ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện đại, sự đi lên của tiến bộ xã hội, con người ngày càng quan tâm hơn đến tình trạng sức khỏe toàn thân nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng. Một hàm răng chắc khỏe và nụ cười trắng sáng sẽ mang lại sự tự tin cho con người trong giao tiếp hàng ngày. Vì vậy, sức khỏe răng miệng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội hiện nay. Gần đây, có một vấn đề răng miệng gây khó chịu và phiền toái khiến nhiều bệnh nhân đến thăm khám bác sỹ đó là tình trạng nhạy cảm ngà răng. Nhạy cảm ngà không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng vì tính phổ biến. Theo các thống kê, nhạy cảm ngà gặp ở 357% dân số trong đó tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 3040 là những người trong độ tuổi lao động chính. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng này như: mòn răng, tật nghiến răng, lợi co hở vùng chân răng, ngay cả tẩy trắng răng… Để giải quyết tốt tình trạng nhạy cảm ngà cần phải chẩn đoán đúng và kế hoạch điều trị phù hợp. Có rất nhiều phương pháp điều trị nhạy cảm ngà, tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào và điều trị hiệu quả đến đâu cũng tùy theo kiến thức và thói quen của bác sỹ. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải biết phương pháp nào phù hợp, hiệu quả thường được sử dụng. Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần đáp ứng nhu cầu thực hành vấn đề nhạy cảm ngà ở Việt Nam, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát chẩn đoán và điều trị nhạy cảm ngà răng của một số bác sĩ răng hàm mặt tại Hà Nội. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu chính sau: 1. Nhận xét kiến thức về nhạy cảm ngà răng của một số bác sĩ răng hàm mặt tại Hà Nội. 2. Mô tả tình hình sử dụng các phương pháp để chẩn đoán và điều trị nhạy cảm ngà của bác sĩ trong nhóm nghiên cứu.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện đại, sự
đi lên của tiến bộ xã hội, con người ngày càng quan tâm hơn đến tình trạng sức khỏe toàn thân nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng Một hàm răng chắc khỏe và nụ cười trắng sáng sẽ mang lại sự tự tin cho con người trong giao tiếp hàng ngày Vì vậy, sức khỏe răng miệng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội hiện nay
Gần đây, có một vấn đề răng miệng gây khó chịu và phiền toái khiến nhiều bệnh nhân đến thăm khám bác sỹ đó là tình trạng nhạy cảm ngà răng Nhạy cảm ngà không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng vì tính phổ biến Theo các thống
kê, nhạy cảm ngà gặp ở 3-57% dân số trong đó tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 30-40 là những người trong độ tuổi lao động chính Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng này như: mòn răng, tật nghiến răng, lợi co hở vùng chân răng, ngay cả tẩy trắng răng…
Để giải quyết tốt tình trạng nhạy cảm ngà cần phải chẩn đoán đúng và
kế hoạch điều trị phù hợp Có rất nhiều phương pháp điều trị nhạy cảm ngà, tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào và điều trị hiệu quả đến đâu cũng tùy theo kiến thức và thói quen của bác sỹ Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải biết phương pháp nào phù hợp, hiệu quả thường được sử dụng
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần đáp ứng nhu cầu thực hành vấn đề nhạy cảm ngà ở Việt Nam, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát chẩn đoán và điều trị nhạy cảm ngà răng của một số bác sĩ răng hàm mặt tại Hà Nội Đề tài được thực hiện với các mục tiêu chính sau:
Trang 21 Nhận xét kiến thức về nhạy cảm ngà răng của một số bác sĩ răng hàm mặt tại Hà Nội.
2 Mô tả tình hình sử dụng các phương pháp để chẩn đoán và điều trị nhạy cảm ngà của bác sĩ trong nhóm nghiên cứu.
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tìm hiểu chung về nhạy cảm ngà
1.1.1 Khái niệm:
Theo định nghĩa của Holland GR thì nhạy cảm ngà răng có các đặc trưng sau: Răng bị đau buốt rõ, diễn biến nhanh, xuất hiện từ vùng ngà bị lộ khi có các kích thích (như nhiệt độ, hơi, cọ sát, thẩm thấu, hóa chất) mà không phải do khiếm khuyết hay bệnh lý nào khác
1.1.2 Dịch tễ học
1.1.2.1 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng:
- Ngà răng nhạy cảm là một vấn đề răng miệng phổ biến, ảnh hưởng đến hơn 40% người trưởng thành trên toàn thế giới và nhiều hơn nữa,hơn
40 triệu người ở Hoa Kỳ [1]
- Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng rất khác nhau từ 3-57% dân số Những bệnh nhân bị viêm quanh răng là những đối tượng có nguy cơ cao, tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở nhóm này rất cao từ 72-98% [3]
1.1.2.2 Giới: tỷ lệ nữ bị nhạy cảm ngà răng nhiều hơn nam [2,3].Tuy nhiên
sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Trang 41.1.2.3 Thời gian bị nhạy cảm ngà răng: không ít người bị nhạy cảm ngà
răng thời gian dài, có từ 14-23% người bị nhạy cảm ngà răng từ 1-5 năm [2]
1.1.2.4 Tuổi: DH có thể ảnh hưởng dến bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, bệnh nhân
bị ảnh hưởng nhiều nhất là trong độ tuổi 20-50 tuổi, với đỉnh điểm giữa 30 và
40 tuổi [3]
1.1.2.5 Vị trí răng bị nhạy cảm hay gặp
- Thứ tự nhạy cảm ngà răng thường lần lượt theo thứ tự sau: răng nanh, răng số hàm nhỏ thứ 1, sau đến răng cửa và răng hàm nhỏ thứ 2, cuối cùng là răng hàm lớn [4]
- Hầu hết các răng nhạy cảm hay gặp ở mặt ngoài của các răng và gặp nhiều ở vùng cổ răng [5]
- Với những người thuận tay phải hay gặp nhạy cảm ngà ở vùng bên trái, điều này có thể giải thích do chải ở bên trái mạnh hơn bên phải
1.1.3.Cấu trúc sinh học mô răng:
Hình 1.1: Giải phẫu vùng quanh răng
Mô răng bao gồm mô cứng (men, ngà) và mô mềm (tủy) [6]
Men răng: là một mô canxi hóa cao độ
Thành phần gồm 95% vô cơ (Canxi, phosphor, Magie, CO2, Na, F, Ca-P)
Trang 5Men răng được hình thành và định hình trước khi răng mọc.Sau khi răng mọc (2-3 năm) trong đời sống men răng diễn ra quá trình trưởng thành, chủ yếu là quá trình hình thành các phức chất do trao đổi chất với môi trường nước bọt làm cho các tinh thể (Hydroxyapatit và Fluoroapatit) là những đơn
vị cấu tạo nên các trụ men, có sự thay đổi so với men răng hình thành khi chưa mọc
Ngà răng: cũng là mô canxi hóa nhưng ít hơn men răng
- Độ cứng của ngà răng ở thân răng, chân răng và cổ răng giống nhau nhưng ở từng vùng thì có sự khác biệt, vùng ngà cứng nhất là vùng cách tủy 0,4-0,6mm cho đến khoảng giữa ngà, ở vùng gần tủy ngà răng mềm hơn 30%
- Thành phần gồm 70% chất vô cơ, 20% chất hữu cơ và 10% là nước
- Ngà răng có 2 loại: ngà tiên phát và ngà thứ phát
Trong ngà răng tiên phát có 2 loại ống ngà đó là ống ngà chính và ống ngà phụ.Ống ngà chính: xuất phát từ bề mặt tủy rồi chạy suốt chiều của ngà tận cùng ở đường ranh giới men ngà.Vùng chân răng có nhiều ống ngà hơn vùng chân răng, vùng ngoại biên số lượng ít hơn vùng gần tủy.Đường kính ống ngà có sự thay đổi, ở vùng gần tủy đường kính ống ngà 3-5 micromet, ở vùng ngoại biên là 1 micromet.Ống ngà phụ: có đường kính nhỏ hơn nhiều, là những nhánh bên và những nhánh tận cùng của ống ngà chính.Trong ngà có nhiều ống nhỏ chứa các dây Tome.Dây Tome là biểu hiện của sự sống trong tổ chức ngà.Nó đảm bảo chức năng trao đổi chất và sửa chữa
Ngà thứ phát: ngà được sinh ra sau khi răng đã mọc hoàn thiện trên cung hàm, gồm: ngà thứ phát sinh lý, ngà trong suốt ( ngà xơ hóa, ngà xơ cứng), ngà phản ứng ( ngà thứ 3, ngà thứ phát sửa chữa, ngà liền thương).Thần kinh trong ống ngà: ống ngà có 2 loại sợi thần kinh là sợi có myelin ( sợi A) và sợi không myelin ( sợi C).Các sợi thần kinh có myelin chịu trách nhiệm ghi nhận cảm giác đau
Trang 6Thần kinh trong ống ngà: Ống ngà có 2 loại sợi thần kinh là sợi có myelin (sợi A) và sợi không có myelin (sợi C) Các sợi thần kinh có myelin chịu trách nhiệm ghi nhận cảm giác đau.
Tủy răng:
- Là một mô liên kết đặc biệt giàu mạch máu và thần kinh
- Có các tạo ngà bào xếp thành một hang ở sát vách tủy, liên tục tạo ra ngà làm cho hốc tủy ngày càng hẹp lại
- Tủy có 2 nhiệm vụ: tạo ngà và tiếp nhận cảm giác nhờ các dây thần kinh với các đầu tận cùng ở sát vách tủy hoặc chui vào các ống ngà
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh của nhạy cảm ngà răng:
1.1.4.1 Cơ chế dẫn truyền thần kinh của răng [7]
- Tủy răng là mô giàu thần kinh Dựa vào tốc độ dẫn truyền có thể phân loại các sợi thần kinh ra thành: nhóm A- có tốc độ dẫn truyền trên 2 m/s, nhóm C - có tốc độ dẫn truyền dưới 2 m/s
- Đau buốt do các sợi A Delta dẫn truyền, trong khi các sợi C dẫn truyền cảm giác đau âm ỉ.Sợi A có bao myelin liên quan tới nhạy cảm ngà
1.1.4.2 Các thuyết dẫn truyền cảm giác trong ống ngà [7]
- Thuyết dẫn truyền: Các đuôi nguyên bào ngà trung gian dẫn truyền các kích thích từ vùng ngoại vi của ngà răng đến đầu tận cùng của sợi thần kinh ở gần tủy răng
- Thuyết dẫn truyền trực tiếp: các đầu tận cùng của tủy răng bị kích thích trực tiếp.Tuy nhiên thuyết này vẫn còn hạn chế ví nó không giải thích được tại sao vùng ngà răng gần đường ranh giới men-ngà lại nhạy cảm nhất
Trang 7- Thuyết thủy động học của Branstrom: sự dẫn truyền kích thích được
hỗ trợ bởi sự chuyển động của các chất dịch nằm trong ống ngà và/ hoặc trong các đuôi nguyên bào ngà.Đã có nhiều nghiên cứu ủng hộ thuyết này
Hình 1.2: Thuyết thủy động học của Branstrom
Các kích thích như: Nhiệt độ, hóa chất,… tạo ra các dòng chảy dịch trong ống ngà (tăng hoặc thay đổi hướng) và sự thay đổi áp lực.Sự thay đổi này kích thích các sợi thần kinh Aδ ở biên giới ngà tủy hoặc trong ống ngà tạo ra cảm giác đau.Khi có kích thích lạnh, dòng dung dịch di chuyển từ tủy ra phía ngoài.Khi có kích thích nóng dòng dung dịch chuyển động ngược lại
Điều kiện để xuất hiện nhạy cảm ngà:
- Ngà răng bị lộ: răng bị mất men hoặc tổ chức quanh răng
- Hệ thống ống ngà mở ở bên ngoài và thông với ống tủy ở bên trong
1.1.5.Nguyên nhân gây nhạy cảm ngà răng:
Trang 81.1.5.1 Mòn răng: [8, 33-39]
Hình 1.3: Mòn cổ răng ở các răng cửa, răng nanh, răng hàm nhỏ
Là sự mất mô của răng do nguyên nhân toàn thân hoặc tại chỗ.Mòn răng là một quá trình mất chất của răng diễn ra liên tục từ khi răng bắt đầu hoạt động chức năng
Mòn răng là nguyên nhân thường gặp của hội chứng nhạy cảm ngà
Có nhiều nguyên nhân gây mòn răng:
- Chải răng không đúng kỹ thuật: chải răng ngang, bàn chải quá cứng, lực chải quá mạnh
- Thói quen xấu: cắn móng tay, cắn chỉ,…
Trang 9- Chế độ ăn uống nhiều chất có tính acid: sử dụng nhiều các loại nước uống có gas, nước hoa quả chua, các thức ăn có vị chua hoặc thức ăn quá cứng.
- Tật nghiến răng: là một trong những nguyên nhân hay gây ra mòn răng.Bệnh nhân thường bị mòn mặt nhai và rìa cắn các răng
- Các nguyên nhân khác: khớp cắn bất thường hoặc rối loạn khớp cắn sau nhổ răng, hay bị nôn và trào ngược dạ dày,…
Phân loại mòn răng: chia làm 4 nhóm:
• Mòn răng –răng: Là sự mất mô cứng do tiếp xúc các răng đối đầu dưới tác động của các tác nhân nội tại
• Mài mòn: là quá trình mòn răng bệnh lý do tác động của lực ma sát từ các nhân ngoại lai
• Mài mòn hóa học: là quá trình mòn răng bệnh lý do các hóa chất mà không có sự tác động của vi khuẩn
• Tiêu cổ răng: là tổn thương mô cứng trên bề mặt cổ răng trong quá trình răng chịu lực uốn
- Bệnh quanh răng: các bệnh quanh răng mạn tính lâu ngày thường gây
ra hậu quả co lợi làm lộ chân răng
- Chải răng không đúng: chải răng với lực quá mạnh và kèm theo chải răng ngang cũng là yếu tố gây kích thích mô nha chu.Sự tác động lâu
Trang 10ngày của tác nhân sẽ gây hậu quả sang chấn mô nha chu và gây hậu quả
co lợi kèm mòn vùng cổ răng và chân răng
- Sang chấn khớp cắn
Lợi co gây hở chân răng, lộ cement và có thể dẫn đến lộ ngà
Hình 1.4: Lợi co làm lộ chân răng
Hình 1.5: Tụt lợi răng cửa dưới
1.1.5.3 Lấy cao răng: [9]
Có thể làm mất lớp ngà mùn lộ ống ngà.Vời những trường hợp này thì bệnh nhân thường có cảm giác nhạy cảm ngà trong vài ngày hoặc vài tuần rồi
sẽ hết
1.1.5.4 Sau một số phẫu thuật vùng quanh răng:
Trang 11Sau các phẫu thuật loại bỏ túi lợi, phẫu thuật làm dài thân răng,… làm
di chuyển mô lợi bao bọc vùng cổ răng ở đường ranh giới thân chân răng.Với những trường hợp này nhạy cảm thường kéo dài vài tháng
Nhóm bệnh nhân điều trị bệnh quanh răng có tỷ lệ nhạy cảm ngà răng cao gấp 4 lần so với nhóm không bị bệnh quanh răng
Trang 12Hình 1.6: Nhạy cảm ngà răng sau tẩy trắng răng
Chất làm trắng răng và 1 số kem đánh răng có chất làm trắng peroxide
có thể gây ra cảm giác ê buốt răng
Sự nhạy cảm của răng thường là nhất thời và cách chấm dứt hiện tượng này là ngừng dùng sản phẩm làm trắng răng
1.2 Chẩn đoán:
Dựa vào định nghĩa nhạy cảm ngà răng của Holland với các đặc trưng
và loại trừ các bệnh lý gây đau khác như: sâu răng, nứt răng, viêm tủy, răng
vỡ, vỡ chất hàn, nhạy cảm sau hàn, hở bờ chất hàn,…
Trang 13- Dung dịch Glucose, dung dịch NaOCl
- Thám châm điện đo nhạy cảm bằng lực
1.3 Các biện pháp dự phòng [2, 12]
- Nên khám kiểm tra răng miệng 6 tháng 1 lần
- Thay đổi thói quen và chế độ ăn uống: hạn chế ăn uống thức ăn có tính acid, tránh ăn uống đồ quá nóng hoặc quá lạnh
- Hướng dẫn vệ sinh răng miệng
Chải răng đúng kỹ thuật: dùng bàn chải mềm, chải theo chiều dọc, xoay tròn, lực không quá mạnh, đủ thời gian.Nên chải răng sau khi ăn ít nhất
30 phút, thay bàn chải 3 tháng 1 lần
Sử dụng kem đánh răng có chất chống nhạy cảm ngà răng
Sử dụng nước xúc miệng: pH trung tính
- Nếu bệnh nhân có tật nghiến răng, nên dùng máng bảo vệ ban đêm
- Nếu tẩy trắng răng cần thảo luận với bệnh nhân về sự nhạy cảm răng trước khi bắt đầu điều trị
1.4 Các can thiệp điều trị:
Trang 14Sodium fluoride 5%: tạo ra CaF2 kết tủa ở bề mặt ngà lộ
Stannous fluorie
- Che phủ ngà:
+ Resins: gây bịt các ống ngà bằng chất keo, dán dính.Đạt kết quả tốt tuy nhiên có thể bị bong
+ Composit resins, glass inomer cement: Dùng phục hồi phần răng đã
bị mất, sử dụng khi các biện pháp điều trị bảo tồn trước đó không có kết quả
Trang 15Có 2 loại laser dùng trong điều trị nhạy cảm ngà:
- Với laser năng lượng cao, do bước sóng lớn có thể phá hủy các tinh thể hydroxyl apatid hoặc làm tan chảy các cấu trúc sợi, nên có tác dụng trám kín các ống ngà
- Với laser năng lượng thấp, ánh sang laser làm biến chất collagen trong ngà răng, do đó làm hẹp và tắc các ống ngà, giảm dòng chảy trong ống ngà
- Loại Laser sử dụng hiện nay: YAG ( Yttrium – Aluminum – Garnet ) và CO2 laser
1.4.5 Điều trị tủy: [10,11, 15]
Được chỉ định khi điều trị bảo tồn không có kết quả và nhạy cảm ngà răng gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.Lúc này sẽ có chỉ định điều trị tủy và phục hồi thân răng sau điểu trị tủy nhằm phục hồi cả về chức năng và thẩm mỹ cho bệnh nhân
Răng điều tri tủy tổ chức cứng không tốt, nên cân nhắc ký trước khi sử dụng phương pháp này
1.4.6 Phẫu thuật ghép và che phủ vạt chân răng: [2]
Đây là biện pháp dùng cho những bệnh nhân có vấn đề về nha chu gây
co lợi lộ chân răng cộng them sự tác động của một số yếu tố gây nhạy cảm ngà.Phẫu thuật vạt chân răng vừa nhằm phục hồi tổ chức nha chu vừa góp phần điều trị nhạy cảm ngà đồng thời cũng phục hồi về thẩm
mỹ cho bệnh nhân.Đây là biện pháp còn ít được thực hiện ở nước ta.Theo Landry một giải pháp tốt cần có các tiêu chí sau:
- Có hiệu quả ngay từ lần đầu can thiệp
- Không gây kích thích tủy răng
- Có kết quả lâu dài
- Không gây đổi màu răng
Theo nghiên cứu của J Am Dent PGS Tác giả bản thảo , được công bố trong PM ngày 1/9/2011: Việc sử dụng fluor là phương thức điều trị phổ
Trang 16biến nhất (94%) và là phương pháp điều trị duy nhất được sử dụng thường xuyên bởi hơn 50% các nha sĩ được hỏi Đa số các nha sĩ cũng đánh giá việc sử dụng fluor là phương thức điều trị hiệu quả nhất (96%) và chỉ có một số ít nói rằng fluor kém hiệu quả nhất (18%) Các cách điều trị nhạy cảm ngà phổ biến khác là dùng Bond (81%), điều trị phục hồi (63%) và sử dụng glutaraldehyde/HEMA (58%) Một số phương pháp điều trị cho nhạy cảm ngà đã được sử dụng tương đối hiếm , bao gồm Iontophoresis (1%) , ứng dụng của stronti clorua (4%) hoặc kính hoạt tính sinh học ( 10 %) , và
sử dụng laser (11%) Đưa ra lời khuyên về chế độ ăn uống hoặc chải răng đúng cách ( 76%) và theo dõi thêm (45%) là tương đối phổ biến , nhưng chúng thường được đánh giá là phương tiện ít nhất thành công của điều trị ( 51% và 64%, tương ứng) Ít hơn 10 % số người được hỏi trả lời sai một hoặc nhiều câu hỏi về việc sử dụng phương pháp điều trị cho ngà răng nhạy cảm
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Tiêu chuẩn:
• Tiêu chuẩn lựa chọn:
Bác sĩ răng hàm mặt tại một số bệnh viện, phòng khám răng hàm mặt ở
Hà Nội:
- Bác sĩ học chuyên khoa răng hàm mặt
- Bác sĩ định hướng chuyên khoa răng hàm mặt
Trang 17• Tiêu chuẩn loại trừ:
Bác sĩ không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Bác sĩ không hoàn thành đầy đủ phiếu phỏng vấn
2.1.2 Mẫu nghiên cứu:
Tính được mẫu nghiên cứu: N=60
2.1.2.2 Mẫu nghiên cứu:
Chọn cỡ mẫu : 60 bác sĩ
2.2 Địa điểm và thời gian:
- Địa điểm: một số bệnh viện và phòng khám răng hàm mặt tại Hà Nội
- Thời gian: từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2013
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 18Các bước tiến hành:
Phỏng vấn: Đối tượng tham gia nghiên cứu thực hiện bảng câu hỏi có sẵn (phần phụ lục).Bảng câu hỏi phỏng vấn được xây dựng để khai thác sâu các phương pháp chấn đoán và điều trị nhạy cảm ngà răng
2.5 Xử lý số liệu:
Số liệu được thu thập thông qua phiếu phỏng vấn
Tiến hành nhập số liệu bằng phần mền Epi Data
2.8.Đạo đức nghiên cứu:
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên các bác sĩ tại một số phòng khám răng hàm mặt ở Hà Nội
- Toàn bộ thông tin thu thập chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ lợi ích nào khác