1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011

116 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Thức, Thái Độ, Thực Hành Phòng Tránh Bỏng Tại Nhà Trẻ Cho Trẻ Dưới 5 Tuổi Của Người Chăm Sóc Trẻ Chính Và Các Yếu Tố Liên Quan Tại Phường Dịch Vọng Hậu
Tác giả Lê Thị Yến
Người hướng dẫn T.s Hồ Thị Hiền
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 670,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người chăm sóc trẻ NCST chính là người trông nomchăm sóc gần kề bên trẻ nhiều nhất vì vậy việc trẻ bị bỏng hay không liên quan trựctiếp đến kiến thức, thực hành của NCST chính.ở Việt Nam

Trang 1

KIẾN THỨC, THÁI Độ, THựC HÀNH PHÒNG TRÁNH BỎNG

Trang 2

lực cổ gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, ủng hộ, động viên

từ nhà trường, các thầy cô giáo, cơ quan, gia đĩnh và bạn bè.

Lời đầu, tôi xỉn được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, các phòng, ban của Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điểu kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập Đặc biệt tôi xỉn bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn luận văn Hồ Thị Hiền, đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ và cho tôi những ỷ kiến đóng góp quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.

Xỉn trân trọng cảm ơn Trung tâm Y tế Dự phòng Quận cầu Giấy, Trạm Y tế phường dịch vọng Hậu đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu.

Xin trân trọng cảm ơn trường Cao đẳng sư phạn Trung Ương đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trĩnh học tập.

Tôi xin gửi lời cảm ơn và những tình cảm tốt đẹp đến bạn bè, các bạn lớp Cao học 13 đã giúp đỡ tôi rất nhiều.

Cuôi cùng, tôi xin gửi đến gia đĩnh tôi lòng biết ơn sâu sắc Gia đình đã luôn ở bên tôi, là chỗ dựa vững chắc để tôi có thể yên tâm học tập.

Trang 3

DANH MỤC BIÊU Đồ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỰC TIÊU NGHIÊN cứu 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 5

1 Một số kiến thức về bỏng 5

2 Bỏng ở trẻ em 7

3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới bỏng 18

4 Chương trình phòng tránh bỏng ở trẻ em 24

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 25

1 Đối tượng nghiên cửu 25

2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

3 Thiết kế nghiên cứu 25

4 Phương pháp chọn mẫu 25

5 Phương pháp thu thập số liệu 26

6 Phương pháp phân tích sổ liệu 27

7 Các biến số nghiên cứu 28

8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu 31

9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34

10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 34

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 36

1 Kết quả về kiến thức, thái độ, thực hành 36

1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 36

1.2 Kiến thức của NCST về bỏng và các biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ .38 1.3 Thái độ về bỏng và và biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ< 5 tuổi 44

Trang 4

1.5 Tiếp cận và trao đổi thông tin về phòng tránh bỏng ở trẻ 48

1.6 Thực trạng mắc bỏng và và xử trí khi trẻ bị bỏng 50

2 Ket quả nghiên cứu phân tích mối liên quan 51

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 56

1 Thông tin chung 56

2 Kiến thức về phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi của NCST 58

3 Thái độ về phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi củaNCST 63

4 Thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi của NCST 64

5 Tiếp cận và trao đổi thông tin về phòng tránh bỏng cho trẻ nhỏ 67

6 Thực trạng mắc bỏng và xử trí khi trẻ bị bỏng 68

7 Mối liên quan giữa một số yếu tố với kiến thức, thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi 69

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 73

CHƯƠNG VI: KHUYẾN NGHỊ 75

PHỤ LỤC 79

Phụ lụcl: PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI CHÀM SÓC TRẺ 79

Phụ lục 2: CÁCH CHẤM ĐIẾM KIẾN THỨC, THÁI Độ, THựC HÀNH 94

Phụ lục 3: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN cứu 96

Trang 5

tế công cộng

TĐHV

TYT

YTCC

Trang 6

Bảng 1.3 Đặc điểm chung của trẻ trong các hộ gia đình 38

Bảng 1.4 Kiến thức của NCST về nguy cơ mắc và hậu quả của bỏng 38

Bảng 1.5 Kiến thức củaNCST về nguyên nhân gây bỏng ở trẻ 39

Bảng 1.6 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây bỏng nhiệt khô cho trẻ < 5 tuổi 40

Bảng 1.7 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây bỏng nhiệt ướt cho trẻ < 5 tuổi 40

Bảng 1.8 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây bỏng do điện, hoá chất cho trẻ < 5 tuổi 41 Bảng 1.9 Kiến thức về các biện pháp phòng tránh bỏng nhiệt khô cho trẻ ổi 41

Bảng 1.10 Kiến thức vềcác biện pháp phòng tránh bỏngnhiệt ướt cho trẻ <5tuổi42 Bảng 1.11 Kiến thức vềcác biện pháp phòng tránh bỏngdo điện, hoá chất 43

Bảng 1.12 Kiến thức vềxử trí ban đầu khi trẻ bị bỏng 43

Bảng 1.13 Thái độ về bỏng và và biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5tuổi44 Bảng 1.14 Phối họp việc vừa trông trẻ vừa làm các công việc khác 45

Bảng 1.15 Thựchành phòng tránh bỏng nhiệt khô cho trẻ < 5 tuổi 46

Bảng 1.16 Thực hành phòng tránh bỏng nhiệt ướt cho trẻ < 5 tuổi 46

Bảng 1.17 Thực hành phòng tránh bỏng do điện, hóa chất cho trẻ < 5 tuổi 47

Bảng 1.18 Thựchành phòng tránh cháy nổ cho trẻ < 5 tuổi 48

Bảng 1.19 Nguồn thông tin mà NCST chính đã được nhận 49

Bảng 1.20 NCST tham gia thảo luận với các thành viên khác trong gia đình về cách phòng tránh bỏng cho trẻ 50

Bảng 1.21 Cách xử trí khi trẻ bị bỏng 51

Bảng 2.1 Mối liên quan giữa một số yếu tố và kiến thức phòng tránh bỏng 51

Bảng 2.2 Mô hình hồi quy logic dự đoán những yếu tố liên quan đến kiến thức phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi của NCST 52

Bảng 2.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố và thái độ phòng tránh bỏng 53

Bảng 2.4 Mối liên quan giữa một số yếu tổ và thực hành phòng tránh bỏng 54

Trang 7

Bảng 2.5 Mô hình hồi quy logic dự đoán những yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi 55

Trang 8

DANH MỤC BIẺU ĐÒ

Biểu đồ 1.1 Phân loại kiến thức về phòng tránh bỏng cho trẻ < 5 tuổi 44

Biểu đồ 1.2 Thái độ chung của người chăm sóc chính cho trẻ 45

Biểu đồ 1.3 Phân loại thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi 48

Biểu đồ 1.4 Nhận thông tin về bỏng và phòng tránh bỏng 49

Trang 9

hết các quốc gia trên thế giới Ở Việt nam, bỏng là một trong những TNTT gặp hàngđầu ở trẻ em đến cấp cứu tại các bệnh viện, sau ngã và tai nạn giao thông Phần lớncác trường hợp TNTT trẻ em xảy ra tại nhà với các nguyên nhân phổ biến như ngã,bỏng, súc vật cắn, ngộ độc Với trẻ dưới 5 tuổi, bỏng là một trong những tai nạnthương tích thường gặp trong sinh hoạt và diễn biến bệnh bỏng ở trẻ em nặng, phứctạp, tỷ lệ tử vong khá cao, để lại di chứng làm ảnh hưởng nặng tới tâm lý, thẩm mỹcũng như sự phát triển của trẻ Người chăm sóc trẻ (NCST) chính là người trông nomchăm sóc gần kề bên trẻ nhiều nhất vì vậy việc trẻ bị bỏng hay không liên quan trựctiếp đến kiến thức, thực hành của NCST chính.

ở Việt Nam, một số nghiên cứu y tế công cộng về bỏng, đặc biệt là bỏng ở trẻnhỏ cũng đã được tiến hành để xác định tỷ lệ mắc bỏng theo nhóm tuổi, mối liênquan giữa một số yếu tố như tuổi, giới, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn của cha

mẹ, số con trong gia đình với nguy cơ xảy ra bỏng và tử vong do bỏng Một sốnghiên cứu cũng đã tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng cho trẻnhỏ của người chăm sóc Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu như vậy không nhiều,

Trang 10

chính trong gia đình.

Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành củaNCST chính được đề xuất thực hiện trên địa bàn phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầugiấy, Hà nội, đây là phường có tỷ lệ trẻ bị bỏng cao nhất Quận cầu Giấy năm 2009với mục tiêu 1/ Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻdưới 5 tuổi của NCST chính trên địa bàn phường 2/ Xác định mối liên quan giữa một

số yếu tố với kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ nhỏ dưới

5 tuổi của NCST chính tại phường Dịch Vọng Hậu, cầu Giấy, Hà Nội

Trang 11

Có 264 NCST chính trẻ dưới 5 tuổi tại gia đình của phường Dịch Vọng Hậu đượcchọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống và đượcphỏng vấn bằng bộ câu hỏi định lượng.

Nhìn chung, tỷ lệ NCST chính có kiến thức đạt cao nhưng thực hành phòngtránh bỏng cho trẻ nhỏ tại gia đình đạt thấp và việc xử trí khi trẻ bị bỏng tại hộ giađình còn nhiều hạn chế Có 77,6% NCST có kiến thức phòng tránh bỏng cho trẻ nhỏđạt và chỉ có khoảng 1/3 (38,3%) NCST thực hành đạt Kiến thức về xử lý ban đầukhi bị bỏng còn hạn chế như có 100% NCST cho rằng cần làm mát chỗ bỏng bằng đáhoặc nước đá Thực hiện các biện pháp phòng tránh bỏng cũng còn chưa được chútrọng, đặc biệt biện pháp phòng tránh bỏng do cháy nổ Cụ thể chỉ có 56,8% NCSTchính biết được số điện thoại cứu hỏa 114 và 12,5% hộ gia đình lắp thiết bị báo cháy

Nghiên cứu cho thấy NCST có trình độ học vấn (TĐHV) từ phổ thông trunghọc (THPT) trở lên có khả năng có kiến thức về phòng tránh bỏng đạt cao gấp 3,2 lầnnhững NCST có trình độ học vấn thấp hơn (p<0,001) NCST được tiếp cận thông tin

phòng tránh bỏng cho trẻ có kiến thức phòng tránh bỏng cho trẻ nhỏ đạt cao gấp 2,3lần so với NCST không được tiếp cận (p<0,05) NCST chính là mẹ của trẻ có khảnăng thực hành đạt thấp hơn 0,44 lần những CSTC không phải là mẹ (p<0,05) NCST

có kiến thức phòng tránh bỏng đạt có khả năng thực hành phòng tránh bỏng đạt caogấp 2,3 lần NCST có kiến thức chưa đạt (p<0,05)

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết mở rộng các chương trình truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về phòng tránh cháy nổ, về cách xử lý ban đầu khi trẻ

bị bỏng, đặc biệt là NCST chính có trình độ văn hóa thấp và nâng cao thực hành phòng tránh bỏng cho NCST chính đặc biệt là mẹ của trẻ thông qua các hoạt động truyền thông đa dạng

Trang 12

Ở trẻ em, tỷ lệ bỏng luôn cao nhất và là một trong những nguyên nhân hàngđầu dẫn đến tử vong do TNTT tại nhà ở trẻ em Hàng năm trên thế giới có khoảng60.000 bệnh nhân bỏng tử vong Ở Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 1,4-2 triệu người bịbỏng, khoảng 7.000 - 108.000 bệnh nhân bỏng phải điều trị tại bệnh viện, khoảng6.500 - 10.000 bệnh nhân tử vong do bỏng Ở Anh hàng năm có khoảng 140.000người, ở Pháp có khoảng 150.000 người bị bỏng [10, 20].

Bỏng là một trong những TNTT gặp hàng đầu ở trẻ em đến cấp cứu tại cácbệnh viện ở nước ta sau ngã và tai nạn giao thông [12] Trẻ em là đối tượng rất dễ bịbỏng Trẻ em thường chiếm từ 50 - 55% trong tổng số bệnh nhân bỏng được tiếpnhận điều trị tại các cơ sở y tế Chỉ riêng viện Bỏng Quốc gia hàng năm đã tiếp nhậnđiều trị từ 1500-2000 trẻ em bị bỏng [10]

Lứa tuổi bị bỏng nhiều nhất là trẻ dưới 5 tuổi Lứa tuổi này trẻ rất hiếu độngthích khám phá xung quanh nhưng lại chưa ý thức được nguy cơ bị bỏng và chưa cókhả năng tự phòng tránh Ket quả nghiên cứu hồi cứu của Hồ Thị Xuân Hương vềdịch tễ bỏng trẻ em từ năm 1985 đến năm 2007 tại Viện Bỏng Quốc gia cho thấy tuổi

bị bỏng hay gặp nhất là dưới 5 tuổi chiếm 77,8% và tai nạn bỏng chủ yếu xảy ra ởnhà chiếm 88,7% [24] Kết quả nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bỏng ở trẻ em điềutrị tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2003 của Trần Văn Nam và cộng sự chothấy tuổi mắc bỏng nhiều nhất là trẻ em dưới 5 tuổi, chiếm 65,7% [12]

Bỏng ở trẻ em dù xảy ra trên diện tích nhỏ cũng có thể gây những hậu quảnghiêm trọng như sốc do mất nước, điện giải, huyết tương , nhiễm khuẩn, nhiễmđộc, gầy mòn và có thể dẫn đến tử vong Các vết bỏng nặng đều gây tổn thương

Trang 13

nghiêm trọng để lại sẹo vĩnh viễn, ảnh hưởng đến cử động do dính,

co kéo thậm chí gây cắt cụt chi, cứng khớp làm biến dạng cơ thể Tỷ lệ

tử vong và di chứng do bỏng ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi cũng cao hơn hẳn sovới các nhóm tuổi khác Vì vậy việc phòng tránh bỏng cho trẻ < 5 tuổiphụ thuộc rất nhiều vào người lớn đặc biệt là NCST chính - người trôngnom chăm sóc gần kề bên trẻ nhiều nhất

Các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tạinhà cho trẻ nhỏ dưới 5 tuổi - là đối tượng có nguy cơ cao bị bỏng và tử vong do bỏngchưa nhiều, chủ yếu lồng ghép trong các nghiên cứu về TNTT nói chung, có ítnghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành đối với từng yếu tố nguy cơ, từng tácnhân gây bỏng

Cầu Giấy là một Quận nội thành với dân số trung bình toàn Quận là 208.300người (tính đến ngày 18/11/2009), với 45.213 hộ gia đình, trong đó, trẻ em dưới 5tuổi là 14,715 Cầu Giấy là Quận có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, dân số tăng không

ổn định Từ năm 2008, Quận đã triển khai xây dựng mô hình điểm cộng đồng an toànphòng chống tai nạn thương tích tại 3 phường là Dịch Vọng Hậu, Nghĩa Đô, DịchVọng Theo số liệu báo cáo năm, trên địa bàn Quận có 8 trường hợp bị bỏng trong đó

2 trường hợp là trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 13,6/100.000 trẻ (toàn quốc năm 2008 là13,5/100.000 trẻ)

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào về “Kiến thức, thái độ, thực hành phòngtránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ” trên địa bàn Quận.Dịch Vọng Hậu là phường có tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí khôngđồng đều, có mật độ dân cư cao nhất quận (-28.000 người), chia làm 55 tổ dân phố,

số sinh viên cư trú và người dân các tỉnh về làm ăn thuê trọ là trên 6.000 người, trong

đó hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi là 1677 hộ Theo số liệu về TNTT trạm y tế phườngnăm 2009 cho có 6 trường hợp bị bỏng chiếm số lượng nhiều nhất Quận Tuy nhiênTNTT nói chung và bỏng nói riêng ở trẻ em có xảy ra hay không phụ thuộc rất nhiềuvào kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ Vậy những người chăm sóc trẻdưới 5 tuổi ở Phường Dịch Vọng Hậu có hiểu biết như thế nào về các yếu tố nguy cơcũng như các biện pháp phòng tránh và xử trí bỏng, họ đã làm

Trang 14

những gì để ngăn ngừa tai nạn bỏng xảy ra cho trẻ ngay chính tạingôi nhà - nơi được coi là an toàn với trẻ? Những yếu tố nào có liên quanđến những kiến thức và thực hành này của người chăm sóc trẻ?

Nghiên cứu “Kiến thức, thải độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tổ liên quan tại Phường Dịch Vọng Hậu, cầu Giấy năm 2011” được tiến hành với mong muốn giải đáp những câu

hỏi trên và phần nào giúp Y tế phường Dịch Vọng Hậu có được thông tin về kiếnthức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng của NCST từ đó góp phần điều chỉnh cáchoạt động nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thúc đẩy thực hành phòng tránh bỏngcho trẻ nhỏ tại nhà

Trang 15

trẻ dưới 5 tuổi của NCST chính tại phường Dịch Vọng Hậu, cầu Giấy, Hà Nội, năm 2011.

2 Xác định một số yểu tố liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5 tuổi của NCST chính tại phường DịchVọng Hậu, cầu Giấy, Hà Nội, năm 2011

Trang 16

1.1 Khái niệm chung về bỏng

Bỏng là tổn thương mô tế bào do tác dụng trực tiếp của sức nóng, luồng điện,hoá chất, bức xạ được gọi chung là bỏng

Mức nhiệt độ giới hạn gây hại cho mô tế bào cơ thể con người từ 45°c đến50°C Nếu nóng tới 50°C thì tổn thương có thể phục hồi, nếu nóng tới 60°C các thànhphần protein bị thoái biến, tổn thương không thể phục hồi Tính chất tổn thương củabỏng phụ thuộc vào nguyên nhân gây bỏng, hoàn cảnh xảy ra, vị trí cơ thể bị bỏng.Mức độ tổn thương thể hiện bằng diện tích bỏng và độ sâu bỏng Người bị bỏng da cóthể kết họp với bỏng một số cơ quan khác, thường là đường hô hấp, mắt

Tổn thương bỏng khi bị nặng hoặc kéo dài gây biến đổi và rối loạn các chứcphận toàn thân được gọi tổng hợp là bệnh bỏng Bệnh bỏng thường có các biến chứngcấp xuất hiện và làm nặng thêm tiến triển của bệnh, đồng thời cũng xuất hiện trong

cơ thể người bị các quá trình chống đỡ, phục hồi, miễn dịch Khi khỏi cơ thể có thểphục hồi hoàn toàn hoặc để lại các di chứng tại chỗ hoặc toàn thân

1.2 Phân loại tổn thương bỏng

Trang 17

- Bỏng độ I (Viêm da cấp do bỏng): Da khô đỏ, đau rát, sau 2-3 ngày khỏi.

- Bỏng độ II (Bỏng biểu bì); Trên nền da viêm cấp có thấy các nốt phổngchứa dịch trong hoặc vàng nhạt Các nốt phổng này có thể xuất hiện muộn sau 12-24giờ bị bỏng Sau 3-4 ngày hiện tượng viêm đỡ, tại các nốt phổng dịch cô đông lại

- Bỏng độ III trung bì (bỏng trung bì nông và bỏng trung bì sâu): thể hiệndưới hình thức nốt phổng có vòm dầy, nền nốt phổng mầu đỏ tím sẫm hoặc trắng,hoặc có rỉ máu và còn cảm giác, dịch nốt phổng có thể mầu hồng hoặc có máu rỉ

Trang 18

da các bộ phận khác dưới da như cân, gân, cơ, xương, khớp, mạch máu, thần kinhhoặc một số tạng cũng có thể bị bỏng Loại bỏng này thường gặp ở bỏng điện, bỏnggang, bỏng lửa khi cháy lâu trên cơ thể, ở người bị mất tri giác khi bị bỏng.

1.2 Các hoàn cảnh gây ra bỏng

Có các nguyên nhân gây bỏng chính như sau:

- Bỏng do tai nạn sinh hoạt chiếm 65% số người bị bỏng chủ yểu do lửa bếpdầu, do xăng, các chất cháy nổ, nước sôi, thức ăn nóng, hơi nước, vôi tôi, axít, tai nạnđiện

- Bỏng do tai nạn lao động chiếm 5-10% số trường hợp bỏng, hay gặp ở các

xí nghiệp luyện kim, hoá chất, xăng dầu, thuốc nổ, hầm mỏ, khí đốt, phòng thínghiệm, nhà máy nguyên tử, các cơ sở sử dụng chất phóng xạ, chất dẻo tổng hợp

Bỏng do tai nạn giao thông chiếm khoảng 2% sổ người bị bỏng thường docháy xe, tàu thuyền, máy bay

- Bỏng do tai nạn điều trị chiếm 1% Thường do chườm nóng, đắp paraphinnóng, trị liệu bằng các tia bức xạ .[15, 20]

Hay gặp nhất là bỏng do cháy lửa với nhiệt độ cao như củi gỗ cháy (nhiệt độ

1300 - 1400°C), cháy xăng (800 - 1400°C), lửa khí axetylen (trên 2000°C), cháy cáckho chứa nhiên liệu gây cháy, chất dẻo tổng hợp, hóa chất như phân đạm, cháy nổ

Trang 19

trong thời gian ngắn (0,2 - 1 giây), tác dụng chính là do bức xạ hồng ngoại.

Bỏng do tác dụng trực tiếp của vật nóng như kim loại nóng chảy trong côngnghệ luyện kim, kim loại nóng đỏ

Bỏng do chất nóng dính như nhựa dường nóng chảy [20],

1.3.2 Bỏng do dòng điện dẫn truyền qua cơ thế

Bỏng điện thường chia làm 2 loại: Bỏng điện hạ thế (điện dân dụng, hiệu điệnthế dưới 1000V) và bỏng điện cao thế (hiệu điện thế cao trên 1000V), bao gồm cả sétđánh Luồng điện khi dẫn truyền qua cơ thể gây sốc điện và bỏng do điện Cơ chế tổnthương bỏng do năng lượng điện biến thành năng lượng nhiệt và do tác dụng trực tiếpcủa dòng điện gây hiệu ứng đục lỗ làm tổn thương mô tế bào [20] 1.3.3 Bỏng do hóa chất

Có thể chia thành 3 loại tác nhân chính do: axit mạnh và các chất tươngtự,base mạnh và các chất tương tự muối kim loại nặng và các chất tương tự

Tổn thương do hóa chất có thể gây bỏng da, bỏng đường hô hấp (do hít phảihóa chất), bỏng mắt [20]

1.3.4 Bỏng do bức xạ

Bỏng do tia hồng ngoại, tử ngoại, tia rơn-gen, tia laser, tia gama, hạt beta Ngoài bỏng do sức nhiệt, bỏng do điện, bỏng do hóa chất, bỏng do bức xạ cònmột dạng tổn thương bỏng gây ra do nhiệt độ lạnh thấp: được gọi là tổn thương docóng lạnh (do băng tuyết, do tai nạn tiếp xúc với công nghệ lạnh sâu) [20], 2 Bỏng ở trẻ em

Trang 20

nóng và các nguyên nhân khác [10].

Hơn nữa, ở trẻ em do một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý khiến cho bệnh tiếntriển nặng, ví dụ da mỏng hơn người lớn việc chữa chạy phức tạp, lâu dài, tốn kém,thậm chí còn có thể gây tử vong cho trẻ hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề như sẹo,

co kéo cơ hoặc da gây tàn phế suốt đời

Lớp da trẻ em có những đặc điểm giải phẫu và sinh lý khác với người lớn Ởtuổi nhà trẻ, mẫu giáo chiều dày của da mỏng hơn da người lớn 2,5 lần, ở lứa tuổi họctiểu học thì mỏng hơn da người lớn 1,5 lần Lớp tể bào hạt sừng và sừng hoá rấtmỏng khiến cho việc che chở bảo vệ cho lóp tế bào mầm không vững chắc, bỏng dosức nhiệt ướt cũng có thể gây bỏng sâu ở trẻ em Tỷ lệ nước trong mô tế bào da trẻ

em lại nhiều hơn người lớn do đó dễ hoại tử khô chuyển thành hoại tử ướt Tuy nhiênkhả năng biểu mô hoá từ mép da lành ở trẻ em lại tốt hơn ở người lớn nên khả năngtái tạo và phục hồi da tốt hơn [15, 16]

Bỏng có thể gây tử vong cho trẻ em, tỷ lệ tử vong ở trẻ em bị bỏng nặngthường khá cao Tại Viện Bỏng Quốc gia trung bình cứ 100 trẻ bị bỏng vào viện điềutrị thì có 2-3 trẻ tử vong Nguyên nhân tử vong có thể là do sốc bỏng, do suy hô hấp,

do nhiễm khuẩn, đây là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất ở trẻ bị bỏng hiện nay.Ngoài ra, trẻ còn có thể tử vong do nhiều biến chứng nặng khác như suy thận cấp,chảy máu tiêu hoá, suy nhiều tạng [10]

Trẻ em là đối tượng đang phát triển cả về thể chất và tinh thần về chức năngsinh lý cũng như sự hình thành tâm lý ở trẻ chưa ổn định Hệ thống miễn dịch chưahoàn chỉnh, khả năng đáp ứng miễn dịch còn kém, cơ thể có những đặc điểm khácbiệt so với người lớn nên trẻ bị bỏng thường nặng và khó lường hơn người lớn.Trẻ bịbỏng 5% diện tích cơ thể đã có thể bị sốc bỏng, khi sốc bỏng thường diễn biến nhanh

và dễ nặng lên và dễ tử vong Trẻ bị bỏng rất dễ bị nhiễm trùng, nhiễm trùng thườngnặng, dễ biển chứng vào máu và tử vong Các biến chứng khác ở trẻ cũng

Trang 21

thường gặp hơn và nặng nề hơn so với người lớn như suy thận cấp, suy hô hấp, suynhiều tạng, chảy máu tiêu hoá Ngoài ra trẻ dễ bị rối loạn thân nhiệt như sốt cao cogiật Tại vết bỏng của trẻ, diễn biến cũng có những đặc điểm khác biệt như vết bỏng

có thể nhanh khỏi nhưng cũng có thể xấu đi nhanh chóng chỉ sau một thời gian ngắn.Tình trạng bệnh lý, diễn biến ở trẻ bị bỏng còn phụ thuộc vào tuổi của trẻ, trẻ càngnhỏ diễn biến càng nặng và càng phức tạp [10]

Việc điều trị bỏng ở trẻ em cũng gặp nhiều khó khăn do khó chẩn đoán độ sâucủa vết bỏng Quá trình điều trị thường kéo dài, chi phí tốn kém cũng với những hậuquả nặng nề về thể chất lẫn tinh thần làm tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội

2.2 Hoàn cảnh và tác nhân gây bỏng ỏ’ trẻ em

2.2.1 Hoàn cảnh bị bỏng ở trẻ em

Thường có 6 hình thức tai nạn sinh hoạt ở trẻ em

1) Nồi nước, siêu nước, chậu nước sôi, phích nước vô ý đổ vào trẻ em Ngãvào chậu nước nóng sôi: nước gội đầu, nước canh, nước mắm mới chưng, nồi cháo,

2) Ngã vào bếp lửa, nghịch lửa diêm, đốt pháo, nghịch lửa nơi có xăng dầu

5) Chạy nghịch ngã vào hố vôi tôi nóng

6) Chơi nghịch các ổ điện, đụng chạm vào các nút phích điện, dây điện đangdẫn điện [16]

Cũng có cháu nhỏ là nạn nhân của các vụ tạt axit trả thù vào cả mẹ lẫn con

Trang 22

- để trẻ tự tắm Cá biệt có trường hợp do sự bất cẩn của người lớntrong khi cho trẻ ăn Bột, cháo là những món ăn thông thường hàngngày của trẻ cũng có thể trở thành nguyên nhân gây bỏng chokhông ít trẻ em, đặc biệt lứa tuổi dưới 5 do ở lứa tuổi này trẻ thíchvùng vẫy, quờ tay khi ăn hoặc với tay lấy những vật ở cao

- Bỏng nhiệt khô: bàn là, ổng bô xe máy, tấm sưởi, lửa, hơi nóng của lònung Thường do người lớn không chú ý để các vật dụng có khả năng gâybỏng trong tầm với của trẻ hoặc để trẻ nghịch ngợm, đốt lửa sưởi, đốt rơm rạ,đánh đổ dầu xăng gây bắt lửa

- Bỏng hoá chất : bỏng do vôi tôi, bỏng a xit, kiềm .Do trẻ nô đùa cạnh hố vôimới tôi sơ ý tụt chân xuống, sử dụng nhầm a xít Bỏng do vôi nóng là loạibỏng rất nặng và thường gặp ở những vùng có thói quen sử dụng vôi trong xâydựng

- Bỏng điện: Do trẻ nghịch điện hoặc chạm vào các thiết bị điện không an toàn.Đôi khi do trẻ bắt chước người lớn, tự tay cắm phích, bật công tắc điện,nghịch ngợm thò tay hoặc dùng que, đinh chọc vào 0 cắm điện[21 ]

Ở Việt Nam, tác nhân gây bỏng ở người lớn và trẻ em khác nhau cụ thể ở bảng sau:

Trang 23

- Tạo môi trường an toàn: loại bỏ, ngăn cách trẻ tiếp xúc với các yếu tố nguy cơgây bỏng.

- Thường xuyên dạy trẻ nhận biết nguy cơ để phòng tránh

Phòng tránh bỏng do hoá chất, vôi tôi

- Cất hoá chất vào kho, thùng, hòm có khoá

- Các chai lọ đựng hoá chất phải có nhãn để tránh nhẫm lẫn khi sử dụng

- Hố vôi phải được đào ở nơi ít người qua lại, có rào chắn xung quanh và có biểnbáo dễ nhìn thấy

Phòng tránh bỏng do điện

- Đe các 0 điện cao ngoài tầm với của trẻ hoặc che chắn các ổ điện bằng nắpđậy, băng dính không cho trẻ chọc tay vào

- Thường xuyên kiểm tra độ an toàn của hệ thống dây điện và các thiết bị điện

- Tắt các thiết bị điện khi không sử dụng

Trang 24

- Cho trẻ chơi ở nơi an toàn tránh xa các trạm biến thế, cột điện, đường dây caothế, đặc biệt không được thả diều ở những nơi có đường điện chạy qua.

- Khi trời mưa, có sấm, sét, đưa trẻ vào nơi trú ẩn an toàn như trong nhà, tuyệtđối không trú dưới gốc cây to, mô đất cao, cột điện cao thế, cột thu lôi hoặcđứng gần các vật dụng bằng kim loại như cày, xe bò .,[21]

2.3.3 Xử trí khi trẻ bị bỏng

Loại bỏ ngay tác nhân gây bỏng càng nhanh càng tốt bằng cách

- Bế trẻ khỏi nồi thức ăn sôi, bàn là, ống bô xe, dung dịch kiềm, axít và gạt bỏbớt chất gây bỏng

- Rút điện hoặc đóng cầu dao (bỏng điện)

- Neu quần áo trẻ bị bắt lửa, dập lửa bằng cách trùm chăn/vải ướt lên người trẻ[21]

Kiểm tra tình trạng của trẻ và an ủi trẻ Hô hấp nhân tạo ngay nếu trẻ bất tỉnh

và làm theo các bước sau [21]

1 Ngâm chỗ bỏng vào nước mát, sạch hoặc để chỗ bỏng dưới vòi nướcchảy 20 phút (không dùng nước đá) Thời điểm ngâm rửa bằng nước mát càngsớm càng tốt, tốt nhất trong vòng 30 phút đầu sau khi bị bỏng Sau khoảngthời gian này việc ngâm rửa ít có tác dụng

2 Cởi bỏ quần áo trước khi phần bị bỏng sưng lên Chú ý: dùng kéo cắt

bỏ quần áo dính vào vết bỏng Không được lấy bất cứ vật gì bám trên vếtbỏng

3 Băng nhẹ vùng bị bỏng bằng vải, gạc sạch, tránh làm vỡ nốt phồng.Không dùng băng dính băng vết bỏng

4 ủ ấm cho trẻ, cho uống nhiều nước

5 Tuyệt đối không bôi bất cứ thứ gì lên vết bỏng

6 Đưa trẻ đến trung tâm Y tế gần nhất để được chăm sóc chuyên môm

Những sai lầm nguy hiểm thường gặp khi xử lý vết bỏng' Qua khảo sát hơn 20

nghìn trường hợp ở cả người lớn và trẻ em vào điều trị tại viện Bỏng Quốc gia trongvòng 5 năm qua cho thấy có một số sai lầm nguy hiểm thường gặp khi xử lý

Trang 25

vết bỏng, đó là: Bôi kem đánh răng, bôi mỡ trăn, dội nước mắm, bôinhựa chuối, bôi dầu cá, đắp các thuốc lá, thuốc đông y không rõ nguồngốc lên vết bỏng hoặc sử dụng các loại thuốc đông y có tính chất tạomàng không đúng, nhúng vùng bị bỏng vào vại muối dưa, muối cà, trátbùn ao lên vết bỏng Tại thời điểm sau khi bị bỏng bôi những thứ nói trênlên vết bỏng không những không giảm đau cho bệnh nhân trái lại còn làmbệnh nhân đau đớn hơn Các tác nhân trên có thể gây tổn thương sâu hơn

và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết bỏng Việc tìm kiếm sử dụng các tácnhân đó sẽ làm mất cơ hội hoặc làm chậm trễ việc sử dụng nước mát nhưhướng dẫn

2.4 Tình hình bỏng ỏ’ trẻ em

2.4.1 Dịch tễ bỏng trên thế giới

TNTT trên thế giới làm cho hơn 900.000 ca tử vong trẻ em và thanh niên dưới

18 tuổi mỗi năm Phần lớn các TNTT gây tử vong ở trẻ em dưới 18 trong năm 2004

là kết quả của các vụ va chạm giao thông đường bộ, đuối nước, bỏng do lửa, ngã hayngộ độc Năm loại hình này góp đến 60% cả tử vong do thương tích ở trẻ em [28]

Trong năm 2004, trên toàn cầu, 95.772 trẻ em và thanh niên dưới 20 tuổi bịthương tích do bỏng liên quan tơi lửa Trong khi bỏng do lửa góp phần lớn cho các ca

tử vong liên quan tới bỏng ở trẻ em, thì bỏng nước và là bỏng tiếp xúc là nguyênnhân quan trọng của bỏng không gây tử vong và là nguyên nhân đáng kể của thươngtật [28],

Tai nạn bỏng là loại TNTT thường gặp Theo thống kê của một số chuyên giabỏng, số người bị bỏng ước tính như sau: Cứ 100.000 dân trong một năm có trên 23người bị bỏng ở nhóm tuổi dưới 65 và 15 người bị bỏng ở nhóm tuổi già trên 65 Cứ100.000 dân cần có 0,2 - 0,5 giường bệnh dành cho việc điều trị bỏng Ở Hoa Kỳ mỗinăm có khoảng 2 triệu người bị bỏng, 70.000 đến 100.000 bệnh nhân bỏng phải điềutrị tại bệnh viện và 6.500 đến 12.000 người tử vong do bỏng Nếu so với tử vong docác thiên tai khác như bão, lốc, động đất, lụt., thì gấp 20 lần, nếu so với tử vong doTNTT các loại thì tử vong do bỏng đứng thứ ba [16]

Trang 26

Nghiên cứu bệnh chứng của J Delgado và cộng sự tại viện Nhi Quốc gia Perucũng cho thấy trong số bệnh nhi nhập viện do bỏng từ năm 1998 - 2000 thì trẻ dưới 5tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,1%, tiếp đến là nhóm tuổi 5-9 (19,2%), nhóm tuổi10-14 (8,6%), trên 14 tuổi (2,1%) 90,9% các trường hợp bỏng xảy ra tại nhà, trong

đó bỏng xảy ra tại bếp chiếm 67,8% các trường họp Nguyên nhân chủ yếu là do chấtlỏng nóng (74,3%), do lửa (12,7%), do đồ vật nóng (5,2%), do điện (3,7%) Hơn 70%các trường họp khi tai nạn bỏng xảy ra với trẻ có sự có mặt của cha hoặc mẹ [29]

Nghiên cứu bệnh chứng của E.Petriou và cộng sự tại Hy Lạp trên nhóm trẻdưới 15 tuổi cũng cho kết quả tương tự đó là nhóm trẻ dưới 5 tuổi bị bỏng chiếm tỷ lệ72,4%; 90,4% các tai nạn bỏng thường xảy ra ở nhà và 65,3% các trường hợp xảy ra

ở khu vực bếp [25]

Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến bỏng: nghiên cứu bệnh chứng của JDelgado và cộng sự cho thấy nếu mẹ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trởlên nguy cơ bị bỏng ở trẻ chỉ bằng 1/3 so với những trẻ mà mẹ học dưới trung họcphổ thông Tương tự như vậy nếu bố có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trởlên thì nguy cơ trẻ bị bỏng chỉ còn 1/5 so với những trẻ khác [29] Nghiên cứu của NForjuoh và cộng sự trên trẻ em ở Ghana cho kết quả tương tự nếu bố có trình độ họcvấn THPT trở lên thì nguy cơ bị bỏng của trẻ chỉ bằng 1/5 nhóm còn lại, và những trẻ

mà trong gia đình đã có anh hay chị em của trẻ bị bỏng trước đó thì có nguy cơ bịbỏng cao gấp 1,89 lần so với những trẻ khác [26]

2.4.2 Dịch tễ bỏng ở trẻ em tại Việt Nam

Có nhiều nghiên cứu về bỏng sử dụng số liệu thu thập từ bệnh viện Các sốliệu bệnh viện thường cũng chỉ tập trung vào thu thập các số liệu như tỷ lệ mắc, tỷ lệ

tử vong, số các trường họp ca bệnh, theo các đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp Các bệnh viện đa khoa, bệnh viện bỏng quốc gia tiến hành các nghiên cứu thu thậpcác số liệu từ bệnh viện

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lứa tuổi bị bỏng chiếm tỷ lệ cao nhất là trẻdưới 5 tuổi, trẻ trai bị bỏng nhiều hơn trẻ gái đồng thời tỷ lệ tử vong ở nhóm tuổi

Trang 27

này cũng chiếm tỷ lệ cao nhất như nghiên cứu của Hồ Thị XuânHương trên 15.430 trẻ bị bỏng điều trị nội trú tại viện Bỏng Quốc giatrong 23 năm (1985-2007) cũng cho thấy số trẻ vào điều trị nội trú ngàycàng tăng, chiếm tỷ lệ 54,32% tổng số bệnh nhân, lứa tuổi bỏng nhiềunhất là dưới 5 tuổi (77,82%), trẻ trai (62,59%) nhiều hơn trẻ gái (37,41%),

tử vong ở nhóm tuổi dưới 5 cũng cao nhất, chiếm 84,75% [24]

Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn tại Viện Bỏng Quốc gia từ tháng

1 năm 2006 tới tháng 1 năm 2007 cũng cho thấy tỷ lệ bỏng trẻ em chiếm (52,9%)trong tổng số bệnh nhân bỏng mới, trong đó nhóm trẻ dưới 5 tuổi bị bỏng cao hơnhẳn so với các nhóm tuổi khác (p<0,05), cao nhất là lứa tuổi 1-3 tuổi (55,2%%), tiếptheo là lứa tuổi dưới 1 tuổi (21,7%) Trẻ em nam bị bỏng cao hơn hẳn trẻ em nữ (tỷ lệtương ứng là 61,3% và 38,7%) [17], Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn vềdịch tễ bỏng trẻ em từ năm 1999 đến 2000 tại Viện Bỏng Quốc gia cho thấy: bỏng trẻ

em chiếm tỷ lệ 51%, lứa tuổi hay bị bỏng nhất là 1-3 tuổi chiếm 38,7%, tiếp đến là

4-5 tuổi chiếm 24,9%, trẻ nam bị bỏng gấp 1,5 so với trẻ nữ [18]

Trần Văn Nam và cộng sự khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bỏng trên 230trẻ em 0 đến 15 tuổi điều trị bỏng tại bệnh viện Hải Phòng năm 2003 cho thấy trẻdưới 5 tuổi chiếm 65,7%, tỷ lệ nam/nữ là 1,56/1 [12] Nghiên cứu của Thái QuangHùng tiến hành trên những bệnh nhân nhập viện do bỏng tại bệnh viện đa khoa tỉnhĐaklak trong thời gian từ 1998 đển 2002 cho thấy tỷ suất mắc chấn thương do bỏng

là 9,6/100.000 người/năm, 50% các ca bỏng là trẻ 0 - 4 tuổi, nam bị nhiều hơn nữ (tỷ

lệ 1,6/1) [6] Nguyễn Như Lâm và cộng sự nghiên cứu trên những bệnh nhân bỏngđiều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu, Viện Bỏng Quốc gia cho thấy trẻ em chiếm gầnmột nửa số bệnh nhân bỏng điều trị tại khoa, bệnh nhân là nam chiếm tỷ lệ hơn gấpđôi so với bệnh nhân nữ [9],

Theo số liệu từ bệnh viện đa khoa tỉnh Đăklăk thì hàng năm có khoảng 120bệnh nhân bỏng nằm điều trị và khoảng 1% tử vong do bỏng [6] Một nghiên cứu vềbệnh bỏng kéo dài từ năm 1985 đến 1998 tại Viện Bỏng Quốc gia cho thấy có tới5.721 trẻ dưới 15 tuổi phải điều trị tại viện bỏng, trong đó chỉ riêng từ năm 1996-

Trang 28

1998 đã có tới 2.318 trường hợp bỏng phải điều trị tại bệnh viện[2] Con số này mặc dù chưa thực sự phản ánh việc gia tăng số trẻ mắcbỏng trong cộng đồng nhưng cũng phần nào cảnh báo nguy cơ bỏng, đặcbiệt là các trường họp bỏng nặng ở trẻ nhỏ Nghiên cứu của Phạm VănYên và cộng sự tại bệnh Viện Trẻ em Hải phòng từ năm 1/2001-12/2003trên 602 bệnh nhân bỏng từ sơ sinh đến 15 tuổi Ket quả cho thấy bỏng làtai nạn thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi (80,6%), nam nhiều hơn nữ [22]Trong 5 năm (1976-1980), Bệnh Viện Việt Tiệp Hải Phòng đã điều trị 958

ca bỏng, trong đó 478 trẻ em (49,87%); tỷ lệ tử vong chung là 5,11%, tỷ

lệ tử vong ở trẻ em cao hơn (6,48%) Trong 347 hồ sơ bỏng chọn lọc từ3/1977-3/1980, có 106 hồ sơ bỏng trẻ em (30,55%) Bỏng trẻ em hay gặp

nhất là từ 1 tháng tuổi đến 5 tuổi (80,88%); bỏng gặp ở trẻ trai (60%)nhiều hơn trẻ gái (40%) [13],

Các nghiên cứu đều cho thấy nguyên nhân gây bỏng ở trẻ chủ yếu là bỏngnhiệt ướt Nghiên cứu của Hồ Thị Xuân Hương tại viện Bỏng Quốc gia trong 23 năm(1985-2007) cho thấy tác nhân gây bỏng chủ yếu là bỏng nhiệt ướt (78,61%) [24].Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn tại Viện Bỏng Quốc gia từ tháng 1 năm

2006 tới tháng 1 năm 2007 tác nhân gây bỏng thường gặp nhất là bỏng nhiệt ướt(86,8%) [17] Nghiên cứu của Phạm Văn Yên và cộng sự tại bệnh Viện Trẻ em Hảiphòng từ năm 1/2001-12/2003 trên 602 bệnh nhân bỏng từ sơ sinh đến 15 tuổi, kếtquả cho thấy bỏng tác nhân gây bỏng chủ yếu là bỏng nhiệt ướt chiếm (91%) [22].Trần Văn Nam và cộng sự khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bỏng trên 230 trẻ em

0 đến 15 tuổi điều trị bỏng tại bệnh viện Hải Phòng năm 2003 cho kết quả tương tự lànguyên nhân gây bỏng chủ yếu là bỏng nhiệt ướt (83%), tiếp đến là bỏng điện(8,7%), bỏng nhiệt khô 6%, bỏng hoá chất 2,2% [12] Nghiên cứu của Thái QuangHùng tiến hành trên những bệnh nhân nhập viện do bỏng tại bệnh viện đa khoa tỉnhĐaklak trong thời gian từ 1998 đến 2002 cho thấy nguyên nhân gây bỏng hàng đầu làbỏng nước nóng (63,4%), tiếp đến là các chất gây cháy nổ như xăng dầu (20,4%), dolửa (5,9%)[6] Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn về dịch tễ bỏng trẻ em từnăm 1999 đến 2000 tại Viện Bỏng Quốc gia cho thấy bỏng thường gặp nhất là bỏngnhiệt ướt chiếm 81,7%, trong đó 97,4% là do nước nóng

Trang 29

sôi và thức ăn nóng sôi, bỏng nhiệt khô chiếm 7,7% [18] Trong 5năm (1976- 1980), Bệnh Viện Việt Tiệp Hải Phòng đã điều trị 958 cabỏng, trong 347 hồ sơ bỏng chọn lọc từ 3/1977-3/1980, có 106 hồ sơbỏng trẻ em (30,55%) Nguyên nhân chú yếu gây bỏng trẻ em là nước sôi(69,81%) và lửa (21,69%) [13].

Hoàn cảnh gây bỏng cho trẻ chủ yếu xảy ra tại nhà như nghiên cứu của HồThị Xuân Hương tại viện Bỏng Quốc gia trong 23 năm (1985-2007) cho thấy địađiểm xảy ra bỏng phần lớn là tại nhà (88,76%) vào các giờ cao điểm trong sinh hoạthàng ngày [24], Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn tại Viện Bỏng Quốc gia từ tháng

1 năm 2006 tới tháng 1 năm 2007 cho thấy có 94,6 các trường hợp xảy ra tai nạnbỏng khi vẫn có mặt của người lớn, người trông trẻ 89,4% các trường họp tai nạnbỏng xảy ra tại gia đình, trong đó xảy ra tại nơi cho ăn là 50%, tại bếp là 33% 86,3%các trường hợp là trẻ em nông thôn có bố họăc mẹ làm nghề nông nghiệp [17].Nghiên cứu của Phạm Văn Yên và cộng sự tại bệnh Viện Trẻ em Hải phòng từ năm1/2001-12/2003 trên 602 bệnh nhân bỏng từ sơ sinh đến 15 tuổi Ket quả cho thấybỏng thường gặp ở vùng nông thôn chiếm (70,3%), tai nạn xảy ra tại nhà chiếm(96,56%), thời điểm xảy ra bỏng thường trước và sau bữa ăn 1 giờ [22] Trần VănNam và cộng sự khi nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bỏng trên 230 trẻ em 0 đến 15tuổi điều trị bỏng tại bệnh viện Hải Phòng năm 2003 cho thấy bỏng xảy ra tại nhà chủ

yếu vào các tháng mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 trong năm [12] Nghiên cứu của

Nguyễn Khắc Sơn và cộng sự về TNTT ở trẻ em thành phố Hải Phòng năm 2000 cho

thấy TNTT thường xảy ra tại nhà và những chỗ chơi quanh nhà chiêm 66,24% sốTNTT, TNTT cũng xảy ra nhiều vào những ngày nghỉ, ngày tết [14] Nghiên cứu củaThái Quang Hùng tiến hành trên những bệnh nhân nhập viện do bỏng tại bệnh viện

đa khoa tỉnh Đaklak cho thấy bỏng xuất hiện rải rác quanh năm, hơn 95% các cabỏng xảy ra tại nhà hoặc xung quanh nhà [6] Theo nghiên cứu của Nguyễn NgọcTuấn về dịch tễ bỏng trẻ em tại Viện Bỏng Quốc gia cho thấy 89,1% trường họp bịbỏng xảy ra tại nhà [18] Nghiên cứu tại Bệnh Viện Việt Tiệp Hải Phòng cho thấy trẻ

bị bỏng sống ở nội thành chiếm 63,2%, ngoại thành 36,8% [13]

Trang 30

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy việc xử lý ban đầu chua đúng khi trẻ bị bỏngcòn rất phổ biển Nghiên cứu của Phạm Văn Yên và cộng sự tại bệnh Viện Trẻ emHải phòng từ cho thấy hầu hết các trường họp bỏng trẻ đau rát, dãy dụa Các thànhviên trong gia đình mất bình tĩnh nên xử lý không đúng cách ảnh hưởng rất lớn đếntính mạng bệnh nhân [22] Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Sơn và cộng sự cho thấy tỷ

lệ được sơ cứu là 57,52% và chủ yếu là do những người không có chuyên môn thựchiện: 51,52% trẻ bị TNTT nhẹ gia đình tự điều trị, số còn lại phải đến điều trị tại các

cơ sở y tế [14] Nguyễn Như Lâm và cộng sự tại khoa Hồi sức cấp cứu, Viện BỏngQuốc gia cho thấy công tác sơ cấp cứu bệnh nhân ngay sau khi bỏng tại các cơ sở y tếcòn ở mức rất khiêm tốn, chỉ có 23,19% trong tổng số 345 bệnh nhân bỏng được làmlạnh bằng nước lạnh, có tới 86,92% không xử lý gì, để hở vết thương [9] Theonghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tuấn về dịch tễ bỏng trẻ em từ năm 1999 đến 2000 tạiViện Bỏng Quốc gia cho thấy công tác sơ cứu ngay sau bỏng không đúng chiếm tỷ lệcao như 70,3% trường họp không được ngâm rửa nước sạch, 44,4% không được xử

lý gì [18] Điều này có thể cho thấy công tác sơ ngay sau bỏng đúng vô cùng quantrọng để làm giảm mức độ tổn thương do bỏng, tuy nhiên hầu như ở cộng đồng thì tỷ

lệ xử trí đúng còn hạn chế

3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tói bỏng.

Các nghiên cứu y tế công cộng (YTCC) dừng lại ở các điều tra dịch tễ trong

đó có bỏng đó là nghiên cứu về điều tra cơ bản tình hình chấn thương và các yểu tốảnh hưởng ở trẻ em dưới 18 tuổi tại sáu tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, ThừaThiên - Huế, cần Thơ, Đồng Tháp cho thấy tỷ suất chấn thương không tử vong củacác xã nghiên cứu là 4.360/100.000 và có sự khác nhau giữa các địa điểm nghiêncứu, trong đó bỏng là 1 trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây chẩn thương không tửvong ở trẻ dưới 18 tuổi (324/100.000) Tỷ suất chấn thương cao nhất là trong nhómtuổi từ 1- 4 (5,625/100.000) Trẻ dưới 5 tuổi chấn thương chủ yếu do bỏng và ngã Tỷsuất chấn thương chung ở nam cao hơn nữ ở hầu hết các nguyên nhân, chẩn thươngxảy ra

Trang 31

nhiều ở nhà (52,3%), 57% trường hợp chấn thương được sơ cứu banđầu, trong số đó hơn 70% được sơ cứu do chính người nhà của nạn nhân[1].

Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Sơn và cộng sự về tỷ lệ và một số yếu tố liênquan đến TNTT ở trẻ em thành phố Hải Phòng năm 2000 cho thấy TNTT cũng gặpnhiều ở gia đình đông con, kinh tế nghèo, bổ mẹ có trình độ học vấn thấp, bố mẹ lythân, ly dị hoặc bố mẹ đã chết [14]

Nghiên cứu của Trần Tuấn Anh cũng trên đối tượng là các bà mẹ có con dưới

5 tuổi về các yếu tố liên quan tới thực hành phòng tránh TNTT tại nhà cho trẻ nhỏ vànội dung phòng tránh bỏng chỉ là một trong số các nội dung phòng tránh TNTT mànghiên cứu này đề cập tới Ket quả nghiên cứu cho thấy 70,7% các bà mẹ biết đượcbỏng là một trong những TNTT xảy ra với trẻ nhỏ tại nhà; có 8% cho rằng đó làTNTT phổ biến (đứng thứ tư sau ngã, vết thương do vật sắc nhọn và súc vật cắn).Yếu tố nguy cơ gây bỏng được đa số các bà mẹ nhắc đến là việc để phích nước trongtầm với của trẻ (82,4%), tiếp đến là việc để đồ vật nóng, thức ăn nóng trong tầm vớicủa trẻ (60,5%), để trẻ tiếp xúc với diêm, bật lửa hoặc thuốc lá đang cháy (37,6%).Yeu tố nguy cơ gây bỏng do không có cửa chắn ngăn trẻ vào khu vực bếp được ít bà

mẹ biết đến (18,1%) Kết quả tìm hiểu các thực hành về phòng tránh bỏng cho thấy85,8% các bà mẹ thường xuyên đặt đồ vật nóng và thức ăn nóng xa tầm với của trẻ,71,7% đặt phích nước nóng trong hộp, xa tầm với của trẻ, không có bà mẹ nào thực

hiện đóng cửa/tấm chắn ngăn trẻ vào khu vực bếp [27]

Theo nghiên cứu của Đặng Văn Khoát thì đối tượng là cán bộ nhân viên cókiến thức phòng tránh TNTT trẻ em tốt hơn các nhóm đối tượng khác Theo ý kiếncủa của cán bộ tuyến tỉnh, huyện thì nhìn chung kiến thức của người dân trong phòngtránh TNTT trẻ em được nâng lên nhưng vẫn còn ở mức thấp Truyền thông trực tiếpchưa đến được với người dân Gia đình thường chỉ nhắc nhở trẻ chứ chưa thực sựquan tâm, theo dõi, giám sát các hoạt động của trẻ, TNTT trẻ em vẫn không hề giảm[8]

Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Sơn và cộng sự về tỷ lệ và một số yếu tố liênquan đến TNTT ở trẻ em thành phố Hải Phòng năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc TNTT

Trang 32

trẻ em ở thành phố Hải Phòng ở là 118/1000 trẻ/năm, bỏng là mộttrong 5 nguyên nhân gây TNTT nhiều nhất [14].

Các nghiên cứu tìm hiểu về mối liên quan thì phần lớn các nghiên cứu vềbỏng ở trẻ nhỏ hiện này là các nghiên cứu bệnh chứng, tìm hiểu mối liên quan giữamột số yếu tố như trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, số controng gia đình, giới tính của trẻ với nguy cơ xảy ra bỏng ở trẻ nhỏ Từ các kết quảnghiên cứu đã cho thấy vai trò của NCST trong dự phòng TNTT nói chung và bỏngnói riêng đã được khẳng định Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữatrình độ học vấn, kiến thức, thực hành của cha, mẹ với nguy cơ xảy ra TNTT ở trẻnhỏ Chính vì vậy mà các nghiên cứu y tế công cộng về bỏng hiện nay đều tập trungvào nhóm đối tượng là mẹ của trẻ

Các nghiên cứu về bỏng ở Việt nam chủ yếu dừng ở tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong

do bỏng, chưa nói nhiều đến các yếu tố nguy cơ do bỏng Có nhiều nghiên cứu vềbỏng, tuy nhiên các nghiên cứu về bỏng chủ yếu tập trung lấy từ số liệu hồi cứu tạicác bệnh viên, chủ yểu là sổ liệu về bỏng của trẻ em Còn một khoảng trống cácnghiên cứu y tế công cộng về phòng tránh bỏng cho cả đối tượng trẻ em và người lớntại nhà nơi tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ gây bỏng đặc biệt là bỏng ở trẻ dưới 5 tuổi

ít nghiên cứu như nghiên cứu của Lý Thu Hiền và Nguyễn Thị Thu Huyền về kiếnthức, thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi tại nhà Tuy nhiên 2 nghiên cứunày đều tiến hành trên địa bàn nông thôn, còn một mảng lớn về yếu tố nguy cơ bỏng

ở trẻ do cháy nổ và thái độ của NCST chưa được đề cập đến, đồng thời phương phápchọn mẫu nghiên cứu dựa trên danh sách hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi do trạm y tế

xã cung cấp do đó có thể dẫn tới mẫu nghiên cứu không đại diện

Nghiên cứu của Lý Thu Hiền về kiến thức, thực hành phòng tránh bỏng chotrẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ và các yếu tố liên quan tại huyện Gia Lâm năm

2008 cho thấy: Có 5,8% số hộ gia đình tham gia vào nghiên cứu có trẻ dưới 5 tuổi bịbỏng trong vòng 1 năm qua, tỷ suất bỏng ở trẻ dưới 5 tuổi là 5.600/100.000 Nguyênnhân gây bỏng chủ yểu là bỏng nhiệt ướt (63,2%) 84,2% bỏng xảy ra tại nhà 52,6%bỏng xảy ra khi trẻ được NCST chính trông Việc xử trí khi trẻ bị bỏng

Trang 33

của NCST còn nhiều hạn chế Tỷ lệ NCST có kiến thức đạt về phòngtránh bỏng cho trẻ nhỏ rất thấp 7,6% Một số yếu tố nguy cơ gây bỏng tại

hộ gia đình được nhiều NCST kể đến và đưa ra các biện pháp dự phòngnhư: nguy cơ bỏng từ phích nước sôi, nồi cơm/canh nóng, nguy cơ từ bếpđun (chiếm trên 80%) Còn lại các nguy cơ gây bỏng khác đến từ diêm,bật lửa, xe máy, bàn là, nước tắm nóng, vòi nóng lạnh, điện và hoá chất ítđược NCST để cập đến Tỷ lệ NCST và hộ gia đình thực hiện các biện phápphòng chống bỏng cho trẻ nhỏ đạt chiếm 34,2% Các thực hành phòngtránh bỏng được các hộ gia đình thực hiện khá tốt như lắp đặt 0 cắmđiện, hệ thống dây điện an toàn (trên 90%), đặt thức ăn nóng trên bàn/kệcao ngoài tầm với của trẻ (94,5%), thường xuyên kiểm tra nhiệt độ thức

ăn trước khi cho trẻ ăn (96,4%), kiểm tra nhiệt độ nước trước khi tắm cho

trẻ (94,5%), hoá chất/xăng dầu được cất trên cao (85%) Bên cạnh đó cònnhiều những thực hành ít được hộ gia đình thực hiện như: có cửa chắn

bếp (57,9%), để bàn là ngoài tầm với của trẻ (41,5%), dựng xe máyphòng bỏng do ống bô nóng (35,5%), để phích nước ở nơi an toàn với trẻ(45,3%), dán nhãn cho các chai lọ đựng hoá chất (30%) Nghiên cứu nàycũng cho thấy có mối liên quan giữa TĐHV với kiến thức phòng tránhbỏng cho trẻ dưới 5 tuổi Có mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin vềphòng tránh bỏng, thời gian chăm sóc trẻ và kiến thức về phòng tránhbỏng với thực hành phòng tránh bỏng của NCST và hộ gia đình [5]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền trên 150 hộ gia đình tại xã ThuỵHương, Huyện Chương Mỹ, năm 2009 cho thấy có 3,66% số hộ gia đình tham giavào nghiên cứu có trẻ dưới 5 tuổi bị bỏng trong vòng 1 năm qua, tỷ suất bỏng ở trẻdưới 5 tuổi là 36.600/100.000 Kiến thức về phòng tránh bỏng của đối tượng khôngđạt là 24% 92% NCST chính biết bỏng là do chất lỏng nóng, 61,3% biết do chạmvào vật nóng, 37,3% biết do các thiết bị điện trong nhà Thực hành phòng tránh bỏngcủa các đối tượng đạt là 30,0%, 45,3% không dựng xe máy an toàn sau khi vừa đilàm về, 53,3% không thường xuyên kiểm tra hệ thống điện trong nhà, 69,3% các hộgia đình đặt bếp dưới sàn hoặc đặt thấp dưới 0,8m, 62,7% các hộ gia đình không có 0cắm điện an toàn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố cha mẹ sống

Trang 34

trong gia đình 1 thế hệ và yếu tố cha mẹ chưa được nhận thông tin

về phòng tránh bỏng có liên quan đến kiến thức phòng tránh bỏng chotrẻ dưới 5 tuổi Yếu tố cha mẹ chưa được nhận thông tin về phòng tránhbỏng và yếu tố cha mẹ có kiến thức phòng tránh bỏng không đạt có liênquan đến thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Hải trên các học sinh trung học cơ sở tại huyện YênPhong, Bắc Ninh cho thấy kiến thức của các em về phòng tránh bỏng khá tốt 93,9%trả lời nên để phích nước sôi vào nơi an toàn, 89,3% cho rằng không nên tiếp xúc vớinước và thực phẩm nóng, 88,3% cho rằng không nghịch các hoá chất có khả nănggây bỏng Kiến thức về phòng tránh tai nạn do điện gây ra cũng khá tốt Phần lớn các

em khi được hỏi đã trả lời không được nghịch ổ điện (93,4%), cẩn thận khi sử dụng

đồ điện (91,5%), không sử dụng điện khi tay ướt (85,2%) Hầu hết các em có thái độtốt với việc phòng tránh TNTT Điều này được thể hiện ở thái độ cho rằng TNTT cóthể phòng tránh được (92,2%), cho rằng việc thực hiện các biện pháp phòng tránhTNTT là cần thiết (98,5%) Tuy nhiên tỷ lệ thực hiện các biện pháp dự phòng bỏngkhông cao: để phích nước vào nơi an toàn (58,2%), cẩn thận khi tiếp xúc với nước và

thực phẩm nóng (67,2%), không nghịch hoá chất gây bỏng (62,3%) Tương tự như

vậy với các thực hành về phòng tránh các tai nạn do điện gây ra: không nghịch ổ điện

(65%), cẩn thận khi sử dụng đồ điện 63,5%, không sử dụng thiết bị điện khi tay ướt

là 58,9% [23]

Nghiên cứu của Hồ Thị Dung, Phạm Thiện Điều và Nguyễn Đăng Phươngtrên 500 bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh bỏng tại Kiến Xương Thái Bình cho thấyphần lớn các bà mẹ có nhận thức đúng về bệnh bỏng: 68,6% biết điều trị bỏng tốnkém, 79% biết bỏng có thể dẫn đến tử vong và 77,6% cho rằng bỏng có thể để lại sẹoxấu, 84,6% cho rằng bỏng có thể phòng tránh được Các bà mẹ đã biết rằng nhiệt ướt

là nguyên nhân gây bỏng nhiều nhất và chủ yếu bị bỏng tại nhà (75%) nhưng 78,2%

số bà mẹ cho rằng việc trẻ bị bỏng là do tự ý trẻ gây ra mà chưa thấy trách nhiệm củangười lớn trong việc để trẻ bị bỏng Có một tỷ lệ lớn các bà mẹ nhận thức sai về sơcứu bỏng (chỉ có 36,2% cắt bỏ quần áo, 15,4% biết phải dùng

Trang 35

nước mát ngâm rửa vết bỏng, 28,6% biết phải băng phủ vết bỏng bằng gạc/khăn sạch,37,4% cho trẻ uống nước) Các gia đình đã có ý thức tốt trong việc phòng bỏng điệncho trẻ thể hiện ở 90,2% 0 cắm điện được đặt trên cao ngoài tầm với của trẻ Ngượclại, các thực hành phòng bỏng nhiệt ướt (nước sôi, thức ăn nóng) vẫn chưa được quantâm: 78,4% để phích nước dưới nền nhà, 50,8% không có giá đỡ, 39,4% thức ăn nóng

để trên sàn nhà sau khi nấu xong Có tới 65,5% các hố vôi tại gia đình không có ràochắn vẫn là nguy cơ lớn gây bỏng cho trẻ[4]

Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung vào kiến thức, thực hành phòng tránhbỏng như nghiên cứu của Hồ Thị Dung và cộng sự không nhiều mà chủ yểu tìm hiểukiến thức, thực hành phòng tránh TNTT tại nhà nói chung, trong đó kiến thức, thựchành phòng tránh bỏng chỉ là một khía cạnh nhỏ Trong các nghiên cứu này, đánh giáthực hành phòng tránh TNTT cho trẻ em chủ yếu dựa trên bảng kiểm định ngôi nhà

an toàn được Dự án phòng chống tai nạn thương tích, Cục Y tế dự phòng Việt Namxây dựng

Nghiên cứu của Đoàn Hồng Minh về kiến thức, thực hành phòng tránh chấnthương cho trẻ dưới 5 tuổi tại Thanh Miện Hải Dương cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiếnthức, thực hành phòng tránh chấn thương cho trẻ chưa đạt khá cao (85,5% và 80,2%).Các thực hành phòng tránh bỏng được các hộ gia đình thường xuyên làm với tỷ lệcao là: để vật nóng ngoài tầm với của trẻ (77,8%), lắp ổ điện xa tấm với của trẻ(84%) Các thực hành khác cũng được thực hiện nhưng với tỷ lệ thấp hơn như làmcửa chắn bếp (68%), cất giữ hoá chất ở nơi trẻ không với tới (68,6%), cất xăng dầu

và chất dễ cháy ở nơi trẻ không chạm tới được (54,9%), cất giữ phích nước an toàn(46,9%) Trong nghiên cứu của mình Đoàn Hồng Minh cũng tìm ra mối liên quangiữa một số yếu tổ TĐHV, tiếp cận thông tin, thu nhập bình quân đầu người với kiếnthức dự phòng chấn thương, mối liên quan giữa TĐHV, kiến thức phòng tránh chấnthương với thực hành phòng tránh chấn thương[l 1],

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ràng hầu hết các TNTT do bỏng đều xảy ra ở nhà

và nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yểu tố liên quan tại Phường Dịch

Trang 36

Vọng Hậu, Cầu Giấy năm 2011” được tiến hành để tìm hiểu kiếnthức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà của NCST nhỏ như thếnào, những yếu tố nào ảnh hường đến kiến thức, thái độ, thực hành nàycủa họ.

4 Chương trình phòng tránh bỏng ở trẻ em

Từ năm 2003 dự án Phòng tránh TNTT cho trẻ em Việt nam triển khai xâydựng mô hình cộng đồng an toàn phòng chống TNTT gồm: ngôi nhà an toàn, cộngđồng an toàn, trường học an toàn trên phạm vi toàn quốc

Mô hình “ngôi nhà an toàn” là mô hình đã được triển khai ở nhiều địa phươngtrong cả nước, trong đó con người có khả năng kiểm soát và phòng ngừa được cácloại TNTT cũng như các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ em tại nhà Quá trình xâydựng mô hình ngôi nhà an toàn cho trẻ em nhất thiết phải có sự tham gia của cha mẹ

và NCST là người chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra môi trường an toàn tại giađình bên cạnh sự tham gia của các cấp chính quyền và cộng đồng [3]

Tại Viện Bỏng quốc gia, năm 2007 cũng đã triển khai dự án “Phòng chốngbỏng cho cộng đồng, tập trung vào đối tượng trẻ em và nhóm nguy cơ cao” trong cảnước [19]

Trang 37

Người chăm sóc của trẻ dưới 5 tuổi (trẻ sinh từ tháng 1/2006 đến hết tháng12/2010) tại gia đình trên địa bàn phường Dịch Vọng Hậu.

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi (người dành nhiều thời gian trông nom/chăm sóc/chơi với trẻ nhất) tại các hộ gia đình trên địa bàn phường Dịch Vọng Hậu Có thể

là cha, mẹ, ông, bà, người giúp việc của trẻ

Có khả năng trả lời phỏng vấn

Chấp nhận phỏng vẩn và tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ đoi tượng nghiên cứu

Không phải là người chăm sóc chính cho trẻ hàng ngày

Từ chối tham gia nghiên cứu

Vắng mặt khi điều tra viên đến phỏng vấn (3 lần thăm không gặp tại nhà)

2 Thòi gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 01/2011 đến tháng 6/2011

Địa điểm: Phường Dịch Vọng Hậu - cầu Giấy - Hà Nội

3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

n: Sổ đối tượng nghiên cứu phải điều tra

oc: Mức ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này a = 0,05

Trang 38

tuổi (sử dụng tỷ lệ này từ kết quả nghiên cứu của Lý Thu Hiền tại huyện GiaLâm - Hà Nội, năm 2008)

q: q = 1-P =0,66

d: Sai số chấp nhận được là 0,06

Thay vào công thức ta tính được n = 239

Với dự kiến 10% nguy cơ mất mẫu, cỡ mẫu được tăng thêm 25 người Tổng số

NCST dưới 5 tuổi tham gia nghiên cứu là: 264

4.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

Lập danh sách các hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn phường DịchVọng Hậu bằng cách: lập các hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi theo từng tổ dân phố, có

5 Phưong pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại hộ gia đình theo bộ câuhỏi được thiết kế sẵn

Quan sát các yếu tố nguy cơ và việc thực hiện các biện pháp phòng tránh bỏngtại hộ gia đình theo bảng kiểm

Công cụ thu thập so liệu

Bộ công cụ được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu bao gồm: bộ câu hỏi

và quan sát có sử dụng bảng kiểm, (xem phu lục 1)

Trang 39

c Thái độ về phòng tránh bỏng cho trẻ,

D Bảng hỏi thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ tại nhà,

E Tiếp cận và trao đổi thông tin về phòng tránh bỏng

Phiếu quan sát thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ nhỏ tại nhà

Bộ công cụ đã được nhóm nghiên cứu điều tra thử trên 10 người chăm sóc trẻdưới 5 tuổi phường Dịch Vọng Hậu , sau đó được chỉnh sửa cho phù hợp trước khitiến hành điều tra trên đối tượng nghiên cứu

Địa điểnt thu thập sổ liệu: Tại hộ gia đình.

Thời gian thu thập so liệu: Tháng 2 - tháng 3 năm 2011

Điều tra viên

Bao gồm 2 nghiên cứu viên, học viên Cao học 13 - Trường đại học YTCC.Điều tra viên được tập huấn về bộ câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, các bước tiến hànhphỏng vấn trước khi chính thức thu thập số liệu tại thực địa

F % số phiếu nghiên cứu được nghiên cứu viên bốc thăm ngẫu nhiên vàđiều tra lại để kiểm tra tính chính xác của các thông tin được thu thập

Sau mỗi buổi phỏng vấn, tất cả các phiếu được tập hợp lại để nghiên cứu viênkiểm tra Những phiếu có thiếu sót được yêu cầu bổ sung kịp thời bằng cách gọi điệnthoại để hỏi bổ sung

6 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được làm sạch trước và sau do nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi DATAPhân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả phân tích gồm

- Mô tả tỷ lệ, tần suất của các biến số trong nghiên cứu như biến số: tuổi TĐHV,mối quan hệ với trẻ, tiếp cận thông tin, quy mô hộ gia đình

Mô tả kiến thức về các yếu tổ nguy cơ và các biện pháp phòng tránh bỏng dolửa và vật nóng, do chất lỏng nóng, do điện, hóa chất cho trẻ nhỏ tại gia

đình

Trang 40

- Mô tả thái độ về bỏng và phòng tránh bỏnbo.

- Mô tả thực hành phòng tránh bỏng nhiệt khô, nhiệt ướt, điện, hóa chất, cháynổ

- Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố như: tuổi, TĐHV, mối quan hệ vớitrẻ, quy mô gia đình, tiếp cận thông tin với kiến thức, thái độ và thực hànhphòng tránh bỏng cho trẻ nhỏ dưới 5 tuổi của NCST sử dụng kiểm định %2,hồi quy đa biến Dựa trên kết quả phân tích đơn biến, các biến có mối liênquan với kiến thức, thực hành phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi được đưavào mô hình hồi quy

Cách chấm điểm kiến thức, thái độ thực hành đạt (xem phần phụ lục 2)

7 Các biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả mối kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà chotrẻ dưới 5 tuổi của NCST tại Phường Dịch Vọng Hậu năm 2011

Nội dung Biến số

Các yếu tố nguy cơ tại gia đình gây bỏng nhiệt ướt, bỏng nhiệt khô, bỏng điện, bỏng do hoá chất

Khả năng phòng tránh bỏng cho trẻ nhỏKiến thức vềcCác biện pháp phòng tránh bỏng do lửa và vật nóng, do chất lỏng nóng, do điện, hóa chất cho trẻ nhỏ tại gia đình

Cách xử lý khi thấy trẻ bị bỏng

Ngày đăng: 01/12/2023, 08:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 1.2. Đặc điểm chung của các hộ gia đình trong nghiên cứu - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.2. Đặc điểm chung của các hộ gia đình trong nghiên cứu (Trang 49)
Bảng 1.4. Kiến thức của NCST về nguy CO' mắc và hậu quả của bỏng - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.4. Kiến thức của NCST về nguy CO' mắc và hậu quả của bỏng (Trang 50)
Bảng 1.3. Đặc điểm chung của trẻ trong các hộ gia đình - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.3. Đặc điểm chung của trẻ trong các hộ gia đình (Trang 50)
Bảng 1.5. Kiến thức của NCST về nguyên nhân gây bỏng ở trẻ - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.5. Kiến thức của NCST về nguyên nhân gây bỏng ở trẻ (Trang 51)
Bảng 1.7. Kiến thức về yếu tố nguy cơ gãy bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt; 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.7. Kiến thức về yếu tố nguy cơ gãy bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt; 5 tuổi (Trang 52)
Bảng 1.6. Kiến thức về yếu tố nguy cơ gãy bỏng nhiệt khô cho trẻ &lt; 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.6. Kiến thức về yếu tố nguy cơ gãy bỏng nhiệt khô cho trẻ &lt; 5 tuổi (Trang 52)
Bảng 1.8. Kiến thức về yếu tổ nguy cơ gãy bỏng do điện, hoá chất cho trẻ &lt; 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.8. Kiến thức về yếu tổ nguy cơ gãy bỏng do điện, hoá chất cho trẻ &lt; 5 tuổi (Trang 53)
Bảng 1.9. Kiến thức về các biện pháp phòng tránh bỏng nhiệt khô cho trẻ ổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.9. Kiến thức về các biện pháp phòng tránh bỏng nhiệt khô cho trẻ ổi (Trang 53)
Bảng 1.10. Kiến thức về các biện pháp phòng tránh bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt;5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.10. Kiến thức về các biện pháp phòng tránh bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt;5 tuổi (Trang 54)
Bảng 1.12. Kiến thức về xử trí ban đầu khi trẻ bị bỏng - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.12. Kiến thức về xử trí ban đầu khi trẻ bị bỏng (Trang 55)
Bảng 1.13. Thải độ về bỏng và và biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.13. Thải độ về bỏng và và biện pháp phòng tránh bỏng cho trẻ dưới 5 tuổi (Trang 56)
Bảng 1.14. Phổi hợp việc vừa trông trẻ vừa làm các công việc khác - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.14. Phổi hợp việc vừa trông trẻ vừa làm các công việc khác (Trang 57)
Bảng 1.16. Thực hành phòng tránh bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt; 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.16. Thực hành phòng tránh bỏng nhiệt ướt cho trẻ &lt; 5 tuổi (Trang 58)
Bảng 1.17. Thực hành phòng tránh bỏng do điện, hóa chất cho trẻ &lt; 5 tuổi - Luận văn kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà trẻ cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ chính và các yếu tố liên quan tại phường dịch vọng hậu, cấu giấy năm 2011
Bảng 1.17. Thực hành phòng tránh bỏng do điện, hóa chất cho trẻ &lt; 5 tuổi (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w