4 Ta tính được cỡ mẫu: n = 385 người cao tuổi
Để có đủ cỡ mẫu cho nghiên cứu, ước tính có khoảng 10% số ĐTNC từ chối
Trang 32tham gia vào nghiên cứu hoặc không gặp được trong thời gian triển khai
nghiên cứu Do đó cõ mầu cần thiết cho nghiên cứu là: 420 NCT Thực tế
nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 398 NCT
2.4.1.2 Qui trình chọn mẫu
Sử dụng phưong pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:
- Bước ỉ: Lập khung mẫu: Thiết lập khung mẫu bằng cách thu thập số liệu thứ cấp làdanh sách NCT từ hội NCT thị trấn ta được khung mẫu là toàn bộ số lượng NCT của thịtrấn được đánh số thứ tự từ 1—> 1.266
- Bước 2: Tính khoảng cách mẫu: k = N/ n (Trong đó: k là khoảng cách máu, N là toàn bộ số NCT của thị trấn, n là cỡ mẫu nghiên cứu), từ đó ta tính được hệ số k =1.266/420 = 3,01 làm tròn giá trị là 3
- Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cún: Chọn một số ngẫu nhiên trong những số từ 1đến 3 là i, số được chọn sẽ là số thứ tự của NCT đầu tiên Những người tiếp theo sẽ có
số thứ tự là i + k, i + 2k, i + 3k và người thứ n có số thứ tự: i + n.k
2.4.2 Nghiên cứu định tính:Chọn mẫu có chủ định
Tổ chức thảo luận nhóm trọng tâm: tổ chức 2 nhóm thào luận, mỗi nhóm gồm 10người bao gồm những NCT tự nguyện tham gia
- Nhóm I: gồm những NCT có tăng huyết áp
- Nhóm II: gồm những NCT không bị tăng huyết áp Tổng cộng sẽ có 20 NCTtham gia
2.5 Phưong pháp thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
- Máy đo huyết áp (HA) cột thuỷ ngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản
- Bộ câu hỏi phỏng vấn thiết kế sẵn (Phụ lục /)
2.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vẩn: Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi thiết ke sẵn (Phụ lục /) Bộ câu hỏi được điều tra thử tại địa điểm nghiên cứu và được chỉnh sửa
hoàn thiện trước khi tiến hành thu thập số liệu
Trang 33- Đo huyết áp: Đổi tượng nghiên cứu đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
được điều tra viên đo huyết áp hai lần tại nhà vào buổi sáng bàng máy đo HA cột thuỷngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản Đo hai lần cách nhau ít nhất 5 phút Tất cả ĐTNC sẽđược kiểm tra lại HA vào buổi sáng ngày tiếp theo
- Điều tra viên: Bao gồm nghiên cứu viên và cán bộ y tế thị trấn tại địa bànnghiên cứu Tất cả điều tra viên được tập huấn kỹ về nội dung, yêu cầu của nghiên cứu,sau đó điều tra viên được hướng dẫn thực hành kỹ thuật đo HA, các kỹ năng giao tiếp vàphỏng vấn ĐTNC
- Giám sát viên' Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia điều tra, giám sát và hỗ trợ
giải quyết các vấn đề khó khăn phát sinh trong quá trình thu thập số liệu
2.5.2 Nghiên cứu định tính
2.5.2.1 Công cụ thu thập số liệu
- Nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm {Phụ lục 2)
- Máy ghi âm, máy ảnh, bút
2.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Các cuộc thảo luận nhóm do NCV trực tiếp thực hiện theo bảng hướng dẫn thảoluận nhóm {Phụ lục 2) cùng với sự hỗ trợ của 1 thư ký là học viên cao học và 1 cán bộ y
tế thị trấn
- Các cuộc thảo luận nhóm sẽ được ghi âm với sự đồng ý của người trả lời Sau khi kết thúc thảo luận nhóm NCV gỡ băng, kiểm tra lại thông tin thu được, phân tích bằng cách mã hoá thông tin theo chủ đề
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
2.6.1 Nghiên cứu định lượng
- Nhập liệu bàng phần mềm Epidata
- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 12.0
- Các kiểm định thống kê được sử dụng:
+ Kiểm định Khi bình phương (x2), kiểm định t
Trang 342.6.2 Nghiên cứu định tính
- Gỡ băng, trích dẫn những thông tin liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống THA, những quan điểm, quan niệm của NCT về THA, những khó khăn mà NCT cần được quan tâm, giúp đỡ trong việc phòng và điều trị THA
2.7 Các biến số, chỉ số nghiên cứu
2.7.1 Các biến sổ nghiên cứu
Biến số Khái niệm biến số/chỉ số Phân loại
Phiếuphỏngvấn
Phiếuphỏngvấn
5.Tình trạng hôn nhân - Có kết hôn
- Không kết hôn
- Có kết hôn hiện đã ly dị, ly thân
- Đã chết vợ/ chồng Độc thân, cô đơn
Địnhdanh
Phiếuphỏngvấn
6 Tình trạng gia đình
hiện tại NCT hiện đang sống cùng với ai: - Sống cùng với người trẻ - Chỉ có người từ 60 tuổi
Phiếuphỏngvấn
Trang 357 Nguồn thu nhập
hiện tại Là nguồn thu nhập mà NCT sử dụng đế chi
phí cho cuộc sống hàng ngày: - Có lương hưu, trợ cấp xã hội - Sống phụ thuộc vào con cái - vẫn đang làm việc để kiếm sống
Địnhdanh
Phiếuphỏngvấn
8.Tinh thần hiện tại Là trạng thái tình cảm mà NCT cảm nhận
Phiếuphỏngvấn
9 Tình trạng kinh tế
gia đình NCT thuộc diện hộ nghèo hay không nghèo.Phân loại theo: (Quyết định sổ
170/2005/QĐ-TTg cùa Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuân nghèo ảp dụng cho giai đoạn 2006- 2010)
Phân loại phỏngPhiếu
2 Tiền sử tăng HA
của bản thân ĐTNC THA hoặc đã từng đang được đo dùng thuốc hạ HA có giấyvà chẩn đoán là
tờ hoặc đơn thuốc của nhân viên y tế
Định danh phỏngPhiếu
vấn
3 Tiền sử tăng HA
của gia đình Những người đã mắc THA có cùng huyếtthống với ĐTNC: Bo/mẹ/anh/chị/em
ruột/cậu/ dì/cô/chú/bác/ông/bà( nội, ngoại) của ĐTNC
Định danh phỏngPhiếu
Phiếuphỏngvấn
- > 6 tháng/lần
- Không biết
- Khác
Địnhdanh
Phiếuphỏngvấn
Trang 364 Kiến thức về các
dấu hiệu của THA
Hiểu biết của ĐTNC về các dấu hiệu của THA:
Phiếuphỏngvấn
5 Kiến thức về sự
nguy hiểm của THA
Đánh giá chủ quan của của ĐTNC về sự nguy hiểm của THA:
-Có
- Không biết
- Không biết
Địnhdanh
Phiếuphỏngvấn
6 Kiến thức về các
biến chứng của THA
Hiểu biết của ĐTNC về các biến chứng của THA:
- TBMN (ngã, ngất, liệt, hôn mê, đột tử)
Phiếuphỏngvấn
- Uống rượu, bia
- Hút thuốc lá, thuốc lào
- Lo lắng buồn rầu, căng thẳng thần kinh - Khône, biết
Địnhdanh
Phiếuphỏngvấn
Phiếuphỏngvấn
Trang 37Định danh
Phiếu phỏng vấn
2 Thực hành dùng
thuốc điều trị THA
Thực hành của NCT bị THA về: - Loạithuốc điều trị - Thời gian dùng thuốc
3 Thực hành phòng
phòng tăng HA
Thực hành của NCT bị THA về: - Điều chỉnh lối sống - Sinh hoạt và luyện tập thể lực
Định danh
Phiếu phỏng vấn
4 Đánh giá chung về
thực hành phòng
chống tăng HA
Đánh giá chung về thực hành phòng chống THA của NCT có đạt hay không theo bảng
Phiếuphỏngvấn
2.7.2 Các chỉ số nghiên cứu
Tổng số ĐTNC có THA1/Tỷ lệ THA hiện mắc = — — X 100%
Tổng số NCT được điều tra
Tổng số ĐTNC có kiến thức đạt2/ Tỷ lệ NCT có kiến thức đạt = — -X 100%
Tổng số NCT được điều tra
Tổng số ĐTNS thực hành đạt3/ Tỷ lệ NCT thực hành THA đạt = — -: - -— X 100%
Tong số NCT được điều tra
2.7.3 Một so khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá dùng trong nghiên cứu
1/ Huyết áp (HA): Là áp lực máu có trong động mạch, do tim co bóp đẩy máu từ
thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng do ảnh hưởng của lực cản thành động mạch Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp ô xy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể HA mà người ta thường gọi là áp lực máu
Trang 383/ Tăng huyết áp: Cho đến nay, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization
-WHO) và hội Tăng huyết áp Quốc tế (International Society Hypertension - ISH) đãthống nhất gọi là THA khi HATĐ > 140 mmHg và/ hoặc HATT > 90 mmHg [1]
(Trong nghiên cứu này NCT có THA bao gồm những NCT đã từng được đo và chẩn đoán là THA hoặc đang dùng thuổc hạ HA có giấy tờ hoặc đơn thuốc của nhân viên y
tế, NCT được đo và phát hiện có THA trong lần đo HA của nghiên này)
- Phân loại tăng HA dựa vào phân loại tăng HA của Liên Uỷ ban Quốc gia về phòngngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị bệnh tăng HA lần thứ 7(JNC VII), năm 2003 [37]
Phân loại tăng HA ở người lớn JNC VII 2003
4/ Hạn chế rượu, bia: Theo hướng dẫn của JNC VII là lượng rượu, bia hàng ngày dưới
30ml Ethanol, 720ml bia, 300ml rượu vang [37]
5/ Hoạt động thể lực: Tập thể dục thể thao, đi bộ: Đổi với NCT sau buổi tập đếm
mạch cổ tay nếu mạch tăng lên khoảng 20 lần so với trước khi đi là vừa, cần tập thường xuyên, đều đặn hàng ngày, khoảng 15 phút mồi ngày [26]
Trang 396/ Hạn chế ăn muối: Muối ăn (Natri cloruà), mì chính (Natri Gluconate) < 6 g/ngày
(1 thìa cà phê) [7]
7/ Stress tâm lý: là một tiến trình mà bằng cách đó con người phản ứng lại các sự
kiện, môi trường và tâm lý mà được nhận thức là đe doạ và thách thức [21],
2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng chophép theo Quyết định số 39/2007/YTCC- HD3 ngày 31/5/2007
- Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Lãnh đạo UBND, Phòng Y tế, Trungtâm Y tế Dự phòng và Hội Người cao tuổi Thị trấn Thanh Miện huyện Thanh Miện
- Đối tượng điều tra đã được các điều tra viên giải thích cụ thế về mục đích củanghiên cứu Sự tham gia của các ĐTNC là hoàn toàn tự nguyện Phiếu phỏng vấn đượcthiết kế khuyết danh để đảm bảo không biết được đối tượng trả lời cụ thế là ai Đốitượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu ở bất kỳ thời điểm nào trongquá trình nghiên cứu
- Số liệu của các cuộc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi điều tra và của các cuộc thảoluận nhóm đưọ'c giữ kín, đảm bảo tính riêng tư của các đối tượng nghiên cứu
- Đảm bảo tính chính xác và trung thực đối với những thông tin thu được từ kếtquả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm mục đích biết cụ thể hơn kiến thức, thựchành về phòng chống THA của NCT trong thị trấn, đề xuất những khuyến nghị phù hợptrong việc thông tin giáo dục truyền thông về lĩnh vực này một cách phù hợp và có hiệuquả, không phục vụ cho mục đích nào khác
- Ket quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại cho nơi tiến hành nghiên cứu
Trang 40Chưong 3 KÉT QUẢ NGHIÊN cứu
Nghiên cứu dự định tiến hành phỏng vấn 420 NCT theo cỡ mẫu đã chọn Tuy nhiêntrong quá trình điều tra có 22 NCT từ chổi tham gia vào nghiên cứu Do đó chúng tôi
đã tiến hành phỏng vấn 398 NCT tại thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh HảiDương Chúng tôi tiến hành phân tích kết quả phiếu phỏng vấn của 398 NCT trongnghiên cứu định lượng, hai cuộc thảo luận nhóm trong nghiên cứu định tính Kết quảnghiên cứu được trình bày dưới đây:
3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Phân bố theo nhóm tuồi
Trong tổng số 398 NCT tham gia vào nghiên cứu có 156 nam (chiếm 39,2%) và
242 nữ (chiếm 60,8%) Tỷ lệ phân bố ở các nhóm tuổi không đồng đều Nhóm tuổi 60
- 64 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 29,9% (119 cụ) Nhóm tuổi từ 85 trở lên chỉ chiếm 3,5%(14 cụ) Tuổi càng cao thì số lượng NCT càng giảm, tuổi càng cao thì tỷ lệ người caotuổi là nữ càng tăng Đặc biệt là nhóm tuối > 85, tỷ lệ người cao tuổi là nữ chiếm tới85,7%