Nghiên cứu “Hành vỉ sử dụng bao cao su trong tình dục an toàn phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs ở nam giới 18-49 tuổi đã lập gia đình tại thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2007.
Trang 1NGUYỀN MINH NGHĨA
HÀNH VI SỬ DỤNG BAO CAO su TRONG TÌNH DỤC AN TOÀN
PHÒNG, CHỐNG LÂY NHIỄM STDs - HIV/AIDS
Ở NAM GIỚI 18-49 TƯỎI ĐÃ LẬP GIA ĐÌNH TẠI THỊ TRẤN CHỜ
YÊN PHONG, BẮC NINH, NĂM 2007
LUẬN VĂN THẠC SỶ Y TÉ CÔNG CỘNG
Mã so chuyên ngành: 60.72.76
Hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ THU HÀ
Hà Nội, tháng 11/2007
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
LỜI CẢM ƠN V DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH X TÓM TẤT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu xi
ĐẶT VẤN ĐÊ 1
KHUNG LÝ THUYÉT 4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 5
CHUÔNG 1: TÓNG QUAN 6
1.1 Khái quát về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) 6
1.2 Tình hình lảy nhiễm HIV/AIDS - STDs trên thế giới và Việt Nam 11
1.3 Giải pháp “ABC ” - Thực hiện tĩnh dục an toàn dự phòng lây nhiễm STDs- HIV/AIDS: 17
1.4 Các điều tra sừ dụngBCS trong phòng, chống STDs - HIV/AIDS trong và ngoài nước: 28
1.5 ứng dụng thuyết Hành động có Lý do trong nghiên cứu hành vi sức khỏe phòng, chống STDs -HIV/AIDS 33
1.6 Một số đặc điếm cùa địa bàn nghiên cứu 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 41
2.1 Địa điếm và thời gian nghiên cứu 41
2.2 Đối tượng 41
2.3 Thiết kế nghiên cứu:41 2.4 Mau và phương pháp chọn mẫu 41
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.6 Phân tích và xử lý sổ liệu: 43
2.7 Các biến số nghiên cứu 43
2.8 Một sô khải niệm dùng trong nghiên cứu 43
2.9 Khia cạnh đạo đức trong nghiên cứu 46
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai sổ và biện pháp khắc phục 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 48
3.1 Thông tin cả nhăn cùa đối tượng nghiên cứu 48
3.2 Kiến thức về phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs 49
3.3 Hành vi sử dụng bao cao su trong tình dục an toàn 58
3.4 Thực hành sử dụng BCS trong phòng, chống HIV/AIDS và STDs 63
3.5 Một số yếu tố liên quan với hành vi sử dụng BCS 66
Trang 3CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm nhãn khấu-xã hội học cùa đối tượng nghiên cứu: 73
4.2 Kiến thức về PC STDs và HIV/AIDS: 74
4.3 Hành vi sử dụng BCS trong tĩnh dục an toàn phòng,chongSTDs - HIV/AIDS: 80
4.4 Thực hành sử dụng BCS: 82
4.5 Các yểu tố liên quan: 84
KÉT LUẬN 93
KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Tài liệu tiếng Việt 96
Tài liệu tiếng Anh 99
Phụ lục 1: DIỄN GIẢI KHÁI QUÁT VÉ HÀNH VI VÀ CÁC THÀNH TỒ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH HÀNH VI 103
Phụ lục 2: KHẢI NIỆM VÊ LÝ THUYẾT (Theory) 113
Phụ lục 3: CÁC BIẾN SÓ NGHIÊN cửu 114
Phụ lục 4: CÁCH TỈNH ĐIỂM 117
Phụ lục 5: BỘ CÂU HỎI 119
Phụ lục 6: CÁC CHÌ SÔ NGHIÊN cửu 128
Phụ lục 7: TRANG THÔNG TIN GIỚI THIỆU NGHIÊN cửu 130
Phụ lục 8: GIẤY ĐỔNG Ỷ TRẢ LỜI PHỎNG VẤN NGHIÊN cửu 131
Phụ lục 9: LỊCH TRÌNH THựC HIỆN 132
73
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, côgiáo trường Đại học Y tế công cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứutại trường trong hai năm qua, để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Lời đầu tiên và trên hết, tôi xin được bày tỏ sự kính trọng cùng những lời cảm ơn chân thànhtới TS Bùi Thị Thu Hà Với tư cách là giáo viên hướng dẫn luận văn, với những bề dày tri thức vàchiều sâu tư duy nghiên cứu khoa học, Cô đã đem đến cho tôi những kiến giải, chỉ dẫn vô cùng quantrọng trong quá trình thực hiện luận văn Không những vậy, Cô đã giúp tôi tiếp cận với tư duy phươngpháp luận và khoa học nghiên cứu hành vi - một lĩnh vực có nhiều ứng dụng quan trọng trong y tếcông cộng Chắc chắn, đó sẽ là những kiến thức hữu dụng với tôi trong tương lai
Thành công của luận văn này có phần góp sức rất đáng kể của những người bạn chân tình tronglớp Cao học 9 Với kiến thức và tấm lòng bằng hữu, họ đã mang đến cho tôi không chỉ là những quan
điểm, những góc nhìn đa chiều và sáng suốt mà còn là những sự giúp đỡ tối cần thiết trong những thờiđiểm quyết định
Tôi xin trân trọng cảm ơn các vị lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, nhân viên Phòng Y tế, UB DS
-KHHGĐ, Trung tâm Y tế dự phòng huyện Yên Phong và Ban DS - KHHGĐ thị trấn Chờ, huyện YênPhong, tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực địa và thuthập số liệu tại địa bàn nghiên cứu
Để có được những kết quả học tập và luận văn này, đó là một quá trình nỗ lực mà tôi đã trảiqua cùng với tình thương, sự động viên và hỗ trợ lớn lao luôn hiện diện thường trực của Mẹ và các em.Những kết quả mà tôi đạt được cũng là để dành cho họ
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 thảng 11 năm 2007
Nguyễn Minh Nghĩa
Trang 5BVĐK Bệnh viện đa khoa
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
CDC Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (Center for Disease Control)
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
DS-KHHGĐ Dân số - Ke hoạch hoá gia đình
ĐTV Điều tra viên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
EU Liên minh Châu Au (The European Union)
FDA Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration)
GSO Tổng cục Thống kê (General Statistical Office)
NCV Nghiên cứu viên
NIH Viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health)
PEPFAR Ke hoạch Khẩn cấp Cứu trợ AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (the U.S President’s
Emergency Plan for AIDS Relief)
Trang 61 Vil
QHTD
RHIYA Quan hệ tình dục
Sáng kiến Sức khỏe sinh sản cho giới trẻ châu Á của EU/UNFPA (Reproductive
Health Initiative for Youth ỉn Asia)
SAVY Điều ưa và Đánh giá về giới frẻ Việt Nam (Survey and Assessment of Vietnamese
UNDP Chương trình Phát triển Liên họp quốc (United Nations Development Programme)
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên họp quốc (The United Nations Children’s Fund)
UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc (United Nation Population Fund)
VP AIS Điều ưa các chỉ so AIDS ở quần thể dân cư Việt Nam (The Vietnam Population and
AIDS Indicator Survey)
VSDT Vệ sinh dịch tễ
WHO To chức Y te the giới (World Health Organization)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1: Phân bố theo các thông tin nhân khẩu học của ĐTNC 48
Bảng 5: Hiểu biết về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS 57
Bảng 8 Số ĐTNC có niềm tin hành vi, đánh giá cá nhân về SD BCS đạt 60
Bảng 9 Số ĐTNC có thái độ hướng tới sử dụng BCS đạt yêu cầu 61
Bảng 10: Niềm tin vào chuẩn mực của cộng đồng về sử dụng BCS 61
Bảng 11: Động lực tuân thủ chuẩn mực của cộng đồng về sử dụng BCS 61
Bảng 16: Thực hành sử dụng BCS khi QHTD trong 12 tháng qua 64
Bảng 17: Thực hành sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất 64
Bảng 19: Mối liên quan giữa kiến thức PC STDs - HIV và dự định SD BCS 66
Bảng 20: Mối liên quan giữa thái độ, chuẩn mực và sự tự tin SD BCS với dự định sử
Trang 8ixMối liên quan giữa thái độ và chuẩn mực với sự tự tin sử dụng 68 BCS
Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học và sự tự tin SD 69 BCS
Mối liên quan kiến thức PC STDs - HIV và thực hành SD BCS 70 trong 12 tháng quaMối liên quan yếu tố nhân khẩu học và thực hành SD BCS trong 12 70
tháng quaMối liên quan giữa dự định và tự tin SD BCS với thực hành SD 71BCS trong 12 tháng qua
Mô hình hồi qui logic xác định một số yếu tố liên quan tới việc 72 không có dự định sửdụng BCS trong QHTD an toàn PC
Trang 9Trang Hình 1: Mức độ sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng 49
Hình 5c: Tỷ lệ ĐTNC biết đủ các nội dung của TDAT “ABC” 54
Hình 9: Tỷ lệ ĐTNC biết về cách phòng tránh lây nhiễm HIV 56
Hình 12. Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức PC STDs và HIV/AIDS đạt 58
Trang 10TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu
Trong những năm gần đây, qua kết quả giám sát trọng điểm HIV/AIDS cho thấy đạidịch HIV/AIDS đang ngày càng diễn tiến với tốc độ lây lan nhanh chóng trên phạm vi toànquốc cũng như tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh, với đối tượng bị lây nhiễm và ảnh hưởng chủ yếu
là ở độ tuổi lao động (15-49 tuổi) Cùng với thực trạng \ỷ lệ mắc các bệnh lây truyền qua
đường tình dục (STDs) gia tăng đáng kể trong giai đoạn 2001 - 2005 so với giai đoạn 1996
-2000 thì tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tìnhdục cũng tăng qua các năm Từ thực tế như vậy đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS cần sử dụng các chiến lược can thiệp hiệu quả với một trongcác giái pháp mũi nhọn là tăng cường công tác thông tin - giáo dục - truyền thông về phòng,chống HIV7AIDS và STDs
Nghiên cứu “Hành vỉ sử dụng bao cao su trong tình dục an toàn phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs ở nam giới 18-49 tuổi đã lập gia đình tại thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2007.” được đề xuất tiến hành trên 290 nam giới độ tuổi 18-49 tuổi
đã lập gia đình và đang sinh sống tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh nhằm
mô tả hành vi tình dục an toàn sử dụng bao cao su và một số yếu tố liên quan trong phòngchống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs của nam giới độ tuổi lao động tại thị trấn này Đây lànghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, được tiến hành từ tháng 04 - 09/2007 Mau nghiêncứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống dựa trên khung mẫu là danh sáchtổng số 1.980 nam giới 18-49 của thị trấn, số liệu được thu thập qua phỏng vấn cá nhân theo
bộ câu hỏi thiết kế sẵn Việc nhập và phân tích số liệu được thực hiện bằng chương trìnhphần mềm Epi Data và SPSS ver.13.0
Ket quả cho thấy:
Nhìn chung, các ĐTNC có kiến thức về HIV/A1DS tốt hơn kiến thức về STDs Tỷ lệĐTNC đạt yêu cầu về kiến thức STDs là: 46,9% Tỷ lệ đạt yêu cầu về kiến thức HIV/AIDSlà: 63,9% Tỷ lệ ĐTNC đạt yêu cầu về kiến thức STDs - HTV/ATDS ở mức thấp, chỉ chiếm38,4%, trong đó kiến thức cụ thể của các ĐTNC biết về các bệnh STDs, dấu hiệu của bệnh
và cách phòng rất kém: Hầu hết các ĐTNC chỉ biết đến hai bệnh STDs là lậu và giang mai(64,0% và 66,5%) Chỉ có 5,8% số ĐTNC biết được 3 bệnh hở lên và có 22,5% không biếtmột bệnh STDs nào Tỷ lệ ĐTNC biết những dấu hiệu của các bệnh
Trang 11STDs thấp, tỷ lệ ĐTNC biết từ 3 dấu hiệu trở lên chiếm 12,7%, tỷ lệ ĐTNC không biết mộtdấu hiệu nào chiếm 44,5% Hiểu biết về tình dục an toàn ABC chưa tốt: Khoảng hai phần ba
số ĐTNC biết “luôn sử dụng BCS khi QHTD” (65,9%) Có 41,3% số ĐTNC biết 01 nộidung của TDAT, 40,2% biết được 02 nội dung Tỷ lệ biết đủ cả 03 nội dung rất thấp(16,1%)
Chỉ có một phần ba số ĐTNC biết chính xác virus HIV là tác nhân gây ra AIDS(33,4%) Chủ yếu các ĐTNC biết đon lẻ từng đường lây nhiễm Tỷ lệ ĐTNC biết được 3đường lây nhiễm chính của HIV/AIDS rất thấp (15,0%) Tỷ lệ ĐTNC biết 3 biện phápphòng chính chiếm 64,2%
Có chưa tới một phần năm số ĐTNC (17,2%) có thái độ hướng tới sử dụng BCS đạt
Có 59,7% số ĐTNC có chuẩn mực cá nhân về SD BCS đạt Tỷ lệ ĐTNC có dự định SDBCS đạt là 21,4% số ĐTNC có sự tự tin SD BCS đạt yêu cầu là 30,3%
Có 22,4% số ĐTNC có sử dụng BCS khi QHTD trong 12 tháng qua và 19,3% sốĐTNC sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất vì các lý do: Tránh thai (41,1% ); Phòngngừa lây nhiễm STDs (14,3%); Vì cả hai lý do này (44,6%) Các lý do không sử dụng phổbiến nhất là: Thấy không cần thiết (80,1%) và bản thân không muốn (50,2%)
Dự định sử dụng BCS của các ĐTNC bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố là thái độ hướngtới sử dụng BCS và sự tự tin sử dụng BCS Hành vi sử dụng BCS của các ĐTNC nằm dưới
sự kiểm soát thái độ (attitudinal control)
Từ các kết quả trên, một số khuyến nghị được đề xuất như: Tăng cường thực hiệncác nội dung truyền thông về cả PC STDs và PC HIV/AIDS Đẩy mạnh việc tuyên truyền sửdụng BCS trong công tác PC HIV/AIDS cũng như lồng ghép truyền thông vận động SDBCS vì mục đích PC STDs - HIV/AIDS trong các hoạt động DS-KHHGĐ Thúc đẩy nhậnthức, thái độ và hành vi của người dân về tình dục an toàn một cách đầy đủ và tích cực honnữa Đẩy mạnh hoạt động “tiếp thị BCS” Tiếp cận và áp dụng các hình mẫu can thiệp thayđổi hành vi trong PC STDs — HIV/AIDS tại địa phương, trong đó, cần phải ưu tiên các tácđộng tới hệ thống các niềm tin, sự đánh giá của đối tượng đích
Trang 12ĐẶT VẨN ĐÈ
Bệnh lây truyền qua đường tình dục - STDs (trong đó bao gồm HIV/AIDS) là cácbệnh do mầm bệnh lây từ người bệnh sang người khác qua QHTD Bệnh STDs đã trở thànhvấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu, đặc biệt khi Hội chứng suy giảm miễn dịch mắcphải ở người (AIDS) đã trở thành đại dịch mang tính toàn cầu lớn nhất trong lịch sử loàingười từ trước tới nay HIV/AIDS đã gây ra những ảnh hưởng lớn và hậu quả nặng nề cho
sự phát triển kinh tế, hệ thống y tể - giáo dục, và nhất là tới lực lượng lao động của các quốcgia
Kể từ khi phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm HIV/AIDS vào năm 1981 ở LosAngeles đến nay, trong khi vẫn chưa có vaccin và phương cách điều trị hữu hiệu, số ngườinhiễm HIV/AIDS được phát hiện trên toàn cầu đã và đang gia tăng một cách nhanh chóngqua từng năm tháng Tính đến tháng 12/2006, trên toàn thể giới có khoảng 39,5 triệu người
sống với HIV, tức là tăng hơn 2,6 triệu so với năm 2004 Chiếm phần lớn trong tổng sốngười nhiễm HIV trên thế giới là người lớn độ tuổi 15 - 49: 37,2 triệu người, trong đó, sốnam giới (15+) sống với HIV là 19,5 triệu người (chiếm 55,2% tổng số) Theo UNAIDS(năm 2006), trên thế giới 80% các trường họp nhiễm HIV là lây qua đường tình dục, trong
đó, hơn 70% là qua QHTD khác giới và 10% qua QHTD đồng giới [72], [74], [79]
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất châu Á, dịchHIV ở Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng với việc phát hiện các ca nhiễm HIV ở tất cả 64 tỉnh,thành trên cả nước Nguyên nhân chính làm dịch gia tăng ở Việt Nam là do sự kết họp giữacác hành vi tình dục không an toàn và tiêm chích ma túy [11], [38], [39] Tính đến ngày31/12/2005, đã có 104.111 người nhiễm HIV, trong đó có 17.289 bệnh nhân AIDS, 10.071người đã tử vong vì AIDS [11] Trong tổng số người nhiễm HIV được phát hiện ở nước ta,nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ giới, khoảng 85% tổng số người nhiễm HIV sốngười nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 15 - 49 chiếm tới 95% trên tổng số người nhiễm HIVđược báo cáo Tỷ lệ hiện nhiễm HIV, một chỉ số quan trọng trong việc giám sát và đánh giádịch tễ HIV/AIDS, cũng
Trang 13liên tục gia tăng Năm 2003, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong dân số ViệtNam ở độ tuổi 15 - 49 ở mức 0,44%, và đến năm 2006, tỷ lệ này đã là0,53% [1], [13], [26].
Ngoài HIV/AIDS, trong 5 năm (2001-2005), cả nước đã có 1.016.595 ca mắc STDsđược điều trị So sánh 2 giai đoạn (1996-2000) và (2001-2005), trừ Lậu và Giang mai cóchiều hướng giảm, còn các bệnh LTQĐTD khác đều tăng (Hạ cam tăng 2,1%, Trichimonas
âm đạo tăng 36,6%, Candida âm đạo tăng 22,3%, các bệnh STDs khác tăng gấp 3 lần).[35]
Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 đã nhậnđịnh rằng: Nam giới, nhất là nam giới trong độ tuổi lao động 15 - 49t là một nhóm quantrọng hàng đầu trong các nhóm cộng đồng có nguy cơ lây nhiễm cao và chịu tác động rất lớn
từ đại dịch HIV/AIDS trên nhiều khía cạnh [1], [26]
Theo khuyến cáo của WHO/UNAIDS và Chiến lược Quốc gia phòng, chốngHIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 thì một trong những giải pháp dự phòng hiệu quả đểphòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs là cách tiếp cận dự phòng tình dục an toàn theocông thức “ABC” [1], [79]:
A: Abstinence - kiêng cữ, tiết dục (không QHTD);
B: Be faithful - chung thủy; sống một vợ một chồng,
C: Condom use - sử dụng bao cao su
trên cơ sở phối họp chặt chẽ với tiếp cận truyền thông thay đổi hành vi
Bắc Ninh là một trong 10 tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người nhiễmHIV/AIDS Trong những năm gần đây, tình hình lây nhiễm HIV tại Bắc Ninh có xu hướngdiễn biến phức tạp, không chỉ tập trung ở TP Bắc Ninh mà đã lan tới các huyện vùng thuầnnông trong tỉnh [25], [30] Tại huyện Yên Phong, theo số liệu báo cáo tính đến 31/12/2006,toàn huyện có 35 người nhiễm HIV, trong đó 80% thuộc độ tuổi 15-49 tuổi Địa bàn cóngười nhiễm HIV/AIDS tập trung chú yếu ở thị trấn Chờ và một số xã khác [30], [31]
Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành phòng, chống STDs vàHIV/AIDS của người dân trong cộng đồng nói chung, của nam giới độ tuổi lao động 15 - 49tnói riêng được tiến hành tại Yên Phong [16] Thị trấn Chờ,
Trang 14nơi nghiên cứu được tiến hành, có gần 2.500 nam giới 15-49 tuổi (chiếm 23,6% dân số),trong đó nam giới từ 18-49 tuổi chiếm 85% Vậy, câu hỏi đặt ra là: Nam giới trong độ tuổilao động 15-49 tuổi tại đây có kiến thức, thực hành về phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS
và STDs như thế nào? Việc sử dụng bao cao su, một trong những hành vi sức khỏe quantrọng nhằm phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs của họ có được xác lập hay chưa?
Có những yếu tố nào liên quan tới hành vi đó?
Việc làm rõ những câu hỏi trên sẽ giúp nhận định xác đáng về kiến thức, thái độ,thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs cũng như một số “cửa sổ” tiếp cậnhiệu quả cho công tác truyền thông thay đổi hành vi của người dân trong cộng đồng Từ đó,góp phần đưa ra những khuyến nghị phù hợp và có hiệu quả cho chương trình giáo dục,tuyên truyền về cách phòng chống STDs và HIV/AIDS cho các nhóm đối tượng cộng đồng,
mà trong đó, nam giới trong độ tuổi lao động 15 - 49t là một nhóm quan trọng
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Hành vi sử dụng bao cao su trong tình dục an toàn phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs ở nam giới 18 - 49 tuổi đã lập gia đình tại thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2007.”
Trang 15KHUNG LÝ THUYẾT
Áp dụng mô hình lý thuyết Hành động có Lý do (TRA - Theory of Reasoned Action) cho hành vi sử dụng BCS
(K Bosompra, University of Vermont, Burlington, USA Social Science & Medicine 52
(2001) 1057-1069
Theory of Reasoned Action Aljen.I, Fishbein.M (1980) Understanding attitude and
predicting social behavior New Jersey Prentice Hall Inc.) [46]
Trang 16MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1.1 Mục tiêu chung:
Mô tả hành vi sử dụng bao cao su và các yếu tố liên quan trong tình dục an toàn phòngchống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs ở nam giới độ tuổi 18 - 49 đã lập gia đình tại thị trấnChờ, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2007 Từ đó, đưa ra các khuyến nghị tăng cường hành vitình dục an toàn ở nam giới trong phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và STDs
1.2 Mục tiêu cụ thể:
1 Mô tả kiến thức về phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS - STDs của nam giới độ tuổi
18 - 49 đã lập gia đình tại địa bàn nghiên cứu năm 2007
2 Mô tả hành vi sử dụng bao cao su trong tình dục an toàn của nam giới độ tuổi 18 - 49
đã lập gia đình tại địa bàn nghiên cứu năm 2007
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng bao cao su trong tình dục antoàn của nam giới độ tuổi 18 - 49 đã lập gia đình tại địa bàn nghiên cứu năm 2007
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs), trong đó bao gồm dịch HIV/AIDS,
là nhóm bệnh chủ yếu trong các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STI) Đây lànhóm bệnh liên quan chặt chẽ đến hành vi tình dục không an toàn STDs ảnh hưởng lớn đếnsức khoẻ cộng đồng, là vấn đề quan trọng của y tế công cộng, bởi rất dễ dàng lây truyền trênphạm vi rộng, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời thì có thể gây ra những hậu quảnghiêm trọng như: Sảy thai, vô sinh, tử vong sản khoa, mù lòa, tàn phế, v.v Bên cạnh đó,nhiều bệnh STDs còn gây ra tình trạng nhiễm bệnh từ người mẹ cho trẻ trong thời kỳ chusinh
Trong những năm gàn đây, khi đại dịch HIV/AIDS lan tràn ở nhiều khu vực, quốcgia thế giới, việc phòng, chống STDs lại càng trở nên cấp bách hơn vì giữa STDs vàHIV/AIDS có mối quan hệ mật thiết với nhau Virus HIV lây truyền từ người này sangngười khác dễ dàng hơn nếu như một trong hai người hoặc cả hai bị mắc STDs, đặc biệt làgiang mai, hạ cam, lậu, herpes sinh dục và trùng roi Các nhiễm khuẩn này làm tăng nguy cơ
lây truyền HIV từ 2 - 9 lần khi bị phơi nhiễm, kể cả những STDs không gây loét mà chỉ có
viêm nhiễm cũng làm tăng lây truyền HIV vì trong dịch tiết có tăng bạch cầu đa nhân Cácbạch cầu này vừa là mục tiêu vừa là nguồn lây HIV Hơn nữa, một người nhiễm HIV dễ bịmắc STDs hơn do sức đề kháng giảm, đồng thời khiến cho việc điều trị STDs cũng phức tạphơn rất nhiều Các nghiên cứu trên thực địa cho thấy rằng việc kiểm soát tốt STDs sẽ làmgiảm số người mới mắc HIV Bên cạnh đó, việc khám chữa bệnh - truyền thông giáo dục sứckhỏe cho những người bị mac STDs và có nguy cơ nhiễm STDs sẽ là cơ hội tốt đế thực hiệncác hoạt động thông tin - giáo dục — truyền thông phòng chống lây nhiễm HIV/A1DS rấthiệu quả [1], [7]
1.1 KHÁI QUÁT VÈ CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC (STDs):
[1], [3], [8], [9], [12]
Bệnh STDs là những bệnh viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục là chủ yểu nhưng cũng cóthể lan truyền khắp cơ thể Bệnh lây từ người này sang người khác qua
Trang 18■
QHTD không được bảo vệ Bệnh STDs chủ yếu lây qua âm đạo, hậumôn, miệng nhưng cũng có thể lây qua các đường khác như tiêm chích,tiếp xúc trực tiếp với tổn thương của bệnh Tên gọi trước kia của căn bệnhnày là bệnh hoa liễu, đến nay người ta đã tìm được trên 24 bệnh LTQĐTD.Trong đó, một số bệnh thường gặp là:
1.1.1. Bệnh lậu (Gonorrhoea)
Bệnh lậu, do cầu khuẩn lậu (Neisseria gonorrhoea) gây ra, đã được biết đến từ lâu.
Triệu chứng cùa bệnh thường xuất hiện sau khi có QHTD với người mắc bệnh từ 3 - 7 ngày
Nữ giới thường không thấy dấu hiệu gì đặc biệt, có thể thấy đau khi đi tiểu, ra nhiều khí hư
có màu xanh hoặc vàng mùi hôi, đau bụng dưới âm ỉ, đau họng và sốt nhẹ Nam giới sẽ thấyđau như dao cắt khi đi tiểu, có mủ tiết ra ở đầu dương vật, có thể có sốt Cũng có người bịmắc bệnh nhưng không thấy dấu hiệu gì bất thường Bệnh lậu có thể gây vô sinh cho cả nam
và nữ nếu bị mắc bệnh mà không chữa trị đúng và kịp thời
1.1.2. Bệnh giang mai (Syphilis)
Bệnh giang mai cũng được biết đến từ rất lâu do vi khuẩn giang mai (Treponema
pallidum) gây nên Bệnh rất nguy hiểm cần phải được phát hiện, chữa trị đúng và kịp thời.Bệnh tiến triển qua 3 giai đoạn với các dấu hiệu ở cả nam và nữ như sau:
- Giai đoạn 1: Sau khi QHTD với người mắc bệnh từ 10-90 ngày thấy xuất hiện một
số nốt sần màu đỏ không đau ở trên da VỊ trí nốt sần có thể ở bất cứ nơi nào trên cơ thể,trong âm đạo, hậu môn hoặc ở trong miệng Nốt sần đã mất đi nhưng bệnh vẫn tiếp tục pháttriển sang giai đoạn 2
- Giai đoạn 2: Sau giai đoạn 1 khoảng 6 tuần Xuất hiện phát ban khắp cơ thế, đặcbiệt thấy nhiều ở tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân Các nốt ban sẽ mất đi sau 2-4 ngày Ngườibệnh có thể sốt với nhiệt độ dao động, ăn không ngon miệng, giảm cân nhanh, thể trạng cảmthấy mệt, yếu Các dấu hiệu ở giai đoạn này rất dễ nhầm với nhiều bệnh khác và vì thế, cóthể được chữa trị không đúng
- Giai đoạn 3: Sau 2-20 năm thì não, hệ thần kinh, hệ tim mạch bị ảnh hưởng nặng
nề, người bệnh rất gầy yếu, rụng tóc, bị tâm thần, bị liệt và cuối cùng sẽ chết
Trang 19hiện sau khi QHTD với người bệnh từ 2 - 14 ngày Nữ giới mắc bệnh thường không có dấuhiệu gì đặc biệt, có thể có đau bụng dưới âm ỉ, dịch tiết âm đạo nhiều Bệnh nhân có thể thấychảy máu sau khi QHTD hay giữa chu kỳ kinh, đau khi giao họp và đi tiểu Trường họpkhông được điều trị, bệnh sẽ gây viêm vùng chậu hông, có thể dẫn đến chửa ngoài tử cunghoặc vô sinh Nam giới bị mắc bệnh cũng thường không thấy dấu hiệu gì, có thể ngứa rát khi
đi tiểu, nếu không điều trị có thể dẫn đến viêm tinh hoàn và bìu
1.1.4 Bệnh trùng roi đường sinh dục (Trichomoniasis)
Bệnh còn được gọi là viêm âm đạo do trùng roi, do loại ký sinh trùng có tên là trùng
roi (Trichomonas vaginalis) gây ra Sau khi bị nhiễm trùng roi từ 4 ngày đến 3 tuần ở nữ cóthể thấy dịch âm đạo tiết ra nhiều bọt màu hơi vàng, có mùi không bình thường, ngứa âm hộ.Phần lớn cả nam và nữ khi mắc bệnh này thường không có dấu hiệu gì trong thời gian khá
dài
1.1.5 Bệnh sùi mào gà sinh dục (Genital warts)
Bệnh do vi rút sùi mào gà (Human papiloma virus) gây ra Sau khi vi rút xâm nhập
từ 2 - 3 tháng thấy xuất hiện một mụn sần, sau đó các mụn khác sẽ phát triển tập trung nhiềuxung quanh mụn ban đầu và sùi lên trông giống hoa súp lơ hay mào gà Mụn sần có thể mọc
đơn lẻ chứ không tập trung thành nhóm, có mụn không sùi lên mà lại phẳng, rất mềm, mục
có thể phát triển ở dương vật, âm đạo và xung quanh da hậu môn Bệnh rât khó chữa khỏi,hay tái phát và gây biển dạng cơ quan sinh dục và gây đẻ khó ở phụ nữ
1.1.6 Bệnh Ecpet sinh dục (Genital herpet)
Hay còn gọi là mụn rộp sinh dục, do virus Herpet gây nên Đổi với phụ nữ bị nhiễm
bệnh thì có nguy cơ lây nhiễm thai nhi, gây sẩy thai, viêm não - màng não, Các xét nghiệmhiện nay ở Việt Nam chưa sẵn có, vì vậy chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng
Trang 20Thời gian ủ bệnh 3-5 ngày Hơn một nửa số bệnh nhân không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ Triệu chứng chủ yếu là xuất hiện các mụn nước ở bộ phận sinh dục, các mụn này nhanh chóng vỡ ra để lại các vết loét nông, đau và liên kêt với nhau thành vêt lớn
có bờ hình vòng cung Kèm theo là các triệu chứng toàn thân của viêm nhiễm Bệnh rất dễ bội nhiễm vi khuẩn khác khiến tổn thương trầm trọng hơn Thời gian tiến triển thường từ 2 -
3 tuần Het đợt tiến triển, tuy bệnh nhân khỏi nhưng chỉ là về triệu chứng, virus vẫn tồn tại trong cơ thể nên gây ra tái phát nhiều lần
1.1.7 Bệnh hạ cam (Chancroid)
Bệnh gây ra do nhiễm loại vi khuẩn Haemophilus ducreyi Tổn thương là vet loét
mềm ở bộ phận sinh dục xuất hiện thường 3-5 ngày sau khi bị lây bệnh Trái với giang mai, tổn thương loét thường không đau và tự lành sau một thời gian, tổn thương loét của hạ cam tồn tại nhiều tháng, nhiều năm nếu không được điều trị Bên cạnh triệu chứng chính là loét, bệnh nhân còn có sưng, đau hạch
1.1.8 Bệnh viêm gan B (Hepatitis B)
Do vi rút viêm gan B gây ra, bệnh lây truyền qua QHTD không an toàn, qua đườngmáu Triệu chứng xuất hiện sau khi nhiễm vi rút 2 - 6 tháng, có dấu hiệu mệt mỏi, chán ăn,đau bụng, buồn nôn, nôn, vàng da và sau đó xuất hiện các ban trên da Vi rút viêm gan B cóthể xâm nhập vào cơ thể rất lâu mà không có triệu chứng gì trong một thời gian dài sau đógây tổn thương cho gan và dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan
1.1.9 HIV/AIDS :[8], [9], [12], [60], [64]
Ca bệnh AIDS được phát hiện đẩu tiên năm 1981 ở Los Angeles với các biểu hiện
viêm phối nặng do Pneumocystis carinii (PCP - Một loại ký sinh trùng đơn bào chỉ gây bệnh
trên người suy giảm miễn dịch) trên 5 thanh niên đồng tính luyến ái
Tảc nhân gây AIDS là vi rút HIV - một loại retrovirus, nên nó có các đặc điểm củanhóm vi rút này, đó là các ARN vi rút có men sao chép ngược mà bản chất là ANDpolymeraza phụ thuộc ARN
1- Lịch sử tự nhiên của nhiễm HIV/AIDS:
Trang 21Thời gian chuyển đổi huyết thanh là thời kỳ giữa nhiễm HIV và sự xuất hiện cáckháng thể có thể phát hiện bằng xét nghiệm thông thường gọi là giai đoạn cửa sổ Thời gian
ủ bệnh có thể là thay đổi và lâu, trung bình 10 năm nhưng có thể lâu hơn tới 15 năm Tiếpđến xuất hiện những triệu chửng như chán ăn, suy kiệt, lở loét, ỉa chảy, nấm miệng Thờigian sống sót trung bình sau khi có chẩn đoán AIDS là 1 - 2 năm nhưng cũng có thê ngắnhơn
2- Các yếu tố nguy cơ và yếu tố làm tăng nguy cơ:
+) Các yếu tổ nguy cơ nhiễm HIV: Tuy bao gồm nhiều yếu tố nhưng nối bật nhất làmột số nguy cơ như: Có nhiều bạn tình, không dùng bao cao su khi QHTD, tiêm chích matúy
+) Các yếu tố sinh học làm tăng nguy cơ nhiễm HIV: mắc các bệnh lây truyền quađường sinh dục (STDs), nhất là các bệnh gây loét bộ phận sinh dục như herpes, giang mai,
hạ cam, virus Epstein-Barr, viêm gan B, không cắt bao quy đâu ở nam giới
3- Các đường lây truyền HIV:
+) Ba đường lây truyền chính:
- Các hình thức QHTD: HIV lây truyền qua giao hợp với người bị nhiễm HIV, sựgiao họp thường xảy ra qua giao hợp nam - nữ, nhưng cũng có thể nam - nam qua đường hậu
môn ở những người sinh hoạt tình dục đồng giới hay khác giới Những vết xây xước nhỏ cóthể không nhìn thấy bằng mắt thường nằm trên trên bề mặt âm đạo, hậu môn hoặc dương vật,đây chính là đường vào của vi rút Người nào nhận tinh dịch sẽ bị nguy cơ cao hơn, càngquan hệ với nhiều người thì nguy cơ càng cao, đặc biệt nếu có mắc các bệnh lây truyền quađường tình dục thì nguy cơ tăng lên rất nhiều lần
- Tiếp xúc với máu: Thông qua dùng chung bơm kim tiêm bị nhiễm HIV mà khôngđược tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt ở nhóm nghiện chích ma tuý, truyền máu và các yếu tố củamáu; các thủ thuật, phẫu thuật Pong y tế mà không được tiệt trùng cẩn thận; cấy ghép cơquan phủ tạng, tổ chức cho nhận tinh dịch của người nhiễm Nguy cơ lây truyền HIV quađường máu có tỷ lệ rất cao trên 90% Tuy nhiên sau
Trang 22khi có các xét nghiệm sàng lọc các kháng thể trong máu, thì nguy cơ lây lan truyền theođường máu đã giảm đi đáng kể
- Truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ chu sinh:
Khi bị nhiễm HIV mà có thai thì bản thân người mẹ có thể truyền cho con của họ Sựlây truyền xảy ra theo 3 giai đoạn: Lây truyền qua rau thai trong thời kỳ mang thai; Lâytruyền lúc sinh; Lây truyền qua sữa mẹ ở thời kỳ nhũ nhi
+) Một số ít trường hợp lây truyền do dùng chung bàn chải đánh răng, dao cạo hoặctiếp xúc với các vết thương có rỉ máu
HIV/AIDS không lây qua những tiếp xúc thông thường như ôm hôn, bắt tay, ăn
chung ở chung hoặc qua các côn trùng đốt như muỗi, rệp
1.2 TÌNH HÌNH LÂY NHIỄM HIV - STDs TRÊN THÉ GIỚI VÀ VIỆT NAM:
1.2.1 Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS - STDs trên thế giói:
HIV/AIDS đã trở thành đại dịch nguy hiểm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới [10] Tốc độ phát triển của đạidịch AIDS trên toàn cầu lớn chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại Nếu tháng 12/1990 có
985.119 ca HIV thi đến tháng 12/1996 đã có 22,5 triệu người nhiễm HIV, và đến tháng12/2006, trên thế giới có 39,5 triệu (34,1 triệu - 47,1 triệu) người sống với HIV, tức là tăng
hơn 2,6 triệu so với 2004 Chỉ riêng năm 2006, ước tính 4,3 triệu (3,6 triệu - 6,6 triệu) ngườilớn và trẻ em mới nhiễm HIV, số tử vong do AIDS là 2,9 triệu người Trong số người nhiễmcòn sống có 37,2 triệu người từ 15 - 49 tuổi, trong đó 17,7 triệu phụ nữ Trong số người đãchet do AIDS có 12,7 triệu người lớn ở độ tuổi 15-49 [72], [79], [80]
Tính trung bình mỗi năm, thế giới có khoảng 4-5 triệu người bị nhiễm HIV vàkhoảng 3 triệu người bị chết vì AIDS Mỗi ngày có khoảng 14.000 người bị nhiễm HIV,trong đó 95% số người mới nhiễm này thuộc các nước đang phát triển [38], [72], [78],
Trang 23Số liệu và đặc điểm của HIV/AIDS theo khu vực trên thế giói, năm 2006.
(Nguồn: WHO và UNAIDS, tháng 12/2006, Cập nhật tình hình dịch AIDS) [72]
Khu vực Số người lớn và
TE sống vớiHIV
Số người lớn và
TE mới nhiễmHIV
Tỷ lệ người lớnhiện nhiễm (%)
Số tử vong vìAIDS
Cận Sahara, châu Phi 24,7 triệu 2,8 triệu 5,9 2,1 triệu
Châu Phi đang gánh chịu hậu quả nặng nề của đại dịch HIV/AIDS Có tới hai phần ba(63%) tổng số người lớn và trẻ em sống với HIV trên toàn cầu là đang sinh sống tại khu vựcCận Sahara Châu Phi, với tâm điểm của dịch là miền Nam Châu Phi Một phần ba (32%) tổng
số người sống với HIV là cư dân miền Nam Châu Phi và 34% tổng số các ca tử vong do AIDStrên toàn cầu trong năm 2006 xảy ra ở khu vực này [72], [78], [79]
Trong khi đó, đại dịch đang có xu hướng chuyển trọng điểm từ châu Phi sang Nam Á
và Đông Nam Á Đây là các khu vực đông dân, mức độ di biến động dân số cao tạo thuận lợicho việc lan truyền HIV/AIDS trong từng nước và lây truyền qua biên giới Dự báo trongnhững năm đầu thế kỷ 21, ở khu vực này sẽ có khoảng 25 triệu người nhiễm HIV, tăng gấp 4lần so với cuối năm 1997 [72], [77], [79], Trong vài năm gần đây tốc độ lây nhiễm HIV ởChâu Á, Đông Nam Á vào loại cao nhất thế giới và trong đó, Đông Nam Á là khu vực có tỷ lệnhiễm HIV cao nhất tại châu Á Tình trạng mua bán dâm không bảo vệ, tình dục đồng giới vàtiêm chích ma túy không an toàn đã tiếp tục đẩy dịch gia tăng ở hầu hết các nước trong khuvực
Trang 24Trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên tại khu vực châu Á được phát hiện tại Thái Lanvào năm 1985 Đến những năm 90 của thế kỷ trước, các nước như Campuchia, Myanmar vàThái Lan đã công bố dịch trên toàn quốc Ớ thời điếm tháng 12/2001, tổng số người bị nhiễmHIV/AIDS tại khu vực là 6,1 triệu người, đến tháng 12/2005 ước tính có 8,6 triệu người bịnhiễm HIV, bao gồm 960.000 người mới nhiễm HIV trong năm 2005 Chỉ riêng trong năm
2006, đã có khoảng 630.000 người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến AIDS Nghiêmtrọng nhất là ở Thái Lan với khoảng 580 nghìn người (chiếm 2% số người lớn), số trẻ mồ côi
vì AIDS khoảng 48.000 người Ở Campuchia, khoảng 180.000 người lớn nhiễm HIV (chiếm3,7% số người lớn), số trẻ em mồ côi vì AIDS khoảng 7.300 người Tại Myanmar có 360.000người nhiễm HIV, tỷ lệ hiện nhiễm trung bình trên toàn quốc là 1,3%, tỷ lệ hiện nhiễm trongnhóm thanh, thiếu niên 15-24 tuổi là 2,2% Tại Trung Quốc, vào cuối năm 2005, UNAIDS vàWHO ước tính có 650.000 người đang sống với HIV Mặc dù HIV đã được phát hiện ở trên tất
cả các tỉnh của đất nước rộng lớn này nhưng phần lớn số trường hợp được báo cáo là từ cáctỉnh Hà Nam, Tân Cưong, Quảng Đông và đặc biệt là ở 02 tỉnh giáp biên giới Việt Nam làQuảng Tây và Vân Nam Đường lây truyền HIV hàng đầu ở Trung Quốc là do QHTD không
an toàn, tiếp đến là do tiêm chích ma túy Hơn một nửa (54%) số người đang sống với HIV
được cho là QHTD không an toàn, 49% người trong độ tuổi trưởng thành hầu như không bao
giờ sử dụng bao cao su khi QHTD [78], [79], [80],
Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái khác biệt Tại Thái Lan
và Campuchia hình thái lây nhiễm HIV hầu như chủ yếu qua QHTD khác giới Ở một số nướcnhư Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia thì bên cạnh tình trạng lây truyền qua QHTD không antoàn vẫn đang tiếp tục có chiều hướng gia tăng còn thêm một hình thái lây nhiễm phổ biếnkhác là tiêm chích ma túy
Trong khi dịch HIV/AIDS đang gia tăng cả về phạm vi lẫn số lượng thì tình hình mắccác STDs khác cũng rất đáng quan ngại Hàng năm, trên thế giới có khoảng 340 triệu trườnghọp bị nhiễm các bệnh LTQĐTD không kể HIV/AIDS ở độ
Trang 25tuổi 15 - 49, trong đó có 11,76 triệu trường hợp nhiễm giang mai;62,35 triệu trường họp nhiễm lậu; 91,98 triệu trường họp nhiễmChlamydia; 167,2 triệu trường hợp nhiễm trùng roi; 90% các trường họpnày xảy ra ở các nước đang phát triển.
Ước tính hiện mắc và số mắc mới STDs theo khu vực, năm 1999
người lớn(triệu)
Số người lớnnhiễm STDs(triệu)
Số người lớnnhiễmSTDs/1.000dân
số nhiễmmới năm
1999 (triệu)
(Nguồn: WHO, Geneva, 2001) [82]
Số mắc mới xuất hiện nhiều nhất là ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á, tiếp theo là khu vựcCận Sahara - châu Phi và khu vực Mỹ Latinh và Caribe Tỷ lệ các trường họp nhiễm mới tính
trên 1000 dân cao nhất là ở khu vực Cận Sahara - châu Phi Khu vực châu Á - Thái BìnhDương có khoảng 169 triệu mới mắc các nhiễm khuẩn này hàng năm, trong đó, trùng roi âmđạo cao nhất chiếm tới 47%, nhiễm Chlamydia trachomatis 33%, lậu 16% và giang mai 2%.[7], [82]
1.2.2 Tình hình lây nhiễm STDs - HIV/AIDS ở Việt Nam
Tại Việt Nam, từ trường họp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào cuối tháng 12năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, dịch HIV đã lan ra khắp các tỉnh, thành phố trong cảnước với tốc độ nhanh chóng Chỉ riêng trong năm 1999, số trường họp nhiễm HIV đã pháthiện được chiếm khoảng 50% tổng số các trường họp phát hiện của những năm trước [34]
Trang 26Theo báo cáo cùa WHO và UNAIDS thì đến tháng 12/2002, tổng số người nhiễm HIV
ở Việt Nam là 130.000 người; đến tháng 12/2004 có khoảng 210.000 người và đến cuối năm
2005 đã có tới 260.000 (150.000 — 430.000) người nhiễm HIV Đến tháng 7/2006, dịch HIV/AIDS đã xuất hiện ở 64/64 tỉnh, thành phố trên cả nước với hơn 93% số huyện đã có ngườinhiễm HIV/AIDS Một số tỉnh, thành đã có 100% số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS.Trung binh, mỗi năm Việt Nam có khoảng 40.000 người nhiễm HIV, phần lớn trong số này lànhững người có QHTD không an toàn và tiêm chích ma túy Chỉ riêng trong năm 2005, ướctính đã có 37.000 người Việt Nam bị nhiễm HIV và khoảng 14.000 người đã chết vì AIDS.Tính đến ngày 31/12/2005, đã có 104.111 người nhiễm HIV, trong đó có 17.289 bệnh nhânAIDS, 10.071 người đã tử vong vì AIDS Neu tính từ 01/01/2006 đến hết tháng 07/2006, trêntoàn quốc đã có thêm 7.037 trường hợp nhiễm HIV được báo cáo, số bệnh nhân AIDS báo cáo
là 1.559 trường hợp và số bệnh nhân AIDS tử vong báo cáo là 869 trường hợp [11], [13], [72]
Trong tổng số người nhiễm HIV được phát hiện ở nước ta, nam giới chiếm tỷ lệ caohơn so với nữ giới, khoảng 85% tổng số người nhiễm HIV số người nhiễm HIV trong nhómtuổi từ 15 - 49 chiếm tới 95% trên tổng số người nhiễm HIV được báo cáo Năm 2003, tỷ lệ
hiện nhiễm trong dân số Việt Nam ở độ tuổi 15 - 49 ở mức 0,44% Đến tháng 7/2006, tỷ lệ này
đã ở mức 0,53%, cá biệt ở một số tỉnh, thành lên tới 1% Đây là một chỉ sổ quan trọng trongviệc giám sát, đánh giá dịch tễ HIV/AIDS và báo động sự gia tăng đáng kể của dịchHIV/AIDS ở Việt Nam [1], [4], [6], [26], [73],
về tình hình lây nhiễm STDs, theo báo cáo mà Viện Da liễu Quốc gia nhận được từ cáctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cả nước thì số người mac STDs hàng năm khoảng130.000 trường họp Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia thì hàng năm có khoảng gần
1 triệu trường họp mới mắc Hiện nay, số liệu về STDs tại Việt Nam được tập hợp từ các báocáo trường họp bệnh của các tỉnh và báo cáo giám sát tại 10 tỉnh trọng điểm Chỉ trong 5 năm
từ 2001 - 2005, cả nước đã có 1.016.595 ca mắc STDs được điều trị So sánh 2 giai đoạn 1996
- 2000 và 2001 - 2005, trừ lậu và giang mai có chiều
Trang 27hướng giảm, các bệnh STDs khác đều tăng (Hạ cam tăng 2,1%,trichimonas âm đạo tăng 36,6%, candida âm đạo tăng 22,3%, các bệnhSTDs khác tăng gấp 3 lần) [35].
Qua kết quả các nghiên cứu cho thấy các nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao như:Người bán dâm, người tiêm chích ma túy, người có quan hệ tình dục đồng giới nam, thanhthiếu niên và vị thành niên là những nhóm có tỷ lệ nhiễm STDs cao vì họ có nhiều bạn tình
và thường xuyên QHTD không bảo vệ Tỷ lệ dùng bao cao su trong nhóm gái mại dâm thấp:
Có 35 - 47% sử dụng BCS thường xuyên, 26 - 50% thỉnh thoảng dùng, 2 - 26% không dùng.Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng này đang có xu hướng tăng nhanh qua các năm: Từ0,6% năm 1994 lên tới 6% năm 2002 và 16% năm 2005 Với nhóm tiêm chích ma túy thì tỷ lệnhiễm HIV là 40% vào năm 2004 (ở một số địa phương tỷ lệ này là trên 50%), có 1 - 5% mac
STDs trong vòng 12 tháng; 18 - 43% số này có QHTD với gái mại dâm nhưng tỷ lệ sử dụngBCS khi QHTD rất thấp, chỉ từ 20 - 26% Khi bị mac STDs, phần lớn không được khám và
phát hiện kịp thời, chỉ một số đi khám tại các cơ sở y tế và chủ yếu là các cơ sở tư nhân Chínhbởi vậy, việc giám sát, kiểm soát STDs gặp nhiều khó khăn ở hầu hết các tỉnh, thành trong cảnước [7], [35]
1.2.3 Một số đặc điểm dịch tễ của tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam: [1],
sử dụng bao cao su trong lóp trẻ và người độ tuổi trưởng thành chiếm tỷ lệ rất thấp và điều nàycảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIV qua con đường tình dục là rất lớn
b Đối tượng nhiễm HIVcó xu hướng “trẻ hóa ngày càng rõ rệt”:
Trang 28Tỷ lệ người nhiễm HIV ở lứa tuổi từ 20 - 29 là 15% vào năm 1993 đã tăng lên đến62% vào cuối năm 2002 Người nhiễm HIV ở lứa tuổi 15-49 chiếm 95% các trường hợpnhiễm
c Đại dịch HIV/AIDS có dấu hiệu lan ra cộng đồng:
Thể hiện qua tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sựtăng tới 0,93% vào năm 2001 Tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ nữ mang thai năm 2002 là 0,34%
Đã phát hiện 373 trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi nhiễm HIV do mẹ truyền cho con
d Đổi tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đa dạng, có ở mọi địa phương, diên biến phức tạp:
Đối tượng nhiễm HIV không chỉ tập trung ở những nhóm nguy cơ cao như ngườinghiện chích ma túy, gái mại dâm, thanh thiếu niên mà đã xuất hiện trong nông dân, học sinh,sinh viên, tân binh, thậm chí trong giới công chức Nhà nước Qua các số liệu thống kê trên cảnước cho thấy tỷ lệ nhiễm ở các độ tuổi là: Độ tuổi 20 - 29 có tỷ lệ nhiễm cao nhất, là 44,8%,
từ 30 - 39 tuổi là 26,6%, đặc biệt năm 1999 có 8% người nhiễm ở độ tuổi 13 - 19 Khoảng60% người nhiễm HIV/AIDS ở tuổi thanh niên và độ tuổi lao động
1.3 GIẢI PHÁP “ABC” - THỰC HIỆN TÌNH DỤC AN TOÀN Dự PHÒNG LÂY NHIỄM STDs - HIV/AIDS:
1.3.1 Hiệu quả của BCS trong phòng chống lây nhiễm STDs - HIV/AIDS:
Trước thực tế lây nhiễm HIV/AIDS và các STDs ngày càng trở nên rộng lớn, phức tạptrong việc kiểm soát thì vấn đề dự phòng lây nhiễm HIV và STDs ngay ở mức độ cơ bản(primary prevention) đã trở thành một trong những ưu tiên quan trọng của chăm sóc sức khỏe.Cho đến hiện tại, ngoài viêm gan B đã có được vacxin dự phòng, những bệnh STDs khác vẫnchưa có được các loại vacxin để phục vụ công tác phòng ngừa lây nhiễm chủ động Các chấtdiệt vi sinh vật chuyên dụng nhằm phòng ngừa STDs cũng chưa hiện hành Với những đôi lứa
có quan hệ tình cảm - tình dục, trước khi có thể đạt được điều kiện lý tưởng là chung thủy suốtđời, việc sử dụng bao cao su là phương pháp duy nhất giảm thiểu được nguy cơ lây
Trang 29nhiễm HIV/AIDS và các bệnh STDs khác hiện hành qua các QHTD chủ động giữa các cánhân.
Đã có nhiều số liệu chứng minh một cách thuyết phục rằng việc sử dụng BCS rất cóhiệu quả trong phòng ngừa lây nhiễm STDs, nhất là phòng ngừa nhóm bệnh lây qua dịch tiết
cơ quan sinh dục như: HIV/AIDS, lậu, Chlamydia, Trichomoniasis, ở cả những đàn ông vàphụ nữ có những hoạt động QHTD
Tháng 06/2000, tại Hội nghị quốc tế “Bằng chứng khoa học về hiệu quả sử dụng bao
cao su trong phòng ngừa lây nhiễm STDs'" được tổ chức tại Virginia, Hoa Kỳ dưới sự chủ trì
của Viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) cùng với sự phối hợp của các cơ quan khác, gồm:Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật (CDC), Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thựcphẩm liên bang (FDA) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), một số kết luận đãđược đưa ra như sau [61]:
• Việc sử dụng bao cao su nam giới làm từ chất liệu cao su tự nhiên (97% các trườnghọp) chiếm hầu hết trong các hình thức sử dụng bao cao su trên thế giới
• Việc sử dụng bao cao su đường âm đạo: Neu như được sử dụng đúng cách thì baocao su làm từ chất liệu cao su tự nhiên sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễmHIV/AIDS và nhiều bệnh STDs khác
• Nhìn chung, khi đánh giá về sự bảo vệ của bao cao su trước nguy cơ lây nhiễmSTDs, cần xem xét trên 03 khía cạnh: (1)- Sản phẩm, tức bao cao su; (2)- Những cả
nhân sử dụng bao cao su: Gồm những người sử dụng BCS đúng cách, sử dụng
không đúng cách hoặc không thường xuyên trong QHTD ở những thời điểm có nguy
cơ lây nhiễm hoặc bị lây nhiễm STDs và; (3)- Quần thể: Là những quần thể mà trong
đó đang hiện diện các hành vi tình dục, bao gồm sử dụng BCS và sự phơi nhiễm vớiSTDs
• Tác dụng bảo vệ tùy thuộc các đặc tính vật lý của BCS, các tỷ lệ vỡ/rách và tuột, vàmức độ che phủ bộ phận sinh dục của BCS Trong bối cảnh người sử dụng là những
cá nhân, tác dụng bảo vệ cũng tùy thuộc BCS được sử dụng đúng cách trong mỗi lầnQHTD, mà nói theo ngôn ngữ đặc trưng về BCS và
Trang 30độ bảo vệ chống lại lây nhiễm STDs của BCS khi được sử dụng đúng cách và nhấtquán.
Các nhà khoa học của FDA đã phát triển những cuộc thâm nhập của virus qua lỗ ròcủa BCS trong phòng thí nghiệm với mức độ tập trung virus cao [59] Cuộc thâm nhập virustrong điều kiện phòng thí nghiệm không phải theo cách thường lệ như đối với một test kiểmsoát chất lượng BCS mà có độ nhạy và chính xác lớn hơn nhiều so với test kiểm tra mức độ
rò rỉ nước của BCS theo cách thức truyền thống Với cách thức cho virus tập trung xâm nhậpqua BCS như vậy, các nhà khoa học của FDA đã kiểm tra nhiều loại BCS dành cho đàn ôngkhác nhau và thấy rằng, BCS là một rào cản sự thâm nhập của virus có hiệu quả cao và cónguy cơ rò rỉ cực kỳ nhỏ [57], [58] Những BCS nguyên vẹn thì sẽ không thấm những phần
tử có kích cỡ như các tác nhân sinh học gây ra STDs, kể cả với virus viêm gan B — là loạivirus có kích thước nhỏ nhất trong các loại virus — vi khuẩn gây ra STDs Hơn thế nữa, cácnghiên cứu này đã cho thấy rằng chính dòng chảy dịch thể, chứ không phải là kích cỡ virus,mới là yếu tổ quan trọng nhất trong việc thâm nhập của virus qua các lỗ hở [59] Dựa trên cáckết quả từ những test trong phòng thí nghiệm nêu trên, nguy cơ liên hệ (relative risk) của phơinhiễm với tinh dịch đã được trình bày như sau:
Trang 31Mô hình Nguy cơ liên hệ của Sử dụng BCS (Hypothetical Relative Risk Model of Condom Use) Các tình trạng sử dụng BCS Phơi nhiễm tinh dịch (Dung tích,
tính trung bình qua xác suất tình
trạng SD BCS)
Nguy cơ liên hệ (So sánh với nhóm không dùng BCS)
cơ liên hệ của phơi nhiễm tinh dịch ở trường hợp đôi khi rách BCS so với trường hợp không
bao giờ sử dụng BCS sẽ là 0,006 (1 ml X 2/100 + 3,3 ml) Với sự ước lượng nguy cơ như vậy,việc từ chối sử dụng BCS hiển nhiên sẽ có phơi nhiễm chắc chắn (xác suất là 1) Ngược lại,việc sử dụng BCS mà không bị rách hay bị tuột sẽ làm giảm (nếu không muốn nói là loại trừ)phơi nhiễm một cách hết sức ấn tượng (xác suất là 0) Thậm chí, ngay kể cả trong trường họp
sử dụng BCS mà bị rách, bị rò ri hay bị tuột thì cũng vẫn làm giảm thiểu rõ rệt sự phơi nhiễmvới STDs Ket quả thu được từ quá trình nghiên cứu đã cho thấy rõ ràng là BCS tạo nên mộtrào cản hữu hiệu ở mức độ cao trong việc ngăn chặn sự thâm nhập của các tiểu thể sinh họcnhỏ bé như những virus STDs nhỏ nhất
Trang 321.3.2 Giải pháp ABC - Thực hiện tình dục an toàn:
1.3.2.1 Nguồn gốc và khải niệm của giải pháp ABC:
Ngay từ những năm cuối thập niên 80, các nhà khoa học đã nhận thấy rằng các cánhân có thể đưa ra những hành động khiến người khác giảm thiếu hoặc cùng nhau tránh đượcnguy cơ lây nhiễm HIV qua con đường tình dục Nguy cơ lây nhiễm có thể cùng nhau tránhđược bằng cách tránh bất cứ hoạt động tình dục nào mà có thể làm truyền HIV từ người nàysang người khác (ví dụ: Tiết dục, tức là không QHTD) Nguy cơ có thể được giảm thiểu quaviệc tránh QHTD với bạn tình chung thủy không bị nhiễm HIV (ví dụ: sống chung thủy) hoặcqua việc sử dụng BCS đúng cách và nhất quán
Định nghĩa có nội hàm thống nhất cho giải pháp ABC bao gồm 03 thành tố “A”, ”B”
và ”C” được đưa ra bởi PEPFAR (the President’s Emergency Plan for AIDS Relief) vàUNAIDS là xuất phát từ rất nhiều thành công đạt được trong quá trình khống chế sự lan tràn,làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV ở nhiều quốc gia châu Phi và Đông Nam Á trong thập niên 90 củathế kỷ trước Uganda, Botxoana là hai trong số các quốc gia đó Khởi nguồn của ABC là từ
một khẩu hiệu mà chính phủ Botxoana đề xướng trong các chiến dịch truyền thông đại chúng
về HIV/AIDS vào thời kỳ 1995 - 1998 Khi ấy, ABC chỉ thuần túy là một khẩu hiệu chứkhông hề là một nỗ lực nhằm minh định các hoàn cảnh của các thành tố trong ABC cần đượckhuyến khích, tăng cường thực hiện và ai là những đối tượng mà ABC nhắm tới [44], [62],Nguyên văn khẩu hiệu lúc đó là:
Tránh xa AIDS là rất dễ dàng, nhờ: Không QHTD (A).
Chung thủy (B)
Sử dụng BCS (C)
Dần dần, qua ghi nhận các thành công của hai quốc gia này đã đạt được trong việc dự phòng
và hạn chế lây lan HIV, các giải pháp này đã được nhiều quốc gia khác ở châu Phi, ĐôngNam Á chấp nhận là những thành tố chủ đạo trong nội dung truyền thông đại chúng về HIV/AIDS cũng như trong các chương trình can thiệp thay đổi hành vi giảm tác hại củaHIV/AIDS lây truyền qua đường tình dục Việc kiêng cữ
Trang 33các hoạt động tình dục, sống chung thủy với duy nhất một bạn tình, và sử dụng BCS đúngcách và nhất quán là 03 hành vi mang tính “chìa khóa” sẽ phòng ngừa được hoặc làm giảm khảnăng lây nhiễm các bệnh STDs, nhất là HIV/AIDS qua con đường QHTD Sự khuyến khíchthực hiện đồng đều tất cả các hành vi này được biết đến với tên gọi: “Giải pháp ABC”, trong
Dominica và Haiti ) đã đem lại sự chấp nhận trên phạm vi rộng lớn các hành vi dự phòng
“A”, “B” và/hoặc “C” [53], [55], [67] Ở những nơi mà dịch HIV/AIDS ở mức độ hiện mắcthấp, nhiều trường họp lây nhiễm tập trung trong các quần thể nguy cơ cao hoặc những nơi màmức độ hiện mắc của dịch cao (chủ yếu do lây nhiễm HIV qua đường tình dục trong quần thể),việc giảm thiểu dịch HIV/AIDS và STDs được thực hiện bởi những giải pháp thực hiện tácđộng có chủ đích, các nỗ lực phòng ngừa dựa trên bằng chứng để giảm thiểu nguy cơ nhiễmHIV trong những quần thể đó cùng với sự đa dạng, bao phủ rộng khắp của các ảnh hưởng canthiệp làm gia tăng sự nhận thức nguy cơ và làm xuất hiện các thay đổi trong hành vi tình dục ởmức độ quần thể [47], [48], [66], [76]
Các nồ lực phòng ngừa HIV gặp phải nhiều trở ngại, phức tạp và khó khăn bởi mộtthực tế là sự bùng nổ đại dịch trên phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khácnhau trong những bối cảnh khác nhau Để phòng ngừa việc lây truyền HTV/AĨDS và STDsqua đường tình dục, Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Kế hoạch Cứu trợ AIDS
Trang 34Khẩn cấp của Tổng thống (PEPFAR), đã hỗ trợ triển khai giải pháp ABC trong công cuộcphòng chống HIV/AIDS bởi vì nó có thể được sử dụng để định hướng các nguồn lây nhiễmmới nhất, trong khi vẫn bao phủ được các nhu cầu cụ thế của các cá nhân có nguy cơ cao nhấthay dễ tổn thương nhất bởi HIV/AIDS [62] Cơ sở cho giải pháp này là sự nhận thức và thừanhận rằng: Các nơi khác nhau sẽ hiện diện một cách đặc trưng những rào cản khác nhau trongviệc chấp nhận các hành vi ABC Vì vậy, các chương trình dự phòng phải được phát triển dựatrên sự cộng tác với các cộng đồng mà những chương trình đó phục vụ Bên cạnh đó, cần phảităng cường thay đổi hành vi cá nhân, xác định các chuẩn mực xã hội, các yếu tố tác nhân môitrường, trong đó bao gồm một số chính sách góp phần cho các lây nhiễm HIV mới xuất hiện
1.3.2.2 Hiệu quả và thành công của việc sử dụng giải pháp ABC làm thuyên giảm thực trạng mac HIV ở Uganda và một so quốc gia khủc:\7ĩ>\
Là một trong những nơi sớm nhất, và chắc chắn là gây ấn tượng sâu sắc nhất trong sựthành công trong quá trình đương đầu với đại dịch AIDS, Uganda đã trải qua những sự giảmthiểu đáng kể thực trạng hiện mắc HIV trong thập niên 90 của thế kỷ trước Theo ước tính của
Cơ quan Điều tra Dân số Hoa Kỳ và UNAIDS, Uganda có tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc làkhoảng 15% vào những năm đầu thập niên 90 và đã giảm xuống chỉ còn 6,5% vào năm 2004.Trong cùng giai đoạn này, với phụ nữ mang thai, tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm mạnh từ mức độcao là xấp xỉ 30% xuống chỉ còn 10% Trong khi đó, tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ nữ mang thai ởcác khu vực khác chỉ giảm từ khoảng 10% xuống 5%
Việc xuất hiện tình trạng tỷ lệ hiện nhiễm HIV tụt giảm đáng kể như vậy ở Uganda là
do sự kết hợp theo huớng thay đổi tích cực ở cả 3 thành tố hành vi ABC: Sự tiết dục gia tăng,trong đó bao gồm cả việc trì hoãn QHTD sớm lẫn việc cân nhắc trước khi QHTD ở giới trẻngay từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20; Hành vi sống chung thủy và hành vi giảmthiểu số bạn tình gia tăng; Việc sử dụng BCS trong những mối QHTD bất chợt cũng đượctăng cường Điểm nổi bật nhất, đó là, các hành vi giảm thiểu số bạn tình và chung thủy với vợchồng/bạn tình ở cả nam giới và phụ nữ, thể hiện bởi số liệu báo cáo giảm tới hơn 50% cáctrường hợp
Trang 35QHTD đột xuất ngoài dự tính qua các điều tra được WHO tiến hànhnăm 1989 và 1995 [45], [53], [56], [68] Ket quả này cũng được củng cốthêm khi so sánh với các quốc gia châu Phi khác.
Uganda - số liệu báo cáo các trường hợp QHTD bất chợt trong 12 tháng qua so sánh giữa
1989 và 1995
tình hình lan tràn dịch AIDS So sánh giữa hai thời đỉêm 1990 và 1995, tỷ lệ nam giới mua dâm
Trang 36tràn của lây nhiễm HIV [47], [48] Kenya, Campuchia và Cộng hòa Dominica là những quốc giakhác mà ở đó, sự kết hợp đa dạng của các thay đổi hành vi ABC đã chứng tỏ đóng góp nhiềucho việc làm giảm sút tỷ lệ hiện nhiễm HIV Trong những năm gần đây, tại Kenya sự tụt giảm tỷ
lệ nhiễm đã thể hiện rõ rệt, nhất là qua các số liệu điều tra quốc gia cho thấy có những thay đổitích cực trong hành vi tình dục Campuchia là một mô hình thu nhỏ những thành công ở TháiLan khi áp dụng chính sách sử dụng BCS 100% ở các nhà chứa Cũng giống như Thái Lan, tạiCampuchia đã diễn ra sự tụt giảm nhanh chóng số nam giới mua dâm, từ 27% ở năm 1996xuống còn 11% vào năm 2000 [48], [66]
Việc tăng cường các thay đổi hành vi đòi hỏi cần phải chú trọng tới các chuẩn mực xãhội và các đặc điểm môi trường có thể giúp cho các cá nhân tự bảo vệ được chính bản thân họ
Vì thế, một điều hết sức quan trọng trong nhận thức là việc thực hiện đầy đủ và đúng đắn giảipháp ABC cần phải được mở rộng hơn nữa chứ không chỉ dừng lại là việc vận động nhàm thựchiện đơn lẻ từng thành tố “A”, ”B” hay ”C”
Vào tháng 9/2002, một hội nghị chuyên gia kỹ thuật quốc tế do USAID chủ trì đã được
tổ chức tại Washington với thành phần tham dự gồm các chuyên gia của các chương trình và cơ
quan nghiên cứu HIV/AIDS từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhằm xem xét các
bằng chứng cho thấy sự liên quan chặt chẽ của các giải pháp thay đổi hành vi ABC và công tácphòng chống HIV/AIDS Hội nghị đã đạt được các sự đồng thuận trong việc đưa ra những kếtluận và khuyến nghị quan trọng cho việc lập kế hoạch và hoạch định chính sách trong việcphòng ngừa và đối phó với đại dịch AIDS: [76]
• Sự phối họp các can thiệp theo A, B và c cần được bao phủ trong mọi hoàn cảnh ở cáckhu vực Các giải pháp này cần được kết họp một cách phù họp dựa trên các bối cảnhvăn hóa cũng như tình trạng dich AIDS ở mỗi vùng
• Các can thiệp cần được nhắm tới hiệu quả và đáp ứng với các khác biệt quan trọng giữacác nhóm đích Ví dụ, việc thực hiện đồng đều các thành tố của giải pháp ABC sẽ là cầnthiết phải thực hiện trong các mô hình can thiệp
Trang 37• hướng tới nhóm người trong độ tuổi trẻ (15 - 29 tuổi), chủ yếu nhấnmạnh việc trì hoãn bắt đầu QHTD Trong các can thiệp dành cho đốitượng người trưởng thành, chủ động trong QHTD (30 - 49 tuổi) thì chủyếu cần khuyến khích, tăng cường sự chung thủy với bạn đời/ngườiyêu hoặc hạn chế số lượng bạn tình trong các mối quan hệ tình cảm,kết hợp với can thiệp nhằm vận động, tăng cường sử dụng BCS đúngcách và nhất quán Đặc biệt, với các nhóm có mức độ chủ động QHTDcao hoặc có nguy cơ cao với HIV/AIDS như gái mại dâm, người sốngchung với HIV/AIDS, thì nhất thiết cần ưu tiên thành tố “C”.
• Sự phối hợp tham gia của các nhà lãnh đạo chính trị và cộng đồng chính là chìa khóathành công của các can thiệp theo hướng tiếp cận ABC Đây là yêu cầu chủ đạo đối vớicác nhà lãnh đạo của chính phủ và cộng đồng để tăng cường mở rộng truyền thông về
HIV/AIDS, xóa bỏ sự phân biệt kỳ thị, giúp đỡ và trao quyền cho phụ nữ và trẻ gái nhằmtránh cưỡng bức tình dục, phát triển các đáp ứng đa kênh nhằm gia cường cho thành
công của các thay đổi hành vi ABC (ABC behavior changes)
1.3.2.3 Khái niệm chính thức của Giải pháp ABC:
Từ những hiệu quả và thành công đạt được trong việc khống chế, làm giảm sự lan tràncủa dịch AIDS ở nhiều quốc gia trên thế giới như vậy, đến tháng 10/2003, UNAIDS đã chính
thức khuyến cáo tất cả các quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới cần áp dụng chiến lượcABC trong các mô hình, hoạt động can thiệp nhàm dự phòng, kiểm soát đại dịch HIV/AIDS Vàlúc này, định nghĩa chính thức đề xuất bởi UNAIDS (như đã đề cập ở phần trước) đã được chấpnhận rộng rãi [72],
Nhận định cụ thể hơn về giải pháp ABC, UNAIDS cho rằng [75]:
Neu ở những quốc gia có tình trạng nhiễm HIV/AIDS ở mức nặng nề bởi lây truyền quađường tình dục, những người trẻ trì hoãn lần QHTD đầu tiên, từ đó kết quả là việc tránh đượcnguy cơ lây nhiễm HIV sẽ là tất yếu khi họ chấp nhận giải pháp này Tuy nhiên, việc tiết dụccho tới khi lập gia đình không phải là luôn đảm bảo an toàn, bởi vì tự thân cuộc sống hôn nhânkhông đem lại sự bảo vệ con người
Trang 38trước sự lây nhiễm Nhiều người không chắc chắn về tình trạng HIVcủa người bạn đời, có những người chung thủy trong hôn nhân gia đìnhnhưng lại không thể chắc chắn được rằng người bạn đời của họ có luôn duytrì thực hiện lời cam kết chung thủy hay không Mặt khác, việc tiết dục cũngkhông phải là một sự lựa chọn thực tế đối với hàng triệu phụ nữ và bé gái lànhững người phải chịu đựng các mối quan hệ lạm dụng hoặc là những ngườiđược giáo huấn rằng phải luôn luôn tuân thủ, vâng lời nam giới, và cũng làtương tự như vậy đối với phần đông những người đã lập gia đình
Chính bởi vậy, BCS và việc sử dụng BCS, với các chất liệu có tính giáo dục, giữ vai trò
là một bộ phận của “gói” dự phòng toàn diện, đã cho thấy làm giảm rất rõ ràng các họat độngtình dục và nguy cơ kể cả với những người chủ động hay không chủ động trong QHTD Neu chỉvới thành tố “A” hay ”B” sẽ không đủ khiến cho những người trẻ nhận thức rằng, BCS, nếu nhưđược sử dụng đúng cách và nhất quán sẽ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa lây nhiễm HIV
1.3.2.4 Tình hình thực hiện giải pháp ABC ở Việt Nam:
Trong những giai đoạn trước năm 2003, khi mà tình trạng tiêm chích ma túy đóng vaitrò là đường lây truyền HIV chủ yếu ở Việt Nam thì việc xem xét nguy cơ lây truyền và cácnhóm có hành vi nguy cơ trong việc lây truyền HIV qua đường quan hệ tình dục mới chỉ đượccân nhắc và đánh giá ở một số địa phương Các nhóm hành vi nguy cơ cao được xem xét tậptrung ở nhóm tiêm chích ma túy và nhóm gái mại dâm, mà chủ yếu ở một vài thành phố lớnhoặc đô thị có cửa khẩu giao thương quốc tế Bắt đầu từ năm 2000, và đặc biệt trong 5 năm trởlại đây (giai đoạn 2003 — 2007) tình hình đã có nhiều thay đổi Bên cạnh việc UNAIDS đưa rakhuyến nghị sử dụng giải pháp ABC trong công tác PC HIV/AIDS là thực trạng gia tăng nhanhchóng, với số lượng khá lớn các ca nhiễm mới HIV hàng năm qua con đường QHTD cũng như
sự gia tăng các bệnh STDs khác Bởi vậy, việc triển khai các nghiên cứu đánh giá tình trạng lâynhiễm HIV qua QHTD không an toàn và chiến lược can thiệp thay đổi hành vi tình dục nhằmgiảm thiểu QHTD không an toàn (hay còn gọi là QHTD không phòng vệ) và phòng ngừa lâynhiễm STDs không
Trang 39chỉ đối với nhóm hành vi nguy cơ cao mà đã được đề xuất mở rộng tớicác nhóm khác trong cộng đồng Trong cam kết thực thi các dự án tài trợ vàhọp tác từ các cơ quan, chương trình, tổ chức quốc tế như: CDC Hoa Kỳ,Ngân hàng Thế giới, Chương trình PEPFAR, Quỹ Toàn cầu, Ngân hàng Táithiết Đức.v.v việc triển khai giải pháp ABC luôn hiện diện với vị trí là mộtgiải pháp can thiệp trung tâm nhằm thay đổi hành vi tình dục trong dựphòng chủ động lây nhiễm HIV/AIDS.[35]
Cùng với sự khẳng định trong các văn bản pháp quy [27], [28], [29] và gần đây nhất làtrong Luật Phòng chống HIV/AIDS: “Việc phòng, chống HIV/AIDS phải gắn với việc phòng,chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục” (Điều 34, Mục III, Chương III), việc tăng cườngcông tác phòng chống các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục được xác định là một
nhóm giải pháp quan trọng của Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS, trong đó đề xuất
mở rộng và tăng cường các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng BCS và tiếp thị xã hộiBCS [1], [23] Trong bối cảnh dịch HIV/AIDS đang có xu hướng gia tăng và mở rộng theo hìnhthức lây truyền qua QHTD, Chương trình Hành động phòng, chống STI đến năm 2010 của Bộ Y
tế đã nhấn mạnh việc khuyến khích các hành vi tình dục an toàn, hướng dẫn sử dụng BCS [7]
1.4 CÁC KÉT QUẢ ĐIỀU TRA sử DỤNG BCS TRONG PHÒNG, CHỐNG STDs - HIV/ AIDS TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:
1.4.1 Các điều tra về sử dụng BCS trong phòng, chống STDs - HIV/AIDS trên thế giói:
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây đề cập tới mức độ sử dụng BCS thấp Trong mộtnghiên cứu hành vi sử dụng BCS ở sinh viên đại học ở Nigeria, Edem và Harvey (1998) thấyrằng có 44% sinh viên nữ và 40% sinh viên nam không bao giờ sử dụng BCS [49] Một điều tra
ở tỉnh Quảng Đông -Trung Quốc cho thấy: 8,1% thanh thiếu niên chưa từng nghe nói về HIV;48,2% không biết nguyên nhân gây ra AIDS và 15% không biết đường lây truyền HIV Đa sốbiết HIV lây qua đường máu nhưng 30,8% không biết HIV lây qua đường tình dục; 65% khôngbiết BCS có khả năng phòng tránh HIV qua đường tình dục; 61% không biết HIV có thể lây từ
mẹ sang con [38] Điều tra
Trang 40■
kiến thức về HIV/AIDS của sinh viên Nepal cho thấy: Tỷ lệ hiểu biết đúng về 3 đường lâytruyền HIV/AIDS của sinh viên nam là 90%, nữ là 79%[43] Một điều tra khác ở Kathmanducho thấy: Gần 100% sinh viên biết BCS có thể phòng tránh thai nhưng chỉ có 31% nam và 22%
nữ biết BCS cũng dùng để phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục
Xu hướng thanh niên có QHTD sớm và QHTD trước hôn nhân ngày càng tăng trên thếgiới Tỷ lệ này ở các nước đang phát triển là 40 - 50%, ở Thụy Điển là 80%, vùng cận Sahara làhơn 40%, ở các nước Châu Á thì thấp hơn (6%), ở Án Độ có 8,3% sinh viên có QHTD trướchôn nhân, Nepal là 38% [43], [81] Thanh thiếu niên có QHTD sớm thường có nhiều bạn tình và
ít sử dụng BCS Ở Rumania, 70% nam thanh niên trong độ tuổi 15-19 có QHTD trước hôn nhânnhưng chỉ có 39% sử dụng BCS khi QHTD lần đầu Tại Thái Lan có 48% sinh viên 17-25 tuổi
đã từng QHTD nhưng chỉ có 5,6% sử dụng BCS thường xuyên [38]
Một điều tra ở Hồng Kông cho thấy thanh niên có quan niệm về tình dục tự do và cởimở: 40% thanh niên có QHTD thường xuyên; 39,5% thú nhận có hơn 1 bạn tình trong đó có41% sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất nhưng cũng chỉ có 17,1% sử dụng BCS ngay từ
đầu [39]
Các nam thanh niên ở Nepal có QHTD rất bừa bãi: 38% có QHTD trong đó có 5%QHTD với trên 5 người, 9% có QHTD với 2-5 người và chỉ có 20% trong số đó dùng BCS, nữthanh niên tuy không QHTD với nhiều người nhưng cũng có tới 3,25% bị bệnh STDs trongvòng 4 tháng trước khi điều tra [43]
Với các kết quả nghiên cứu trên phạm vi rộng, Anarfi (1997) đã nhận thấy ràng mặc dầunhận thức về AIDS và các biện pháp giảm nguy cơ như sử dụng BCS là cao nhưng những kiếnthức đó vẫn không làm thay đổi các thái độ và hành vi (như sử dụng BCS nhất quán) một cáchtích cực
1.4.2 Các điều tra về sử dụng BCS trong phòng, chống STDs - HTV7AIDS ở Việt Nam
Trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, đã có nhiều nghiên cứu điều tra và đánh giá cáchành vi dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS và STDs qua đường tình dục