Mức độ hài lòng của bà mẹ sử dụng dịch vụ CSSK trước sinh 47 Thực trạng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã theo CQG về y tế xã 62 Mức độ hàilòng của các bà mẹ sử dụng dịch vụ CSS
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - Bộ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ QUỐC VIỆT
ĐÁNH GIÁ DỊCH vụ CHĂM SÓC sức KHOẺ BÀ MẸ TRƯỚC SINH TẠI 2 TRẠM Y TẾ XÃ VÂN CÔN VÀ TIỀN YÊN, HUYỆN HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI, NĂM 2009
Trang 2Một số nghiên cửu đánh giá mức hài lòng của bà mẹ với dịch vụ CSSKSS 21 CHƯƠNG 2
Thực trạng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã 30
Dịch vụ CSSKSS bà mẹ trước sinh đánh giá qua cơ sở hạ tầng trang thiết bị, tài liệu truyền
Trang 3Mức độ hài lòng của bà mẹ sử dụng dịch vụ CSSK trước sinh 47
Thực trạng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã theo CQG về y tế xã 62 Mức độ hàilòng của các bà mẹ sử dụng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh 69
PHỤ LỤC 7 Bảng kiểm tư vấn CSSK bà mẹ trước sinh dành choCBYT xã 88
PHỤ LỰC 9 Phỏng vấn sâu CBYT phụ trách khoa CSSKSS huyện 92
PHỤ LỤC 13 Sơ đồ khung lý thuyết CSSK bà mẹ trước sinh 98PHỤ LỤC 14 Phiếu điều tra bà mẹ nhận dịch vụ CSSK trước sinh 100
PHỤ LỤC 16 Cơ sở hạ tầng phục vụ CSSKSS tại TYT xã (Theo CQG TYT xã) 111
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT
BYT Bộ Y tế
CBYT Cán bộ y tế
CQG Chuẩn quốc gia
CQGVYTX Chuẩn quốc gia về y tế xã
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 01 Kết quả các chỉ số thống kê CSSKSS của điều tra trên toàn quốc 13Bảng 02 Kết quả một số chỉ số CSSKSS toàn quốc năm 2005 - 2006 14Bảng 03 Tuổi thai lúc bà mẹ đi khám thai lần đầu qua điều tra nhân khẩu học 15
Bảng 05 Số lần khám thai theo điều tra nhân khẩu học năm 1997-2002 18Bảng 06 Tình hình tiêm phòng uốn ván qua điều tra nhân khẩu học 19Bảng 07 Tỉ lệ phụ nữ được khám thai > 3 lần tại 2 TYT 33Bảng 08 Tỉ lệ phụ nữ đẻ được tiêm phòng uốn ván đủ liều tại 2 TYT 36Bảng 09 Tỉ lệ bà mẹ mang thai đượcmống viên sắt/ acid folic tại 2 TYT xã 37BảnglO Các phòng chức năng của 2 TYT xã theo tiêu chí CQG 37
Bảng 12 Các công trình phụ trợ theo tiêu chí CQG tại 2 TYT xã 39
Bảng 18 Mức hài lòng của bà mẹ với việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS trước sinh 47
Bảng 19 Mức hài lòng vê thời gian chờ đợi nhận dịch vụ CSSKSS trước sinh 48Bảng 20 Mức hài lòng về chất lượng khám thai tại TYT xã 48Bảng 21 Mức hài lòng về tư vấn trước sinh của các bà mẹ 49Bảng 22 Mức hài lòng về việc uống viên sắt/ acid folic tại TYT xã 49Bảng 23 Mức hài lòng về việc tiêm phòng uốn ván tại TYT xã 50Bảng 24 Mức hài lòng về cơ sở hạ tầng, phục vụ CSSKSS trước 50Bảng 25 Mức hài lòng về trang thiết bị, dụng cụ y khoa phục vụ CSSKSS 51
Bảng 27 Mức hài lòng về tài liệu truyền thông tại hai TYT xã 52
Bảng 28 Mức hài lòng về chi phí dịch vụ CSSKSS trước sinh tại 2 TYT xã 53 _
Trang 6Bảng 29 Mức độ hài lòng về thái độ phong cách phục vụ của CBYT xã 53Bảng 30 Mức độ hài lòng về trình độ chuyên môn cán bộ y tế xã 54Bảng 31 Mức độ khách hàng quay lại sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh 54Bảng 32 So sánh mức độ hài lòng tại 2 TYT xã Vân Côn và tỉ lệ trung bình 2 xã 55
Trang 7TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu
Công tác chăm sóc trước sinh tại trạm y tế là một vấn đề đang được quan tâm hàng đầutrong chiến lược làm mẹ an toàn của ngành Y tế Chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản(SKSS) nói chung và dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước sinh tại trạm y tế nói riêng còn nhiềuvấn đề đáng quan tâm giải quyết Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả công tác chăm sócsức khoẻ bà mẹ trước sinh theo chuẩn quốc gia (CQG) về sức khoẻ sinh sản qui định cho các trạm
y tế và đánh giá mức độ hài lòng sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh của các bà mẹ
Nghiên cứu được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2009 với thiết kếnghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa định lượng, định tính Mục tiêu chính của nghiên cứu là:1) Mô tả thực trạng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên huyệnHoài Đức, thành phố Hà nội 2) Đánh giá mức độ hài lòng của các bà mẹ sử dụng dịch vụ CSSKtrước sinh tại 2 TYT xã nói trên Đối tượng nghiên cứu là cán bộ phụ trách công tác chăm sóc sứckhỏe sinh sản ở tuyến huyện và xã, các trạm trưởng TYT xã, 115 bà mẹ đã sinh con dưới 6 thángtrên địa bàn 2 xã
Sổ liệu nghiên cứu sơ cấp được thu thập từ 5 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm,
2 buổi quan sát khám thai và tư vấn chăm sóc sức khỏe trước sinh, 115 phiếu điều tra bà mẹ có sửdụng dịch vụ CSSK trước sinh số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết hoạt độngCSSKSS, các số liệu thống kê có liên quan đến chăm sóc trước sinh của các trạm y tế 2 xã vàhuyện Hoài Đức năm 2008
Trang 8Kết quả phân tích số liệu trong các báo cáo, sổ sách thực hiện công tác chăm sóc trước sinhtại trạm y tế năm 2008 pho thấy công tác quản lý thai nghén, khám thai định kỳ, tư vấn chăm sóctrước sinh, tiêm phòng uốn ván đều, cung cấp viện sắt/ acid folic đạt tỉ lệ rất cao và vượt tiêuchuẩn quốc gia Tuy nhiên, qua điều tra các bà mẹ đã sinh con dưới 6 tháng cho thấy tỷ lệ bà mẹ sửdụng dịch vụ chăm sóc trước sinh tại cả 2 trạm y tế là rất thấp Tỉ lệ bà mẹ khám thai > 3 lần chỉđạt 43,03% ở Vân Côn và 55,5% ở Tiền Yên so với báo cáo Vân Côn và Tiền Yên lần lượt là( 98% và 99%) Ở TYT Tiền Yên, tỉ lệ bà mẹ khám thai đủ 3 lần đúng lịch chỉ bằng một phần batương ứng là 29,11% so với 90%, ở TYT Vân Côn là 36,11% so với 92% như báo cáo sổ sách.Qua thảo luận nhóm cũng cho thấy hầu hết các bà mẹ chỉ chấp nhận được sử
Trang 9dụng dịch vụ chứ không hài lòng về chất lượng dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại TYT Có tới40% bà mẹ ở TYT Vân Côn và 44% bà mẹ ở TYT Tiền Yên không hài lòng về chất lượng dịch vụthăm khám thai Công tác tư vấn chăm sóc trước sinh cũng chưa tốt với mức độ không hài lòng về
tư vấn trước sinh tới 37% ở TYT Vân Côn và 38% ở TYT Tiền Yên Chất lượng khám thai chưatốt được thể hiện rõ qua quan sát các lần khám thai tại 2 TYT xã Các CBYT chỉ làm được 6/9bước khám thai theo qui định của BYT
Cơ sở hạ tầng, vật chất, trang thiết bị y tế phục vụ công tác chăm sóc trước sinh tại 2 trạm
y tế khá đầy đủ tuy nhiên tạỉ TYT xã Vân Côn chưa được chuẩn hóa y tế xã thì trang thiết bị quá
cũ hỏng và không sử dụng được Có tới 21% số bà mẹ tại TYT xã Tiền Yên và 25% số bà mẹ ởTYT Vân Côn không hài lòng về trang thiết bị y tế đặc biệt là vẩn đề 2 TYT xã không có máy xétnghiệm máu và nước tiểu
Cán bộ thực hiện công tác chăm sóc trước sinh tuy đủ về số lượng nhưng trình độ chuyênmôn và kỹ năng tư vấn, phong cách phục vụ còn hạn chế, các qui định chuẩn quốc gia về khámthai và tư vấn trước sinh còn chưa thực hiện đầy đủ
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc cải thiện cung cấp chất lượng dịch vụ CSSK bà mẹtrước sinh của nhân viên y tế và tăng cường sử dụng dịch vụ CSSKSS của các bà mẹ tại TYT xãhiện còn nhiều khó khăn Huyện Hoài Đức và chính quyền 2 xã Vân Côn và Tiền Yên cần tích cực
và đồng bộ trong việc hỗ trợ và đầu tư cho các hoạt động CSSKSS trước sinh của TYT xã VânCôn và Tiền Yên
Trang 10ĐẶT VÁN ĐÈ
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ với hơn 200 triệuphụ nữ mang thai và sinh con hàng năm Có tới 40% trường hợp có những biến chứng liên quanđến thai nghén và sinh đẻ và 15% trường hợp biến chứng đe doạ đến tính mạng mẹ và con [40],[42],
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới trung bình cứ mỗi phút cómột phụ nữ tử vong do các biến chứng liên quan đến thai nghén và sinh nở tương ứng khoảng1.600 phụ nữ tử vong mỗi ngày và hơn nửa triệu phụ nữ chết hàng năm do các nguyên nhân trên.Đặc biệt là có tơi 99% các trường hợp tử vong mẹ xảy ra ở các nước đang phát triển Tương ứngvới mỗi trường hợp tử vong mẹ có tới 20 trường hợp phụ nữ mắc các biến chứng nhiễm trùng vàbệnh tật liên quan đến thai nghén, tương đương với 10 triệu ca mỗi năm [41]
Phần lớn các biến chứng liên quan đến thai nghén và sinh đẻ có thể phòng ngừa đượcbằng việc đảm bảo tiếp cận dịch vụ CSSKSS nói chung và CSSK bà mẹ trước và sau sinh nóiriêng Thực tế trong những năm qua Việt Nam đã có nhiều nồ lực nhằm thực hiện các mục tiêuChiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010[2] và kế hoạch quốc gia làm mẹ an toàn2003-2010[5]
CSSK bà mẹ trước sinh giúp phát hiện, điều trị và phòng tránh được một số bệnh có tínhchất mãn tính (thiếu máu, sốt rét, cao huyết áp ) CSSK trước sinh đặc biệt có hiệu quả đối vớisức khoẻ bà mẹ và thai nhi ở các nước đang phát triển Ở Việt Nam tỷ suất tử vong mẹ ở mứckhá cao 156/100.000 trẻ đẻ sống và tỷ lệ này cao hơn ở miền trung và miền núi phía bắc Tửvong mẹ xảy ra trước sinh chiếm đến 25% và phần lớn các trường hợp này đều có thể phòngtránh được thông qua việc thực hiện tốt chăm sóc trước sinh [37]
Những số liệu trên cho thấy tại Việt Nam, vấn đề sức khỏe sinh sản vẫn là vấn đề nổicộm và cấp bách đòi hỏi can thiệp cần thiết nhằm giảm tử vong mẹ còn 70/100.000 trẻ đẻ sốngvào năm 2010 như mục tiêu mà Bộ Y tế đề ra [11] Bảo đảm tốt dịch vụ chăm sóc* trước sinh làmột trong những việc làm quan trọng để góp phần đạt mục tiêu đó
Trang 11Chăm sóc bà mẹ trước sinh tổt sẽ góp phần làm giảm đáng kể các tai biến sản khoa, tửvong mẹ và con, đồng thời nâng cao sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh sau này Dịch vụ CSSK
bà mẹ trước sinh được thực hiện tốt tại các tuyến y tế cơ sở sẽ làm giảm tỉ lệ tử, vong mẹ liênquan đến thai nghén Việt Nam phấn đấu trong giai đoạn 2001 - 2010 đạt tỷ lệ phụ nữ đượckhám thai trước sinh là 90%, tỷ lệ được khám thai trước sinh 3 lần trong thời kỳ thai nghén là60%[2]
Trạm y tế xã là tuyến y tế gần dân nhất, là nơi người dân tiếp xúc với hệ thống y tế, pháthiện sớm nhất những vấn đề sức khỏe, điều trị sớm ngay tại cộng đồng và có thể giải quyết được80% vấn đề sức khoẻ của người dân Vì vậy để đảm bảo cho TYT xã thực hiện hiệu quả việc sửdụng dịch vụ CSSKSS và đáp ứng được nhu cầu của các bà mẹ là hết sức cần thiết Tuy nhiêntrước nhu cầu tăng lên về chất lượng CSSKSS thì TYT xã bộc lộ rõ nhiều hạn chế
Theo như báo cáo tổng kết của TYT xã Vân Côn và Tiền Yên năm 2008, thì, chươngtrình CSSKSS của cả 2 xã đã đạt được chỉ tiêu đề ra và cao hơn so với CQG Tỷ lệ phụ nữ cóthai được quản lý thai nghén trong năm 2008 đều đạt 99%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 3 lầntrên 3 thai kỳ đạt 98% tới 99%[25] Tuy nhiên qua đánh giá nhanh về dịch vụ CSSK trước sinhvới các bà mẹ có con dưới 6 tháng tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên cho thấy, hầu hết các bà
mẹ nói rằng họ không sinh và sử dụng dịch vụ sau sinh tại TYT xã và chỉ sử dụng một ít dịch vụtrước sinh Bên cạnh đó cán bộ y tế CSSKSS xã cũng cho rằng thực tế là TYT xã chỉ thực hiệnđược một phần CSSK bà mẹ trước sinh và kết quả thực tế cũng không tốt như báo cáo với lý docác bà mẹ có rất nhiều lựa chọn về cơ sở dịch vụ CSSKSS Hơn nữa họ chỉ sinh 1-2 con, nên yêucầu về chất lượng dịch vụ là rất cao, dẫn đến việc bà mẹ đến khám và chăm sóc trước sinh tạiTYT xã còn hạn chế ’
Rõ ràng việc thực hiện CSSK bàjnẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên vẫncòn nhiều vấn đề tồn tại và bất cập cần phải làm rõ và khắc phục Bên cạnh việc đánh giá mộtphía dịch vụ chăm sóc trước sinh tại TYT xã thì chúng tôi cũng muốn làm rõ mức độ hài lòngcủa các bà mẹ về dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh, đây cũng là một vấn đề ít được nghiên cứuhiện nay Chính vì vậy, chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
Trang 12về y tế xã và chiến lược quốc gia về CSSKSS với đề tài:
Đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước sinh tại TYT xã Vân Côn và Tiền Yên, Huyện Hoài Đức - Hà nội năm 2009.
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
1 Mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước sinhcho các bà mẹ có con dưới 6 tháng tạỉ TYT xã Vân Côn và Tiền Yên huyện Hoài Đức, Hà nội
2 Đánh giá mức độ hài lòng của các bà mẹ có sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe* bà
mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn.và Tiền Yên huyện Hoài Đức, Hà nội
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm và định nghĩa trong nghiên cứu CSSKSS
Sức khoẻ sinh sản
“Sức khỏe sinh sản là sự thoải mái toàn diện, không chỉ về thể chất, tinh thần mà cả về
xã hội Đây không chỉ là tình trạng bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn
là tiến trình hoạt động của bộ máy này với đầy đủ chức năng Do đó, SKSS cũng có nghĩa làcon người có thể sinh hoạt tình dục tự do và an toàn, tự do quyết định khi nào có con và khoảngcách giữa các lần sinh [12]
Làm mẹ an toàn
Là tất cả các phụ nữ đều nhận được sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnhtrong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và và sau đẻ Làm mẹ an toàn là một lĩnh vực ưu tiêntrong CSSKSS của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [6]
Chuẩn quốc gia về dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Là tiêu chí cho các cơ sở và người cung cấp dịch vụ tự phấn đấu vươn lên để đạt nhữngtiêu chuẩn về chuyên môn, kỹ thuật, đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp, đáp ứng nhu cầungày càng tăng và đa dạng của nhân dân [7]
Khái niệm về Dịch vụ chăm sóc trước sinh
Trang 15Chăm sóc trước sinh là những dịch vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho người phụ
nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được
an toàn, sinh con khoẻ mạnh và thai nhi được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt
1.2 Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc gia về y tế xã (chuẩn VI) [3].
Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 đã đưa ra chuẩn CSSKSS gồm 7 nội dung chính:
Trang 161 Tất cả các phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất một lần, trong đó tỷ lệ phụ nữ vùngđồng bằng và trung du được khám thai từ 3 lần trở lên đúng lịch đạt từ 75% trở lên.
2 Tỷ lệ phụ nữ có thai được được tiêm phòng uốn ván đủ liều trước sinh tại vùng đồngbằng và trung du đạt từ 95% trở lên
3 Tỷ lệ phụ nữ khi sinh con có nhân viên y tế được đào tạo chuyên đỡ đẻ tại vùng đồngbằng và trung du đạt từ 95% trở lên
4 Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở tế tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên
5 Tỷ lệ bà mẹ được nhân viên y tế chăm sóc ít nhất 1 lần trong tuần đầu sau sinh tại vùngđồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên Tỷ lệ bà mẹ được nhân viên y tế chăm sóc 2lần trong 42 ngày sau sinh tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ 90% trở lên
6 Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại tại vùng đồng bằng vàtrung du đạt từ 70% trở lên
7 Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi được khám phụ khoa/năm tại vùng đồng bằng và trung du đạt từ30% trở lên
Để phục vụ việc phân tích cho mục tiêu đầu của nghiên cứu, chúng tôi sử dụng 4 nộidung đầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc gia về y tế xã trên vì những nội dungnày liên quan đến công tác chăm sóc bà mẹ trước sinh Nghiên cứu để so sánh nội dung này vớiviệc triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yênnăm 2009
1.3 Chuân quôc gia vê sức khỏe sinh sản
Theo Chuẩn Quốc gia về SKSS của Bộ Y tế qui định, nội dung chăm sóc trước sinh baogồm: khám thai, tiêm phòng uốn ván, tư vấn chế độ dinh dưỡng, uống viên sắt phòng thiếu máu,chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý
Trang 17và hướng dẫn chọn nơi sinh an toàn nhất Trong mỗi lần khám thai cán bộ y tế phải tuân thủ 9bước như sau [4].
Bước 1: Hỏi
Hỏi: Cán bộ y tế hỏi các thông tin về cá nhân, về tình trạng sức khoẻ, về tiền sử gia đình,hoạt động tình dục, về tiền sử kinh nguyệt, tiền sử sản khoa, sử dụng các biện pháp tránh thai trước khi có thai lần này Ở 3 tháng giữa, cán bộ y tể hỏi thêm về các dấu hiệu thai máy, thai đạp và các dấu hiệu sụt bụng
Bước 2:Khám toàn thân
Đo chiều cao, cân nặng, kiểm tra mạch, huyết áp, khám phù, khám da, niêm mạc, khám
vú và nghe tim phổi
Bước 5: Tiêm phòng uốn ván
Trang 18Trong lần khám ở 3 tháng đầu, cán bộ y tể sẽ hẹn phụ nữ mang thai ngày tiêm vào 3tháng giữa của chu kỳ thai nghén Ở 3 tháng cuối, cán bộ y tế kiểm tra lại xem bà mẹ đãtiêm đủ mũi theo qui định chưa.
Bước 6: Cung cấp viên sắt
Cung cấp viên sắt càng sớm càng tốt khi biết phụ nữ có thai cho đến khi sau đẻ ít nhất 4tuần, cán bộ y tế nên nhắc nhở bà mẹ uống viên sắt đều đặn và thường xuyên trong nhữnglần khám thai Ở những vùng có sốt rét lưu hành cán bộ y tế cung cấp thuốc phòng sốt rétkhi cần thiết
Bước 7: Hướng dẫn bà mẹ vệ sinh thai nghén
Cán bộ y tế hướng dẫn bà mẹ chế độ ăn uống, lao động nghỉ ngơi hợp lý, mặc quần áo thoáng, hợp vệ sinh trong suốt quá trình mang thai
Trang 19Phòng chống thiếu máu cho bà mẹ mang thai
Trong suốt thời kỳ mang thai nhu cầu về sắt của bà mẹ tăng để cung cấp cho thai nhi Đểphòng chống thiếu máu, bên cạnh việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc hợp lý, tất
cả phụ nữ có thai cần uống thêm viên sắt/axit folic Việc dự phòng thiếu máu trong khi mangthai không những đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ và phòng các tai biến sản khoa mà còn làmgiảm tỷ lệ suy dinh dưỡng bào thai (cân nặng sơ sinh thấp) và giảm nguy cơ thiếu máu cũng nhưgiảm suy dinh dưỡng cho trẻ sau này Nguyên tắc sử dụng viên sắt/axit folic là càng sớm càngtốt, ngày uống 1 viên trong suốt thời gian mang thai đến hết 1 tháng sau đẻ Tối thiểu nên uốngtrước đẻ 90 ngày và kéo dài sau đẻ 42 ngày Nếu thai phụ có biểu hiện thiếu máu rõ rệt có thểtăng liều dự phòng lên liều điều trị 2-3 viên/ngày Việc tuân thủ theo chế độ trên là rất quantrọng để dự phòng và điều trị thiếu máu
Phòng chống thiếu dinh dưỡng cho bà mẹ khi mang thai
Trong thời kỳ mang thai, người phụ nữ phải ăn nhiều hơn để đảm bảo dinh dưỡng chochính họ và bản thân đứa trẻ Bà mẹ có dinh dưỡng tốt, cân nặng tăng từ 9 - 12kg trong suốt thai
kỳ không những để đảm bảo bản thân bà mẹ khoẻ mạnh, ít phải can thiệp khi đẻ, phục hồi nhanhsau đẻ, đủ sữa cho con bú mà còn đảm bảo cho đứa trẻ sinh ra đủ tháng, khỏe mạnh và phát triểntốt Ngược lại nếu dinh dưỡng kém bà mẹ thường có xu hướng dễ mắc bệnh, đứa trẻ chậm pháttriển về thể lực và trí tuệ Nguyên tắc dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là phối hợp đủ 4 nhómthực phẩm trong một bữa ăn (bột đường, chất đạm, chất béo, rau củ và trái cây), ăn nhiều hơnbình thường cả về số lượng và chất lượng
Chế độ làm việc, nghỉ ngơi khi bà mẹ mang thai
Chế độ làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý trước sinh của các thai phụ là một trong cácyếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng đẻ non và cân nặng của trẻ thấp khi sinh Vì vậy, khi mangthai các bà mẹ cần thực hiện chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý và duy trì cuộc sống thoải mái vềtinh thần Tránh lao động quá sức hoặc trong điều kiện xấu như: làm
Trang 20việc trong điều kiện ô nhiễm, ngâm mình dưới nước, leo trèo quá cao,thức quá khuya, dậy sớm và cần bảo đảm ngủ được ít nhất 8 tiếng/ngày.
1.4 Tình hình CSSKSS trước sinh trên thế giói và Việt Nam
1.4.1 Trên thế giới
Ở hầu hết các nước đang phát triển, Việc mang thai và sinh đẻ xảy ra tử vong, bệnh tật vàtàn phế đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh chiếm ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở nhómtuổi này, nhiều hơn bất kỳ một vấn đề sức khoẻ nào [43]
Ở những nước phát triển, tỷ lệ phụ nữ chết do các tai biến liên quan đến thai nghén hoặcsinh con thấp (châu Âu là 1/1400 và ở Bắc Mỹ là 1/3700) Tuy nhiên ở các nước, nghèo nhưnhiều vùng Châu Phi, tỷ lê phụ nữ chết do các tai biến liên quan đến thai nghén hoặc sinh con là1/16, Nam Á và Trung Á tỷ lệ này là 1/35, Châu Á là 1/65, Châu Mỹ la tinh là 1/30 [41], [42],
Do nhận thấy tầm quan trọng về sức khoẻ cho bà mẹ, năm 1987 Tổ chức y tế thế giới(WHO), Quỹ nhi đồng liên họp quốc (UNICEF), Quỹ dân số liên hợp quốc (UNPFA), Ngânhàng thế giới (WB) và Hội đồng dân số thế giới (PC) đã đưa ra sáng kiến “Làm mẹ an toàn” vớimục tiêu tăng cường nhận thức của mọi người về tử vong mẹ và đưa ra các giải pháp nhằm làmgiảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật của người mẹ
Theo Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ phụ nữ có thai và khám thai ít nhất 1 lần trên toàn thếgiới trung bình là 68%, thấp nhất là Châu Phi (63%) và châu Á (65%), tiếp theo là- Châu Mỹ LaTinh (73%), cao nhất là Bắc Mỹ (95%) và Châu Âu là (97%) Ở các vùng nông thôn thì cứ 3 phụ
nữ thì có 1 người sống xa cơ sở y tể nơi gần nhất trên 5 km Nhìn chung ở các nước đang pháttriển, chỉ có khoảng 65% phụ nữ có thai được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc thai nghén so với97% ở các nước phát triển [27], [42],
Tử vong mẹ phản ánh tình trạng sức khỏe của phụ nữ, sự tiếp cận với dịch vụ y tế và chấtlượng dịch vụ y tế được tiếp cận Thế giới đang nỗ lực để làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ vì điềuquan trọng nhất là một bà mẹ mất đi sẽ gây ra ảnh hưởng sâu sắc đến sức khoẻ và đời sống củanhững đứa con đang sống của họ Những đứa trẻ của những bà mẹ bị tử vong thì có nguy cơ bị
tử vong trong năm đầu cao gấp 3 đến 10 lần so với những đứa trẻ
Trang 21mà bố mẹ chúng sống và nuôi dưỡng chúng [27] Mặt khác khi bà mẹkhông còn nữa, những trẻ em này không được chăm sóc và giáo dục chu đáocho đến khi khôn lớn Cái chết của người mẹ đã ảnh hưởng ngay lập tức đếnđời sống gia đình vì người mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng và hướng dẫn chothế hệ mai sau, chăm sóc cho những người già trong gia đình và cũng mất đi
sự đóng góp của bản thân họ cho cộng đồng và xã hội Neu mọi' người nóichung và phụ nữ nói riêng, ai- cũng hiểu khám thai là cần thiết và người phụ
nữ khi có thai được khám thai ít nhất 3 lần trong một thai kỳ thì sẽ giảmnguy cơ tử vong cho bà mẹ
Vai trò người cung cẩp dịch vụ sản khoa là hết sức quan trọng để đảm bảo làm mẹ antoàn Những kiến thức và kinh nghiệm có sẵn của họ và thường xuyên đào tạo lại nhằm mụcđích nâng cao trình độ cũng như kỹ năng đỡ đẻ ngày càng hoàn hảo để chăm sóc tốt trước sinh,thực hiện đỡ đẻ sạch, an toàn, phát hiện sớm và xử trí những biến chứng sản khoa, đặc biệt làviệc chuyển tuyến đến những cơ sở chăm sóc thích hợp, kịp thời sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ.Hiện nay tỷ lệ phụ nữ sinh con có cán bộ y tế giúp đỡ trên thế giới mới chỉ đạt 57% Trong khi ởBắc Mỹ tỷ lệ này đạt 99%, ở Châu Âu đạt 98% hoặc như ở Châu Mỹ La Tinh cũng đạt 75% thì ởChâu Phi cũng chỉ đạt 42% phụ nữ sinh con có cán bộ y tế giúp đỡ, ở Châu Á chỉ đạt 53% [27]
Năm 2006, tỷ lệ khám thai ít nhất 1 lần bình quân trên toàn thế giới là 80% Tỷ lệ nàykhác nhau giữa các vùng có thu nhập thấp và thu nhập cao Đối với bộ phận có thu nhập thấp vàtrung bình, tỷ lệ khám thai ít nhất 1 lần thấp nhất ở Đông Á là 66%, Sahara - châu Phi 72%,Trung Đông và Bắc Phi 76%, Tây Á và Thái Bình Dương 89%, châu Âu và Trung Á 91%, caonhất là châu Mỹ La Tinh và Caribe 95% Ở cấp độ quốc gia việc sử dụng dịch vụ này tại nhiềunước còn thấp hơn nhiều như Somalia 26%, Pakistan 36% Tại Việt Nam tỷ lệ này là 91% [37]
Theo WHO, có khoảng 550.000 trẻ sơ sinh chết vì uốn ván rốn mỗi năm, trong đó khoảng220.000 trường hợp ở khu vực’ Đông Nam Á, chiếm 37% uốn ván rốn trên thế giới
Trang 221.4.2 Tại Việt Nam
1.4.2.1 Chuẩn quốc gia về y tế xã và sự ra đời của chiến lược CSSKSS ở Việt Nam
Trung ương Đảng ban hành chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 về củng cố và hoànthiện mạng lưới y tế cơ sở Thực hiện Chỉ thị này, hệ thống y tế tuyến huyện và xã đã từng bướcđược củng cố và phát triển Có nhiều chính sách được ban hành trong đó có Quyết định số370/2002/QĐ-BYT Chuẩn quốc gia về y tế xã Theo báo cáo năm 2005, có tỉnh đã có tỷ lệ xã đạtChuẩn khá cao (70-80%), bên cạnh nhiều tỉnh dưới 10-15% Báo cáo kết quả phân tích số liệucho thấy đến tháng 6/2007, tỷ lệ xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế xã trong toàn quốc là 46,2 %; caonhất là Tây Ninh 84,2 %; tỉnh có tỷ lệ xã đạt Chuẩn thấp nhất là Cao Bằng, Kon Turn và ĐăkNông (0%)
1.4.2.2 Tình hình CSSKSS tại Việt Nam
Chính phủ, Bộ Y tế đã ra nghị quyết chỉ đạo các địa phương không ngừng củng cố y tế cơ
sở Phấn đấu đến năm 2010: 100% số TYTX ở đồng bằng và 80% số trạm y tế ở miền núi cóBác sỹ; 100% số trạm y tế có nữ hộ sinh (NHS) hoặc y sỹ sản nhi (YSSN); 100% thôn bản cónhân viên y tế thôn bản hoạt động Nhân viên y tế thôn bản phải biết đỡ đẻ thường khi có sảnphụ đẻ tại nhà không kịp đến cơ sở y tế Đảm bảo tỷ lệ các bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế là 80%;
Tỷ lệ đẻ do nhân viên được đào tạo đỡ là 97% [2] Trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng
đã có nhiều nghiên cứu, đánh gĩá, thống kê về dịch vụ CSSKSS trên địa bàn toàn quốc cụ thểnhư sau:
Điều tra về tử vong mẹ năm 2000 - 2001, do Vụ SKSS - BYT hợp tác với WHO- thựchiện ở 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái Việt Nam [41] cho thấy: tỷ suất chết mẹ ở 7 tỉnh nghiên cứu
là 130/100.000 trẻ đẻ sống, thay đổi từ 103 đến 162/100.000 trẻ đẻ sống Nguyên nhân trực tiếpgây tử vong mẹ là 76,3% số ca và 23,7% do nguyên nhân gián tiếp Một số nguyên góp phần tửvong mẹ là: 46,3% do chậm trễ đến cơ sở y tế với nhiều lý do khác nhau: 41,3% chậm chuyểnlên tuyến trên vì đường xá, giao thông, 40% do điều trị không kịp thời, do nhân viên y tế thiếunăng lực, thiếu thuốc và trang thiết bị cần thiết
Ngoài những yếu tố như mức sống, tỷ lệ biết chữ, tử vong mẹ còn liên quan nhiều
Trang 23đến tình trạng bệnh lý của mẹ và thai nhi và việc tổ chức quản lý, chấtlượng dịch vụ thai sản của hệ thống y tế.
Điều tra y tế Quốc gia 2001 - 2002 của Cục Thống kê Bộ Y tế [13]: Kết quả điều tra cungcấp thông tin về tỷ lệ phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng sử dụng các dịch vụ CSSKSS
Bảng 01: Kết quả các chỉ số thống kê CSSKSS của điều tra trên toàn quốc
Bảng 01 cho thấy các kết quả về CSSKSS đều thấp hơn so với chuẩn quốc gia về y tế xã(CQGVYTX), chỉ có khám phụ khoa và sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là đạt và hai chỉ số
Điều tra cơ bản về dịch vụ CSSKSS tại 12 tỉnh UNFPA tài trợ [30] do Trung tâm Nghiêncứu Dân số và Sức khoẻ Nông thôn, Trường Đại học Y Thái Bình thực hiện năm 2003 (12 tỉnh
dự án của unfpa không có hà Nội) Trong nghiên cứu, chất lượng CSSKSS được đánh giá bằngcách so sánh với Hướng dẫn CQG về các dịch vụ SKSS của BYT Kết quả điều tra đã cho thấymột số thực trạng về dịch vụ CSSKSS cần phải được quan tâm: Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị vàthuốc thiết yếu phục vụ công tác CSSKSS Phần lớn các TYT không có đủ 6 phòng, không cóphòng khám thai, phòng tư vấn riêng Trang thiết bị và dụng cụ thiết yếu cho công tác CSSKSS
ở các TYT còn thiếu
Thuốc thiết yếu phục vụ CSSKSS tại các TYT không được cung cấp đầy đủ, phần lớnTYT không đủ 10 nhóm thuốc thiết yếu, các loại thuốc thiết yếu trong mỗi nhóm cũng* khôngđầy đủ hoặc quá hạn sử dụng
Trang 24Dịch vụ chăm sóc trước sinh: Tỷ lệ CBYT thực hành đủ 9 bước khám thai còn thấp, chỉ
có > 50% số CBYT thực hiện 5 trong 9 bước khám thai
Các chỉ số CSSKSS theo CQGVYTX năm 2005 -2006 trên toàn quốc trong Niên giámthống kê Y tế, Thống kê Tin học, của Vụ kế hoạch - Tài chính, Bộ y tế được thể hiện ở bảngdưới đây:
Bảng 02: Kết quả một sổ chỉ số CSSKSS toàn quốc năm 2005 — 2006
1 Tỉ lệ phụ nữ đẻ được khám thai > 3 lân 84,64% 86,50%
3 Phụ nữ có thai được tiêm chủng uốn ván > 2 lần 93,0% 92,6%
Bảng 02 cho thây tỉ lệ phụ nữ đẻ được CBYT chăm sóc đạt tỉ lệ cao nhât, có thê đây là do sự quan tâm của phụ nữ và gia đình họ về đứa trẻ khi chào đời
Đánh giá nhanh về nhu cầu chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và sơ sinh của 7 tỉnh được UNFPA
hỗ trợ tại Việt Nam (2006) [14] Bản báo cáo đánh giá nhanh về nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ sơ sinh nhằm xác định và hiểu rõ những thiếu hụt trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ sơ sinh tại 7 tỉnh của Việt Nam (Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Giang, Ninh Thuận, Bến Tre,Tiền Giang và Kon Turn) Đối tượng nghiên cứu là nhân viên y tế cung cấp dịch vụ CSSKSS vàcộng đồng Các công cụ đánh giá được sử dụng dựa trên những phương pháp đã được thửnghiệm tại Việt Nam bao gồm phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm có trọng tâm, xem xét hồ
sơ ghi chép và sổ sách, phân tích ca tử vong mẹ Kết quả về chăm sóc bà mẹ trước sinh cho thây:Tại cơ sở không cung câp dịch vụ vì người dân không sử dụng, nhưng người dân không sử dụng
nó vì dịch vụ không có, những thiếu hụt tồn tại kéo dài là thiếu xét nghiệm protein niệu và địnhlượng hemoglobin máu như một phần của chăm sóc SKSS trước sinh Tại phần lớn các xã, phụ
nữ mang thai chỉ được khám vài lần trước sinh, phần lớn tập trung vào ba tháng đầu và ba thánggiữa, đôi khi liên quan với các đợt dùng viên sắt và axit folic Hầu hết các nhân viên y tế đều
Trang 25biết 9 bước thăm khám phụ nữ mang thai Biểu đồ theo dõi và quản lýthai nghén đều có ở các trạm nhưng hầu như không được cập nhật.
Điều tra của Vụ kế hoạch - Tài chính BYT năm 2007 Hà Nội [31], cho thấy: Tỷ lệ TYT
xã đạt CQGVYTX toàn quốc cho tới năm 2007 là 46,2% về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tếcủa TYT có 46,9% các tỉnh đều cho rằng đây là một chuẩn khó đạt nhất vì do các tỉnh không cókinh phí để đầu tư Trang thiết bị y tế cho y tể tuyến xã chủ yếu do các chương trình dự án trướcđây đầu tư cho y tế xã như: dự án Hỗ trợ y tế quốc gia, dự án Dân số và sức khỏe gia đình, dự án
về kế hoạch hóa gia đình P05, P06, các dự án phi chính phủ các dự án này đều đầu tư và kếtthúc năm 2002 - 2003, đến nay các Trang thiết bị y tế cũng đã hư hỏng nhiều, để đạt Chuẩn cầnphải có kinh phí mua bổ xung
1.4.2.3 Tình hình CSSKSS trước sinh tại Việt Nam
Trong chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001- 2010 Mục tiêu đặt ra của chiếnlược là đến năm 2010 có 95% phụ nữ có thai được quản lý thai nghén, 60% phụ nữ có thai đượckhám thai ít nhất 3 lần, 95% phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván, 95% phụ nữ có thai đượcuổng viên sắt và dưới 15% thai nghén có nguy cơ
về công tác khám thai
Theo khuyến cáo của ngành y tế, các bà mẹ cần được phát hiện thai và khám thai sớm, tốtnhất nên khám ngay từ 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén Qua điều tra nhân khẩu học năm
1997 và 2002 [43], [35], ’
Tuổi thai lúc bà mẹ đi khám thai lần đầu (%) Không khám < 6 tháng > 6 tháng
Điều tra nhân khẩu học năm
Trang 26tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi là 72,3% [13] Một số nghiên cứu có liên quan đến công tác chămsóc trước sinh trong những năm gần đây không so sánh với chuẩn quốc gia cũng cho thấy có sựkhác nhau giữa các khu vực:
Nghiên cứu của tác giả Tống Viết Trung năm 2002 về thực trạng và một số yếu tố ảnhhưởng đến việc Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh tại huyện Chí Linh, Hải Dương Đối tượngnghiên cứu là các cán bộ y tế phụ trách công tác CSSKSS và các bà mẹ sinh con dưới 12 tháng.Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính Kết quả chothấy tỷ lệ bà mẹ đi khám thai trong 3 tháng đầu là 81,5% [28]
Nghiên cứu của Phan Lạc hoài Thanh năm 2003 tại huyện Tiên Du, Bắc Ninh về Thựctrạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ có thai tại huyệnTiên Du- Bắc Ninh năm 2002 - 2003 Đối tượng nghiên cứu là các cán bộ y tế phụ trách công tácCSSKSS và các bà mẹ sinh con dưới 12 tháng và áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắtngang Kết quả nghiên cứu cho thấy có 74,6% bà mẹ đi khám thai trong 3 tháng đầu [24]
Nghiên cứu của tác giả Trần Thu Thủy về sử dụng dịch vụ chăm sóc phụ nữ trước vàtrong sinh tại địa bàn Chililab, Hải Dương năm 2006 Nghiên cửu được thực hiện theo nghiêncứu mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính và sử dụng một phần số liệu của vòngđiều tra cơ bản của hệ thống giám sát dân số tại Chililab Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bà
mẹ có con dưới 12 tháng và các cán bộ y tế phụ trách công tác CSSKSS Kết quả nghiên cứu chothấy số chị đi khám thai sớm trong 3 tháng đầu chiếm tỷ lệ thấp chỉ đạt 49,2% Nguyên nhân chủyếu là do bà mẹ chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc khám thai sớm [29]
Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hoan (2001) về Đánh giá thực trạng- công tácCSSK bà mẹ, dân số- KHHGĐ tại Sóc Sơn, thành phố Hà Nội cho thấy tỷ lệ thai phụ đi khámthai trong 3 tháng đầu tại Hà Nội chỉ là 64,3% (2001) [20] Theo một nghiên cứu về tìm hiểu sựhiểu biết và thực hành chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai của Đinh Thanh Huế và DươngThu Hương năm 2002 tại xã Hương Long thành phố Huế cho thấy tỷ lệ thai phụ đi khám thaitrong 3 tháng đầu là 22,7% Đây là một tỷ lệ rất thấp
Trang 27nguyên nhân chủ yếu là do bà mẹ chưa nhận thấy hết tầm quan trọngcủa việc khám thai sớm cũng như ý thức của bà mẹ chưa cao và tỷ lệ nàycũng chứng tỏ vai trò của y tế tuyến xã còn mờ nhạt [18].
Bảng 04: Các chỉ số về khám thai tại một sổ tỉnh năm 2003-2004
Địa điểm nghiên cứu Thời gian
nghiên cửu
Tỷ lệ khám thai (%)
Khám thai >
3 lần (%)
Khám thai lần đầu < 3 tháng (%)
Các tỷ lệ trên đây cho thây hoạt động chăm sóc trước sinh cũng như mức độ hiêu biết của các bà
mẹ về tầm quan trọng của khám thai lần đầu còn chưa đồng đều giữa các vùng [8], [19], [24],[45],
Bên cạnh việc khám thai sớm, khám thai đủ 3 lần vào đúng giai đoạn là hết sức quantrọng đối với mỗi thai phụ Theo khuyến cáo của ngành y tế, mỗi thai phụ tối thiểu nên khámthai lần đầu vào 3 tháng đầu, lần thứ hai vào 3 tháng giữa và lần thứ 3 vào 3 tháng cuối Dướiđây là số lần khám thai qua 2 lần điều tra nhân khẩu học 1997 và 2002[43] [35],
Bảng 05: số lần khảm thai theo điểu tra nhân khấu học năm 1997-2002
Trang 28Theo báo cáo tổng kết của Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế năm 2003, trên toàn quốc có83,7% thai phụ khám thai đủ 3 lần trở lên, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng sông Hồng(96,28%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (74,57%) [6] Theo một số nghiên cứu thì tỉ lệ khám thai >
3 lần khá khác nhau trong nhiều nghiên cứu Ví dụ kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị BíchThủy năm 2001 tại bốn xã của huyện Hoa Lư, Ninh Bình trong* nghiên cứu của cho thấy số bà
mẹ đi-khám thai 3 lần trở lên là 51,4% [22] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hoan tại xãHương Long thành phố Huế năm 2002, tỷ lệ các bà mẹ đi khám thai 3 lần trở lên là 60,6% [20].Kết quả nghiên cứu của Tống Viết Trung năm 2002 Tại huyện Chí Linh, Hải Dương 70,2% bà
mẹ đi khám thai 3 lần trở lên [28] Kết quả nghiên cứu của Phan Lạc Hoài Thanh năm 2003 Tạihuyện Tiên Du, Bắc Ninh năm 2003 cho thấy tỷ lệ bà mẹ đi khám thai 3 lần trở lên là 70,7%[24].Kết quả nghiên cứu của Trần Thu Thủy năm 2006 về sử dụng dịch vụ chăm sóc phụ nữtrước và trong sinh tại địa bàn Chililab, Hải Dương cho tỉ lệ khám thai lớn hơn 3 lần là 75,8%[29] Trong một nghiên cứu gần đây nhất của Vũ Thu Hà về đánh giá chất lượng dịch vụ chămsóc thai nghén tại 3 trạm y tế xã huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2008 cho thấy hầu hết phụ nữmang thai đã đi khám ít nhất 3 lần trõng suốt thời kỳ mang thai (chiếm 83,55%) [32], về công
tác tiêm phòng uốn ván
Uốn ván sơ sinh là 1 trong 5 tai biến sản khoa có thể phòng được nếu trong thời gianmang thai người phụ nữ được tiêm phòng đủ 2 mũi uốn ván (nếu người phụ nữ đã tiêm phònguốn ván trong lần mang thai trước ít nhất là 5 năm thì lần mang thai này chỉ cần tiêm thêm 1mũi) Dưới đây là 1 số số liệu về tình hình tiêm phòng uốn ván của phụ nữ mang thai qua 2 lầnđiều tra nhân khẩu học [43], [35]
Bảng 06: Tình hình tiêm phòng uổn ván qua điều tra nhân khẩu học
Điều tra nhân khẩu học 2002 (n= 1321) 14,9% 14,37% 70,5%
Trang 29Cũng theo báo cáo của Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế năm 2003, tỷ lệ thai phụ tiêm đủ
2 mũi phòng uốn ván là 88,45°/o Theo một số nghiên cứu khác tại các địa phương như xãHương Long thành phố Huế tỷ lệ bà mẹ tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván là 83,3%; Nghiên cửu tạiChí Linh - Hải Dương của Tổng Viết Trung là 85,4% và tại Tiên Du - Bắc Ninh là 90,5% [25,
37, 36] Nghiên cứu của Trần Thu Thủy về sử dụng dịch vụ chăm sóc phụ nữ trước và trong sinhtại địa bàn Chililab, Hải Dương năm 2006 cho thấy tỷ lệ bà mẹ tiêm phòng uốn ván đầy đủ là94,9% [29] Ket quả nghiên cứu gần đây nhất của Vũ Thu Hà tại 3 trạm y tế xã huyện Gia Lâm,
Hà Nội năm 2008 cho thấy 83,5% phụ nữ mang thai tiêm phòng uốn ván đầy đủ [20]
về việc cung cấp viên sắt/axit folic
Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng phổ biến, là một trong những nguyên nhân quantrọng gây tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở sản phụ và thai nhi, thậm chí thiếu máu nhẹ cũnglàm tăng nguy cơ đẻ non và cân nặng sơ sinh thấp Thiểu axít folic ở phụ nữ có thai là nguyênnhân dẫn đến khiếm khuyết về ống thần kinh như nứt đốt sống và hộp sọ Theo cuộc điều tratoàn quốc năm 2000, tỷ lệ thiếu máu phổ biến ở tất cả các vùng trên cả nước, tỷ lệ thiếu máu ởphụ nữ không có thai là 24,3% và ở phụ nữ có thai là 32,2% Một số nghiên cứu gần đây còn chothấy tỷ lệ sử dụng viên sắt trong thời gian mang thai còn thấp, ở Hương Long - Huế là 14,4%,Tân Lập - Chợ Đồn (Bắc Cạn) là 43%, tỷ lệ này cao hơn ở Chí Linh - Hải Dương là 87,3%(2002) và ở Tiên Du - Bắc Ninh là 64,7% (2003) [25, 37, 36] Nghiên cứu về sử dụng dịch vụchăm sóc phụ nữ trước và trong sinh tại địa bàn Chililab, Hải Dương của Trần Thu Thủy chothấy tỷ lệ bà mẹ uống bổ sung viên sắt là 87,9% [29] Chỉ có 11,84% bà mẹ uống viên sắt, đây là
tỷ lệ rất thấp trong đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc thai nghén của Vũ Thu Hà tại 3 trạm y
tế xã, huyện Gia lâm, thành phố Hà nội [20]
về thực trạng sử dụng dịch vụ CSSK bà mẹ trưó’c sinh
Trong một nghiên cửu CSSKSS tại 3 tỉnh Tây Nguyên là Đắc Lac, Kon Turn và Gia Lai của tácgiả Nguyễn Văn Mạn, Lã Ngọc Quang, Nguyễn Thanh Hà và Phạm Thị Quỳnh Nga, kết quả chothấy:
Trang 30Khám thai đủ 3 lần (Đắc Lắc: 83,3%, Kon Tum 66,8%, Gia Lai 33,3%), lập phiếu quản
lý thai nghén (Đắc Lắc 50%, Kon Tum 16,7% và Gia Lai 50%), cung cấp viên sắt (Kon Tum16,7%, Gia Lai 33,3%) Các dịch vụ cận lâm sàng hầu như không có ở tất cả các TYT được điềutra, chỉ có xét nghiệm Protein niệu được cung cấp ở số rất ít một số xã của tỉnh Gia Lai và KonTum[21]
Cơ sở hạ tầng: 100% số xã của Đắc Lắc và Kon Turn có điện thuờng xuyên, trong, khi
đó con số này ở Gia Lai chỉ là 66,7% ở 3 tỉnh điều tra có 16,7% số xã của Gia Lai không cónước tại TYTX và đặc biệt hầu như không xã nào của 3 tỉnh có nước máy Các phòng thực hiệndịch vụ cũng chưa hoàn thiện, đặc biệt là phòng đẻ và phòng khám thai, chỉ có khoảng 30 đến50% số xã của cả 3 tỉnh có nước sạch ở những phòng này Trên 50% sổ xã của cả 3 tỉnh không
có điện thoại để liên lạc với tuyến trên khi cần[21]
có đầy đủ các tài liệu truyền thông về làm mẹ an toàn Tài liệu hướng dẫn chăm sóc trước sinhchỉ có ở khoảng trên một nửa số TYT được điều tra
có đủ phòng riêng biệt theo CQG, chỉ có từ 50 - 80% số xã được điều tra có phòng đẻ* riêng.Hầu hết các cơ sở chỉ có 2 phòng dành cho sản, đặc biệt là phòng tư vấn thường chung với tiếpđón và hành chính của trạm Các phòng cũng không đạt được các tiêu chuẩn quốc gia đối vớitừng loại phòng như diện tích, trần nhà, nền gạch, nước sạch và đèn soi
quyết định của Bộ trưởng BYT [1] Tỷ lệ xã có đủ 10/13 loại dụng cụ khám thai theo quy định ở
3 tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai và Kon Turn là 33,3%, 50% và 66,7%[21 ]
Thuốc thiết yếu sản khoa: Hầu hết các cơ sở y tế đều không có đủ 100% các loại thuốc
mà chỉ có khoảng 50 - 70% loại thuốc theo quy định
Nhân lực cán bộ y tế: Hầu hết các cơ sở y tế đều thiếu cán bộ y tế 100% cán bộ* tuyến
xã không làm đúng và đủ 9 bước khám thai theo quy chuẩn của Bộ y tế Hầu hết các
Trang 31xã mới chỉ thực hiện đúng và đủ từ 50 - 75% các bước của quá trình khám thai Các bước thường không làm đúng và đủ là khám toàn thân, xét nghiệm và ghi chép sổ sách.
1.5 Một số nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của bà mẹ với dịch vụ CSSKSS Dự án
VIE 01/P10
Chương trình CSSKSS 7 tỉnh UNPFA tài trợ năm 2006 trên 1439 phụ nữ cho một số kết quả sau: Tỉ lệ cán bộ y tế CSSKSS luôn cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ bà mẹ 89,2% Không phải đợi chờ lâu 89, 2% TYT xã sạch sẽ thuận tiện 88, 1% Trình độ CBYT CSSKSS cao 66,7% Trang thiết bị y tế đầy đủ sạch sẽ 63% Hài lòng về chất lượng dịch vụCSSKSS là 82, 3% [14]
Nghiên cứu mức độ hài lòng của phụ nữ mang thai về dịch vụ chăm sóc thai nghén tại 3 TYTxã, huyện Gia Lãm, Hà nội năm 2008 của tác giả Vũ Thu Hà.
Tỷ lệ phụ nữ mang thai hài lòng về sự tiếp cận dịch vụ y tể tương đối cao với 92,76% chorằng việc di chuyển từ nhâ tới TYT là dễ dàng 73,02% phụ nữ mang thai đồng ý lịch khám thai
và dịch vụ chăm sóc thai nghén tại xã là hợp lý 67,11 % cho rằng thời gian chờ đợi nhận dịch vụtại TYT xã là nhanh và 26,32% cho là bình thường 97,37% phụ nữ mang thai cho rằng TYTkhang trang sạch sẽ và 1,32% cho rằng TYT xã không đủ trang thiết bị dụng cụ cần thiết và chỉ
có 4,61% cho rằng trang thiết bị dụng cụ không sạch sẽ 65,7% phụ nữ mang thai hài lòng vớicác loại dịch vụ chăm sóc thai nghén được cung cấp tại TYT xã Chỉ có 2,63% phụ nữ mang thaicho rằng thái độ của CBYT là không tốt 77,7% các bà mẹ đồng ý là CBYT có trình độ chuyênmôn cao 95,40% phụ nữ có thai cho rằng chi phí tại TYT xã phù hợp với kinh tế gia đình và họđều có khả năng chi trả
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 2.1 Đối tưọng, thời gian và địa điểm nghiên cứu đánh giá
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu từ hai nhóm đối tượng: Phía cung cấp dịch vụ và phíangười nhận dịch vụ
Tại trung tâm Y tế huyện Hoài đức
- 02 Cán bộ phụ trách khoa CSSKSS trung tâm y tế huyện
Tại trạm y tế xã Vân Côn và Tiền Yên
- 02 Trạm trưởng trạm y tế xã
- 02 Cán bộ trạm y tế phụ trách CSSKSS xã
- Cơ sở vật chất tại 2 TYT xã
- Trang thiết bị thiết yếu sản khoa
- Thuốc thiết yếu sản khoa
- Số liệu thứ cấp của trạm y tế liên quan đến chăm sóc SKSS trước sinh
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Hai trạm y tế xã Vân Côn và Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà nội
2.2 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa định tính và định lượng
- Sử dụng số liệu thứ cấp và quan sát trực tiếp
Trang 332.3 Xác định chỉ số, biến số cần đánh giá
pháp thu thập
♦ Các biến số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
2 Trình độ học vấn Lớp học cao nhất đạt được Phiếu điều tra
3 Ngày sinh con gần nhất Tính theo ngày dương lịch Phiếu điều tra
4 Nghề nghiệp Công việc đang tạo ra thu nhập chính Phiếu điều
Phiếu điều tra
Các chỉ số/ biến số đánh giá mục tiêu 1
8 Công trình phụ trợ tại TYT Nơi chờ, Đủ nước sạch tự chảy, có điệư
thắp sáng, nhà vệ sinh tự thoại, nhà tắm,
xử lý rác thải y tế
Bảng kiểmPVS
9 Trang thiết bị y tế cơ bản phục
vụ CSSK bà mẹ trước sinh
Là dụng cụ trang thiết bị y tế tối thiểuphục vụ khám thai theo yêu cầu tronghướng dẫn CQG về CSSKSS của bộ y
Bảng kiểmPVS
Trang 34tế như : nồi hấp ướt, tủ sấy khô, hộp nhựa
có nắp, dụng cụ hóa chất khử nhiễm
10 Tài liệu truyền thông Là các tài liệu cung cấp thông tin cho các
bà mẹ về CSSK trước sinh như tờ rơi,pano, áp phích
Bảng kiểmPVS
11 Thuốc thiết yếu sản khoa Các nhóm thuốc phục vụ CSSKSS theo
qui định của BYT tại y tế xã
Bảng kiểmPVS
12 Nhân lực, trình độ CBYT
chuyên trách CSSKSS
Sô người chịu trách nhiệm CSSKSS tạiJYT xã, trình độ, bằng cấp chuyên môntheo tiêu chí nhân lực tại TYT xã
Bảng kiểm ’PVS
13 TYT xã cung cấp viên sắt Là TYT có viên sắt để bán hoặc cung cấp
miễn phí cho các bà mẹ nhận dịch vụCSSK bà mẹ trước sinh
Bảng kiểmPVS
14 TYT xã cung cấp dịch vụ tiêm
15 Quản lý thai nghén Là số lần khám thai đúng và đủ tại TYT
xã hoạc nơi khác trong suốt quá trìnhmang thai
Bảng kiểm ' PVS, quan sát
16 Chất lượng khám thai Dựa theo 9 bước khám thai qui định của
BYT
Bảng kiểmPVS, Quan sát
Các chỉ sô đánh giá mục tiêu 2: Mức độ hài lòng của các bà mẹ vê dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh
Trang 35mẹ trước sinh Thảo luận nhóm
lượng khám thai tại TYT xã
Ý kiến của bà mẹ về chất lượng khám thaitại TYT xã
Phiếu điều traThảo luận nhóm
20 Đánh giá của các bà mẹ về tư
Phiếu điềutra
Thảo luận
Trang 36bà mẹ trước sinh nhóm
25 Đánh giá của các bà mẹ về
thuốc thiết yếu CSSKSS
Ý kiến của các bà mẹ về thuốc thiết yếuCSSKSS
Phiếu điều tra
nhóm
26 Đánh giá của các bà mẹ vê tài
liệu truyền thông CSSKSS
Ý kiến của các bà mẹ về tài liệu truyềnthông CSSKSS
Phiếu điều tra
nhóm
27 Đánh giá của các bà mẹ về chi
phí của dịch vụ CSSK bà mẹ
trước sinh tại TYT xã
Ý kiến của các bà mẹ về chi phí của dịch
vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại TYT xã
Phiêu điêutra
Thảo luậnnhóm
28 Đánh giá của bà mẹ về thái độ,
phong cách phục vụ của
CBYT chuyên trách CSSKSS
Ý kiến của các bà mẹ về thái độ, phongcách phục vụ của CBYT chuyên tráchCSSKSS
Phiếu điều tra
trước sinh tại TYT xã
Ý kiến của các bà mẹ việc sử dụng lạidịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại TYT
xã (trong điều kiện giả sử bà mẹ đượcsinh con tiếp)
Phiếu điều tra
nhóm
Trang 372.4 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
- Lấy mẫu toàn bộ 115 bà mẹ đang có con dưới 6 tháng vào thời điểm nghiên cứu.Tất cả các bà mẹ này đều nhận dịch vụ CSSK bà mẹ tại cả 2 TYT xã
- Mức độ hài lòng được đánh giá qua thang điểm Likert 4 điểm : 1 Không thể chấp nhận
được, 2 không hài lòng, 3 Chấp nhận được, 4 Rất hài lòng
- Báo cáo dịch vụ CSSKSS, sổ quản lý thai nghén của Trạm y tế và trung tâm y tếhuyện Hoài Đức về dịch vụ CSSKSS bà mẹ trước sinh năm 2008
- về nhân lực : Tại trạm y tế, sử dụng bảng kiểm để điều tra về nhân lực tại trạm
- Trang thiết bị dụng cụ (Quan sát trực tiếp): Sử dụng bảng kiểm để điều tra về trangthiết bị thiết yếu sản khoa phục vụ công tác CSSKSS
- Thuốc thiết yếu sản khoa (Quan sát trực tiếp): Sử dụng bảng kiểm để điều tra về thuốcthiết yếu sản khoa phục vụ công tác CSSKSS
4.2.2.2 Phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn sâu 02 cán bộ trạm trưởng TYT xã: Để tìm hiểu các hoạt động của dịch vụCSSK bà mẹ trước sinh tại trạm y tế xã
- Phỏng vấn sâu 02 cán bộ CSSKSS tại TYT xã về dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh
- Phỏng vấn sâu 01 cán bộ phụ trách khoa CSSKSS thuộc Trung tâm y tế huyện HoàiĐức
4.2.2.3 Thảo luận nhóm
- 02 cuộc thảo luận nhóm: Chọn mẫu ngẫu nhiên 05 bà mẹ đã sinh con <6 tháng mỗi xãtìm hiểu về dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh và nhận xét của họ về dịch vụ
Trang 382.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Điều tra định lưọng
Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu cần thiết cho các mục tiêu nghiên cứu ( số * ’liệu năm 2009) về các chỉ số liên quan CSSK bà mẹ trước sinh và mức độ hài lòng của các bà
mẹ tại thời điểm nghiên cửu
2.5.2 Điều tra định tính
Phỏng vấn sâu: Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc trong phỏng vấn sâu Ghi âm các cuộc phỏng
vấn
Quan sát trực tiếp- Dùng phiếu điều tra về cơ sở hạ tầng của trạm y tế: điện, nước, nhà tắm,
nhà vệ sinh, các loại phòng dịch vụ có tại cơ sở y tế Nhân lực, trang thiết bị, tài liệu truyềnthông giáo dục về CSSK bà mẹ trước sinh, thuốc thiết yếu Các loại hình dịch vụ có tại cơ sở ytế: khám thai, việc cung cấp/ acid folic, tiêm phòng uốn ván
về dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh dựa trên nhu cầu và điều kiện hoàn cảnh thực tế của các bà
mẹ tại 2 xã
2.6 Bộ công cụ thu thập thông tin
Các loại phiếu điều tra, bảng kiểm và hướng dẫn phỏng vấn được thiết kế phục vụ cho thu thập
số liệu như sau:
- Phiếu điều tra, bảng kiểm về Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu, nhân lực,dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã
- Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu trạm trưởng trạm y tế, cán bộ phụ trách khoa CSSKSSTTYT huyện, cán bộ CSSKSS xã
- Bản hướng dẫn thảo luận nhóm,bà mẹ đã sinh con < 6 tháng
- Phiếu điều tra 115 bà mẹ đang có con dưới 6 tháng tuổi
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu định lượng lấy thực tế điều tra và sử dụng chương trình Excel để tính toán các
tỉ lệ và tổng hợp và phân tích theo mục tiêu nghiên cứu
Trang 39- Số liệu định tính lấy từ quan sát trực tiếp và các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luậnnhóm sẽ được mã hóa, phân tích và trích dẫn theo chủ đề để phục vụ cho phân tích theo các mụctiêu nghiên cứu.
2.8 Khía cạnh đạo đức của nghiên cửu
- Đề tài nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng thôngqua cho phép tiến hành triển khai trên thực địạ
- Đối tượng nghiên cứu đã được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu và
đã chấp nhận hợp tác tham gia nghiên cứu
- Mọi thông tin của TYT xã và Trung tâm y tế huyện được giữ kín Các số liệu, thôngtin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu này mà thôi
- Người tham gia nghiên cứu có quyền trả lời, thảo luận hoặc từ chối trả lời, thảo luận
mà không cần giải thích lý do
- Nội dung nghiên cứu là rất phù hợp và được chính quyền địa phương ủng hộ
- Kết quả nghiên cứu đã được gửi cho TYT 2 xã và trung tâm y tế huyện Hoài Đức
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
Ket quả nghiên cứu dựa trên mục tiêu nghiên cứu Với mục tiêu 1 là: Mô tả thực trạngdịch vụ CSSKSS bà mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên năm 2008 theo chuẩnquốc gia về y tế xã Trong phần này, chúng tôi kết hợp phân tích định lượng kết hợp định tính,
số liệu định lượng được thu thập từ sổ sách báo cáo của các trạm y té xã và trung tâm y tế huyện
và thực tế quan sát đánh giá về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yế Số liệu định tínhđược thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ y tế trực tiếp thực hiện CSSK bà mẹ trước sinh
Với mục tiêu 2 là: Đánh giá mức độ hài lòng của các bà mẹ sử dụng dịch vụ CSSK bà
mẹ trước sinh tại 2 TYT xã Vân Côn và Tiền Yên Đánh giá mức độ hài lòng được tính theothang điểm Likert 4 điểm từ 1-4 tương ứng với cấp độ tăng dần như sau: Không thể chấp nhận 1điểm, Không hài lòng 2 điểm, Hài lòng 3 điểm và Rất hài lòng 4 điểm tương ứng
ít người tới Những kết quả báo cáo chỉ mang tính đối phó và ai cũng biết nhưng năm nào cũngbáo cáo sai quen rồi
Ý kiến của Trạm trưởng TYT xã Vân Côn:
Trạm y tế xã thuộc huyện Hoài Đức đã sát nhập từ Hà Tây cũ về Hà nội cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi quả trĩnh đó thị hoá nhanh, nên Dịch vụ CSSK bà mẹ trước sinh ở TYT
xã ít được các bà mẹ quan tâm Có rất nhiều nơi bà mẹ lựa chọn dịch vụ, thường thì hầu như phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, thường thì không có điểu