1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của lênin ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào

197 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Nhận Thức Và Vận Dụng Chính Sách Kinh Tế Mới Của Lênin Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
Tác giả Giáo Sư Trần Ngọc Hiên, PGS. Đào Xuân Sâm, PGS Nguyễn Ngọc Long, Vũ Hữu Ngoạn, Khổng Doãn Hợi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vientiane
Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 148,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cảnhằm phát triển lực lợng sản xuất, phân công lại lao động xã hội, chuyểnnền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa.Chúng tôi coi đổi mới kinh tế là động

Trang 1

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nớc Lào, Đảng Nhân dânCách mạng (NDCM) Lào xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin là phơng phápluận, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động chính trị - xã hội Một trong nhữngvấn đề then chốt để phát triển nền kinh tế của Lào là chuyển nền kinh tếsang sản xuất hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết củaNhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đây là một vấn đề rấtbức thiết nhng lại rất mới đối với các cấp, các ngành ở Lào Để giải quyếtnhiệm vụ này Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hản đã từng nói: " Về kinh tế,chúng tôi vẫn dùng chính sách kinh tế mới của Lênin vào điều kiện cụ thểcủa Lào, áp dụng rộng rãi hình thức t bản nhà nớc, sử dụng và phát huymạnh mẽ các thành phần kinh tế mà quốc doanh là nòng cốt, xóa bỏ cơ chếquản lý tập trung quan liêu chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, sửdụng rộng rãi quan hệ hàng hóa - tiền tệ, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất -kinh doanh của cơ sở, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bớc pháttriển mối quan hệ giữa thị trờng trong nớc với thị trờng quốc tế Tất cảnhằm phát triển lực lợng sản xuất, phân công lại lao động xã hội, chuyểnnền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa.Chúng tôi coi đổi mới kinh tế là động lực, đồng thời thực hiện từng bớc việc đổimới về chính trị, trớc hết là phát huy dân chủ nội bộ và dân chủ trong toàn xãhội, cải tiến và nâng cao chất lợng lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhànớc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân" [13, 78] Vì vậy, việc nghiên cứunhững quan điểm kinh tế của Lênin trong thời kỳ chính sách kinh tế mới đểvận dụng vào điều kiện của nớc CHDCND Lào hiện nay là một đòi hỏi cả

về mặtlý luận và thực tiễn Bởi vậy, tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận ántiến sĩ kinh tế

Trang 2

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề chính sách kinh tế mới của Lênin, đã đợc nhiều học giả ởLiên Xô cũ, Đông Âu, Việt Nam, nghiên cứu ở Việt Nam, đã có một sốnhà khoa học nh: Giáo sự Trần Ngọc Hiên, PGS Đào Xuân Sâm, PGSNguyễn Ngọc Long, Vũ Hữu Ngoạn - Khổng Doãn Hợi nghiên cứu một

số khía cạnh về chính sách kinh tế mới của Lênin Nhng việc nghiên cứuchính sách này để vận dụng vào điều kiện cụ thể của nớc CHDCND Lào với

t cách là một công trình khoa học hoàn chỉnh thì còn it tác giả đề cập tới

3 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của luận án

3.1 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơbản của chính sách kinh tế mới của Lênin để rút ra những bài học kinhnghiệm và phơng thức vận dụng những quan điểm của Lênin vào điều kiệnnớc CHDCND Lào hiện nay

Để thực hiện mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu bối cảnh ra đời và những nội dung cơ bản của chínhsách kinh tế mới

- Quá trình nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của Lênin

ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

- Những phơng hớng và giải pháp vận dụng chính sách kinh tế mớicủa Lênin vào điều kiện của nớc CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay

3.2 Giới hạn của luận án

Chính sách kinh tế mới của Lênin đợc nghiên cứu với những nộidung cơ bản làm cơ sở vận dụng vào CHDCND Lào một cách linh hoạt nhất.Luận án không trình bày toàn bộ những vấn đề của chính sách kinh tế mớicủa Lênin, cũng nh không trình bày toàn bộ sự phát triển của kinh tế Lào

Trang 3

4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, cácquan điểm của Đảng NDCM Lào, kế thừa những công trình nghiên cứu củacác nhà khoa học có liên quan đến đề tài này

Luận án đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp nghiên cứu lýthuyết với khảo sát thực tế

5 Cái mới của luận án

Nghiên cứu chính sách kinh tế mới của Lênin vận dụng vào điềukiện của nớc CHDCND Lào là một vấn đề hoàn toàn mới, trên cơ sở đó đề

ra những quan điểm xây dựng chính sách kinh tế của Lào hiện nay

6 ý nghĩa khoa học của luận án

Bằng kết quả đạt đợc của luận án, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ

bé vào việc hoạch định chính sách kinh tế ở CHDCND Lào hiện nay, gópphần vào kho tàng lý luận về kinh tế của Lào nhất là công tác giảng dạy và

đào tạo cán bộ hiện nay

7 Bố cục và nội dung của luận án

Luận án gồm: Lời mở đầu, 3 chơng với 9 tiết, kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo

Trang 4

Chơng 1

Bối cảnh ra đời và những nội dung cơ bản

của chính sách kinh tế mới

1.1 Hoàn cảnh ra đời và chính sách kinh tế mới của Lênin

Chính sách kinh tế mới Navia Economicheskaia Politika gọi tắt là(NEP) của Lênin ra đời là một tất yếu khách quan của tình hình kinh tếchính trị, xã hội nớc Nga những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là những nămnội chiến (1918 -1920) NEP ra đời gắn liền với hoạt động thực tiễn củaLênin - với t cách là ngời lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Bôn-xê-vích và Nhà nớc Nga, Ngời trực tiếp soạn thảo ra NEP

1.1.1 Nớc Nga trớc Cách mạng tháng Mời

- Kinh tế nớc Nga trớc Cách mạng tháng Mời: Nớc Nga đã chuyểnlên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa hầu nh đồng thời với các cờng quốc t bảnkhác Đầu thế kỷ XX, nớc Nga đã có một nền đại công nghiệp với mức độtập trung cao Các tổ chức t bản độc quyền đã xuất hiện trong lĩnh vực côngnghiệp cũng nh trong lĩnh vực ngân hàng Giai cấp t sản độc quyền Nga đã

đóng vai trò quyết định trong đời sống kinh tế đất nớc Sự phát triển của nềncông nghiệp, nhất là đại công nghiệp Nga đã đạt một tốc độ tơng đối nhanh

Ví dụ, trong 10 năm cuối thế kỷ XIX, sản lợng gang của nớc Nga tăng 3 lần,trong khi đó để tăng sản lợng gang lên 3 lần nớc Mỹ, Đức và nớc Anh cần 20năm, nớc Pháp cần 30 năm [80, 4]

Nhng về trình độ phát triển, chủ nghĩa t bản Nga mới ở mức trungbình Trớc chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng sản lợng công nghiệp Nga

đứng thứ 5 trên thế giới (sau Mỹ, Đức, Anh, Pháp), chiếm khoảng 4% tổngsản lợng công nghiệp thế giới, song tính theo bình quân đầu ngời lại rấtthấp Đầu thế kỷ XX, trang bị công cụ sản xuất hiện đại của nớc Nga chỉ

Trang 5

bằng 1/4 của nớc Anh, 1/5 nớc Đức, 1/10 nớc Mỹ [80, 4].

Các ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay t bản ngoạiquốc, nhất là t bản Pháp, Anh và Bỉ, tức là các nớc đồng minh "Những xínghiệp luyện kim quan trọng nhất của Nga đều ở trong tay t bản Pháp Gần3/4 (72%) công nghiệp luyện kim phụ thuộc vào t bản ngoại quốc Trongcông nghiệp than (ở Đôn Bát) tình hình cũng nh thế Gần 1/2 sản lợng khaithác dầu mỏ nằm trong tay t bản Anh, Pháp Một phần khá lớn lợi nhuậncủa công nghiệp Nga lọt vào tay các ngân hàng nớc ngoài, chủ yếu là cácngân hàng Anh, Pháp" [57, 252] "Cộng thêm số nợ hàng tỷ mà Nga Hoàngvay của Pháp và Anh đã gắn chặt chế độ Nga Hoàng với chủ nghĩa đế quốcAnh, Pháp đã biến nớc Nga thành nớc ch hầu, bán thuộc địa của các nớcấy" [57, 252]

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nớc Nga còn rất lạc hậu, thể hiện nôngnghiệp chiếm hơn 80% dân số, hơn 50% trong tổng sản phẩm xã hội và cáctàn d của quan hệ sản xuất phong kiến, thậm chí của những hình thái kinh

tế - xã hội trớc đó [16, 88]

Nh vậy, có thể nói rằng, trớc năm 1917, nớc Nga còn là một nớc

có nền kinh tế cha phát triển cao Công nghiệp phụ thuộc nặng nề vào tbản nớc ngoài có sự phát triển mất cân đối giữa công nghiệp và nôngnghiệp Đúng nh Lênin đánh giá: "Một bên là chế độ sở hữu ruộng đấtlạc hậu nhất, cùng với nông thôn dốt nát nhất và một bên là chủ nghĩa tbản và công nghiệp tiên tiến nhất" [47, 530]

- Tình hình chính trị - xã hội nớc Nga trớc Cách mạng tháng Mời: + Mặc dù chủ nghĩa t bản đã phát triển, nớc Nga vẫn là một nớcquân chủ chuyên chế Giai cấp t sản Nga đã không làm cách mạng lật đổchế độ phong kiến, ngợc lại, đã câu kết với giai cấp địa chủ, trở thành haitrụ cột của chế độ Nga Hoàng Giai cấp t sản Nga thoả mãn với những cảicách chính trị đã đa họ vào Viện Đu-ma quốc gia để từ đó tác động đến

Trang 6

chính sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ Nga Hoàng Đợc chế độ NgaHoàng bảo hộ, giai cấp t sản Nga mặc sức bóc lột giai cấp công nhân vớinhững hình thức và mức độ tàn tệ nhất.

+ Giai cấp vô sản sống dới một chế độ làm việc hà khắc Ngời côngnhân Nga phải làm việc cực nhọc mỗi ngày từ 10 - 12 giờ, thậm chí 14 giờ,trong điều kiện lao động khổ cực, với chế độ quản lý hầu nh khổ sai, để h-ởng đồng lơng rẻ mạt Chế độ lao động đã dẫn đến "hàng nghìn, hàng vạnngời, suốt đời lao động để làm giàu cho kẻ khác, đã chết gục vì đói rét vànạn thiếu ăn thờng xuyên Họ đã chết non, chết yểu vì bệnh tật gây ra bởinhững điều kiện lao động ghê tởm, bởi hoàn cảnh nhà cửa tồi tàn, bởi thiếu

sự nghỉ ngơi" [46, 16]

Năm 1913, tổng số công nhân nớc Nga có khoảng 18 triệu, chiếm

tỷ lệ 10% trong dân c, trong đó có 3.643.300 công nhân công nghiệp là lựclợng tiên phong có trình độ giác ngộ và tổ chức cao nhất Bị bóc lột nặng nề

về kinh tế, không đợc hởng tự do về chính trị, do đó, giai cấp vô sản Nga cótinh thần cách mạng triệt để và ít chịu ảnh hởng của các trào lu t tởng cải l-

ơng Giai cấp vô sản Nga có mối quan hệ mật thiết với nông dân, có khảnăng phát huy vai trò lãnh đạo của mình đối với nông dân, là lực lợng quầnchúng đông đảo nhất trong xã hội Phân bố của giai cấp vô sản tơng đối tậptrung thuận lợi cho tổ chức và lãnh đạo đấu tranh cách mạng - Ưu điểm nổibật nhất của giai cấp vô sản Nga là đã xây dựng một chính đảng thực sựcách mạng của mình và lãnh tụ thiên tài là Lênin Nh vậy, giai cấp vô sảnNga đầu thế kỷ XX, so với giai cấp vô sản các nớc t bản phát triển Tây Âu

và Mỹ cha đông về số lợng nhng là một giai cấp mạnh về giác ngộ cáchmạng và trình độ tổ chức

+ Nông thôn Nga bị chế độ phong kiến đè nặng, ở đó nông dân bịbóc lột thậm tệ và nông nghiệp bị kìm hãm trong vòng lạc hậu

Năm 1913, cả nớc Nga có 367,2 triệu ha đất trồng trọt thì họ hàng

Trang 7

Nga Hoàng, địa chủ, tu viện đã chiếm 152,5 triệu ha, phú nông chiếm 80triệu ha, còn lại là của trung nông và bần nông Về cơ cấu hộ nông dân tínhtheo thành phần thì trong 18 triệu hộ, phú nông chiếm tỷ lệ 15%, trungnông chiếm 20%, bần nông chiếm 65% Trên 1/3 tổng số nông dân không

có ruộng đất và ngựa để cày cấy Chế độ lĩnh canh hết sức nặng nề, hàngnăm có hàng triệu nông dân phiêu bạt ra các thành phố để kiếm sống "Ngờinông dân bị lâm vào cảnh bần cùng, họ ở chung với súc vật, mặc rách rới,

ăn rau cỏ nông dân thờng xuyên bị đói, có đến hàng vạn ngời chết vì nạn

đói và nạn dịch mỗi khi mất mùa" [45, 545]

- Trên bình diện quốc tế, do lạc hậu về kinh tế, chính trị, yếu kém

về quân sự, đế quốc Nga luôn luôn bị thua kém trong các cuộc cạnh tranhquốc tế Bọn t bản Tây Âu và Mỹ xâm nhập thị trờng Nga, đầu t vào côngnghiệp, ngân hàng, nắm nhiều ngành công nghiệp quan trọng nh khai thácthan, dầu mỏ, chế biến kim loại đã làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc Ngavới các đế quốc khác phát triển đến mức quyết liệt Năm 1914, Chính phủ NgaHoàng tham gia cuộc chiến tranh đế quốc với hy vọng bành trớng xâm lợc,nhằm cải thiện địa vị trong hệ thống chủ nghĩa đế quốc, đồng thời âm mu lợidụng chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng trong nớc Song cả hai mu

đồ đều đã thất bại Chiến tranh đã làm bộc lộ sự yếu kém và thối nát của chế

độ Nga Hoàng Ngoài mặt trận, quân Nga thua hết trận này đến trận khác, hậuphơng rối loạn, kinh tế suy sụp, nhân dân lâm vào cảnh cơ cực đến tột cùng.Phong trào của quần chúng nhân dân lên cao hơn bao giờ hết

- Sự bóc lột nặng nề đối với công nhân và nông dân; nền chuyênchính quân chủ bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ của quần chúng; Sự phụthuộc vào t bản nớc ngoài tất cả những cái đó đã làm cho nớc Nga trởthành nơi hội tụ của mọi hình thức bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, giao

điểm của các mâu thuẫn của thời đại và là khâu yếu nhất trong hệ thốngtoàn cầu của chủ nghĩa đế quốc Trong khi đó, sự phát triển của Cách mạngNga và sự trởng thành của giai cấp công nhân đã làm cho nớc Nga đầu thế

Trang 8

kỷ XX trở thành trung tâm của cách mạng thế giới.

Sự phân tích những tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội nớc Nga chothấy, trong xã hội của đế quốc Nga đầu thế kỷ XX đã mang trong mình nónhững mâu thuẫn gay gắt cần đợc giải quyết và những lực lợng cách mạng

đã có thể giải quyết mâu thuẫn đó Hay có thể nói là những tiền đề cho mộtcuộc cách mạng đã chín muồi Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tìnhhình, Đảng cộng sản (b) Nga đứng đầu là Lênin đã tổ chức lực lợng quầnchúng phát động cuộc cách mạng giành chính quyền Ngày 25/10 (7/11)năm 1917 cách mạng đã thành công trên đất nớc Nga

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mời Nga là một cuộc cáchmạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại Nó đã lật nhào ách thống trị ngàn

đời, giành lại chính quyền cho quần chúng lao động để xây dựng một xãhội không có bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, một xã hội trong đó quầnchúng nhân dân làm chủ vận mệnh của mình để xây dựng cuộc sống tự do

và hạnh phúc - xã hội cộng sản văn minh, niềm mơ ớc ngàn đời của nhânloại Vì vậy, Cách mạng tháng Mời không những mở ra một kỷ nguyên mớitrong lịch sử các dân tộc Liên xô, mà đồng thời, đã mở đầu một thời đạimới trong lịch sử loài ngời: thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩaxã hội trên phạm vi toàn thế giới Sau Cách mạng tháng Mời, Đảng cộngsản (b) - Đảng cộng sản đầu tiên trên toàn cầu trở thành đảng cầm quyền,lãnh đạo nhân dân Nga bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Những năm nội chiến và chính sách cộng sản thời chiến

- Xây dựng chính quyền Xô viết và bớc đầu xây dựng nền kinh tếxã hội - chủ nghĩa:

+ Sau khi giành đợc chính quyền về tay cách mạng, nhiệm vụ quantrọng hàng đầu là phải đập tan bộ máy nhà nớc cũ của giai cấp bóc lột, xâydựng bộ máy nhà nớc mới - Nhà nớc chuyên chính vô sản

Trang 9

Chính quyền Xô viết đã ban hành hàng loạt các đạo luật và sắc lệnhbãi bỏ các cơ quan của chính quyền cũ nh: Các bộ, các Viện Đu-ma, cảnhsát, bọn quan lại, bọn nhân viên phản động đều bị cách chức.

Trong thời gian cuối năm 1918 hệ thống nhà nớc chuyên chính vôsản đợc thiết lập và hoàn thiện từng bớc từ Trung ơng đến địa phơng trên cơ

sở hệ thống các Xô viết, có liên hệ chặt chẽ với quần chúng lao động Nétnổi bật của hình thức tổ chức chính quyền mới ở nớc Nga Xô viết là sự hàihòa giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, dẫn tới sự thống nhất hành

động giữa các cơ quan chính quyền Xô viết Đó là một biểu hiện tính hơnhẳn của chế độ cộng hòa Xô viết so với chế độ đại nghị t sản

ở địa phơng, thông qua các Đại hội Xô viết toàn Nga, chính quyềnXô viết các cấp từng bớc đợc xây dựng và khẳng định trên cơ sở vững chắc

là nền tảng của khối liên minh công nông Đến tháng 7/1918, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ V đã thông qua bản Hiến pháp của nớc Cộng hoà xãhội chủ nghĩa liên bang Nga Bản hiến pháp đã khẳng định về mặt pháp lýthành quả của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mời, khẳng định chế

độ xã hội tốt đẹp và mối quan hệ hoàn toàn bình đẳng giữa các dân tộc lần

đầu tiên trong lịch sử loài ngời đợc thiết lập ở Nga

+ Song song với việc xây dựng chính quyền trên cơ sở của khối liênminh công nông, nhân dân Xô viết bắt tay vào xây dựng xã hội mới, mànhiệm vụ chủ yếu và khó khăn nhất là xây dựng nền kinh tế xã hội chủnghĩa Các khó khăn này đợc Lênin chỉ rõ: "Thực hiện ở khắp mọi nơi sựkiểm kê và kiểm soát hết sức chặt chẽ việc sản xuất và phân phối sản phẩmtăng năng suất lao động, thực sự xã hội hoá sản xuất" [49, 208]

Ngay sau ngày thắng lợi của Cách mạng tháng Mời, chính quyềnXô viết đã tiến hành những biện pháp cách mạng trong lĩnh vực kinh tế nh:Ban hành sắc lệnh về ruộng đất, tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ giaocho nông dân sử dụng; ban hành hàng loạt các sắc lệnh, áp dụng hàng loạt

Trang 10

các biện pháp nhằm đập tan thế lực kinh tế của giai cấp t sản; ban bố điều lệ

về chế độ kiểm soát của công nhân đối với sản xuất và phân phối sản phẩmtrong các ngành kinh tế quốc dân; quốc hữu hoá các nhà máy xí nghiệp vàngân hàng của giai cấp t sản; xóa bỏ các món nợ trớc đây của chính phủNga hoàng và chính phủ lâm thời của giai cấp t sản (khoảng 50 tỷ Rúp);Chính phủ Xô viết tuyên bố độc quyền ngoại thơng và tịch thu các công tythơng nghiệp của t bản nớc ngoài Tóm lại, cuối năm 1917 và đầu năm

1918, một loạt các biện pháp cách mạng đã đợc thực hiện trong lĩnh vựckinh tế nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ của chế độ phong kiến, t sản và b-

ớc đầu xác lập hệ thống kinh tế của chủ nghĩa xã hội

- Chính sách Cộng sản thời chiến - nguyên nhân, mục tiêu, kết quả

và ý nghĩa của nó

+ Ngay trong ngày đầu chính quyền Xô viết ra đời Lênin đã khẳng

định: "Vấn đề hoà bình hiện giờ là một vấn đề rất khẩn cấp và rất bức thiết".Trớc hết, cuộc chiến tranh đế quốc mà nớc Nga Sa hoàng tham gia và chínhphủ t sản lâm thời theo đuổi chỉ đem lại tai ơng, chớng họa cho quần chúng,chính quyền cách mạng không có lý do gì để tiếp tục nó Sau nữa, tiếp tụcchiến tranh là một mối nguy cơ đe doạ nớc cộng hòa Xô viết non trẻ Nhândân Xô viết hết sức cần có hoà bình để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Để thực hiện mục tiêu này, ngày 26.10.1917, Đại hội Xô viết toànNga lần thứ II đã thông qua sắc lệnh về hoà bình do Lênin khởi thảo Tiếptheo, ngày 8.11.1917, ủy viên nhân dân ngoại giao của nớc Nga Xô viết đãgửi công hàm tới các quốc gia tham chiến đề nghị đình chiến và đàm phánhoà bình do Lênin vạch ra Nhng dới sự lãnh đạo khôn khéo và sáng suốtcủa Lênin và những ngời cộng sản chân chính, cuối cùng hoà ớc Brét-litốp đã

đợc ký kết giữa Nga và Đức, dù trong điều kiện hết sức bất lợi cho nhà nớcNga Xô viết Song với hoà ớc Brét-litốp, chủ nghĩa đế quốc đã phải thừanhận chính quyền Xô viết, đã đa nớc Nga ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc,

có thời gian tập trung khắc phục những hậu quả của chiến tranh, xây dựng

Trang 11

kinh tế, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mà Lênin và những ngời lãnh đạo

Đảng Cộng sản (b) Nga biết chắc chắn là không thể tránh khỏi

Các cờng quốc trong phe hiệp ớc không công nhận hoà ớc litốp, trái lại, họ lấy đó làm cớ để can thiệp vũ trang vào nớc Nga, câu kếtvới bọn phản động trong nớc lật đổ chính quyền cách mạng, buộc nớc Ngaphải tiếp tục chiến tranh vì lợi ích của các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ

Trớc cảnh thù trong giặc ngoài, mùa hè năm 1918, Tổ quốc Xô viết

ở trong một tình huống cực kỳ khó khăn và nguy hiểm Khoảng 30 vạnquân của 14 nớc đế quốc và ch hầu, cùng khoảng 1 triệu quân của bọn phản

động đủ các loại đã xâm chiếm khoảng 3/4 lãnh thổ của đất nớc Xô viết,chúng chiếm đợc những trung tâm nguyên liệu và lúa mì quan trọng Nềnkinh tế của đất nớc rơi vào tình trạng cực kỳ khó khăn: Các nhà máy phải

đóng cửa vì thiếu nguyên liệu và nhiên liệu, giao thông bị đình trệ, nhândân (nhất là ở thành phố) lâm vào cảnh đói rét và bệnh tật Nớc Nga Xô viết

đã thực sự bớc vào một cuộc chiến tranh và "tiền đồ của cách mạng sẽ đợc

định đoạt bởi kết quả của cuộc chiến tranh này"

Để động viên toàn bộ sức ngời, sức của phục vụ cho cuộc chiến

đấu, từ mùa hè năm 1918, Đảng và nhà nớc Xô viết đã quyết định thi hànhchính sách cộng sản thời chiến

+ Mục đích trớc tiên của chính sách cộng sản thời chiến là tậptrung toàn bộ lực lợng của xã hội và của nhà nớc vào việc chiến thắng thùtrong giặc ngoài Nhng đồng thời chính sách này cũng theo đuổi cả mộtmục đích khác-đó là thủ tiêu chủ nghĩa t bản và gốc rễ của nó ở trong nớc

để có thể nhanh chóng "Vợt qua" không chỉ thời kỳ quá độ giữa chủ nghĩa

t bản và chủ nghĩa xã hội, mà qua cả chính chủ nghĩa xã hội, tiến thẳng lênchủ nghĩa Cộng Sản

+ Nội dung cơ bản của chính sách cộng sản thời chiến là: Trng thulơng thực của nông dân, nhà nớc độc quyền mua bán lúa mì để cung cấp

Trang 12

cho thành thị và quân đội; Nhà nớc kiểm soát việc sản xuất và phân phốisản phẩm không những đối với đại công nghiệp mà cả trung và tiểu côngnghiệp; quốc hữu hoá cả những xí nghiệp vừa và nhỏ, có từ 5 công nhân trởlên (nếu có động cơ) và 10 công nhân trở lên (nếu không có động cơ); Cấmbuôn bán, trao đổi sản phẩm ở trên thị trờng, nhất là lúa mì, thực hiện chế

độ tem phiếu, trực tiếp phân phối bằng hiện vật cho ngời tiêu dùng Xóa bỏngân hàng nhà nớc; đặt chế độ lao động cỡng bức với nguyên tắc: "Khônglàm thì không ăn"

+ Nhờ thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, Nhà nớc Xô viết

đã có lơng thực để cung cấp cho quân đội, đảm bảo đánh thắng thù tronggiặc ngoài

+ Chính sách cộng sản thời chiến với những phơng pháp lãnh đạocứng rắn, chủ yếu là phơng pháp chỉ huy - mệnh lệnh là một sai lầm trongquản lý kinh tế Sai lầm này có nhiều nguyên nhân, song có thể kể đến hai

nguyên nhân cơ bản là: thứ nhất, do ảnh hởng của chiến tranh bắt buộc đòi hỏi tác chiến nhanh và kiên quyết; hai là, quan niệm về mục tiêu cách

mạng, sự phát triển của cách mạng bị cao trào nhiệt tình lôi cuốn do đó lầmtởng rằng "Có thể dựa vào nhiệt tình" nh trong chính trị và quân sự mà trựctiếp thực hiện nhiệm vụ kinh tế cũng to tát nh vậy ảo tởng sai lầm trên lànguyên nhân căn bản dẫn đến sự phá sản của chính sách cộng sản thờichiến ngay sau khi đất nớc có hoà bình bớc vào xây dựng kinh tế và sự phásản này còn để lại di chứng kinh tế, xã hội lớn đối với nền kinh tế

1.1.3 Hoàn cảnh ra đời chính sách kinh tế mới của Lênin

Cuối năm 1920, đất nớc Xô viết ra khỏi chiến tranh, chuyển sanggiai đoạn xây dựng hoà bình từ những điều kiện cực kỳ khó khăn Về côngnghiệp, ớc tính 1/4 tổng sản phẩm quốc gia mất đi, trong đó nền đại côngnghiệp bị tổn thất lớn nhất Tổng sản lợng năm 1920, so với năm 1917 giảm

đi hơn 4 lần, số ngời làm việc giảm gần 1/2 lần Do đó, tỷ trọng sản phẩm

Trang 13

công nghiệp trong nền kinh tế năm 1920 là 25% Hầu nh tất cả các ngành

đều sa sút Sản lợng năm 1920 so với năm 1918 thì than đá giảm từ 731triệu pút xuống 476 triệu pút, đúc gang từ 31,5 triệu tấn xuống 7,0 triệu tấn,sản xuất thép Mác-tanh giảm từ 21,5 xuống 10 triệu tấn, thép dát giảm từ21,8 triệu xuống 12,2 triệu tấn, sản xuất đờng giảm từ 20,3 triệu xuống còn5,5 triệu pút Nguyên liệu, vật liệu dự trữ đã dùng hết So với năm 1915 sảnxuất đại công nghiệp giảm xuống tới 12,8%, còn công nghiệp giảm xuốngtới 44,1% Do đó, tơng quan thay đổi nghiêng về tiểu công nghiệp, từ24,2% lên 52,3% [22, 8-9] gieo trồng, sản lợng ngũ cốc, sản phẩm chănnuôi đều giảm Tổng sản lợng nông nghiệp năm 1921 chỉ bằng 60% năm

1913 Bình quân ngũ cốc đầu ngời giảm từ 405 kg (trớc chiến tranh) còn

246 kg vào năm 1920

Giao thông vận tải bị tàn phá nghiêm trọng, 61% số đầu máy và28% số toa xe bị phá, cùng với 4000 chiếc cầu và các ga, kho tàng So vớitrớc chiến tranh, khối lợng vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20% (Không kể

đến khối lợng vận chuyển của quốc phòng và nhu cầu của bản thân ngành

xe lửa là 12%) [32, 10]

Nền tài chính, tín dụng cũng lâm vào tình trạng rối loạn Năm 1918,bội chi ngân sách 31 tỷ rúp, thì năm 1921 con số bội chi lên tới 21.937 tỷrúp Mức độ dự trữ vàng của ngân hàng giảm sút nghiêm trọng, nếu năm

1914 mức bảo đảm vàng cho khối lợng tiền tệ trong lu thông là 98,2% thìnăm 1917 chỉ còn 6,8% Khối lợng tiền tệ tăng nhanh trong khi khối lợnghàng hoá giảm mạnh đã đa đến sự tăng vọt của giá cả Mức giá trung bìnhtoàn quốc trong năm 1923 tăng hơn 21 triệu lần so với năm 1913 Do đồngrúp mất giá nhanh, nên các địa phơng đã tự tạo ra vật ngang giá khác nhau

Đồng thời phát sinh xu hớng hiện vật hoá trong nền kinh tế tăng dần

Những hậu quả của những năm chiến tranh và nội chiến cùng chínhsách thu mua lơng thực thừa đã tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế Xô viếtdẫn đến một cuộc khủng hoảng toàn diện Đầu tiên là khủng hoảng kinh tế,

Trang 14

từ đó lan ra địa hạt chính trị, xã hội, mà điểm xuất phát và xuyên suốt làvấn đề lơng thực.

Những khó khăn về cung cấp lơng thực cho các thành phố tăng lênkhông chỉ dẫn tới tình trạng dân c các thành phố sống vất vởng, mà còn dẫntới tình trạng dân c thành phố trong đó có cả những công nhân lành nghề lũlợt kéo về nông thôn Tình trạng giai cấp vô sản mất tính giai cấp đã xảy ra,

đụng chạm đến phần lớn giai cấp vô sản Tình trạng này càng trở nên trầmtrọng vì những công nhân tiên tiến nhất từ các mặt trận trở về đã chuyểnsang làm công việc hành chính quản trị

Công nhân bị khổ sở vì cuộc sống bữa đói bữa no (chế độ temphiếu đáp ứng đợc không quá 1/2 những nhu cầu tối thiểu, phần còn lại phải

đổi chác ngoài chợ đen)

Tình hình lơng thực ở nông thôn khá hơn thành phố Từ sau Cáchmạng tháng Mời, về thực chất nông dân đợc dễ chịu hơn bất kỳ nhóm c dânxã hội nào khác Ngay sau khi thiết lập chính quyền Xô viết, theo sắc luật

về ruộng đất, nông dân đã đợc giao hẳn hơn 150 triệu ha đất đai của địachủ, tu viện và nhà nớc Nhà nớc cũng miễn cho nông dân những khoảnthuế và các khoản địa tô hàng trăm rúp vàng tính theo tín dụng của ngânhàng ruộng đất Song vấn đề cơ bản của vấn đề lơng thực là nhà nớc phảibảo đảm lơng thực, trớc hết là bánh mì cho Hồng quân đang chiến đấuchống bọn phản cách mạng và c dân thành phố

Song ở nông thôn, nhà nớc không tổ chức đợc việc thu mua lúa mìmột cách bình thờng, nông dân khớc từ bán lúa mì theo giá tơng đối thấpcủa nhà nớc, hơn nữa, do đồng tiền mất giá nhanh chóng Nông dân đổi sảnphẩm thừa cho những ngời dân nghèo thành phố lấy đồ dùng Do thơngnghiệp bị phá hủy nên phần lớn nông dân sống tự cung tự cấp, họ bắt đầutiêu dùng những sản phẩm d thừa của mình nên họ ăn uống tốt hơn, trongkhi những ngời dân ở thành phố ăn uống kém đi Các đội lơng thực do công

Trang 15

nhân thành lập riêng buộc phải cỡng bức trng thu lúa mì thừa của nông dân.

Để chỉnh đốn việc này chính phủ cách mạng bắt đầu trng thu lúa mì thôngqua chế độ gọi là trng thu lơng thực thừa Đầu năm 1919, sắc lệnh về trngthu lơng thực thừa đã qui định số lợng lúa mì và thức ăn gia súc mà mỗitỉnh phải nộp theo giá ổn định (vì có lạm phát nên thực tế có nghĩa là thukhông) Sau đó các định mức này đợc phổ biến đến các đơn vị hành chính -lãnh thổ bên dới cho đến tận các nông hộ Ngời ta cố gắng thực hiện chế độtrng thu lơng thực thừa phù hợp với nguyên tắc giai cấp: gánh nặng chủ yếucủa chế độ trng thu lơng thực này đợc đặt lên vai bọn Cu-lắc và những nôngdân khá giả, sau đó là đặt lên vai những ngời trung nông và thấp hơn nữa lànhững ngời nghèo

Nông dân chấp hành chế độ trng thu lơng thực thừa không phải làkhông có phản ứng, hơn nữa, trên thực tế hầu nh họ bị trng thu toàn bộ sảnphẩm thặng d Nông dân, đặc biệt là những ngời sung túc, bằng cách nàyhay cách khác, bán phần sản phẩm còn lại ra ngoài chợ đen, về mặt hìnhthức thị trờng này bị cấm, nhng thực tế nó vẫn tồn tại Đồng thời họ cất dấu,tích trữ, biến phần lợi nhuận thu đợc thành tài sản quí giá để tránh sự trngthu, mà không đầu t cho phát triển sản xuất Tóm lại, nền sản xuất nhiềuthành phần, chủ yếu là sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân ở nớc Nganhằm phục vụ lợi ích, quyền lợi của cá nhân, khi đó đã không tham gia vàocông cuộc cải cách xã hội chủ nghĩa đang bắt đầu thực hiện ở trong nớc

Chính tất cả nông dân đều hiểu rõ rằng chế độ trng thu lơng thựcthừa - nói chung là chấp nhận đợc và cần thiết, họ coi đó là sự trả ơn chochính quyền cách mạng vì đã cứu họ tránh đợc sự phục hồi chế độ t sản,không trao lại ruộng đất cho địa chủ mà chính điều này đã xảy ra ở nhữngvùng tạm thời bị đội quân phản cách mạng chiếm đóng

Nhng khi nội chiến kết thúc, và nguy cơ trực tiếp phục hồi chínhquyền của bọn địa chủ không còn thì đối với nông dân, chế độ trng thu lơngthực thừa là không thể chịu đợc Trong thời chiến "Chính sách cộng sản

Trang 16

thời chiến" gây ra thiệt hại cho lợi ích nông dân, tuy vậy, sự thiếu thốn, khókhăn trong đời sống của nông dân và công nhân trong thời kỳ ấy không gây

ra những sự mệt mỏi về tinh thần Vì quần chúng lao động sẵn sàng lao

động quên mình để góp phần vào việc tiêu diệt bọn phản cách mạng, thiếtlập và giữ chính quyền nhân dân Nhng sau chiến tranh, khi những hy vọngtrông chờ vào việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần (không đợc đáp ứngthì lòng tin giảm dần và sự bất mãn đã bắt đầu tăng lên) [32, 11]

Sự bất mãn của nông dân đối với chế độ trng thu lơng thực thừa đãbiến thành những cuộc bạo loạn, trong đó đặc biệt đáng chú ý là cuộc bạoloạn ở tỉnh sản xuất lúa mì (Tam Bốp), và đỉnh cao của phong trào là cuộcnổi dậy là cuộc bạo loạn của các thủy thủ tại căn cứ hải quân Crôn-Stát(những lính thủy tân binh ở đây chủ yếu xuất thân từ nông dân) Những ng-

ời nổi dậy đa khẩu hiệu đòi bãi bỏ chế độ trng thu lơng thực thừa, tự dobuôn bán sản phẩm, trớc hết là lúa mì

Những cuộc bạo loạn đợc dập tắt nhanh chóng, nhng Lênin coi đó

là triệu chứng đáng lo ngại về sự thu hẹp cơ sở xã hội của chính quyền Xôviết, về sự bất mãn của đông đảo quần chúng nhân dân đối với chính sáchkinh tế - xã hội của chính quyền Xô viết " Năm 1921, thì chúng tôi vấpphải một cuộc khủng hoảng chính trị bên trong của nớc Nga Xô viết, theotôi đó là cuộc khủng hoảng lớn nhất Cuộc khủng hoảng đó đã làm chokhông những một bộ phận khá lớn trong nông dân, mà cả công nhân nữa

bất bình" [55, 327] Qua đó, Lênin đã rút ra hai kết luận quan trọng: Một là,

các cuộc bạo loạn là biểu hiện phản cách mạng của giai cấp t sản, sự phản

cách mạng này còn nguy hiểm hơn cả bọn bạch vệ; Hai là, cần phải thay

đổi chính sách đối với nông dân Đây là sự đánh dấu bớc đầu của sự thay đổi

Có thể khái quát nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng năm 1920

-1921 là: Các chính sách chủ trơng của Đảng vi phạm lợi ích kinh tế của

ng-ời lao động, trớc hết là nông dân, trong điều kiện họ đã mệt mỏi do chiến

Trang 17

ờng về trật tự, an toàn xã hội (chủ yếu do nạn cớp bóc); Sự thoái hoá trong

bộ máy nhà nớc, hiện tợng một bộ phận nhân viên, kể cả một số ngời lãnh

đạo xa rời quần chúng, thiếu tôn trọng lợi ích quần chúng càng phát triểnthì càng ngày gây thêm mất lòng tin và bất mãn trong quần chúng; Sự pháhoại của bọn phản động quốc tế, (nh vụ nổ ở Crôn - Xtít)

Tình hình này đòi hỏi Nhà nớc Xô viết phải thực hiện một cuộc đổi

mới toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị - xã hội, trong đó đổi mới kinh

tế là trọng tâm, là điểm xuất phát Đáp ứng tình hình này NEP ra đời Trêncơ sở đã phân tích ở các mục trớc, có thể khái quát các tiền đề kinh tế - xãhội trên đó NEP đã ra đời nh sau:

+ Chính sách Cộng sản thời chiến là sự vận dụng quan hệ chính trịvào kinh tế để giải quyết nhiệm vụ chính trị - phục vụ mục tiêu giành chínhquyền Nay chính sách đó đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình và đã bộc

lộ chỗ yếu, chỗ bất hợp lý không còn t cách là một công cụ làm đòn bẩythúc đẩy nền kinh tế phát triển

+ Nhận thức sai lầm về con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Sau thắnglợi của Cách mạng tháng Mời, ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản (b) Ngacho rằng, ngay ngày hôm sau thắng lợi của cách mạng, ngay sau khi giai cấpvô sản đã thiết lập đợc chính quyền - tức nhà nớc công - nông là nớc Nga cóthể đi ngay và đi trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện đầy đủ các quiluật kinh tế của chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản

+ Những sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và tính chấtcủa thời kỳ quá độ là cơ sở dẫn đến khiếm khuyết về sự nhận thức và vậndụng các qui luật kinh tế đợc vạch ra ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳquá độ do Đảng Cộng sản (b) Nga (Đảng cầm quyền đơng thời) đã đa ra màLênin coi đó là những sai lầm nh: chủ trơng quốc hữu hoá nhanh chóng,xóa bỏ thơng nghiệp t nhân, chợ búa, thi hành chính sách ngăn sông cấmchợ; chủ trơng quản lý toàn bộ nông sản và trực tiếp quản lý sản xuất nông

Trang 18

nghiệp; xóa bỏ các thành phần kinh tế tồn tại trên cơ sở chế độ sở hữu tnhân, xây dựng nền kinh tế đơn nhất chỉ có một thành phần kinh tế xã hộichủ nghĩa với hai hình thức quốc doanh và tập thể vận động và phát triểntrên cơ sở chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất.

+ Hầu hết cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế bị tiêu hủy trongchiến tranh, nớc Nga đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trịtrầm trọng

NEP không phải đợc hình thành ngay lập tức mà nó đợc cụ thể hoádần dần do những đòi hỏi của tình hình kinh tế, xã hội nớc Nga Trớc hết,

nó là toàn bộ mọi biện pháp chống khủng hoảng khẩn cấp, thì chỉ sau nàymọi ngời mới hiểu sâu sắc NEP nh là chiến lợc tối u của bớc chuyển sangchủ nghĩa xã hội Vả lại, chỉ đến năm 1922 lần đầu tiên Lênin mới sử dụngchữ viết tắt "NEP"

1.2 Nội dung cơ bản của chính sách kinh tế mới

Nội dung của NEP có thể chia thành các vấn đề sau:

1- Chính sách thuế lơng thực và chính sách khôi phục - phát triểnnông nghiệp công nghiệp (bao gồm cả t tởng về công nghiệp hoáGOELRO);

2- Chính sách khôi phục thơng nghiệp, lu thông hàng hoá;

3- Chính sách ổn định tài chính tiền tệ Khôi phục và phát triểnkinh tế nhiều thành phần, mở cửa;

4- Chính sách phát triển chủ nghĩa t bản nhà nớc dới chủ nghĩa xãhội;

5- Chính sách tăng cờng quản lý nhà nớc về kinh tế và cải tổ bộmáy nhà nớc

1.2.1 Chính sách thuế lơng thực và chính sách khôi phục phát

Trang 19

Thuế lơng thực

Sinh ra trong điều kiện chiến tranh, nhằm huy động lơng thực, thựcphẩm cho chiến tranh, chính sách cộng sản thời chiến đã hoàn thành sứmạng lịch sử của mình Chuyển sang giai đoạn hoà bình, chính sách cộng sảnthời chiến đã bộc lộ tất cả những hạn chế của nó, và chính sách thuế lơngthực ra đời để giải quyết những vấn đề nóng bỏng của tình hình nớc Nga

Mục tiêu của thuế lơng thực đợc Lênin nêu ra ba vấn đề:

+ Ngời nông dân đợc tự do lu thông lơng thực sau khi đã nộp đủthuế cho nhà nớc, tức là thực hành chế độ tự do trao đổi nông phẩm hànghoá

+ Nhà nớc phải nắm đợc lơng thực để đáp ứng cho nhu cầu tiêudùng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân không phải bằng chính sách cỡngbức trng thu mà bằng cách thu thuế nông nghiệp và thông qua quan hệ hànghoá - tiền tệ giữa nhà nớc với nông dân trên thị trờng (đây là hình thức chủyếu)

+ Chính sách thuế lơng thực phải có tác dụng trớc hết là nhanhchóng cải thiện đời sống cho nông dân, khuyến khích nông dân hăng hái sảnxuất và nâng cao năng suất trong nông nghiệp để cải thiện đời sống của họ

- Để đạt đợc mục tiêu trên, chính sách thuế lơng thực bao gồm cácnội dung chủ yếu: Qui định mức thuế ổn định trong một thời gian nhất định;mức thuế giảm hai lần so với chính sách trng thu lơng thực thừa; qui địnhhình thức nộp thuế đơn giản, thuận tiện bao gồm: hình thức hiện vật, hìnhthức tiền và hình thức tổng hợp cả tiền và hiện vật; qui định mức đóng thuếkhác nhau đối với các tầng lớp xã hội: bần nông chỉ phải nộp 1,2% thunhập, tơng tự trung nông: 3,5%, phú nông: 5,6%; ngoài số thuế phải thunộp, nông dân có toàn quyền sử dụng số sản phẩm còn lại

Trang 20

Thực hiện mục tiêu và nội dung thuế lơng thực, có hai vấn đề đặt

ra: một là, tại sao nhà nớc vô sản lại đặt ra vấn đề cải thiện đời sống nông

dân chứ không là công nhân? nh vậy có hữu khuynh không? vấn đề này đợcLênin giải thích rằng: đó không phải là hữu khuynh Bởi vì, muốn cải thiện

đời sống của giai cấp công nhân thì công nhân phải có việc làm, mà muốn

có việc làm thì nhà máy, xí nghiệp phải hoạt động, nhà máy, xí nghiệpmuốn hoạt động thì phải có nguyên liệu, mặt khác, công nhân cũng cầnphải có lơng thực Vì vậy, nếu muốn có lơng thực cho công nhân và nguyênliệu cho công nghiệp thì trớc hết phải thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và cải

thiện đời sống nông dân trớc để họ có đủ sức phát triển sản xuất Hai là, để

cải thiện đời sống nông dân thì mức thuế phải thấp Nh vậy, nhà nớc làmthế nào để có đủ số lơng thực cần thiết Thực tế cho thấy, năm 1921 nhà n-

ớc chỉ thu đợc 240 triệu pút lúa mì so với 423 triệu pút trng thu trớc đây.Nhng để bù lại, nông dân hăng hái sản xuất, mở rộng diện tích nên tổng sảnlợng lơng thực xã hội và các nông sản khác tăng lên, nhà nớc qua con đờngtrao đổi đã có đợc khối lợng lơng thực nhiều hơn

Ngoài ra, do mức thuế ổn định nên nhà nớc thu thuế dễ dàng, thuậnlợi

- Thuế lơng thực là đòn seo mạnh mẽ để khôi phục nền nôngnghiệp sau chiến tranh, biểu hiện tính qui luật đầu tiên của quá trình khôiphục kinh tế Bởi vì, "thuế lơng thực sẽ giúp vào việc cải thiện nền kinh tếnông dân Bây giờ, nông dân sẽ bắt tay vào việc một cách yên tâm và hănghái, và đó chính là điểm chủ yếu" [53, 298]

Khôi phục và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá

Khi chính sách thuế lơng thực phát huy tác dụng, số nông sản thừatăng đến một mức độ nào đó sẽ hình thành trao đổi, nếu không có trao đổithì sẽ mất tác dụng kích thích Bởi vậy, "thuế lơng thực là một bớc quá độ

từ chế độ cộng sản thời chiến đến chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình

Trang 21

th-ờng về sản phẩm" [53, 294] Tức là, thuế lơng thực là bớc quá độ chuyển cơchế mệnh lệnh thực hiện trong thời chính sách cộng sản thời chiến sang cơchế kinh tế hàng hoá.

Việc khôi phục và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá nhằm đạt

đợc các mục tiêu: một là, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt về sản phẩm và tiêu

dùng của nông dân và xã hội Thông qua trao đổi hàng hoá thúc đẩy quátrình phân công lao động trong nông nghiệp, khuyến khích sản xuất nôngnghiệp vừa đi vào chuyên canh, vừa phát triển kinh doanh tổng hợp, nhờ đó

các lực lợng sản xuất trong nông nghiệp đợc khôi phục và phát triển Hai

là, đó là con đờng nông nghiệp tự giải quyết vấn đề lơng thực một cách

vững chắc Sản xuất lơng thực ngày càng mang tính chất hàng hoá thì nôngdân có lợi hơn, nên vừa mở rộng diện tích canh tác, vừa thâm canh nhờ đầu

t thêm vốn và lao động, kết quả là tổng số lơng thực của xã hội tăng lên vàkhối lợng lơng thực vào tay nhà nớc qua con đờng trao đổi và thu thuế cũngngày càng tăng Thực tế cho thấy, riêng tổng số thuế năm 1923 thu đợc tăng

gần gấp 2 lần năm 1921 Ba là, khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá

trong xã hội ở thành thị và nông thôn

Nh vậy, quan điểm cơ bản của Lênin về việc giải quyết mối quan

hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp đợc bắt đầu từ nông dân đợc cụ thể hoátrong hai chính sách: thuế lơng thực là trao đổi hàng hoá Vì vậy, "Nhiệm

vụ của ngời làm công tác lơng thực trở thành phức tạp hơn - Một mặt đó lànhiệm vụ về chức vụ Thu thuế nhanh chừng nào hay chừng ấy Mặt khác

đó là nhiệm vụ kinh tế chung lẫn cố gắng hớng dẫn, giúp đỡ tiểu côngnghiệp, phát huy tính chủ động và tính sáng tạo ở cơ sở để tăng cờng vàcủng cố trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp." [53, 279 -280]

- Hiệu quả của công tác lơng thực đợc đánh giá theo quan điểm: "Ngời nào thu đợc 75% thuế lơng thực và 75% (của trăm thứ hai) bằng cách

đổi các sản phẩm của đại và tiểu công nghiệp là đã làm đợc một công tác cóích cho nhà nớc hơn ngời thu đợc 100% thuế và 55% (của trăm thứ 2) bằng

Trang 22

cách trao đổi" [53, 297] Nh vậy chính sách thuế lơng thực của Lênin cònbao hàm t tởng kinh doanh lơng thực đợc coi nh là một đòn bẩy quan trọngcho sự phát triển sản xuất lơng thực và sản xuất nông nghiệp nói chung.Theo hớng đó nhà nớc đã đem lại sự giúp đỡ to lớn về tài chính và kỹ thuậtcho nông dân.

- Nhờ quán triệt đầy đủ quan điểm của Lênin trong chính sách lơngthực, nên đến năm 1925 sản xuất nông nghiệp nớc Nga đã đạt mức chiếntranh (năm 1913)

- Khi nền nông nghiệp đợc khôi phục và phát triển theo hớng sản

xuất hàng hoá thì phải giải quyết hai vấn đề Một là, phải có hàng hoá công

nghiệp đủ về lợng, phong phú về chủng loại bảo đảm chất lợng, giá cả phùhợp - điều đó đòi hỏi các cơ sở sản xuất phải thâm nhập thị trờng nông thôn

nắm bắt đợc nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của nông dân Hai là, do thực

hành chính sách tự do lu thông lơng thực và phát triển sản xuất hàng hoátrong nông nghiệp thì nảy sinh xu hớng phát triển nhân tố t bản chủ nghĩa.Vấn đề này theo Lênin là hợp qui luật Bởi vì, "hãy có trao đổi thì sự pháttriển của nền kinh tế hàng hoá nhỏ là một sự phát triển tiểu t sản, một sựphát triển t bản chủ nghĩa Đó là một chân lý không thể chối cãi đợc, mộtchân lý sơ đẳng của khoa kinh tế chính trị học" Hớng giải quyết vấn đề này

là hớng nó đi vào con đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc

Khôi phục và tổ chức lại sản xuất công nghiệp nhiều thành phần

Một trong những điều kiện để thực hiện trao đổi hàng hoá là cầnquỹ hàng công nghiệp có cơ cấu phù hợp với yêu cầu nông thôn Nhngtrong lúc này, sản xuất công nghiệp đang sa sút vì thiếu lơng thực và nguyênliệu Vì vậy, để khôi phục công nghiệp Lênin đề cập đến hai vấn đề: phảixem xét một cách thiết thực đến yêu cầu và khả năng khôi phục công nghiệp;

đa ra những đặc điểm và tính qui luật khôi phục sản xuất công nghiệp

- Yêu cầu và khả năng khôi phục công nghiệp theo Lênin, khôi

Trang 23

phục sản xuất công nghiệp có hai yêu cầu quan trọng: Thứ nhất, phải có đủ hàng hoá trao đổi với nông dân để kích thích nông nghiệp Thứ hai, tập

trung lại giai cấp công nhân đang bị phân tán vì đói và thiếu việc làm, củng

cố kỷ luật lao động, duy trì mức năng suất lao động cần thiết để phát huyvai trò của công nghiệp và giai cấp công nhân

- Lênin nêu năm yêu cầu của khôi phục sản xuất công nghiệp sauchiến tranh

+ Khôi phục công nghiệp trên cơ sở kỹ thuật cũ Bởi vì, trong điềukiện khó khăn lúc bấy giờ, nhà nớc có rất ít vốn đầu t cho công nghiệp.Năm 1922 nhà nớc trợ giúp cho công nghiệp không đáng kể, từ 1923- 1926,tổng số vốn đầu t cho công nghiệp của nhà nớc là 1,5 tỷ rúp Mặt khác, thuhút đợc cán bộ cũ, tạo thêm đợc công ăn việc làm nhờ đó củng cố kỷ luậtlao động tập hợp lại giai cấp công nhân nhanh chóng ổn định lại sản xuất

+ Phạm vi khôi phục lại sản xuất công nghiệp phải cân đối vớinguồn tài chính, nguyên liệu và nhiên liệu Đến năm 1922, nhà nớc chỉ sửdụng đợc 1/3 trong tổng số xí nghiệp đã quốc hữu hoá trớc kia, số còn lạithì đóng cửa, tạm ngừng cho thuê hay tô nhợng Nhờ thực hiện sự cân đốinày mà đã đẩy nhanh đợc việc khôi phục các xí nghiệp, nâng cao công suất

sử dụng thiết bị, tăng năng suất lao động Kết quả trong thời gian 1921

-1925 tổng sản lợng công nghiệp tăng hai lần, công nghiệp sớm phát huy

đ-ợc vai trò của nó trong nền kinh tế

+ Bớc đi của quá trình khôi phục công nghiệp:

Xuất phát từ nhu cầu nông nghiệp và nông thôn, có tính đến khảnăng tích luỹ ngay trong quá trình khôi phục, nền công nghiệp đợc khôiphục theo bớc đi nh sau: Trớc hết là khôi phục công nghiệp nhẹ và côngnghiệp thực phẩm là những ngành gắn bó với nông nghiệp về nguyên liệu

và tiêu thụ sản phẩm Tiếp đến, khôi phục công nghiệp than (năm 1927 đạtmức khai thác trớc chiến tranh) Các ngành công nghiệp nặng đợc khôi

Trang 24

phục chậm hơn Vốn đầu t của công nghiệp phần lớn hớng vào phát triển cơ

sở năng lợng Công nghiệp dầu khí đợc khôi phục và cải tạo cơ bản cùng vớicác cơ sở năng lợng khác Chơng trình điện khí hoá năm 1927 - 1928 đãhoàn thành Khó khăn hơn cả là khôi phục công nghiệp luyện kim đen

+ sử dụng cơ cấu nhiều thành phần trong khôi phục công nghiệp.Những năm đầu thực hiện NEP, nhà nớc Xô viết đã sử dụng có kết quả cơcấu nhiều thành phần trong công nghiệp

Kinh tế t nhân trong công nghiệp đợc phục hồi một phần là do nhànớc trả lại xí nghiệp cho chủ cũ, một phần các t nhân thuê xí nghiệp củanhà nớc để kinh doanh Các xí nghiệp t bản t nhân trong công nghiệp nhẹ

có quy mô trung bình khoảng 50 công nhân và chiếm 1/3 tổng sản phẩm.Trong cxông nghiệp nặng chỉ có 1 xí nghiệp luyện kim đen Hình thức tônhợng không phát triển mấy Trong việc sử dụng cơ cấu nhiều thành phần

đã nảy sinh một hình thức mới có kết quả là công ty liên doanh đợc Lênin

đánh giá cao

Công nghiệp quốc doanh đợc khôi phục và củng cố, giữ vai trò chủ

đạo trong sản xuất Năm 1923 - 1924, công nghiệp xã hội chủ nghĩa (gồmquốc doanh và tập thể) đã chiếm 76,3% trong tổng sản phẩm công nghiệpvới chất lợng cao, giá rẻ hơn Đó là cơ sở bảo đảm cho nhà nuớc sử dụng cơcấu nhiều thành phần có kết quả

Hình thức kinh tế cơ bản trong việc sử dụng cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần là chủ nghĩa t bản nhà nớc, gồm các hình thức nh: tô nhợngtrong công nghiệp, hợp tác xã của những ngời sản xuất nhỏ, t nhân làm đại

lý cho nhà nớc trong thơng nghiệp, nhà nớc cho t nhân thuê xí nghiệp, vùng

mỏ, khu rừng, khu đất Thực chất của các hình thức này là "những mắtxích trung gian có thể tạo thuận lợi cho bớc chuyển từ chế độ gia trởng, từnền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội" [53, 276]

+ Chuyển các xí nghiệp công nghiệp từ cơ chế quản lý tập trung

Trang 25

bằng mệnh lệnh sang cơ chế hạch toán kinh tế.

Trong điều kiện thực hiện NEP, công nghiệp không thể tiếp tục dựavào ngân sách nhà nớc, không thể quản lý tập trung bằng mệnh lệnh nh tr-

ớc Phơng pháp quản lý hành chính thông qua các chỉ thị mệnh lệnh đợcthay thế bằng phơng pháp kinh tế và có sự kết hợp hài hoà giữa biện phápkinh tế và biện pháp hành chính Sự chuyển biến trong quản lý công nghiệpbao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Một là, chuyển các xí nghiệp sang hạch toán kinh tế Từ tháng

8/1921, theo chỉ thị của Hội đồng dân ủy, các xí nghiệp công nghiệp thựchiện hạch toán kinh tế Đơn vị hạch toán đầu tiên trong công nghiệp là cáctơ-rớt Các xí nghiệp hạch toán đợc quyền tổ chức, cung ứng, tiêu thụ sảnphẩm của mình trên thị trờng

Điều kiện của hạch toán kinh tế là phải bảo đảm quyền tự chủ củacác xí nghiệp về sản xuất và tự chủ tài chính, nhất là về phân phối lợi nhuận

và tiền lơng Nhà nớc qui định các xí nghiệp đợc quyền sử dụng 20% số lợinhuận do mình tạo ra vào việc trang trải các chi phí mở rộng sản xuất, phầncòn lại nộp vào ngân sách nhà nớc Từ tháng 9/1920, nhà nớc thực hiện chế

độ tiền lơng theo lao động và lơng khoán Ngoài ra còn thay đổi chế độ tiềnthởng

Thực hiện tự chủ về tài chính phải có một chính sách giá cả hợp lý,

mà trong thời kỳ NEP, điểm then chốt của chính sách này là quan hệ tỷ lệgiữa hàng công nghiệp với hàng nông sản Chính sách giá cả đợc nhà nớc

điều tiết theo hai hớng: 1- Các xí nghiệp thơng nghiệp quốc doanh và hợptác xã giảm giá bán hàng cho nông thôn, do đó kéo theo sự giảm giá củakinh tế t nhân; đồng thời nhà nớc tăng giá mua đáng kể những nông sảnquan trọng nhất 2- Thực hiện những biện pháp giảm giá bán hàng côngnghiệp nh tăng năng suất lao động qua các cuộc vận động củng cố kỷ luậtlao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, chống lại cách làm ăn phi kinh tế

Trang 26

Hai là, Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô trong công nghiệp.

Khi các xí nghiệp chuyển sang hạch toán kinh tế, sử dụng ngàycàng rộng rãi quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thì vấn đề đổi mới cơ chế quản lý

vĩ mô đặt ra gay gắt Trong quá trình thực hiện NEP, nhiều hình thức quản

lý phong phú đã đợc phát hiện và vận dụng Sự thay đổi các hình thức quản

lý gắn liền với sự thay đổi trong nền kinh tế nhiều thành phần với sự thay

đổi về cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội là sự hoàn thiện và mở rộng phạm vi

áp dụng các nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa

Đổi mới cơ cấu quản lý vĩ mô về thực chất là tăng cờng công tácphối hợp (phân công và hợp tác) giữa các ngành, các yếu tố của nền kinh tếquốc dân nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối u Do đó, vai trò của công tác kếhoạch hoá trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần đợc củng cố,

"chính sách kinh tế mới không thay đổi kế hoạch kinh tế thống nhất của đấtnớc nhng thay đổi biện pháp thực hiện kế hoạch đó" [56, 131] Theo chỉ thịcủa Lênin, Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc bắt đầu soạn thảo nhiều kế hoạch trớcmắt để khôi phục các ngành công nghiệp Từ năm 1925, nhà nớc đã có con

số kiểm tra hàng năm của sự phát triển kinh tế quốc dân

Ba là, dân chủ hoá quản lý kinh tế Một trong những nét khác biệt

giữa cơ chế quản lý cũ và cơ chế quản lý trong thời kỳ NEP là sự tham giacủa quần chúng vào hoạt động quản lý Hình thành t tởng dân chủ hoá quản

lý kinh tế là kết quả của sự thay đổi tận gốc quan niệm về những vấn đề cơbản của sự phát triển kinh tế - xã hội Trong đó bao gồm sự phê phán quan

điểm chuyển trực tiếp sang phơng pháp sản xuất và phân phối cộng sản chủnghĩa trong một nớc tiểu nông, phơng pháp thuần túy dùng pháp lệnh từ bêntrên dội xuống hòng cải biến kinh tế - xã hội Dân chủ hoá trong quản lýkinh tế dựa trên cơ sở các nguyên tắc là: Kết hợp nhiệt tình cách mạng vớiquan tâm đến lợi ích vật chất; kích thích kinh tế; hớng ngời lao động vì lợiích vật chất và quan tâm đến kết quả sản xuất của mình; nguyên tắc phân

Trang 27

lập các quan hệ kinh tế và xã hội mới

Dân chủ hoá trong giai đoạn NEP đợc thực hiện có kết quả trên cácmặt: Tổ chức Hội nghị sản xuất với sự tham gia của đại diện Công đoàn vàchính quyền để giải quyết các vấn đề cụ thể cải tiến sản xuất và quản lý;thực hiện chế độ phân phối theo lao động, xóa bỏ dần tình trạng bình quânhoá, công khai và dân chủ trong việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo - quản lý; thựcthi nguyên tắc kiểm soát của công nhân trong quá trình cải tạo nền kinh tế

T tởng của Lênin về công nghiệp hoá

T tởng của Lênin về công nghiệp hoá trong NEP đợc trình bàytrong các tác phẩm của Ngời và đợc Đảng bôn-sê-vích duy trì tổ chức thựchiện trong những năm thực thi NEP Có thể xét trên các khía cạnh sau

- Vai trò của công nghiệp hoá: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin thì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng lợi khi xây dựng đợc một nềnsản xuất hiện đại dựa trên một cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, có năng suấtlao động cao hơn hẳn chủ nghĩa t bản Do vây, ngay sau khi có hoà bình bắttay vào cải tạo, khôi phục và phát triển kinh tế, Lênin đã rất chú trọng đếnnhiệm vụ công nghiệp hoá và cho đây là cơ sở vật chất kỹ thuật duy trì củachủ nghĩa xã hội Ngời viết; "Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa - xã hộichỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nôngnghiệp" [54, 11] Trong công nghiệp hoá thì điện khí hoá đợc xem là trọngtâm cần đi trớc một bớc - Ngời cho rằng:"Việc điện khí hoá là một bớcquan trọng nhất trên con đờng tiến tới tổ chức đời sống kinh tế của xã hộitheo tinh thần cộng sản chủ nghĩa", "điện khí hoá là nhiệm vụ quan trọngnhất trong tất cả những nhiệm vụ vĩ đại đang đặt ra" [50, 180] Lênin chorằng kế hoạch điện khí hoá là cơ sở của kỹ thuật hiện đại Ngày nay, cuộcCách mạng khoa học công nghệ đã đem lại cho công nghiệp hoá những thay

đổi đáng kể về chất, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá, và cơ

sở vật chất kỹ thuật đã từ cơ khí hoá chuyển thành tự động hoá, thậm chí

Trang 28

điện tử hoá, tin học hoá nhng t tởng về công nghiệp hoá của Lênin vẫn có

ý nghĩa sâu sắc và thiết thực đối với những nớc tiểu nông tiến lên chủ nghĩaxã hội

- Phát triển nền công nghiệp cân đối: Trong thời kỳ NEP, việc khôiphục, tổ chức lại sản xuất công nghiệp bắt đầu từ công nghiệp nhẹ sau đó

đến công nghiệp nặng, còn trong t tởng và chính sách về công nghiệp hoáthì mặc dù coi trọng công nghiệp nặng nhng vẫn duy trì một số cân đối nhất

định, "không có sự thiên lệch rõ rệt về phía sản xuất t liệu sản xuất, nghĩa làphía công nghiệp nặng, mà vừa phát triển sản xuất công cụ lao động, vừaphát triển công nghiệp nhẹ, đặc biệt là xí nghiệp chế biến nông phẩm công nghiệp nặng chỉ vợt công nghiệp nhẹ chút ít thôi Nhờ có sự pháttriển cân đối nh vậy mà công nghiệp hoá trong thời kỳ NEP đã phát triểnthậm chí với nhịp độ cao hơn vào đầu những năm 30 lúc công nghiệp hoá

và tập thể hoá đại trà (mức tăng sản xuất công nghiệp trung bình hàng năm

1926 - 1928 là 21,7% so với 19,2% năm 1929 - 1932) [27, 95-96]

- Trong thời gian thực hiện NEP, nguồn vốn cho công nghiệp hoá

đợc huy động từ một số nguồn sau: Thứ nhất, Đảng coi nguồn vốn chủ yếu

để công nghiệp hoá là tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, trớc hết là trongcông nghiệp Cho đến năm 1928, các ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùngphát triển rộng rãi với vòng quay vốn nhanh hơn, lợi nhuận cao hơn đã đemlại phần tích luỹ cho công nghiệp nặng, vào cuối những năm 20 côngnghiệp nặng bắt đầu phát triển bằng vốn của bản thân nó Để tích luỹ cóhiệu quả, Hội nghị toàn thể ban chấp hành Trung ơng (tháng t 1928) đã đềcập việc thực hiện một chế độ tiết kiệm nghiêm ngặt và thẳng tay đấu tranh

với mọi chi phí sản xuất không cần thiết Nguồn thứ hai, tăng cờng thu hút

tiền nhàn rỗi của dân c vào các cơ quan tín dụng, cơ sở hợp tác xã và côngtrái (Đại hội XV còn đề nghị xây dựng các nhà máy hợp tác xã)

1.2.2 Chính sách khôi phục thơng nghiệp và lu thông hàng hoá

Trang 29

Trong lĩnh vực nội thơng

- Quan điểm của NEP trong lĩnh vực khôi phục thơng nghiệp và luthông hàng hoá phù hợp với yêu cầu chuyển nền kinh tế từ trạng thái hỗnloạn sang quỹ đạo tái sản xuất bình thờng từ phân phối trực tiếp và bao cấpsang kinh tế hàng hoá Do đó, nội thơng trở thành cái mắt xích đặc biệtquan trọng cần nắm vững trong dây chuyền quản lý, điều tiết hoạt động củanền kinh tế Nó trở thành mắt xích quan trọng mà "nếu ngày nay chúng tanắm đợc khá chặt mắt xích đó, thì chắc chắn là trong một ngày rất gần đây,chúng ta sẽ làm chủ đợc toàn bộ cái dây xích Bằng không, chúng ta sẽkhông làm chủ đợc toàn bộ cái dây xích, chúng ta sẽ không đặt đợc nềnmóng của những mối quan hệ kinh tế và xã hội trong xã hội, xã hội - chủnghĩa" [54, 279]

Vai trò của thơng nghiệp còn bắt nguồn từ mục đích cao nhất củaNEP, ở bớc ngoặt cách mạng là thiết lập liên minh kinh tế giữa hai giai cấpcông nhân và nông dân Trong điều kiện nông nghiệp lạc hậu, phân tán thìthơng nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng chục triệutiểu nông với giai cấp vô sản, là điều kiện để cho nông nghiệp và công nghiệp

có thể tái sản xuất đợc Hơn nữa không có hoạt động thơng nghiệp thìkhông thể sử dụng các hình thức kinh tế quá độ trong sản xuất và lu thông

Thực tế thời kỳ đầu thực hiện NEP, cơ cấu thơng nghiệp rất phứctạp Trong đó, thơng nhân cũ chiếm 26,2%; ngời nội trợ: 28,4%, công nhân15,5%, thợ thủ công 13,4%, thành phần khác: 11%, viên chức 5,7% Đếnnăm 1923 -1924, t bản thơng nhân nắm 18% chu chuyển thơng nghiệp bánbuôn và phần lớn của chu chuyển bán lẻ Tình hình nh vậy không phù hợpvới mục tiêu kinh tế, chính trị nh NEP đặt ra Mặt khác, chính trong lĩnhvực này cuộc đấu tranh giữa hai con đờng phát triển: t bản chủ nghĩa và xãhội chủ nghĩa biểu hiện rõ rệt nhất và gay gắt nhất

- Củng cố vai trò của thơng nghiệp quốc doanh trong hệ thống

Trang 30

đi thẳng tới nhu cầu của nông thôn và thành thị.

Để nắm chắc vai trò chỉ huy trong thơng nghiệp và làm chủ thị ờng, nhà nớc chú ý đặc biệt đến củng cố mối liên hệ chặt chẽ giữa côngnghiệp quốc doanh với thơng nghiệp quốc doanh, giữa tiểu thủ công nghiệpvới thơng nghiệp quốc doanh và thơng nghiệp tập thể, để nắm giữ hàng hoácông nghiệp dùng làm phơng tiện điều tiết thị trờng Thực hiện mục tiêunày, nhà nớc đã sử dụng nhiều hình thức thơng nghiệp với một cơ cấu thơngnghiệp bảo đảm phát huy vai trò của thơng nghiệp nhà nớc nh: tổ chức cáchình thức thơng nghiệp ở thành phố lớn (cửa hàng bách hoá tổng hợp), cácXanh - đi - ca (thơng nghiệp để tiêu thụ và cung ứng) của các tơ - rớt thơngnghiệp Do đó, t thơng dần bị loại khỏi lĩnh vực bán buôn

Trong lĩnh vực thơng nghiệp bán lẻ, tình hình phức tạp hơn nhiều.Nhà nớc đã sử dụng một hệ thống thơng nghiệp bán lẻ gồm thơng nghiệpquốc doanh, hệ thống hợp tác xã tiêu thụ rộng khắp, hình thức hội chợ và sửdụng t thơng làm đại lý cho nhà nớc để đấu tranh, cạnh tranh với t bản tnhân nhờ thu hút phần lớn hàng hoá vào tay và bán với giá thấp hơn

Để thơng nghiệp phát huy đợc vai trò "mắt xích" quan trọng củamình thì các tổ chức kinh tế khác phải hỗ trợ, tác động một cách hữu hiệu

Trong đó, có hai ngành đóng vai trò đắc lực Một là, ngành tài chính, tín

dụng, ngân hàng phải có biện pháp tham dự đầu t Vào hệ thống thơng

nghiệp quốc doanh Hai là, ngành giao thông vận tải cần phải đợc củng cố và

phát triển đủ sức đáp ứng những nhu cầu của sản xuất và lu thông Do đó,các cơ quan tài chính, ngân hàng có kế hoạch đầu t cho giao thông vận tải

Trang 31

Về ngoại thơng

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Nga thời kỳ NEP tự bảnthân nó đã là một cơ cấu kinh tế mở Bởi vì, phát triển kinh tế t bản nhà nớc,nghĩa là bắt tay với t sản nớc ngoài, là quan hệ kinh tế với “phần còn lại củathế giới Tình hình thế giới trong thời kỳ này không phải là xu hớng cùngtồn tại hoà bình xây dựng kinh tế mà là xu hớng bao vây, bóp nghẹt của cácnớc t bản hòng bóp chết nhà nớc Xô viết trẻ tuổi càng sớm càng tốt Trong

điều kiện nh vậy, nhiệm vụ của nhà nớc Xô viết là giơng cao ngọn cờ hoàbình, tranh thủ hoà bình để khôi phục xây dựng kinh tế kể cả lợi dụng triệt

để những mâu thuẫn về lợi ích của các quốc gia và các tập đoàn t bản Dovậy, trong t tởng của Lênin cha có khái niệm kinh tế mở, song nghiên cứunhững tác phẩm của Ngời trong hoạt động lý luận và thực tiễn thời kỳ này

đã toát lên t tởng xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa T tởngnày là một bộ phận trong chính sách đối ngoại của Chính phủ Liên xô - đó

là chính sách cùng tồn tại hoà bình và thi đua kinh tế giữa hai hệ thống, tức

là không can thiệp vào công việc nội bộ, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ, thiết lập những quan hệ kinh tế và văn hoá với tất cả các nớc trêncơ sở cùng có lợi, hữu nghị với tất cả các dân tộc

Trong bối cảnh thế giới và tình hình trong nớc thời kỳ NEP, nền

kinh tế nớc Nga Xô viết có thể mở ra thế giới theo hai hớng Một là, quan

hệ với các nớc cộng hoà Xô viết tự chủ, kết quả của mối quan hệ này làthành lập nhà nớc Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (năm1922) Theo sự phân tích của Lênin thì có ba nguyên nhân cơ bản phảithành lập Liên bang này: "Không có sự liên minh thì không thể bảo toàn đ-

ợc sự tồn tại của các nớc cộng hoà Xô viết trong vòng vây của các nớc đếquốc hùng mạnh; phải có sự liên minh chặt chẽ giữa các cộng hoà Xô viếtthì mới có thể khôi phục đợc những lực lợng sản xuất bị phá hủy trongchiến tranh Xu hớng tạo ra một nền kinh tế toàn thế giới duy nhất với t

cách là một khối chỉnh thể" [51, 201] Hai là, mở cửa bắt tay với t bản nớc

Trang 32

ngoài để khôi phục, phát triển kinh tế trên nguyên tắc hoà bình, độc lập vàcùng có lợi Điều này xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của cả hai phía: vềphía nhà nớc Xô viết thì việc bắt tay với t bản nớc ngoài trong chính sách tônhợng là nhằm khắc phục tình trạng kinh tế bị tàn phá (thúc đẩy nhanhchóng việc khôi phục công nghiệp và cải thiện tình hình sinh hoạt của côngnhân và nông dân; phía các nhà t bản thì xuất phát từ mục đích lợi nhuận.Mặt khác, Lênin còn cho rằng quan hệ kinh tế với t bản nớc ngoài “là một

lý do về kinh tế và chính trị để chống lại chiến tranh Những nớc nào có thểgây chiến tranh với chúng ta thì sẽ không tiến hành chiến tranh đợc nếu họnhận tô nhợng” [52, 92]

Trong quan hệ kinh tế với nớc ngoài thời kỳ NEP, thì độc quyềnngoại thơng là một vấn đề cực kỳ quan trọng Lênin đã phải đấu tranh rấtquyết liệt để bảo vệ quan điểm này, Ngời cho rằng “bất cứ chính sách thuếquan nào cũng không thể có hiệu lực đợc ở thời đại chủ nghĩa đế quốc vàthời đại có sự khác nhau ghê gớm giữa những nớc nghèo và những nớc giàukhông thể tởng tợng” [52, 82]

Với quan điểm và t tởng về kinh tế đối ngoại, nhà nớc Xô viết đã kýmột loạt hiệp ớc với các nớc phơng Tây và phơng Đông nh: Phần Lan, BaLan, Ba T (I-Răng), Ap-ga-ni-xtan, Thổ Nhĩ Kỳ Về ngoại thơng đã mở rộngbuôn bán với hơn 40 nớc trên thế giới Những hoạt động kinh tế đối ngoạicủa Nhà nớc Xô viết đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi tơngquan so sánh lực lợng giữa Liên xô và chủ nghĩa đế quốc - chuyển nớc Nga(sau là Liên xô) từ thế bị bao vây, cô lập, có nguy cơ bị tiêu diệt sang thếsong song cùng tồn tại hoà bình xây dựng kinh tế

1.2.3 Chính sách ổn định tài chính tiền tệ, khôi phục và phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa

Chính sách ổn định tài chính tiền tệ

Khôi phục kinh tế theo quan điểm NEP đã đa các xí nghiệp đi vào

Trang 33

hạch toán kinh tế, làm cho hoạt động ngoại thơng phục hồi bắt đầu bổ sung

dự trữ vàng cho nhà nớc đã góp phần củng cố một bớc nền tài chính tiền tệXô Viết Nhng các hoạt động sản xuất và lu thông càng mở rộng, kinh tếhàng hóa càng phục hồi và phát triển thì càng đòi hỏi giải quyết vấn đề tàichính tiền tệ một cách bức bách Việc ổn định tài chính tiền tệ trong tìnhtrạng đất nớc bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, lạm phát trầm trọng, bộichi ngân sách ngày càng lớn đã đặt ra cho chính sách ổn định tài chính, tiền

tệ hai vấn đề cực kỳ khó khăn và có liên quan mật thiết không tách rời nhau

là chấn chỉnh công tác tài chính và ổn định tiền tệ

- Chấn chỉnh công tác tài chính và củng cố nền tài chính Xô viết: + Việc chấn chỉnh và củng cố tài chính đợc thực hiện theo các

nguyên tắc sau: Một là, chính sách tài chính có ý nghĩa quyết định thắng lợi

của công cuộc cải tạo và xây dựng trong thời kỳ quá độ "Bất kể thế nào,chúng ta cũng phải thực hiện bằng đợc những cải cách vững chắc về mặt tàichính, nhng ta nên nhớ rằng nếu chính sách tài chính của chúng ta khôngthu đợc thắng lợi thì mọi cải cách triệt để của chúng ta cũng sẽ thất bại"

[49, 434] Hai là, chính sách tài chính quốc gia phải thống nhất dựa trên

quan điểm tập trung tài chính, tập trung lực lợng của quốc gia cho cuộc cải

cách vì lợi ích của ngời lao động Ba là, tách tài chính của các tơ - rớt, các

xí nghiệp ra khỏi tài chính nhà nớc Đó là đòi hỏi của hạch toán kinh tế vàkinh doanh theo nguyên tắc xí nghiệp hoàn toàn chịu trách nhiệm về tàichính đối với kết quả hoạt động kinh tế của mình Đây là cơ sở để đi tới

nguyên tắc tự hoàn vốn, tự chủ tài chính Bốn là, việc cân đối ngân sách

phụ thuộc vào việc giải quyết thành công nhiệm vụ thơng nghiệp và tính ổn

định của đồng tiền Công tác tài chính gắn với công tác ngân hàng và thơng

nghiệp Năm là, Ngân hàng nhà nớc có quyền hạn và trách nhiệm kiểm tra

đối với hoạt động tài chính của xí nghiệp

+ Các biện pháp chấn chỉnh và củng cố tài chính

Trang 34

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính nhà nớc đứng trớckhó khăn lớn: ngân sách bội chi lớn (21.937 tỷ Rúp), trong khi công tácquản lý tài chính yếu kém Vận dụng những quan điểm cơ bản của NEP vàoviệc giải quyết những khó khăn về tài chính, bằng chỉ thị tháng 10/1921,Trung ơng Đảng (b) Nga và chính quyền Xô Viết đã sử dụng nhiều biệnpháp cụ thể Các biện pháp này có thể chia thành hai nhóm lớn: tăng thu vàgiảm chi để hớng tới cân bằng ngân sách.

Những biện pháp giảm chi bao gồm: giảm biên chế nhà nớc mộtcách kiên quyết để giảm nhẹ cho ngân sách, đi đôi với tìm công ăn việc làmcho ngời lao động dôi ra, biện pháp này đã giúp giảm bộ máy nhà nớc từ 35triệu ngời (năm 1921) xuống 6 triệu ngời (1922) và còn 2,8 triệu ngời (năm1923); thi hành qui định về các khoản chi tiêu ở mức tối thiểu, theo nguyêntắc tiết kiệm, cắt giảm những khâu chi không cần thiết trong bộ máy hànhchính quản lý kinh tế, không cấp ngân sách cho các xí nghiệp, thực hiệnchế độ tự trang trải, tự chịu trách nhiệm về tài chính trên cơ sở đa các xínghiệp, tơ-rớt vào chế độ hạch toán kinh tế

Những biện pháp tăng thu gồm: Thứ nhất, các cơ sở kinh tế nhà nớc

chuyển sang hạch toán kinh tế phải trích nộp lợi nhuận và khấu hao chongân sách Cùng với sự khôi phục sản xuất, nguồn thu này ngày càng tăng.Theo nghị quyết của Hội đồng dân uỷ cuối năm 1923, các xí nghiệp phảitrích nộp 70% tổng số lợi nhuận cho ngân sách, nguồn thu này trở thành

chủ yếu Thứ hai, xây dựng hệ thống thuế hợp lý nhằm điều tiết thu nhập

của các tầng lớp dân c, bao gồm các loại thuế chủ yếu: Thuế tài sản (đợc ápdụng từ tháng 11/1922, với thuế suất 8% thu nhập thuần tuý đối với xí nghiệpquốc doanh và hợp tác xã Thuế tài sản đánh vào các hộ t sản kinh doanh tàisản cất giữ hoặc kinh doanh tài sản - thuế này đến năm 1924 thì bãi bỏ) Cảicách thuế nông nghiệp (thay tất cả các khoản thuế lơng thực, thuế vận tải vàcác khoản đóng góp khác của nông dân chỉ bằng một thứ thuế: thuế nôngnghiệp); nhà nớc tiến hành chế độ trả tiền đối với tất cả các loại hình dịch vụ

Trang 35

từ vận tải, thông tin đến kinh tế công cộng Hệ thống thuế mới đã góp phầnlàm tăng nguồn thu ngân sách từ 584 triệu Rúp (năm 1922-1923) lên 2.192triệu Rúp (năm 1925-1926) và thuế chiếm 50% tổng thu ngân sách.

Thứ ba, phát hành công trái và tín phiếu, đã thực hiện 10 đợt trong

4 năm, trong đó 2 đợt công trái thu lúa mì đợc 100 triệu pút, một đợt côngtrái đờng, 5 đợt công trái bằng tiền và 2 đợt công trái đặc biệt Ngoài ra,ngoại thơng đã bổ sung đợc một số vàng cho dự trữ của nhà nớc

Những biện pháp nêu trên đã có tác dụng rõ rệt và nhanh chóngtrong cân đối thu chi ngân sách "Nếu trong 9 tháng năm 1922, sự thiếu hụt

đối với các khoản chi ngân sách quốc gia là 43,4% thì trong năm

1922-1923 là 27,1% năm 1922-1923-1924 sự thiếu hụt ngân sách đã giảm đến mức tốithiểu" [32, 60]

đề ấy, và chúng tôi coi nhiệm vụ đó là có tầm quan trọng quyết định Nếuchúng tôi ổn định đợc đồng rúp trong một thời gian dài, và sau đó, ổn định

nó một cách vĩnh viễn thì chúng tôi sẽ thắng cuộc Lúc đó, chúng tôi sẽ cóthể đặt nền kinh tế của chúng tôi trên một cơ sở vững chắc, và tiếp tục pháttriển nền kinh tế đó lên trên một cơ sở vững chắc" [55, 329]

+ Khi "đồng rúp Nga nổi tiếng, có lẽ chỉ vì hiện nay con số đồngrúp đã vợt quá số nghìn triệu thật là một con số thiên văn học" [55, 329]

Trang 36

thì nội dung ổn định tiền tệ có ý nghĩa quan trọng nhất là phải tiến hành cókết quả cuộc chống lạm phát, từ đó tìm ra đợc những điều kiện để ổn định

đồng tiền Nhìn lại từ đầu, sau khi ban hành NEP vào đầu năm 1921, quátrình chuẩn bị là tiến hành cải cách tiền tệ gồm các bớc đi và giai đoạn sau:

Bớc một, bớc chuẩn bị: Đây là thời gian thực hiện một số chính

sách và biện pháp quan trọng của NEP nh áp dụng chính sách thuế lơngthực, trao đổi hàng hoá, củng cố thơng nghiệp, phát hành các biên lai, tínphiếu đợc bảo đảm bằng hàng hoá hay lúa mì Các biện pháp trên đã có tác

động tích cực trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, rõ nhất là đã góp phần ổn định

đồng rúp đợc 3 tháng trong năm 1921 Do đó, các biện pháp trong năm này

có vị trí, vai trò của bớc chuẩn bị cho ổn định tiền tệ Mặt khác, nó khẳng

định việc cải cách tiền tệ, chống lạm phát phải gắn liền với các biện phápsản xuất và lu thông, hơn nữa phải bắt đầu từ đó chứ không thể chỉ dựa vàocác biện pháp thuần tuý nghiệp vụ tài chính - tiền tệ

Bớc hai, tiến hành thay đổi đơn vị tiền tệ: Bớc đi thực tế đầu tiên vào

lĩnh vực tiền tệ là thực hiện 2 lần thay đổi đơn vị tiền tệ Đầu năm 1922, nhànớc phát hành đồng rúp mới thay thế đồng rúp cũ năm 1921, với tỷ lệ 1 rúpmới (1922) đổi lấy 10.000 rúp cũ (1921) Trong điều kiện lạm phát nghiêmtrọng, đồng tiền mới tiếp tục mất giá Nếu đầu năm 1923, nhà nớc lại pháthành đồng rúp mới thay thế đồng rúp 1922, với tỷ lệ 1 rúp (1923) bằng 100rúp (1922) Qua hai lần đổi tiền đã nâng giá trị đồng tiền lên 1.000.000 lần

Để từng bớc ổn định đồng rúp và khắc phục lạm phát, nhà nớc choban hành tín phiếu lơng thực Ngời mua tín phiếu bằng tiền mặt, khi đếnthời hạn thanh toán sẽ đợc trả bằng lơng thực theo số lợng đã ghi trong tínphiếu khi mua, nghĩa là tín phiếu đợc bảo đảm bằng lơng thực

Bớc ba, quá độ cải cách tiền tệ: tháng 10/1922, nhà nớc phát hành

giấy bạc ngân hàng gọi là đồng "checvônét" đợc bảo đảm không dới 25%bằng bạc vàng và ngoại tệ Nh vậy, trong nền kinh tế Xô Viết lu hành hai hệ

Trang 37

thống tiền tệ Đồng rúp Xô Viết phát hành trớc đó, hiện nay đang mất giá

đảm giá trị Nhờ đó, nó trở nên một đồng tiền mạnh đủ sức đẩy vàng vàngoại tệ mạnh ra khỏi lu thông Nó trở thành cơ sở tiền tệ ổn định làm thớc

đo giá trị cho việc thực hiện hạch toán kinh tế, xác định giá thành, giá cảcho việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế với nhau Đồng rúp bị loại dần

ra khỏi lu thông, đến đầu năm 1924, chỉ còn chiếm 10% khối lợng tiền tệtrong lu thông

Sự tồn tại song hành hai đồng tiền, trong điều kiện đồng rúp Xôviết mất giá đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa hai đồng tiền Hàngtháng nhà nớc xem xét, điều chỉnh lại tỷ giá giữa hai đồng tiền cho phù hợptrong từng thời gian

Việc hoàn thành bớc quá độ của cuộc cải cách tiền tệ đã đem lạinhững nhận thức và kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn: chuyểnsang hạch toán kinh tế đòi hỏi phải có một thớc đo tin cậy và ổn định Đồngtiền muốn thực hiện đợc đầy đủ chức năng của mình thì đồng tiền phải đợcbảo đảm giá trị; khối lợng tiền phát hành phải phù hợp với mức tăng trởngkinh tế, làm thớc đo giá trị, phơng tiện lu thông, phơng tiện thanh toán chứtuyệt nhiên không phải để bù đắp bội chi ngân sách

Bớc bốn, hoàn thành cải cách tiền tệ Những thành tựu trên của các

bớc cải cách tiền tệ dẫn đến kết quả là năm 1923- 1924 ngân sách đã đạttrạng thái cân bằng, cụ thể: tổng thu ngân sách: 2026 tỷ Rúp so với tổng chi

2022 tỷ Rúp Tình hình này cho phép chuyển từ tình hình lu hành song

Trang 38

song hai đồng tiền sang một hệ thống tiền duy nhất.

"Ngày 5.2.1924, nhà nớc ban hành đạo luật phát hành giấy bạc mớitrị giá 1, 2, 3, 5 Rúp vàng Ngày 14.2.1924 ra sắc lệnh đình chỉ phát hành

đồng Rúp Xô Viết để trang trải ngân sách Ngày 22.2.1924, Nhà nớc pháthành tiền lẻ bằng kim loại (50 xu, 20, 10, 5, 3, 2, 1 xu) Ngày 7.3.1924 nhànớc ra đạo luật rút đồng Rúp Xô viết ra khỏi lu thông, bằng cách mua lạitheo tỷ giá qui định: 1 Rúp vàng (1924) bằng 50.000 Rúp (1925)" [32, 69],

Tiếp theo của việc ổn định đồng tiền là củng cố và phát triển hệthống ngân hàng Trong quá trình từ 1921 -1923 ngân hàng nhà nớc đã đợccủng cố Tiếp đó đã mở rộng hệ thống tín dụng bằng cách thành lập cácngân hàng khác nh: Ngân hàng công thơng nghiệp; ngân hàng chuyênnghiệp về năng lợng; ngân hàng ngoại thơng; ngân hàng trung tâm của sựnghiệp công nghiệp và xây dựng nhà ở; ngân hàng trung tâm của nôngnghiệp Bên cạnh hệ thống ngân hàng, hoạt động lu thông tiền tệ còn đợc bổxung bằng một hệ thống tín dụng hợp tác xã rộng khắp ở nông thôn

Thắng lợi của cuộc cải cách tiền tệ có một ý nghĩa to lớn, nó đã gópphần quan trọng đa nớc Nga vợt qua cơn khủng hoảng kinh tế và chính trị,

mở ra" một trang mới trong lĩnh vực xây dựng kinh tế ở Liên xô, tạo ra cơ

sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế sau này" [32, 70] Góp phần quantrọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của công cuộc cảicách nớc Nga Tăng cờng đợc khối liên minh kinh tế giữa giai cấp côngnhân với nông dân và các tầng lớp giai cấp khác, cải thiện từng bớc đờisống nhân dân lao động

1.2.4 Chính sách kinh tế nhiều thành phần và chủ nghĩa t bản nhà nớc

Về chính sách kinh tế nhiều thành phần

Đứng trớc cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, với kinhnghiệm chỉ đạo cách mạng và nhạy cảm của một nhà chính trị, Lênin thấy

Trang 39

rằng, ở một nớc tiểu nông không thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng "nhiệttình cách mạng" với các "hình thức xung phong" đợc mà phải thực hiệnhàng loạt những bớc quá độ, phải bắc "những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đixuyên qua chủ nghĩa t bản" Hay nói cách khác là phải thực hiện hình thứcquá độ gián tiếp Thực hiện kiểu quá độ này, Đảng và nhà nớc Xô Viết đãxây dựng một hệ thống các biện pháp chính sách

Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế quá độ là một nền kinh tế nhiềuthành phần, các thành phần đan xen nhau, vừa đấu tranh, vừa hợp tác đểcùng tồn tại và phát triển Theo Lênin và thực tế thực hiện NEP, ở Nga trongchặng đờng đầu thời kỳ quá độ còn đồng thời tồn tại các thành phần sau:

-"1) Kinh tế nông dân kiểu gia trởng, nghĩa là một phần lớn có tínhchất tự nhiên;

2) Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dânbán lúa mì),

3) Chủ nghĩa t bản t nhân

4) Chủ nghĩa t bản nhà nớc;

5) Chủ nghĩa xã hội." [49, 363]

- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế:

Sau Cách mạng tháng Mời, đặc biệt là trong những năm nội chiến,một mặt, do cha nhận thức đợc cần phải áp dụng những bớc trung gian quá

độ, để tiến đến chủ nghĩa cộng sản từ một nớc tiểu nông, mặt khác, do điềukiện chiến tranh bắt buộc mà sau những năm nội chiến, khi bớc vào khôiphục kinh tế, nền kinh tế nớc Nga có một cơ chế mệnh lệnh tập trung, khá

điển hình Kết quả của các biện pháp quốc hữu hoá, thu hẹp thị trờng, hiệnvật hoá, bình quân hoá phân phối, trng thu lơng thực thừa, tổ chức lại hợptác xã, thủ tiêu quyền tự trị , đã hình thành một hệ thống quản lý chi tiếtbằng mệnh lệnh trong toàn bộ nền kinh tế

Trang 40

Những năm đầu thực hiện NEP, nhà nớc Xô viết đã sử dụng có kếtquả cơ cấu nhiều thành phần trong công nghiệp.

Kinh tế t nhân trong công nghiệp đợc phục hồi một phần do nhà

n-ớc trả lại xí nghiệp cho chủ cũ, một phần các t nhân thuê xí nghiệp của nhànớc để kinh doanh Các xí nghiệp t bản t nhân trong công nghiệp nhẹ có quimô trung bình khoảng 50 công nhân và chiếm 1/3 tổng sản phẩm Trongcông nghiệp nặng chỉ có 1 xí nghiệp luyện kim đen Hình thức tô nhợngkhông phát triển mấy Trong việc sử dụng cơ cấu nhiều thành phần đã nảysinh một hình thức mới có kết quả là công ty liên doanh đợc Lênin đánh giácao

Công nghiệp quốc doanh đợc khôi phục và củng cố, giữ vai trò chủ

đạo trong sản xuất Năm 1923 -1924, công nghiệp xã hội chủ nghĩa (gồmquốc doanh và tập thể) đã chiếm 76,3% trong tổng sản phẩm công nghiệpvới chất lợng cao hơn giá rẻ hơn Đó là cơ sở bảo đảm cho nhà nớc sử dụngcơ cấu nhiều thành phần có kết quả

Một trong những hình thức kinh tế cơ bản trong cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần là chủ nghĩa t bản nhà nớc, gồm các hình thức nh: tô nhợngtrong công nghiệp, hợp tác xã của những ngời sản xuất nhỏ, t nhân làm đại

lý cho nhà nớc trong thơng nghiệp, nhà nớc cho t nhân thuê xí nghiệp, vùng

mỏ, khu rừng, khu đất Thực chất của các hình thức này là "những mắtxích trung gian có thể tạo thuận lợi cho bớc chuyển từ chế độ gia trởng, từnền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội" [53, 276]

Quan niệm về chủ nghĩa t bản nhà nớc

Chủ nghĩa t bản nhà nớc dới chủ nghĩa t bản ra đời cùng với sự pháttriển của chủ nghĩa t bản, khi nhà nớc tham gia quản lý nền kinh tế ở nớcNga, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mời và kết thúc nội chiến đất nớcbớc vào xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó có thànhphần kinh tế t bản t nhân dựa trên chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất

Ngày đăng: 30/11/2023, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. A.I.Acốp.Vlép và nhiều tác giả khác: Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội.Ban tuyên huấn TW Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội
[2]. Ph.Đ.Ăngghen, Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Mác-Ăngghen, Tuyển tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Mác-Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
[3]. Ph.Đ-Ăngghen, Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tởng đến khoa học, Mác - Ăngghen, Tuyển tập, Tập V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tởng đến khoahọc
Nhà XB: Nxb Sự thật
[4]. Nguyễn Đức Bình, Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng HồChí Minh là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết
Nhà XB: Nxb CTQG
[5]. Nguyễn Đức Bình, T tởng của V.I.Lênin sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, Báo Nhân dân số: 14554 ngày 21/4/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng của V.I.Lênin sống mãi trong sự nghiệp củachúng ta
[6]. Nguyễn Đức Bách, Một số vấn đề định hớng XHCN ở Việt Nam, Nxb Laođộng - Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề định hớng XHCN ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Laođộng - Hà Nội
[7]. Trơng Văn Bân, Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nớc, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nớc
Nhà XB: NxbCTQG
[8]. Nguyễn Văn Bích, Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinhtế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
[9]. Mai Văn Bu, Giáo trình quản lý nhà nớc về kinh tế, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nớc về kinh tế
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
[10]. Vũ Đình Bách và Ngô Đình Giao, Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trởng kinh tế bền vững, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách và cơ chế quản lýkinh tế bảo đảm sự tăng trởng kinh tế bền vững
Nhà XB: Nxb CTQG
[11]. Vũ Đình Bách và tập thể tác giả, Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chínhsách, cơ chế quản lý kinh tế
Nhà XB: Nxb CTQG
[13]. Cay Xỏn Phôm Vi Hản, Một số vấn đề quản lý kinh tế hiện nay ở Lào, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quản lý kinh tế hiện nay ở Lào
Nhà XB: NxbSự thật
[14]. Cay Xỏn Phôm Vi Hản, 25 năm chiến đấu và thắng lợi của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm chiến đấu và thắng lợi của Đảng nhân dâncách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Sự thật
[16]. Phạm Thị Cần, Lịch sử các t tởng kinh tế, Tập bài giảng, Phân viện Hà Nội, HVCTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các t tởng kinh tế
[17]. Hồ Châu, Lào sau hơn một thập niên đổi mới, Tạp chí Ngày nay, Trung tâm khoa học - xã hội và nhân văn quốc gia, 1997, số 21, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lào sau hơn một thập niên đổi mới
[18]. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đôi điều suy nghĩ về học thuyết của Các Mác với sự nghiệp đổi mới của chúng ta, Tạp chí Triết học số 3-1993, tr 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về học thuyết của Các Mác với sựnghiệp đổi mới của chúng ta
[19]. Bùi Ngọc Chởng, Kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí cộng sản số 12 - 1994, tr. 42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa
[20]. Trần Thị Tân Dan, Phát huy và phát triển nguồn nhân lực trẻ của đất nớc phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Cộng sản số 21, tháng 11/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy và phát triển nguồn nhân lực trẻ của đất nớcphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đải biểu toàn quốc lần thứ IV, Tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đải biểu toàn quốc lần thứ IV,Tập I
Nhà XB: Nxb Sự thật
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,Tập II
Nhà XB: Nxb Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sản lợng lơng thực quy thóc  các thành phần kinh tế [71, 34-75]. - Quá trình nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của lênin ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 1.1 Sản lợng lơng thực quy thóc các thành phần kinh tế [71, 34-75] (Trang 61)
Bảng 1.2: Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong nền kinh tế  và tỷ trọng các thành phần kinh tế trong GDP [89, 7]. - Quá trình nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của lênin ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 1.2 Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong nền kinh tế và tỷ trọng các thành phần kinh tế trong GDP [89, 7] (Trang 62)
Bảng 1: Diện tích cây lơng thực, rau màu và cây công nghiệp - Quá trình nhận thức và vận dụng chính sách kinh tế mới của lênin ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 1 Diện tích cây lơng thực, rau màu và cây công nghiệp (Trang 105)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w